1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp

84 444 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 858,4 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để tìm hiểu thêm về thực trạng nhằm đưa ra được kết luận về chương trình bảo hiểm cây lúa, tác giả chọn đề tài “Đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ tr

Trang 1

CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM CÂY LÚA

ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN TẤN QUỐC BẢO

MSSV: 4114204

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA

CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM CÂY LÚA

ĐẾN THU NHẬP CỦA HỘ TRỒNG LÚA

Tháng 12 năm 2014

Trang 3

LỜI CẢM TẠ

Để hoàn thành Luận văn Tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự động viên

và giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè Thông qua Luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả mọi người

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Phan Đình Khôi, thầy đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn

Xin cảm ơn các cơ quan ban ngành đã giúp đỡ tôi trong việc thu thập số liệu, cảm ơn các hộ trồng lúa tỉnh Đồng Tháp đã dành thời gian quý báu để trả lời bảng câu hỏi phỏng vấn của đề tài

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến anh Bùi Tuấn Khanh, anh Huỳnh Anh Khoa, bạn Trần Hồng Trang, bạn Ngô Mỹ Ngọc, bạn Trần Quế Trân đã

hỗ trợ tôi thực hiện đề tài này

Sau cùng, xin cảm ơn gia đình đã luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện để tôi được học tập dưới mái trường này

Cần Thơ, ngày 6 tháng 12 năm 2014

Trang 4

TRANG CAM KẾT

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác

Cần Thơ, ngày 6 tháng 12 năm 2014

Người thực hiện

Nguyễn Tấn Quốc Bảo

Trang 5

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Giáo viên hướng dẫn

Phan Đình Khôi

Trang 6

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2014

Giáo viên phản biện

Trang 7

MỤC LỤC

MỤC LỤC v

DANH SÁCH HÌNH ix

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Phạm vi không gian 2

1.3.2 Phạm vi thời gian 2

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.4 Phương pháp nghiên cứu 2

1.3.5 Số liệu 3

1.3.6 Cấu trúc của luận văn 3

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4

2.1 Phương pháp luận 4

2.1.1 Rủi ro trong hoạt động nông nghiệp 4

2.1.2 Tính chất hệ thống của rủi ro nông nghiệp 5

2.1.3 Công cụ bảo hiểm trong quản trị rủi ro 5

2.1.3.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm 5

2.1.3.2 Nguyên tắc của bảo hiểm 6

2.1.4 Quản trị rủi ro của nhà nước ở các nước phát triển và những tồn tại ở các nước đang phát triển 7

2.1.5 Các vấn đề liên quan đến bảo hiểm nông nghiệp 9

2.1.5.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm nông nghiệp 9

2.1.5.2 Các hình thức của bảo hiểm nông nghiệp 10

Trang 8

2.1.5.3 Khái quát về kết quả chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của

chính phủ Việt Nam thời gian 2011-2013 10

2.1.6 Chương trình bảo hiểm cây lúa 13

2.2 Lược khảo tài liệu 15

2.3 Phương pháp nghiên cứu 17

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu 17

2.3.2 Số liệu 17

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 18

2.3.4 Mô hình nghiên cứu 20

Chương 3: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM CÂY LÚA Ở TỈNH ĐỒNG THÁP 25

3.1 Đặc điểm về tự nhiên 25

3.2 Thực trạng kinh tế - xã hội tỉnh đồng tháp năm 2013 26

3.2.1 Phát triển kinh tế 26

3.2.2 Cơ cấu kinh tế 27

3.2.3 Tình hình xã hội tỉnh Đồng Tháp 2013 27

3.3 Thực trạng triển khai thí điểm bảo hiểm cây lúa tỉnh đồng tháp năm 2013 28

3.3.1 Qui mô hoạt động trồng lúa Đồng Tháp năm 2013 28

3.3.2 Rủi ro trong hoạt động trồng lúa năm 2013 29

3.3.3 Thực trạng triển khai bảo hiểm cây lúa 30

3.3.3.1 Những thuận lợi trong triển khai chương trình bảo hiểm cây lúa 32

3.3.3.2 Những khó khăn, thử thách trong triển khai chương trình bảo hiểm cây lúa 33

Chương 4: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP ĐẾN HỘ TRỒNG LÚA TỈNH ĐỒNG THÁP 34

4.1 Mô tả đặc điểm của mẫu điều tra hộ trồng lúa tỉnh đồng tháp 34

4.1.1 Đặc điểm cá thể của chủ hộ trồng lúa 34

4.1.2 Đặc điểm chung của hộ trồng lúa 35

4.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất của hộ trồng lúa 36

4.1.4 Đặc điểm thu nhập của hộ trồng lúa 38

Trang 9

4.2 Đánh giá tác động của bảo hiểm nông nghiệp đến thu nhập của hộ trồng

lúa tỉnh đồng tháp 39

4.2.1 So sánh thu nhập của hai nhóm hộ tham gia 39

4.2.2 Ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp 40

4.2.3 Đánh giá mức ảnh hưởng của bảo hiểm nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân 43

Chương 5: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ CỦA CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM CÂY LÚA 46

5.1 Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền 46

5.2 Cải thiện công tác thực hiện chương trình bảo hiểm nông nghiệp 47

5.3 Phát triển công cụ tái bảo hiểm 48

5.4 Tăng cường công tác nguồn nhân lực 49

5.5 Nâng cao vai trò chỉ đạo của nhà nước, của bộ tài chính và của chính quyền địa phương 49

Chương 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 51

6.1 Kết luận 51

6.2 Kiến nghị 52

TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

PHỤ LỤC 1 55

PHỤ LỤC 2 66

Trang 10

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Tỷ lệ phí bảo hiểm 14

Bảng 2.2: Tỷ lệ hỗ trợ phí tham gia 14

Bảng 2.3: Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy 21

Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Đồng Tháp năm 2013 29

Bảng 3.2: Tổng kết dịch bệnh năm 2013 tỉnh Đồng Tháp 30

Bảng 3.3: Số lượt hộ tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lú 31

Bảng 3.4: Kết quả thực hiện chương trình thí điểm 31

Bảng 3.5: Thống kê kết quả tham gia bảo hiểm cây lúa năm 2013 tỉnh Đồng Tháp 32

Bảng 4.1: Thông tin của chủ hộ trồng lúa 34

Bảng 4.2: Số lượng thành viên và chi tiêu của hộ trồng lúa 35

Bảng 4.3: Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia bảo hiểm 36

Bảng 4.4: Mô tả thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích mỗi vụ 38

Bảng 4.5: Kết quả so sánh thu nhập của hộ 39

Bảng 4.6: Kết quả hồi qui mô hình 40

Bảng 4.7: Kết quả hệ số hồi qui và hiệu ứng biên của các biến độc lập 41 Bảng 4.8: Kết quả đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm nông nghiệp

đến thu nhập của hộ nuôi trồng lúa theo phương pháp so sánh điểm xu hướng 43

Trang 11

DANH SÁCH HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp 26 Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Tháp năm 2013 27 Hình 4.1 Cơ cấu các khoản chi phí cho sản xuất lúa 37

Trang 12

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Bộ NN&PTNT : Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn PSM : Propensity Score Matching

FCIP : Chương trình bảo hiểm liên bang

Trang 13

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Với hơn 65% dân số làm nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp chiếm

31% diện tích lãnh thổ, tổng giá trị nông nghiệp chiếm 20% GDP (Tổng cục

thống kê, 2013), nông nghiệp chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế -

xã hội nước ta Tuy nhiên, nông nghiệp lại là một lĩnh vực rất nhiều rủi ro

mang tính khách quan và gây thiệt hại có tính hệ thống Các hộ gia đình nông

thôn Việt Nam thường phải đối mặt với nhiều rủi ro, ảnh hưởng bởi sự thất

thường của nguồn thu nhập từ nông nghiệp mà nguyên nhân là do hạn hán, lũ

lụt, sâu bệnh, dịch bệnh Bên cạnh đó, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khi

trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) vào năm 2007

và khủng hoảng kinh tế tác động đến giá cả sản phẩm, làm đầu ra của ngành

nông nghiệp càng thêm bấp bênh Chính vì vậy, bảo hiểm nông nghiệp là một

yêu cầu cần thiết và có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân

Nắm bắt tình hình đó, ngày 01/3/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có

