Tiểu luận thị trường tài chính
Trang 1Tiểu luận Thị trường tài chính
Nhóm 9 – Thi trường tài chính
Trang 2Mục lục
1 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÂM LÝ ĐÁM ĐÔNG, CÁC ĐẶC ĐIỂM TÂM LÝ TRONG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Tổng quan về tâm lý “đám đông”
1.1.1 Khái quát chung về tâm lý
Tâm lý con người vô cùng phong phú, đa dạng, bí ẩn và tiềm tàng Tâm lý bao gốm tất cảnhững hiện tượng tinh thần nảy sinh trong đầu óc chúng ta Nó là sự phản ánh chủ quan vềthế giới khách quan Nó tham gia điều khiển cũng như điều chỉnh hành vi, hành động vàhoạt động con người
Nói cách khác, tâm lý là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí đến tính cách, ý thức và
tự ý thức, là năng lực, từ các động cơ hành vi, đến những hứng thú và khả năng sáng tạo,khả năng lao động đến các tâm thế xã hội và định hướng giá trị v.v Tất cả những hiện
tượng đó tạo ra bốn lĩnh vực tâm lý cơ bản của con người, đó là: nhận thức, tình cảm, giao tiếp và nhân cách
Bản chất của hiện tượng tâm lý:
• Tâm lý có bản chất là phản xạ
• Tâm lý là sự phản ánh thế giới khách quan
• Tâm lý con người có bản chất xã hội lịch sử, phản ánh sự hình thành và phát triển
• Các hiện tượng tâm lý rất đa dạng, nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, chúngkhông những không tách rời mà còn tác động, ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau
Chức năng của tâm ly: Tâm lý phản ánh thế giới khách quan giúp con người nhận biết được
thế giới khách quan, phân tích, đánh giá các sự vật hiện tượng xảy ra xung quanh.Và khi đãhình thành thì nó tác động trở lại thế giới hiện thực khách quan Hiện tượng tâm lý liên quanchặt chẽ với các hiện tượng khác trong đời sống liên quan đến nhứng lĩnh vực như: chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội, Cùng với các hiện tượng khác, tâm lý giúp con người có độnglực để hành động, định hướng và điều chỉnh mọi hoạt động của mình làm cho các hoạt động
đó thích nghi với thế giới xung quanh, tiến tới cải tạo thế giới, hoàn thiện thế giới và hoànthiện cá nhân mình
Trang 31.1.2 Tâm lý “đám đông”
1.1.2.1 Khái niệm tâm ly đám đông
Tâm lý đám đông là hiện tượng tinh thần chung của nhiều cá nhân, phát sinh do sự tương táctâm lý giữa các thành viên trong đám đông hay cộng đồng; hoặc bởi tâm lý nào đó nổi trội,
có sức ảnh hưởng Tức là ý thức cá nhân biến mất và có sự xoay chuyển tình cảm, suy nghĩcủa các cá nhân về cùng một hướng (Gustave Le Bon (1841 - 1931)
Hiệu ứng bầy đàn là thuật ngữ dùng để chỉ cách mà một người bị ảnh hưởng bởi nhữngngười xung quanh trong việc đưa ra những lựa chọn, hành vi, xu hướng, cũng như cách thức
ra quyết định
Theo Gustave Le Bon- nhà tâm ly học xã hội người Pháp: “Tâm lý đám đông (Psychologie
des foules), trong những điều kiện nhất định và chỉ ở đó mà thôi, một tập hợp những conngười sẽ có những đặc tính hoàn toàn khác biệt với những đặc tính của riêng từng con ngườitrong đó Cá tính có ý thức bị biến mất, tình cảm và suy nghĩ của mọi cá nhân đều hướng vềmột phía Một tâm hồn chung được hình thành, nó dĩ nhiên có thể biến đổi, nhưng hoàn toàn
là một thể loại xác định, điều này không phải lúc nào cũng đòi hỏi sự có mặt đồng thời củanhiều thành viên tại một địa điểm duy nhất”
1.1.2.2 Đặc điểm của đám đông
Đám đông được điều khiển bởi sự vô thức
Phần lớn những hành động hàng ngày của chúng ta là kết quả tác động của những động lực
vô thức nằm ngoài sự hiểu biết của chúng ta
Quy luật về sự đồng nhất tâm hồn đám đông
Cho dù những thành viên riêng biệt tạo nên đám đông khác nhau kiểu gì, cho dù lối sống,việc làm, tính cách, học thức của họ giống nhau hoặc khác nhau ra sao, chỉ cần qua sự trởthành đám đông, tất cả họ sẽ cùng có một kiểu tâm hồn tập thể, điều này làm cho họ cảmnhận, suy nghĩ, hành động theo kiểu hoàn toàn khác hẳn khi họ chỉ là những cá thể riêngbiệt cảm nhận, suy nghĩ và hành động