Quyết định số 315/QĐ-TTg cho phép triển khai bảo hiểm nông nghiệp thí

điểm trên 21 tỉnh, thành phố Qua 3 năm thực hiện, công tác thí điểm bảo hiểm

trong nông nghiệp đã đạt được kết quả đáng ghi nhận với hơn 304.017 hộ

nông dân/tổ chức tham gia bảo hiểm nông nghiệp, tổng giá trị được bảo hiểm

đạt 7.747,9 tỷ đồng, trong đó cây lúa là 2.151 tỷ đồng (báo cáo Bộ

NN&PTNT) Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, bảo hiểm nông nghiệp

Việt Nam vẫn còn vướn phải một số hạn chế, nổi trội trong đó là vấn đề phí

bảo hiểm Mức phí tham gia bảo hiểm cao và liên tục tăng từ năm 2011 –

2013, mặc dù được nhà nước hỗ trợ nhưng vẫn cao so với thu nhập người

nông dân Đây chính là một trong những rào cản khiến cho nông dân e ngại

mỗi khi đề cập đến bảo hiểm nông nghiệp Đặc biệt trên địa bàn tỉnh Đồng

Tháp, An Giang, một trong các tỉnh có sản lượng lúa đứng đầu cả nước, diện

tích đất nông nghiệp lớn nhưng tỉ lệ tham gia bảo hiểm nông nghiệp thấp (năm

2012 chỉ có 105/50000 ha tham gia thí điểm bảo hiểm nông nghiệp) Mặc dù

UBND tỉnh Đồng Tháp ban hành hàng loạt chủ trương chỉ đạo các sở, ngành

liên quan, UBND huyện thực hiện quyết liệt bảo hiểm nông nghiệp đối với cây

lúa trên địa bàn tỉnh nhưng kết quả vẫn chưa như mong kì vọng Bên cạnh

những nguyên nhân về hạn chế nhận thức của người dân, sự thiếu hụt thông

tin về quy trình, thủ tục bảo hiểm thì sự quan ngại về mức phí bảo hiểm từ

phía người dân cũng là một điều rất đáng quan tâm Tóm lại, chương trình thí

điểm bảo hiểm cây lúa sau quá trình triển khai bên cạnh các kết quả đạt được

Trang 14

vẫn còn tồn tại những vấn đề làm khiến cho chưa thể đánh giá được là chương trình liệu có đáp ứng được nhu cầu phòng ngừa rủi ro hay không và có thực sự hoàn thành mục tiêu là ổn định thu nhập cho người dân hay không

Để tìm hiểu thêm về thực trạng nhằm đưa ra được kết luận về chương

trình bảo hiểm cây lúa, tác giả chọn đề tài “Đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh Đồng Tháp”

để có thể đánh giá được sự hiệu quả của chương trình bảo hiểm cây lúa lên thu

nhập của người dân

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Đề xuất ra các giải pháp nâng cao hiệu quả và cải thiện những khó khăn

khi triển khai chương trình bảo hiểm cây lúa

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.3.1 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành khảo sát các hộ nông dân ở tỉnh Đồng Tháp và các

tổ chức liên quan ở địa bàn tỉnh Đồng Tháp

1.3.2 Phạm vi thời gian

Đề tài thực hiện trên cơ sở số liệu thu thập từ tháng 8 năm 2014

1.3.3 Đối tượng nghiên cứu

Những hộ nông dân trồng lúa có tham gia bảo hiểm nông nghiệp và những hộ nông dân trồng lúa không có tham gia bảo hiểm nông nghiệp

1.3.4 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả lựa chọn phương pháp hồi qui logit để đánh giá tác động của các nhân tố ảnh hưởng đên quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa, và phương pháp PSM (Propensity Score Matching) được thực xây dựng bởi Rosenbaum và

Trang 15

Robin (1983) để đánh giá tác động của một chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp lên thu nhập của người dân trồng lúa

1.3.5 Số liệu

Để tiến hành được phương pháp PSM, tác giả phỏng vấn 110 hộ trồng

lúa ở huyện Tân Hồng và huyện Châu Thành với diện tích và sản lượng chiểm

tỷ lệ cao trong tỉnh để đại diện cho hộ trồng lúa tỉnh Đồng Tháp, trong đó có

65 hộ đã tham gia bảo hiểm cây lúa trong giai đoạn thí điểm bảo hiểm nông nghiệp và 45 hộ chưa tham gia bảo hiểm cây lúa trong giai đoạn này

Những hộ tham gia và không tham gia được lựa chọn ngẫu nhiên trên tổng thể hộ trồng lúa có tham gia và không có tham gia bảo hiểm của hai huyện Tân Hồng và Châu Thành tỉnh Đồng Tháp

1.3.6 Cấu trúc của luận văn

Luận văn được trình bày bao gồm 6 phần, phần giới thiệu về đề tài được trình bày ở chương 1, phần cơ sở lý luận được trình bày ở chương 2, phần 3 là khái quát về đối tượng nghiên cứu, phần nội dung chính của đề tài được phân tích ở chương 4, các giải pháp được đề ra ở chương 5 và cuối cùng là phần kết luận và kiến nghị ở chương 6

Trang 16

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1.1 Rủi ro trong hoạt động nông nghiệp

Nông nghiệp là một lĩnh vực sản xuất mang nhiều rủi ro Sciabarrasi

(2010) liệt kê 5 loại rủi ro trong sản xuất nông nghiệp bao gồm: rủi ro sản

xuất, rủi ro về giá, rủi ro tài chính, rủi ro pháp lý và môi trường, rủi ro quản lý

nguồn lực Mỗi loại rủi ro được định nghĩa như sau:

Rủi ro phát sinh ngay trong quá trình sản xuất, khả năng mà mức năng

suất hoặc sản lượng đầu ra thấp hơn dự đoán hay kì vọng của nhà nông

Nguyên nhân chủ yếu là do chưa thể dự đoán chính xác những chuyển biến

phức tạp của thời tiết và khả năng xảy ra thiên tai

Rủi ro phát sinh sau khi vụ mùa kết thúc, rủi ro về giá, khả năng sản

phẩm của nhà nông sẽ không tiêu thụ được hoặc tiêu thụ với mức giá thấp hơn

dự đoán và kì vọng của nông hộ Có thể đến từ rủi ro chênh lệch cán cân cung

cầu sản phầm, rủi ro từ sự phá sản hoặc di dời của thương lái và sự yếu kém

khi tiếp cận thị trường của những nông hộ nhỏ lẻ so với những người sản xuất

với qui mô lớn trên thị trường

Rủi ro khi chuẩn bị canh tác hoặc chuẩn bị chi trả cho các dịch vụ và

vật tư nông nghiệp, khả năng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi trả cho chi phí

sản xuất không như dự kiến Rủi ro tài chính thường phát sinh từ kết quả sản

xuất vụ liền kề Ngoài ra, sự gia tăng chi phí đột xuất, tăng lãi suất, số tiền vay

ngân hàng lớn, thiếu tiền mặt hoặc tiền tiết kiệm và những thay đổi trong tỷ

giá hối đoái tăng cũng có thể gây ra rủi ro tài chính

Khi canh tác nông nghiệp, người nông dân còn có thể gặp phải những

vấn đề về pháp lý Những vấn đề này xảy ra khi người nông dân khi tiến hành

ký hợp đồng, thỏa thuận mua bán với thương lái, xí nghiệp sản xuất Trong

quá trình canh tác, hoạt động sử dụng phân, thuốc để bảo vệ và kích thích tăng

trưởng cũng như xử lý các phụ phẩm, phế phẩm có thể trở vi phạm pháp luật

về môi trường

Trong suốt quá trình canh tác, liên quan đến các cá nhân và các mối

quan hệ của họ với nhau giữa các thành viên trong gia đình hoặc quan hệ giữa

hộ kinh doanh với chính quyền địa phương Rủi ro này được hiểu như khả

năng thiếu hụt nhân lực, khả năng chuyển giao trách nhiệm từ chủ hộ bị bệnh

Trang 17

tật hoặc qua đời Rủi ro này cũng phát sinh từ trong giao tiếp và thực hiện công việc giữa các thành viên trong hộ

Có thể thấy được rằng dù hoạt động sản xuất nông nghiệp dù là hình thực sản xuất đơn giản hơn so với sản xuất công nghiệp những vẫn phải đối mặt với rất nhiều rủi ro trong mọi khâu từ chuẩn bị canh tác cho đến thu hoạch Vì vậy dẫn đến nhu cầu về một công cụ quản trị rủi ro trong hoạt động nông nghiệp Quản trị rủi ro trong sản xuất nông nghiệp phải bắt đầu với xác định các rủi ro

mà việc sản xuất phải đối mặt, hiểu biết về các tác động có thể xảy ra và những hậu quả không mong muốn rồi sau đó định hình và tiến hành thực hiện phòng ngừa và bù đắp thiệt hại từ các rủi ro Việc xác định các loại rủi ro trong nông nghiệp là một công việc quan trọng hàng đầu, định hướng cho công tác quản trị rủi ro trong nông nghiệp

2.1.2 Tính chất hệ thống của rủi ro nông nghiệp

Rủi ro trong hoạt động nông nghiệp có tính chất tương quan khu vực cao, những thay đổi của thời tiết, thị trường hay pháp luật có khả năng ảnh hưởng rộng đến toàn bộ tổng thể hoạt động nông nghiệp hoạt động trong cùng một khu vực Tương quan khu vực nói cách khác là rủi ro hệ thống, Lê Khương Ninh (2013) cho rằng thiệt hại đến nông nghiệp từ các rủi ro hệ thống thường lớn hơn rủi ro không hệ thống

Vì tính chất hệ thống của mình, rủi ro trong hoạt động nông nghiệp hạn chế các trợ giúp thiệt hại thông thường từ những người sản xuất cùng khu vực (người thân, san sẻ giống, vật tư, làm thuê….) vì nhiều nông hộ gặp khó khăn tương đồng nhau trong cùng một thời điểm của mùa vụ Rủi ro này không thể phân tán được theo loại cây trồng, vật nuôi, địa bàn hay thời gian được Nói cách khác tính chất tương quan khu vực của rủi ro nông nghiệp dễ dẫn đến thiệt hại lớn và người nông dân phải gánh chịu nặng nề khi thiệt hại xảy ra Những công cụ phòng ngừa rủi ro nông nghiệp phải lưu ý đến tính chất này nếu muốn hoạt động hiệu quả

2.1.3 Công cụ bảo hiểm trong quản trị rủi ro

2.1.3.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm

Có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm, “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít”, “Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn cho mình hoặc người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác gọi là người bảo hiểm, người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ

Trang 18

rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”, hay “bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được”

Nhìn chung, các định nghĩa trên phản ánh một khía cạnh về mặt xã hội hoặc mặt thương mại Hoạt động bảo hiểm vừa mang tính chất xã hội vừa mang tính chất thương mại vì vậy cần một định nghĩa phán ảnh được cả hai mặt trên

“Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản này do một tổ chức chi trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê” là định nghĩa về bảo hiểm theo luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 do chính phủ quy định

Sản phẩm bảo hiểm là một sản phẩm tài chính vô hình, không giống khi

đem so với các loại hàng hóa khác trên thị trường Sản phẩm bảo hiểm trước

hết là một sự đảm bảo về tài chính trước rủi ro của người được bảo hiểm và sau đó được kèm theo các dịch vụ liên quan Người ta coi rủi ro là cơ sở để phát sinh hoạt động bảo hiểm Chu trình kinh doanh của một sản phẩm bảo hiểm là một chu trình ngược khi mà doanh thu phát sinh trước còn chi phí phát sinh sau khi sự kiện bảo hiểm xảy ra Đặc tính này giúp huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong thời gian nhất định, cho phép các tổ chức bảo hiểm tham gia vào thị trường tài chính để sinh lời nhăm tạo khả năng tài chính cho việc bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm

Trong quá trình tái sản xuất, con người ý thức được rằng luôn phải đối

đầu với rủi ro, do chính con người tạo ra hoặc rủi ro do thiên nhiên Dù cho là

những rủi ro có thể dự đoán hay không dự đoán được thì vẫn xảy ra mà không thể tránh được, cho nên sự ra đời của bảo hiểm là cực kì cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của một nền kinh tế

2.1.3.2 Nguyên tắc của bảo hiểm

Theo nguyên lý bảo hiểm hiện đại thì bảo hiểm có 5 nguyên tắc sau:

Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro, không bảo hiểm sự chắc chắn (Fortuity not certainty) nghĩa là chỉ bảo hiểm một rủi ro xảy ra bất ngờ, ngẫu nhiên, ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cái chắc chắn xảy ra

Trang 19

Theo nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith), tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, trung thực tuyệt đối Cả người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải trung thực trong tất cả các vấn đề từ cung cấp thông tin cho đến thực hiện hợp đồng Theo nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest), quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm Nguyên tắc này chỉ ra rằng người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm Quyền lợi có thể được bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm

Nguyên tắc bồi thường (indemnity) là khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có

vị trí tài chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi

Theo nguyên tắc thế quyền (subrobgation), người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để

đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình

Dựa trên các nguyên tắc được đặt ra ở trên để tiến hành kí kết và thực hiện hợp đồng bảo hiểm Tuân thủ theo các nguyên tắc nhằm đảm bảo việc tiến hành mua bán hợp đồng bảo hiểm không bị sai lệch so với mục đích ban

đầu của bảo hiểm và bảo vệ lợi ích của cả bên bảo hiểm và bên được bảo

hiểm

2.1.4 Quản trị rủi ro của nhà nước ở các nước phát triển và những tồn tại

ở các nước đang phát triển

Ở Hoa Kỳ, Ngân hàng thế giới (2005) tóm tắt về các sản phẩm bảo hiểm

năng suất và bảo hiểm doanh thu được cung cấp thông qua các chương trình bảo hiểm Liên Bang (FCIP), một chương trình phối hợp giữa chính phủ và tư nhân Chương trình này phát triển nhằm hướng đến cả hai mục đích là phúc lợi

xã hội và hiệu quả kinh tế Chính phủ liên bang chi trả cho FCIP 70% phí bảo hiểm, nông dân chỉ phải chi trả cho phần còn lại và chính phủ không ngừng tăng mức chi trả trợ cấp cho các chương trình bảo hiểm theo năng suất và doanh thu Qua thực nghiệm cho thấy được kết quả là tốc độ tăng của quy mô nguồn vốn trợ cấp thấp hơn tốc độ tăng trưởng của phí bảo hiểm và tỷ lệ lao

động nông nghiệp được trả lương đã cho thấy được hiệu quả cả về mặt kinh tế

lẫn xã hội của dự án

Trang 20

Còn tại Canada, trong phần quản trị rủi ro kinh doanh của khung chính sách nông nghiệp mới thì được chia thành 2 mảng chính là bảo hiểm sản phẩm

và ổn định thu nhập Bảo hiểm cho sản phẩm nông nghiệp Canada ở cả các khâu tiếp thị, cung cấp và phân phối thông qua sự phối hợp của chính phủ và chính quyền cấp tỉnh Dù người cuối cùng chịu trách nhiệm là chính phủ nhưng chính quyền tỉnh là nơi thiết kế sản phẩm cho phù hợp với địa phương mình đồng thời cung cấp các sản phẩm bổ sung So với bảo hiểm của Mỹ thì bảo hiểm theo sản phẩm của Canada thì được tiến hành dựa trên cả năng suất

cá thể cũng như năng suất trung bình của khu vực

Vào năm 1998, sau khi cơ bão Mitch quét qua Nicaragua- một quốc gia

đang phát triển- gây ra thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp, Ngân hàng thế

giới dự định hỗ trợ phát triển một chương trình bảo hiểm thời tiết tổng hợp để

có thể tạo nguồn tài chính cho chính phủ khi thiên tai đang xảy ra Tuy nhiên chính phủ Nicaragua lại từ chối việc phát triển bảo hiểm thời tiết và tham gia vào thị trường tái bảo hiểm toàn cầu bởi vì họ tin rằng có thể trông cậy vào cộng đồng quốc tế khi những thiên tai lớn xảy ra và đồng thời không có đủ nguồn lực tài chính để triển khai chương trình bảo hiểm chỉ số thời tiết