Sự biến đổi tình cảm trong từng cá nhân
Sự xuất hiện những đặc tính riêng biệt của đám đông được quyết định bởi ba nguyên nhânkhác nhau:
Nguyên nhân đầu tiên nằm ở chỗ các thành viên của đám đông chỉ nguyên với cái cảm giác
là số đông đã có một sức mạnh vô địch, cho phép nó hiến mình cho bản năng, điều mà khichưa là thành viên của đám đông nó nhất thiết phải kiềm chế
Trang 4Nguyên nhân thứ ba và là nguyên nhân quan trọng nhất, nó làm cho thành viên của đámđông bộc lộ những cá tính đặc biệt hoàn toàn mâu thuẫn với những cá tính của những người
đó khi họ chưa là thành viên của đám đông
1.1.2.3 Đặc tính của đám đông
Tính bốc đồng, tính dễ thay đổi, tính dễ bị kích thích của đám đông
Như đã đề cập ở phần trước, hành động của đám đông được điều khiển bởi sự vô thức Bởivì hành động của họ bị điều khiển bởi hệ thần kinh thực vật nhiều hơn là bởi não bộ
Tính dễ bị tác động và tính nhẹ dạ của đám đông
Để lí giải cho điều này chính là sự định hướng cực nhanh của tâm tư tình cảm theo mộtchiều hướng nào đó
Tính thái quá và tính phiến diện của tình cảm đám đông
“ Đơn giản và thái quả”, đấy là 2 đặc điểm chính của tất cả các tình cảm tốt và xấu đượcđám đông thể hiện
Tính không khoan dung, tính độc đoán và tính bảo thủ của đám đông
Tính độc đoán và không khoan dung đối với đám đông là một tình cảm hết sức rõ ràng, nóđặc biệt mạnh mẽ khi trở thành điểm chung của các thành viên
Đạo đức của đám đông
Đám đông thường tuân theo những bản năng thấp, bản năng này dựa trên sự tự bảo vệ lợiích của mỗi cá nhân, tuy nhiên cũng có lúc nó tỏ ra có những hành dộng cực kỳ cao thượng
1.2 Ứng dụng tâm lý học vào tài chính
1.2.1 Lý thuyết tài chính hành vi
Lý thuyết tài chính hành vi là sự phát triển kết hợp tâm lý học vào tài chính Kể từ khi nhàtâm lý học người Pháp Gabriel Tarde bắt đầu nghiên cứu về ứng dụng tâm lý học vào khoahọc kinh tế từ những năm 1880, thì phải mất gần 100 năm sau, vào thập kỷ 1980, thì ứngdụng tâm lý trong tài chính mới có bước phát triển đáng kể (mặc dù trước đó, vào nhữngnăm 1930, 1940, những nghiên cứu của George Kanota cũng đặt nền tảng cho tài chính hành
vi với thuật ngữ quan trọng “kỳ vọng”, nhưng những kết quả của ông khá hạn chế) Vớinhững tác phẩm nền tảng của Amos Tversky và Daniel Kahneman (1979), Richard H.Thaler(1985) và đặc biệt là Robert Shiller với quyển sách nổi tiếng “Irrational Exuberance”(2000), dự báo chính xác sự sụp đổ của thị trường cổ phiếu toàn cầu không lâu sau đó, đãtạo bước ngoặt lớn cho những nhà nghiên cứu tài chính hành vi liên tục đưa ra các nghiêncứu mới
Trang 5Lý thuyết tài chính hành vi (behavioral finance) với nền tảng cơ bản là “thị trường khôngluôn luôn đúng”, đã đặt ra một đối trọng lớn đối với lý thuyết “thị trường hiệu quả”, cơ sởcủa các lý thuyết tài chính cơ bản trong suốt bốn, năm thập kỷ gần đây Lý thuyết thị trườnghiệu quả dựa trên niềm tin rằng luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng tháihiệu quả, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá Một khi tồn tại hiện tượng định giá saitrên thị trường, nghĩa là giá của các công cụ (cổ phiếu, trái phiếu, sản phẩm phái sinh, v.v )trên thị trường tài chính không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên nhữngnhân tố cơ bản), thì sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, và “những nhà đầu tư hợplý” khi tận dụng những cơ hội này (mua tài sản bị định giá thấp, bán tài sản bị định giá quácao chẳng hạn), sẽ góp phần điều chỉnh thị trường về trạng thái hợp lý hay cân bằng