Ở một quốc gia đang phát triển khác là Ấn Độ, chương trình thí điểm bảo

hiểm nông nghiệp đầu tiên được xây dựng bởi tổ chức tài chính vi mô Hyderabad (BASIX) công ty Mumbai-based insurance (ICICI) và để bảo hiểm cho rủi ro hạn hán vào mùa thu hoạch lạc vào năm 2003 Sau đó 1 năm, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp thứ 2 được xây dựng mới lại dựa trên những phản hồi từ người dân và các cơ quan triển khai chương trình thí

điểm Chương trình bảo hiểm mới về chỉ số lượng mưa này mở rộng thêm cho

nhiều đối tượng nông nghiệp như vải và thầu dầu Các chương trình này bước

đầu đạt được những thành công, bán được 3000 hợp đồng bảo hiểm khắp Ấn

Độ và đến năm 2004 đạt đến ngưỡng 20.000 hộ tham gia BASIX, ICICI cải

thiện hơn nửa sản phẩm bảo hiểm thời tiết, bảo lãnh phát hành và quyết toán

tự động Ấn Độ là quốc gia đã thành công bước đầu trong bảo hiểm nông nghiệp tuy nhiên sự thành công đó cũng một phần nhờ vào sự hỗ trợ tài chính

và kĩ thuật của IFFCO- công ty Bảo hiểm Tokio của Nhật Bản cùng nhiều tổ chức tài chính tư nhân địa phương, mặt khác, việc giám sát và kiểm tra là yếu

tố quan trọng của chương trình thí điểm quan trọng và làm thay đổi được quan

điểm của các nhà tài chính vi mô tạo để tạo điều kiện tài chính cho nông dân

Vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà Việt Nam không thể có cách thức tiếp cận quản trị rủi ro nông nghiệp bằng năng suất và thu nhập như Mỹ và Canada hay các nước phát triển khác đang tiến hành Rõ ràng so với các nước phát triển thì nguồn tài chính các nước đang phát triển như Việt Nam có phần

Trang 21

hạn chế hơn, và chi phí cơ hội của nguồn tài chính đó có thể cao hơn nhiều so với các nước phát triển, nghĩa là những khía cạnh kinh tế xã hội khác cũng cần nguồn vốn này như y tế, cải cách giáo dục, hiện đại hóa nền kinh tế Vì vậy, xem xét một cách cẩn thận những nguy cơ trong quản lý thích hợp và làm thế nào để tận dụng nguồn lực hạn chế của chính phủ để thúc đẩy thị trường bảo hiểm là rất quan trọng khi bắt đầu tiến hành chương trình bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam

Hoạch định chính sách cũng nên cẩn thận xem xét các đặc điểm cấu trúc của hoạt động sản xuất nông nghiệp ở các nước khác nhau Nói chung, hoạt

động sản xuất ở các nước đang phát triển thường bị chia cắt và nhỏ hơn đáng

kể so với những trang trại ở các nước như Hoa Kỳ và Canada Đối với sản phẩm bảo hiểm cây trồng truyền thống, trang trại nhỏ thường có chi phí hành chính cao hơn Một phần của các chi phí có liên quan đến tiếp thị và dịch vụ chính sách bảo hiểm Phần khác có liên quan đến việc thiếu dữ liệu cấp độ trang trại và cơ chế hiệu quả chi phí cho việc kiểm soát rủi ro đạo đức

Ở các quốc gia đang phát triển việc thực hiện tái bảo hiểm vẫn chưa có được điều kiện thuận lợi nên việc nâng cao hiệu quả thương mại sản phẩm bảo

hiểm vẫn gặp nhiều khó khăn do nhà bảo hiểm phải đương đầu với rủi ro rất lớn Đó là những mặt tồn tại trong việc thực hiện quản trị rủi ro nông nghiệp ở các nước đang phát triển mà buộc họ phải có hướng đi riêng của mình trong

việc tiếp cận mà không thể thực hiện theo mô hình của các nước phát triển

2.1.5 Các vấn đề liên quan đến bảo hiểm nông nghiệp

2.1.5.1 Khái niệm và vai trò của bảo hiểm nông nghiệp

Bảo hiểm nông nghiệp được cho là một cơ chế thay thế trung gian mà nông dân và nhà nước phát triển để quản lý rủi ro trong hoạt động nông nghiệp, dù có thể được sử dụng cho rủi ro thời tiết nhưng không thực sự cho hiệu quả cao nhất (WB 2005) Theo đó, bảo hiểm nông nghiệp thuộc nhóm nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ Đối tượng bảo hiểm này chủ yếu là các rủi

ro phát sinh trong hoạt động nông nghiệp và đời sống nông thôn, bao gồm những rủi ro gắn liền với: cây trồng, vật nuôi, vật tư, hàng hóa trong quá trình sản xuất, cung ứng sản phẩm, tồn trữ thành phẩm, nguyên liệu và tái sản xuất Bảo hiểm nông nghiệp đem lại lợi ích cho xã hội, hỗ trợ làm giảm những rủi ro liên quan đến sản xuất mà thu nhập của người nông dân được đảm bảo

ổn định Bên cạnh đó, chương trình bảo hiểm còn giúp đảm bảo ổn định xã hội

ở khu vực nông thôn, nhờ có bảo hiểm nông dân yên tâm duy trì sản xuất mà

không phải lo về vốn để tái sản xuất và trả các khoản nợ vay ngân hàng khi những thiệt hại từ các rủi ro không lường trước xảy ra

Trang 22

2.1.5.2 Các hình thức của bảo hiểm nông nghiệp

Mahul (2012) cho rằng có hai loại bảo hiểm nông nghiệp là bảo hiểm bồi thường theo sản phẩm bảo hiểm và bảo hiểm theo chỉ số (Indemnity-based Insurance products and Index-based Insurance products) Bảo hiểm bồi thường gồm các hình thức bảo hiểm dựa trên thiệt hại và bảo hiểm dựa trên năng suất, bảo hiểm rủi ro tai nạn và tử vong… bảo hiểm theo chỉ số có bảo hiểm chỉ số năng suất vùng và bảo hiểm chỉ số thời tiết

Bielza và cộng sự (2008) chia bảo hiểm chỉ số thành ba loại chính là chỉ

số năng suất, doanh thu và thời tiết khu vực như sau:

Bảo hiểm chỉ số năng suất trong khu vực (Area Yield Index Insurance):

Năng suất bình quân của một khu vực địa được sử dụng để tính toán mức bồi thường

Bảo hiểm chỉ số doanh thu trong khu vực (Area Revenue Index Insurance): Tương tự như bảo hiểm chỉ số năng suất, mức bồi thường được xác định dựa trên doanh thu bình quân trong khu vực Bên cạnh đó, vì doanh thu bằng với giá nhân cho sản lượng nên chỉ số bảo hiểm dựa trên doanh thu cung cấp một số loại bảo hiểm đối với rủi ro cả về giá và sản lượng

Bảo hiểm chỉ số gián tiếp (Indirect Index Insurance): Đây là một loại

hình bảo hiểm mới, mang tính đột phá Loại bảo hiểm này cung cấp bảo hiểm chống lại biến động đối với một chỉ số bên ngoài đã được xác định trước, mà chỉ số này có thể ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân Chỉ số này có thể xác định dựa trên các chỉ số liên quan đến thời tiết (chẳng hạn như độ ẩm, mưa, nhiệt độ), hình ảnh từ vệ tinh hoặc một số chỉ số tương đương khác Hiện tại chương trình bảo hiểm nông nghiệp thí điểm ở Việt Nam từ năm