Lý thuyết tài chính hành vi chỉ ra rằng, cơ chế điều chỉnh đó không phải lúc nào cũng có thểxảy ra, nghĩa là sẽ xuất hiện những trường hợp những nhà đầu tư “hợp lý’ không thể chiếnthắng những nhà đầu tư “bất hợp lý” và khi đó, thị trường sẽ không hiệu quả, hay “sai” (tức
là định giá quá cao hoặc quá thấp giá cổ phiếu hay các loại sản phẩm tài chính khác)
Ứng dụng của tài chính hành vi không chỉ dừng lại trong việc giải thích các hành vi khônghợp lý của nhà đầu tư, mà đi xa hơn, nó có thể điều chỉnh các mô hình định giá (bao gồmđịnh giá chứng khoán, sản phẩm phái sinh ) Cho đến ứng dụng trong lý thuyết quản trịCông ty hay cấu trúc vốn trong tài chính doanh nghiệp, lẫn giải thích tính tương tác giữa cácthị trường khác nhau
(Nguồn: Nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào tài chính- Hồ Quốc Tuấn)
1.2.2 Những nguyên lý cơ bản của tài chính hành vi
Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trườngtồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau
1.2.2.1 Hành vi không hợp ly của nhà đầu tư
Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý đúng đắn nhữngthông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), hoặc tiếp nhận những thông tin sai lệch, khôngchính thống từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tưvào Có một số dạng lệch lạc trong nhận thức tiêu biểu trong thị trường chứng khoán nhưsau:
Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay thuật toán (Heuristics): Dựa dẫm quá nhiều vào các quy tắcđôi khi sẽ dẫn đến sai lầm, đặc biệt là khi các điều kiện bên ngoài thay đổI nhanh chóng mànhững thuật toán đó chưa kịp đáp ứng
Lệch lạc do tình huống điển hình: Xu hướng không quan tâm nhiều đến những nhân tố dàihạn, mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống điển hình ngắn hạn
Trang 6Quá tự tin (overconfidence): Có nhiều nghiên cứu tâm lý học trên thị trường tài chính chothấy các nhà đầu tư tỏ ra quá tự tin vào những quyết đinh của mình
Định nghĩa hẹp (narrow framing): Cô lập một khái niệm hay phân tích một vấn đề trong mộtkhuôn khổ hạn hẹp, tách biệt, và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu cho khuôn khổ hạn hẹp
ấy, thay vì cho toàn cục
Tính toán bất hợp lý (mental accounting): Xu hướng tách riêng các quyết định mà đúng raphải được kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo trong trí tưởng tượng và tối đa hóa lợiích từng tài khoản Và vì thế, đôi khi chúng ta đưa ra các quyết định nhìn tưởng là hợp lý,
mà thật ra là sai lầm
1.2.2.2 Hành vi không hợp ly mang tính hệ thống
Nếu chỉ một nhà đầu tư đơn lẻ có hành vi không hợp lý, thì ảnh hưởng giao dịch của nhàđầu tư này lên giá cổ phiếu trên thị trường là không đáng kể (cho dù là một tổ chức đầu tưlớn thì ảnh hưởng cũng rất hạn chế nếu chỉ đơn độc một mình)
Chỉ khi hành vi không hợp lý là mang tính hệ thống (nghĩa là một nhóm nhiều nhà đầu tưcùng có một hành vi không hợp lý như nhau) thì khi ấy việc định giá sai sẽ xuất hiện và cóthể bắt đầu kéo dài
Lý thuyết tài chính hành vi cho rằng tính lệch lạc (bất hợp lý) trong hành vi là khá phổ biếnđối với nhiều nhà đầu tư, và do đó, nó tạo thành một dạng thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”,khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng
Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xemhiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý,thấy ai làm sao thì làm vậy
1.2.2.3 Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính
Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinhdoanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điềuchỉnh giá trên thị trường về cân bằng Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thựchiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tạisao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai ?
Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là có hai dạngđịnh giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được,một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nóimột cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên haydưới và điều chỉnh lại)
Trang 72 PHẦN 2: THỰC TRẠNG TTCK TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bây giờ nhóm xin được lấy khoảng thời gian từ cuối năm 2006 – đầu năm 2009 để xem xét
và phân tích, vì đây là khoảng thời gian rõ ràng, cụ thể nhất đã chứng kiến 2 kịch bản thị trường trái ngược nhau ( trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ ) Qua đó có thể thấy được những tâm lý và hành vi của nhà đàu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói chung và thị trường tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
2.1 Phân tích tổng quan TTCK TPHCM trong giai đoạn cuối 2006 - đầu
2009
Những nguyên lý của tài chính hành vi đã chỉ ra rằng nếu một nhà đầu tư càng ít hiểu biếtthì họ càng bị cuốn theo ý kiến của đám đông Việc làm này là con dao hai lưỡi bởi điều nàysẽ khiến họ dễ rơi vào tình trạng lo sợ và hoảng loạn nhất
Warren Buffett đã từng nói: “ Hãy tham lam khi người khác sợ hãi”
Một triết lý hiển nhiên quen thuộc, đó là vào bất kỳ thời điểm nào, các thị trường tài chínhluôn luôn bị chi phối bởi lòng tham và sự sợ hãi Những thị trường được xem là mạnh nhấtbởi vì ở thị trường đó có sự tồn tại của cả lòng tham và sự sợ hãi Nói rõ hơn, bất cứ khi nàobạn bán cổ phiếu thì người mua nó cũng sẽ nghĩ khác về những triển vọng tương lai của cổphiếu đó Bạn nghĩ nó sẽ giảm, người mua nghĩ nó sẽ lên Hoặc bạn hoặc người mua sẽđúng nhưng chắc chắn chỉ nhờ sự tương tác của những thái độ khác nhau như vậy thì thịtrường mới nhộn nhịp đông kẻ mua- đông đúc người bán Sự sôi động của TTCK Việt Namtrong năm 2006-2007, cũng như sự ảm đạm của TTCK 2009 đã phản ánh phần nào triết lý
2007 đã được báo chí ví như một thứ “mốt”, một “phong trào” lan truyền nhanh hơn bất cứdịch bệnh nào, trên khắp cả nước
Không có gì phải chối cãi khi cho rằng hiệu ứng chứng khoán năm 2007 đã thực sự tác độngtới tất cả mọi người Chứng khoán “nóng” tới mức hệ thống máy chủ của thị trường chứngkhoán bị “treo”, kéo theo sàn chứng khoán của Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCMphải ngừng phiên giao dịch sáng 2/2/2007 Đây là lần thứ hai Trung tâm giao dịch chứngkhoán TP.HCM phải ngừng giao dịch vì các “lỗi kỹ thuật”
Trang 8Tuy nhiên, những câu chuyện TTCK thay đổi theo một kịch bản khác hẳn trong giai đoạnnăm 2008 – đầu năm 2009 khi mà chỉ số VN-Index liên tiếp giảm, liên tục tạo nên nhữngđáy mới trên thị trường.
Thật là khó khăn để dự đoán được tất cả các diễn biến trên TTCK Việt Nam Mọi lý thuyết,mọi mô hình của thị trường hiệu quả dường như trở nên vô nghĩa Mặc dù nhà đầu tư đượccảnh báo chứng khoán đã vượt quá giá trị thật hơn 30% (2007) (Theo VNExpress) nhưng họvẫn mua bán, thị trường vẫn không ngừng sôi động Thậm chí cung không áp ứng đủ cầu.Hay khi nhìn nhận thị trường ảm đạm (2008-2009) thì họ lại kéo nhau tháo lui mà khôngcần xem xét nguyên nhân
Dễ thấy thị trường chứng khoán Việt Nam không vận hành theo bất cứ một quy luật nào Lýthuyết thị trường hiệu quả hoàn toàn thất bại là điều hiển nhiên Đã đến lúc dùng đến các lýthuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên TTCK
Bình thường một nhóm các nhà đầu tư cá nhân có thể rất bình tĩnh và sáng suốt, vậy màcũng có lúc họ lại bị lấn át bởi những cảm xúc tiêu cực khi các nhà đầu tư khác hành độngtheo một hình thức phổ biến nào đó Hiểu một cách đơn giản nhất thì chính sự sợ hãi bị “bỏrơi” hay thất bại khi bạn bè, người thân, hàng xóm của họ, đã đưa đến sức mạnh áp đảo củađám đông Cũng giống như nhìn thấy sự kiếm tiền quá dễ dàng trên TTCKVN (cuối 2006-2007)- cứ mua là thắng- từ những “đại gia” chứng khoán thì lời hàng chục tỷ đồng, thậm chí
bà nội trợ, anh nhân viên phải gom góp, vay mượn vài chục triệu đồng làm vốn nay đã cóbạc trăm triệu, thậm chí bạc tỷ đã thôi thúc người ta lao vào chơi chứng khoán mà khôngnhận thức mình đang lao vào một sân chơi mà không phải ai cũng là người thắng cuộc Mộtnhà đầu tư đã phát biểu “Ai bảo TTCK là canh bạc thì kệ họ miễn là việc chơi thắng nhiềuhơn thua thì chưa ai chịu dừng lại”
Chứng khoán vượt quá giá trị thật, dù biết thế nhưng họ vẫn mua Họ chấp nhận mua với giácao vì tin chắc rằng trên thị trường sẽ còn có người chấp nhận mua lại nó với giá cao hơnnữa Họ vẫn kiếm lợi được Lòng tham của con ngườI là không có giới hạn và điều đó khiếnhọ hành động theo lối mòn của bản năng Còn nhìn thấy cơ hội kiếm lợi, họ còn nhảy vào
Thậm chí có nhiều người còn mua bán theo cách hoàn toàn bắt chước các nhà đầu tư nướcngoài Tuy nhiên điều này cũng chẳng có gì là khó hiểu cả
Khuynh hướng (bản năng) bầy đàn giải thích tại sao con người lại thích bắt chước ngườikhác Khi thị trường lên hoặc xuống, nhà đầu tư sợ rằng người khác sẽ có nhiều thông tinhơn Và diều này dẫn đến hệ quả là nhà đầu tư cảm thấy có sự thôi thúc ghê gớm đối vớiviệc làm theo những gì người khác đang làm Họ không muốn thua thiệt so với những nhàđầu tư khác
Các nhà tâm lý học cũng đã đưa ra nghiên cứu cho thấy hành vi đám đông thường cókhuynh hướng hành động theo một số người chủ chốt có khả năng tiên đoán thị trường.Trong trường hợp của Thị trường chứng khoán Việt Nam, “sứ mệnh” đó được giao cho nhàđầu tư nước ngoài Vì họ “ được xem” dưới cái nhìn của nhà đầu tư trong nước là nhữngngười có kinh nghiệm, họ biết làm gì để đem lại lợi nhiều nhất cho bản thân họ
Trang 9Tâm lý đám đông xuất hiện ở hầu hết các thị trường mới nổi thậm chí ngay cả ở các thịtrường phát triển thì vẫn có những giai đoạn tồn tại tâm lý đám đông Lịch sử kinh tế thếgiới đã chứng kiến nhiều vụ nổ bong bóng và khủng hoảng như khủng hoảng Hoa tulip – HàLan (1634- 1637), bong bóng South Sea -Anh ( 1711-1720), khủng hoảng Bất động sảnFlorida- Mỹ (1920- 1922), đại suy thoái thế giới 1929, khủng hoảng 1987, khủng hoảngChâu Á 1997, khủng hoảng dotcom