2011 đến nay là bảo hiểm theo chỉ số năng suất khu vực

2.1.5.3 Khái quát về kết quả chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp của chính phủ Việt Nam thời gian 2011-2013

Bảo hiểm nông nghiệp được biết đến như một giải pháp thay thế cho các trợ cấp của chính phủ cho người dân trong cho các thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp (Ngân hàng thế giới 2005) Khi chính phủ muốn đảm bảo người dân có đủ nguồn tài chính trong những trường hợp người dân bị mất mùa, thất thu thì so với trợ cấp sau khi thiên tại dịch bệnh xảy ra, bảo hiểm nông nghiệp

có mặt hiện đại hơn về thời gian trợ cấp và khung trợ cấp tài chính cụ thể Chương trình thí điểm bước đầu đã có được sự quan tâm và tìm hiểu của những hộ nông dân trong khu vực được triển khai

Trang 23

Trong báo cáo tại hội nghị tổng tổng kết 3 năm thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, công tác thí điểm bảo hiểm trong nông nghiệp đã đạt được những kết quả rất đáng kích lệ: Đã có 304.017 hộ nông dân/tổ chức tham gia bảo hiểm nông nghiệp Trong đó, có 233.361 hộ nghèo (chiếm 76,8%), 45.944 hộ cận nghèo (chiếm 15,1%), 24.711 hộ thường (chiếm 8,1%), 1 tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp Tổng giá trị được bảo hiểm là 7.747,9 tỷ đồng Trong đó, bảo hiểm cây lúa đạt 2.151 tỷ đồng, bảo hiểm vật nuôi đạt 2.713,2 tỷ đồng và bảo hiểm thủy sản đạt 2.883,7 tỷ đồng Tính đến ngày 20/6/2014, sau 3 năm thực hiện, đã giải quyết bồi thường bảo hiểm là 701,8 tỷ đồng, trong đó, thủy sản là 669,5 tỷ đồng (chiếm 95,4%); cây lúa là

19 tỷ đồng (chiếm 2,7%), vật nuôi là 13,3 tỷ đồng (chiếm 1,9%) Công tác bồi thường rủi ro được thực hiện tương đối chặt chẽ, đúng quy định nhằm hỗ trợ nông dân khắc phục thiệt hại, tổn thất do thiên tai, bệnh dịch gây ra, đây cũng

là yếu tố khẳng định sự thành công của chương trình

Thứ trưởng Trần Xuân Hà khẳng định: “Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Đây là cơ chế góp phần ổn định sản xuất và đời sống của người dân Tạo ra thói quen cũng như ý thức tuân thủ quy trình sản xuất, canh tác, nuôi trồng các sản phẩm trong nông nghiệp và biện pháp phòng ngừa rủi ro, nhất là trong điều kiện mở rộng quy mô sản xuất” (Bộ tài chính, 2014) Thực tiễn triển khai hoạt động thí

điểm bảo hiểm nông nghiệp cho thấy chủ trương của Đảng, Nhà nước trong

việc triển khai bảo hiểm nông nghiệp là hết sức đúng đắn, đây là chính sách nhằm ổn định sản xuất và đời sống của người dân, góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội Các địa phương được lựa chọn làm thí điểm, các địa bàn huyện xã làm thí điểm với các sản phẩm cây lúa, chăn nuôi, thuỷ sản là những mặt hàng sản xuất nông nghiệp quan trọng của địa phương phù hợp với

điều kiện, đặc thù sản xuất nông nghiệp, phân bố dân cư và yêu cầu phát triển

kinh tế của địa phương

Bên cạnh đó, các cơ chế chính sách đã được ban hành khá đầy đủ, đồng

bộ, sửa đổi, bổ sung kịp thời, tạo điều kiện cho các địa phương, các doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức triển khai thực hiện Cùng với công tác chỉ đạo, kiểm tra thực hiện đã thực hiện quyết liệt và có hiệu quả từ trung ương đến địa phương, tập hợp được các lực lượng chính quyền địa phương Các ban chỉ đạo

đã chú trọng công tác tuyên truyền, tập huấn, chỉ đạo cơ sở, nắm chắc tình

hình thực tiễn để có điều chỉnh về cơ chế chính sách, cách làm cho phù hợp và giải quyết khó khăn vướng mắc phát sinh

Công tác thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã có được kết quả quan trọng,

được người dân hưởng ứng và tham gia Việc giải quyết bồi thường cho người

Trang 24

dân về cơ bản đảm bảo được thời gian nhận bồi thường và số tiền bồi thường theo hợp đồng quy định.Trong quá trình triển khai, có những thời điểm tổn thất xảy ra với quy mô lớn, đồng loạt, trên phạm vi rộng; các doanh nghiệp bảo hiểm gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động tài chính để bồi thường bảo hiểm Tuy nhiên, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng đã rất nỗ lực, cố gắng giải quyết bồi thường đảm bảo hỗ trợ kịp thời cho người tham gia bảo hiểm sớm khắc phục được thiệt hại và ổn định sản xuất

Ngoài ra, thông qua thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã tạo cho người sản xuất nông nghiệp ý thức và thói quen tuân thủ quy trình sản xuất, canh tác

Đây là mục tiêu cơ bản mà ngành nông nghiệp mong muốn đạt được để tiến

tới sản xuất hàng hóa toàn diện

Tuy nhiên, chương trình bảo hiểm cũng gặp phải một số khó khăn hạn chế mà quan trong nhất là sự tương thích với từng vùng miền Bảo hiểm nông nghiệp là loại hình bảo hiểm mới, rất phức tạp, chũng ta chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc triển khai; địa bàn triển khai bảo hiểm nông nghiệp rất rộng, trải dài trên 20 tỉnh, thành phố; thiên tai dịch bệnh xảy ra nhiều, đa dạng, mỗi địa phương mỗi khác Do vậy, cơ chế, chính sách mặc dù đã được Bộ Tài chính, Bộ NN&PTNT thường xuyên rà soát, đánh giá và sửa đổi bổ sung kịp thời để đáp ứng được thực tế, tuy nhiên, không phải là đã phù hợp được hết nhu cầu, đặc trưng riêng có của từng địa phương

Theo tổng hợp số liệu của bộ tài chính, bảo hiểm trong nông nghiệp bị lỗ khoảng 22,4 tỷ đồng, riêng bảo hiểm thủy sản lỗ khoảng 24,9 tỷ đồng Nguyên

do chủ yếu là nhiều hộ dân tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn tham gia mang tính chất thăm dò (tham gia ít hoặc không tham gia), hoặc lựa chọn các đối tượng được bảo hiểm có rủi ro cao để tham gia Điều này gây khó khăn cho công tác thí điểm với nguyên tắc lấy số đông bù số ít Trong quá trình triển khai, có những thời điểm tổn thất xảy ra với quy mô lớn, đồng loạt trên phạm

vi rộng (nhất là trong lĩnh vực thủy sản) khiến các doanh nghiệp bảo hiểm gặp nhiều khó khăn trong việc huy động tài chính để bồi thường bảo hiểm

Hơn nửa, mặc dù các doanh nghiệp bảo hiểm đã đầu tư tuyển dụng, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác bảo hiểm nông nghiệp, tuy nhiên, so với yêu cầu triển khai vẫn còn mỏng, chưa có nhiều kinh nghiệm, trong khi địa bàn triển khai rộng, phức tạp Vì vậy các doanh nghiệp bảo hiểm gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ cũng như kiểm tra, giám sát rủi ro

Dựa trên những mặt đã đạt được, cùng với sự xuất hiện của một số khó khăn hạn chế, chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp đã để lại được một

số bài học kinh nghiệm Dựa trên những bài học đó, chương trình bảo hiểm

Trang 25

nông nghiệp có thể được triển khai một cách thành công hơn, mang lại lợi ích

xã hội cho người sản xuất nông nghiệp và cả lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp bảo hiểm

2.1.6 Chương trình bảo hiểm cây lúa

Chương trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp là chương trình bảo hiểm theo chỉ số năng suất khu vực cùng nằm trong khuông khổ chương trình bảo hiểm nông nghiệp cùng với bảo hiểm thủy sản và bảo hiểm chăn nuôi Chương trình bảo đảm cho năng suất của người nông dân trong mùa vụ có tham gia bảo hiểm không thấp hơn ở một mức chấp nhận được so với năng suất trung bình của khu vực họ đang canh tác vụ trước

Theo quyết đinh 3035/QĐ-BTC và quyết định 315/QĐ-TTG người tham gia bảo hiểm cây lúa sẽ được hỗ trợ từ phía bảo hiểm trong các trường hợp: xảy ra sụt giảm năng suất do các rủi ro thiên tai, sâu bệnh và bệnh dịch trong thời gian bảo hiểm và được mở rộng ra cho cả phần diện tích sau khi bị thiệt hại cấy sạ lại

Trong quyết định và các thông tư liên quan có quy định những trường hợp thiệt hại cho hộ sản xuất nhưng không phải bồi thường như: nhà bảo hiểm

được quyền từ chối bồi thường nếu thiệt hại đến từ các rủi ro về chiến tranh,

phóng xạ và khủng bố; người được bảo hiểm cố ý gây thiệt hại hoặc không tuân thủ nguyên tắc, quy trình trồng lúa phòng dịch của cơ quan có thẩm quyền; rủi ro bảo quản sau thu hoạch; rủi ro về chất lượng lúa

Số tiền bảo hiểm được tính theo công thức:

Trong đó:

STBH: số tiền bảo hiểm (đồng)

DT: diện tích đất của hộ tham gia bảo hiểm (m2)

NSBQ: năng suất bình quân của xã nơi canh tác của hộ nông dân trong 3

vụ tương ứng trong 3 năm trước đó (tạ/ha)

ĐG: đơn giá lúa cho từng vụ trên địa bàn được bảo hiểm, được xác định

bằng với giá lúa vụ gần nhất (đồng)

Phí bảo hiểm được tính theo công thức:

Trong đó:

P là phí bảo hiểm hộ nông dân phải trả (đồng)

Trang 26

STBH là số tiền bảo hiểm (đồng)

TL là tỷ lệ phí bảo hiểm được xác định phụ thuộc vào khu vực canh tác

của nông hộ, phụ thuộc vào mức độ rủi ro mà chính phủ quy định và được liệt

kê chi tiết trong bảng sau theo quyết định số 2114/QĐ-BTC sửa đổi biểu phí quyết định 3035/QĐ-BTC của bộ tài chính:

Tỷ lệ hỗ trợ là tỷ lệ phí mà nhà nước sẽ chi trả cho hộ tham gia chương

trình thí điểm bảo hiểm nông nghiệp

Tỷ lệ hỗ trợ được tính như sau theo quyết định số 3035/QĐ-BTC:

Trang 27

Khi bồi thường, tức là khi năng suất của nông hộ kém hơn 80% năng suất bình quân của xã nơi canh tác, số tiền bồi thường được tính theo công thức:

Trong đó :

BT là số tiền được bồi thường (đồng)

SG là mức sụt giảm năng suất (%) so với 80% năng suất bình quân xã

hay năng suất được bảo hiểm

DT là diện tích lúa được bảo hiểm (m2)

ĐG là đơn giá lúa (đồng)

2.2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

Việc phát triển bảo hiểm nông nghiệp trong đó có bảo hiểm cây lúa đã có

từ lâu đời và được xem như là một hình thức để sử dụng nguồn trợ cấp của chính phủ cho hoạt động nông nghiệp ở các quốc gia hiệu quả hơn so với trợ cấp sau khi nông dân đã xảy phải gánh chịu hậu quả từ những rủi ro trong hoạt

động sản xuất và thực tế trung bình nhà nước đã chi trả cho 50% phí bảo hiểm

cho người dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp (Mahul, 2012) Do đó tác giả

đã tìm kiếm được một số tài liệu, những nhiên cứu khoa học có liên quan để

làm lược khảo tài liệu, hoàn thiện đề tài của mình

Nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp của hai tác giả là Phạm Lê Thông (2013) và Nguyễn Quốc Nghi (2012) lần lượt phân tích và tìm hiểu về mức phí sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây lúa của các nông hộ ở Cần Thơ và nhu cầu tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các hộ nuôi tôm ở Bạc Liêu Hai nghiên cứu dùng phương pháp thống kê mô tả và cùng dùng mô hình probit để kiểm định mô hình đã xây dựng được về các nhân tố ảnh hưởng đến đối tượng nghiên cứu

Tuy nhiên hai nghiên cứu cho ra được kết quả không hoàn toàn tương

đồng với nhau Theo Nguyễn Quốc Nghi (2012) các yếu tố ảnh hưởng đến nhu

cầu tham gia bảo hiểm là trình độ học vấn, tập huấn kỹ thuật, thông tin và số rủi ro đã xảy ra trong quá khứ Trong khi tác giả Phạm Lê Thông (2013) lại thu được kết quả là học vấn không ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây lúa và được giải thích là do hộ nông dân bị hạn chế hiểu biết sẽ

có ít khả năng tham gia bảo hiểm nông nghiệp còn hộ có trình độ cao hơn thì cũng bị hạn chế về thông tin

Trang 28

Ngoài ra nghiên cứu của Phạm Lê Thông (2013) còn kết luận rằng các yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả cho bảo hiểm cây lúa của nông hộ còn là mức phí, diện tích đất, giới tính chủ hộ và kinh nghiệm Trong khi Nguyễn Quốc Nghi (2012) thì nhận được được kết quả là kinh nghiệm của hộ sản xuất nông nghiệp không ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm của

hộ Sự khác biệt này do đặc trưng riêng biệt của từng địa bàn nghiên cứu Nghiên cứu khác của Hoàng Triệu Huy, Phan Đình Khôi, Phan Thị Ánh Nguyệt (2014) phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm của hộ trồng lúa tỉnh Đồng Tháp Bài viết kết luận rằng các hộ có tham gia các chương trình tập huấn về kỹ thuật sản xuất, các hộ dễ dàng huy động nguồn lực lao động gia đình hay các hộ có khả năng bán lúa thành phẩm ở mức giá cao thường có xu hướng tham gia bảo hiểm nông nghiệp Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các đặc điểm của chủ hộ như độ tuổi hay giới tính lại không có ý nghĩa thống kê trong quyết định tham gia bảo hiểm cây lúa Mô hình dự báo dự báo chính xác đến 80% số trường hợp xảy ra Nghiên cứu đề ra hai giải pháp hàng đầu là nâng cao nhận thức cho nông hộ qua các lớp tập huấn đồng thời nâng cao giá trị lúa thu mua Tóm lại, kết quả từ nghiên cứu này là một nguồn thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các nhà Bảo hiểm khi đánh giá nhu cầu Bảo hiểm cho cây lúa

Để có được cái nhìn chung nhất về giải pháp phát triển sản phẩm bảo

hiểm nông nghiệp ở Việt Nam nói chung và Đồng bằng Sông Cửu Long nói riêng tác giả Lê Khương Ninh (2013) trong nghiên cứu về giải pháp góp phần phát triển thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Việt Nam đã có được những kết quả nghiên cứu giá trị Các hộ có thu nhập, kĩ thuật cao và kinh nghiệm lâu năm ít có nhu cầu tham gia vì khả năng được đền bù không cao mà họ phải