2.1.1 Phân tích thực trạng tâm lý của NĐT trong lĩnh vực Chứng Khoán giai đoạn
cuối 2006 đầu 2009 dựa trên thuyết tâm lý học hành vi tài chính
Thuyết hành vi tài chính cho rằng nếu ba yếu tố: Hành vi không hợp lý của nhà đầu tư, hành
vi không hợp lý mang tính hệ thống, giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá cùng tồntại, thì việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mứcnghiêm trọng) và kéo dài, gây bất ổn lớn cho thị trường tài chính
2.1.1.1 Hành vi không hợp ly của nhà đầu tư
2.1.1.1.1 Tâm lý trông chờ sự may rủi
Dễ dàng đưa ra các quyết định đầu tư dựa vào cảm tính, dựa vào một tin đồn, một lờikhuyên, một lời phát biểu mà không tự mình nghiên cứu để đưa ra các kết luận của chínhmình về việc mua hay bán cổ phiếu nào, giá bao nhiêu, khi nào và tại sao
Tâm lý đó khiến cho nhà đầu tư không tự nhìn vào chính mình để đánh giá mình cũng nhưcác quyết định của mình, để tự chịu trách nhiệm Và rất dễ dẫn đến việc trông chờ vào ngườikhác, để hỗ trợ, giúp đỡ Và nếu việc dựa vào người khác đó không đem lại kết quả nhưmong muốn thì họ quay ra trách và đổ lỗi
(Việc khảo sát này và của những phần sau được thực hiện bởi bảng câu hỏi khảo sát trình bày ở phần phụ lục cuối bài.)
Kết quả khảo sát 100 NĐT tại các sàn giao dịch TP HCM cho thấy:
Trang 10Kết quả bảng thống kê trên cho thấy ngành, lĩnh vực kinh doanh cổ phiếu là tiêu chí được46% NĐT lựa chọn khi tìm hiểu cổ phiếu của một công ty; trong khi đó 44% lựa chọn tiêuchí tình hình sản xuất hiện tại của công ty
Sự chênh lệch với các tiêu chí còn lại không nhiều nhưng rõ ràng nếu chỉ ưu tiên cho hai chỉ
số này khi tìm hiểu thông tin về một cổ phiếu nào đó thì thật sự đem lại rủi ro lớn, nó chỉgiúp NĐT tạm an tâm với những đầu tư tạm thời, ngắn hạn mà không lường trước về lâu vềdài
Chỉ có 13% NĐT lựa chọn tìm hiểu thông qua đội ngũ quản trị công ty, NĐT thường không
có thói quen đi quá sâu vào tình hình cụ thể của công ty Đây rõ rang là một nhược điểm lớncủa nhà đầu tư, vì chắc họ không nhận thức được rằng, khi mua cổ phiếu của một công ty thìcũng đồng nghĩa rằng họ là người góp vốn Và ưu tiên hàng đầu đó là đồng vốn được sửdụng hiệu quả Vậy một đội ngũ không tốt thì những đồng vốn đó có hiệu quả được haykhông?
Chính những tâm lý này khiến cho nhà đầu tư tự mình tước bỏ đi quyền lợi của mình mộtđiều rất quan trọng-quyền biểu quyết bằng chính kiến và đồng tiền của mình-Biểu quyết vềcác cổ phiếu và công ty: Cổ phiếu nào là tốt, là không tốt, công ty nào hoạt động hiệu quảhay kém hiệu quả, ban lãnh đạo nào là giỏi hay không giỏi và qua đó gửi những thông điệpcho các công ty tốt làm tốt hơn, các công ty chưa tốt thì cải thiện tình hình và loại đi nhữngcông ty không tốt, không hiệu quả
2.1.1.1.2 Thiếu tự tin và chánh kiến trong đầu tư
Kết quả khảo sát 100 NĐT tại các sàn giao dịch chứng khoán TP.HCM cho thấy :
Trang 11+ Có 22 NĐT sẵn sàn chấp nhận rủi ro trong quá trình đầu tư
+ 40 NĐT thích sự phân tích thông tin đầy đủ, tránh rủi ro và dàn trãi