đánh đổi thêm một phần chi phí để tham gia bảo hiểm cây lúa Những hộ tham

gia chủ yếu là các hộ nông dân nghèo và cận nghèo vì được hỗ trợ gần như toàn bộ phí bảo hiểm lại được hỗ trợ khi xảy ra thiệt hại, có thể nói những hộ nông dân này được lợi ích mà không phải đánh đổi thêm phần chi phí nào cả Nghiên cứu của Lê Khương Ninh (2013) cũng đề ra các rủi ro của những nhà kinh doanh bảo hiểm do ảnh hưởng của rủi ro hệ thống, chọn lựa sai lầm hay động cơ lệch lạc trong việc phát triển các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp Đặc biệt là động cơ lệch lạc, dù có những quy trình thẩm định rõ ràng chặt chẽ nhưng dường như nhà bảo hiểm vẩn phải đền bù cho những thiệt hại chưa đến mức chi trả như trên hợp đồng bảo hiểm quy định Từ nhận định các rủi ro rõ ráng, tác giả đưa ra các giải pháp giúp cải thiện hiệu quả kinh doanh của nhà bảo hiểm, trách nhiệm của người được bảo hiểm và phúc lợi xã hội

Trang 29

Nhìn chung, các nghiên cứu về bảo hiểm nông nghiệp trong thời gian gần đây đã tập trung nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm, hoặc nhu cầu về tham gia bảo hiểm của nông dân cũng như đề ra các giải pháp những hạn chế và giải pháp phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chưa xem xét đến việc tham gia bảo hiểm có ảnh hưởng như thế nào đến thu nhập của nông dân Đây là vấn đề cần

được nghiên cứu bởi nó sẽ cho ta biết được rằng trong điều kiện thực tế

chương trình bảo hiểm nông nghiệp có phát huy được mục tiêu ổn định thu nhập của mình hay không Do đó, đề tài “Đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm nông nghiệp đến thu nhập của hộ trồng lúa tỉnh Đồng Tháp” đã được tác giả lựa chọn để nghiên cứu Đây là đề tài mới so với các đề tài trước Những thông tin được cung cấp trong các đề trên sẽ là cơ sở để phân tích thực trạng bảo hiểm con cây lúa và cơ sở xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết

định bảo hiểm nông nghiệp từ đó sử dụng phương pháp phân tích điểm xu

hướng để đánh giá tác động của việc tham gia bảo hiểm đến thu nhập của hộ trồng lúa ở địa bàn tỉnh Đồng Tháp

2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Phương pháp chọn vùng nghiên cứu

Đề tài chọn vùng nghiên cứu là tỉnh Đồng Tháp thuộc diện những địa

bàn được chọn tiến hành thí điểm bảo hiểm nông nghiệp cho cây lúa theo quyết định 315/QĐ-TTg

2.3.2 Số liệu

Số liệu sơ cấp được thu thập trên cơ sở bảng câu hỏi thông qua điều tra

hộ trồng lúa có tham gia bảo hiểm cây lúa và không có tham gia bảo hiểm cây lúa trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp Thời gian điều tra là trong năm 2014 Các hộ gia đình được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đã chuẩn bị sẵn Các thông tin được hỏi bao gồm các thông tin liên quan đến đặc điểm của chủ hộ: nhân khẩu, giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn, nghề nghiệp, số thành viên trong gia đình, tổng thu nhập, chi tiêu, tổng tài sản Các thông tin liên quan đến sản xuất được hỏi: có tham gia bảo hiểm nông nghiệp hay không, chi phí, diện tích canh tác, giá bán lúa, sản lượng thu hoạch và các thông tin liên quan đến nghiên cứu khác Tác giả tiến hành điều tra phỏng vấn 110 hộ trồng lúa trên địa bàn hai huyện Tân Hồng và Châu Thành tỉnh Đồng Tháp có diện tích sản xuất lớn và sản lượng ổn định đại diện cho các hộ trồng lúa tỉnh Đồng Tháp Trong đó có

65 hộ đã tham gia chương trình thí điểm bảo hiểm cây lúa và 45 hộ chưa từng tham gia bảo hiểm cây lúa trong khuông khổ chương trình thí điểm Các hộ

Trang 30

gia đình được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi đã chuẫn bị sẵn

Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ các văn kiện báo cáo tổng kết,

từ các Sở, ban ngành, niên giám thống kê của tỉnh Đồng Tháp Đồng thời số liệu thứ cấp từ sách, báo, tạp chí chuyên ngành cũng được thu thập và tổng hợp để phục vụ cho mục đích nghiên cứu

2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu

Dựa trên số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi phỏng vấn những hộ nông dân ở tỉnh Đồng Tháp, để đánh giá tác động của việc tham gia bảo hiểm cây lúa lên thu nhập của những hộ này, tác giả sử dụng biến giả phân nông hộ trồng lúa thành 2 nhóm, nhóm có tham gia và không có tham gia bảo hiểm cây lúa

Gọi Di là biến dummy biểu thị hộ có mua bảo hiểm hay không tương ứng với hộ gia đình thứ i, với D=1 là có mua bảo hiểm và D=0 nghĩa là không mua bảo hiểm

Gọi Yi là biến thu nhập của hộ nông dân thứ i Thu nhập của người dân

sẽ được tính tất cả những khoản thu nhập khác không từ hoạt động trồng lúa

Xi là vecto cac nhân tố khác có ảnh hưởng đến thu nhập của hộ trồng lúa

Ta có những mô hình sau:

Mô hình thu nhập của hộ không tham gia: Y1i = α + β1X1i + u1i (2.5)

Mô hình thu nhập của hộ tham gia: Y2i = α + β2X2i + u2i (2.6)Gọi δ là sự khác biệt về hệ số góc giữa nhóm tham gia và không tham gia:

Tuy nhiên, phương pháp này cho kết quả chệch do khi chọn mẫu không phải là mẫu ngẫu nhiên, khi chỉ đơn thuần phân ra 2 nhóm tham gia và không

Trang 31

tham gia bảo hiểm thì chắc chắn thu nhập bên không tham gia sẽ cao hơn và tác động lên thu nhập sẽ nhỏ hơn 0 Vì trong thực tế những hộ tham gia bảo hiểm là hộ nghèo và cận nghèo chiếm một phần không nhỏ do được nhà nước

hỗ trợ phần lớn hoặc toàn bộ phí bảo hiểm, hơn nửa những hộ có thu nhập cao

do ít có rủi ro trong sản xuất trong quá khứ nên ít quan ngại về rủi ro trong quá trình canh tác dẫn đến có nhu cầu tham gia bảo hiểm Mặt khác, giá trị ước lượng của biến DiXi là không chỉ đơn thuần là tác động của biến tham gia bảo hiểm D mà còn là của vecto X bao gồm những nhân tố khác có ảnh hưởng đến thu nhập Vì những nguyên nhân trên, tác giả không lựa chọn phương pháp bình phương bé nhất (OLS) làm phương pháp xử lý số liệu mà chọn phương pháp ghép cặp điểm xác xuất để cho kết quả chính xác và đáng tin cậy hơn Tác giả Lương Vinh Quốc Duy (2008) cho rằng để đánh giá một dự án hay so sánh giữa việc thực hiện hay không thực hiện dự án đó cần đòi hỏi phải

có sự tương đồng của các yếu tố trong quá trình so sánh, so sánh không gian thì phải so sánh các đối tượng có đặc điểm cá thể tương đồng nhau và so sánh thời gian thì phải tiến hành trên cùng một cá thể Chẳng hạn để so sánh năng suất của hai giống lúa khác nhau người ta sẽ cho hai giống lúa phát triển trong cùng một điều kiện như nhau như vậy sự khác nhau về năng suất sẽ phản ảnh

được sự khác nhau từ bản thân giống lúa Và trong thực tế, muốn đánh giá tác động của một dự án xã hội không thể tiến hành thực nghiệm như so sánh hai

giống cây trồng hay vật nuôi, do không thể tạo ra 2 đối tượng với cùng một

đặc điểm bản chất chỉ khác nhau về đối tượng nghiên cứu và cũng không thể

tạo ra được một môi trường như nhau cho cả hai đối tượng Vì những nguyên nhân đó, để đánh giá tác động được một dự án tác tác giả sử dụng phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM)

Phương pháp PSM (propensity score matching) còn gọi là phương pháp ghép cặp điểm xác suất hay phương pháp so sánh điểm xu hướng được thực

xây dựng bởi Rosenbaum và Robin (1983) Phương pháp này được dùng để

đánh giá tác động của dự án lên một đối tượng nào đó Phương pháp này giúp

xác định và so sánh những đối tượng có nét tương đồng, nhận diện những nhân tố có thể tác động đến khả năng tham gia và không tham gia vào dự án của các đối tượng nghiên cứu