Đây cũng chính là hai trong những nhóm nguyên tắc đầu tư đòi hỏi ở NĐT biết đầu tưchứng khoán có kế hoạch Tuy nhiên từ hai nhóm nhà đầu tư trên, kết hợp chúng với yếu tốrủi ro (khi giá cổ phiếu đang nắm giữ rớt mạnh) thì kết quả có mâu thuẫn, thể hiện như sau:
Trang 12Bảng 2+ Có tới 14 NĐT trong nhóm 22 NĐT sẵn sàn chấp nhận rủi ro khi đầu tư lại quyết định bánngay một phần hay toàn bộ cổ phiếu chỉ khi mới nghe thông tin cổ phiếu đang nắm giữ rớtgiá, chiếm gần 63.64%
+ Có 24 NĐT trong nhóm 40 NĐT cho rằng phải phân tích đầy đủ thông tin trong đầu tư đểtránh rủi ro và dàn trãi cũng quyết định bán ngay một phần hay toàn bộ cổ phiếu chỉ khi mớinghe thông tin cổ phiếu đang nắm giữ rớt giá, chiếm gần 61.54%
Một chứng minh khác thể hiện tại bảng 3 : Có 33 trong tổng 45 NĐT đồng ý đầu tư chứngkhoán là dài hạn và tốn nhiều công sức cũng sẵn sàn bán ngay một phần hay toàn bộ cổphiếu khi nghe tin chúng sắp rớt giá mạnh
Trang 13Bảng 3
Như vậy nhà đầu tư luôn đề ra cho mình những lý tưởng đầu tư: Phải sẵn sàn chấp nhận rủi
ro, phải phân tích đầy đủ thông tin khi ra quyết định nhưng lý tưởng đó lại khác xa thực tếđầu tư của họ, chỉ với thông tin chưa chính thức (giá cổ phiếu đang nắm giữ rớt mạnh) thìphần lớn đã vội bán cổ phiếu
Nguyên nhân chính từ thiếu nhận định đầu tư, nhầm lẫn mục đích và tiêu chí đầu tư của
Trang 14Bảng 4
50 NĐT trong tổng số 83 NĐT dựa vào đánh giá và nghiên cứu của chính mình để đưa racác quyết định trong đầu tư cho rằng đầu tư chứng khoán là khó, như vậy điều này lần nữachứng minh cho ta thấy nhà đầu tư Việt Nam không tin tưởng vào năng lực đầu tư của chínhmình
2.1.1.2 Hành vi không hợp ly mang tính tập thể
2.1.1.2.1 TTCK và giá cổ phiếu bị chi phối chủ yếu bởi tâm ly đám đông, bởi lòng tham và nỗi sợ hãi là nhận định nhiều người đã đưa ra
Nhận định đó rất đúng với TTCK TP.HCM trong khoảng thời gian đó
Rất hiếm ở nơi nào mà rất nhiều phiên hoặc chỉ có người bán, hoặc chỉ có người mua, đã lênthì lên kịch trần và đã xuống thì xuống cũng kịch sàn, đã lên thì dù có tin xấu cũng bị bỏqua, xuống thì dù có tin tốt cũng không thể kéo lại
TTCK Việt Nam trong năm 2006 có mức tăng trưởng cao nhất khu vực Châu Á- Thái BìnhDương với 145% , thậm chí đứng trên TTCK Thượng Hải với mức tăng 130% Và đầu năm
2007 vẫn đang tăng 46% - cao nhất trên thế giới (Theo kết quả công bố của Sở Giao DịchChứng Khoán) Thị trường tăng mãnh liệt đã gây sốc cho không ít nhà đầu tư trong nước vàcác chuyên gia chứng khoán kể cả những nhà quản lý thị trường Kéo theo đó sự lo sợ nguycơ hình thành bong bóng trên TTCK
Phòng thương mại Mỹ tại Việt Nam (AMCHAM) đăng tải trên website của họ bài viết “thịtrường chứng khoán Việt Nam thăng hoa thiếu cơ sở” Thời báo Tài Chính Anh (FinancialTimes) dẫn lời các nhà quản lý tài chính nước ngồi cảnh báo thị trường chứng khốnTP.HCM đang rơi vào tình trạng quá nóng và vượt quá giá trị thật Thậm chí tuần báo WallStreet Joural – tuần báo có uy tín vào hạng bậc nhất trên thế giới cũng có bài bình luận vềThị trường chứng khoán Việt Nam với tựa "Saigon’Miss” Đáng chú ý là IMF cũng đã gửibản khuyến cáo đến chính phủ Việt Nam về sự bùng nổ của TTCK