Lương Vinh Quốc Duy (2008) đã đưa ra 6 bước cơ bản để thực hiện thực hiện phương pháp so sánh điểm xu hướng (PSM):

Bước 1: Tiến hành điều tra chọn mẫu hai nhóm hộ bao gồm hộ tham gia

và hộ không tham gia Cuộc điều tra này phải đảm bảo được tính tương đồng, chẳng hạn như cùng phiếu điều tra, cùng thời điểm, cùng địa bàn,…

Trang 32

Bước 2: Từ số liệu của cuộc điều tra, xây dựng mô hình logit trong đó biến phụ thuộc là 0 cho hộ không tham gia và 1 hộ tham gia, còn biến độc lập

là những nhân tố có thể ảnh hưởng đến khả năng tham gia vào dự án của hai nhóm hộ

Bước 3: Tiến hành hồi quy cho mô hình logit rồi tính giá trị dự đoán hay xác suất dự đoán (predicted propability) cho từng cá thể trong hai nhóm hộ Giá trị xác suất dự đoán được gọi là Propesity Score, giá trị này sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1

Bước 4: Loại bớt những cá thể có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với cả mẫu

Bước 5: Tương ứng với mỗi cá thể trong nhóm người tham gia, chúng ta tìm một số cá thể trong nhóm người không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất rồi so sánh với nhau Chẳng hạn, so sánh thu nhập của cá thể trong nhóm hộ tham gia với thu nhập bình quân của các cá thể trong nhóm

hộ không tham gia mà có xác suất dự đoán gần giống nhau nhất Kết quả của những so sánh này là tác động của dự án đối với mỗi cá thể tham gia dự án, gọi là “individual gains”

Bước 6: Cuối cùng tính trung bình của tất cả “individual gains” để được giá trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của dự

án đối với những người tham gia

2.3.4 Mô hình nghiên cứu

Phương pháp phân tích hồi quy tương quan: Mục đích của việc thiết lập phương trình hồi quy để kiểm định tác động của các yếu tố có liên quan đến nguồn thu nhập của nông hộ trên địa bàn Qua tham khảo các tài liệu liên quan, tác giả chọn mô hình logit để xác định các yếu tố ảnh hưởng quyết định

đến mua bảo hiểm cây lúa và thu nhập của hộ trồng lúa Từ đó, làm cơ sở để đánh giá tác động bảo hiểm cây lúa đến thu nhập hộ trồng lúa

Các số liệu của hộ tham gia và không tham gia mua bảo hiểm được thu thập dựa trên các đặc điểm quan sát của hộ (Xi) Để đánh giá tác động của chương trình bao hiểm cây lúa, trước hết cần phải định hình các nhân tố có liên quan, đưa vào mô hình nghiên cứu

Bước 1: Tính toán mô hình

Chạy hồi qui logit trên chương trình stata 11 bằng các số liệu mẫu thu thập theo mô hình như sau:

Trang 33

Di=β0 + β1tuoii + β2gioitinhi + β3kinhnghiemi + β4thanhvieni + β5trinhdoi + β6dientichi + β7tietkiemi + β8vayvoni + β9thiethailoni + εi

Trong đó β là một véc-tơ tham số và εi là đại diện cho các yếu tố không

quan sát được

Giải thích những biến sử dụng trong mô hình

Bảng 2.3: Diễn giải các biến độc lập và kỳ vọng trong phân tích hồi quy

vọng

D Có tham gia = 1; không tham gia = 0

trinhdo Trình độ học vấn của chủ hộ tính bằng số lớp học của

Có = 1 ; không = 0

+

tích lũy hay không.Có = 1 ; không = 0

-

thiethailon Trong vòng 3 năm qua có thiệt hại lớn từ 50% sản lượng

trồng lúa hay không Có = 1 ; không = 0

+

Dấu “+” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ thuận với biến phụ thuộc

Dấu “-” thể hiện mối quan hệ tỷ lệ nghịch với biến phụ thuộc

Trang 34

Biến phụ thuộc của mô hình: Biến D nhận giá trị 1 nếu hộ có tham gia bảo hiểm cây lúa và ngược lại nhận giá trị 0 nếu hộ không tham gia bảo hiểm cây lúa

Giới tính của chủ hộ (gioitinh): Nếu chủ hộ là nam thì có xác suất tham

gia bảo hiểm cao hơn do ở nông thôn nam giới thường theo dõi và nắm bắt thông tin tốt hơn nữ giới Do vậy, họ có thể nhận thức rõ hơn ý nghĩa của dịch

vụ bảo hiểm và khả năng tham gia sẽ cao hơn (Phạm Lê Thông, 2013)

Tuổi của chủ hộ (tuoi) là số tuổi tính từ năm sinh của chủ hộ Tuổi của

các hộ tham gia càng tăng cho thấy họ tầm nhìn xa trông rộng, có thể hiểu rõ những rủi ro mà mình phải đối mặt Hơn nữa những hộ có tuổi cao có xu hướng thích sự ổn định, nên việc tham gia bảo hiểm sẽ là biện pháp cần thiết

để phòng ngừa rủi ro Biến này kỳ vọng tương quan thuận với quyết định tham

gia bảo hiểm

Trình độ học vấn chủ hộ (trinhdo): học vấn được tính bằng số lớp học

của chủ hộ Khi trình độ càng cao, có xu hướng tham gia bảo hiểm nhiều hơn

do nhận thức được lợi ích mà bảo hiểm mang lại khi rủi ro xảy ra (Nguyễn Quốc Nghi, 2012) Khi vận dụng cho bảo hiểm cây lúa đối với hộ nông dân, biến này kỳ vọng tương quan thuận với quyết định mua bảo hiểm cây lúa

Kinh nghiệm của chủ hộ (kinhnghiem) được tính bằng số năm tham gia

canh tác của chủ hộ Những hộ canh tác lâu năm có nhiều kinh nghiệm, hiểu

rõ quy trình canh tác, có thể đoán biết trước rủi ro trong ngắn hạn và đưa ra các biện pháp hữu hiệu Bên cạnh đó, nông dân lâu năm có thể quen biết với các thương lái hoặc cở sở thu mua, chế biến nhất định; điều này giúp họ ổn

định đầu ra (Phạm Lê Thông, 2013) Biến này kỳ vọng tương quan nghịch với

quyết định tham gia bảo hiểm

Số nhân khẩu trong hộ (thanhvien) là số thành viên trong gia đình, không

tính người làm thuê Biến này được được kỳ vọng sẽ có tương quan thuận với khả năng tham gia bảo hiểm, với số lượng thành viên nhiều làm mức tiêu dùng cao, mức tiêu dùng có thể đạt được của hộ sẽ dược an toàn hơn nếu hộ tham gia bảo hiểm (Phan Đình Khôi, 2013) Vì vậy việc tham gia bảo hiểm sẽ giúp cho hộ ít bị rủi ro hơn trong thu nhập và do đó đảm bảo được sự an toàn về mức tiêu dùng có thể đạt được

Diện tích đất (dientich) là tổng diện tích đất để canh tác tính bằng 1.000

m2 Trong thực tế quy mô lớn, chi phí đầu tư sẽ cao, nhận thức rõ họ sẽ phải

đối mặt với rủi ro cao, do đó họ có xu hướng tham gia bảo bảo hiểm cây lúa

hơn (Nguyễn Quốc Nghi, 2012) Tuy nhiên, với diện tích lớn, việc tham gia bảo hiểm sẽ tốn một nguồn vốn tương đối với hộ sản xuất nông nghiệp, hiện

Trang 35

tại người nông dân tham gia chương trình bảo hiểm cây lúa với thái độ thăm

dò nên sẽ tỏ ra ái ngại khi phải trả nhiều tiền do diện tích canh tác lớn Vì vậy biến này được kì vọng là có thể tương quan thuận hoặc nghịch với khả năng tham gia bảo hiểm cây lúa

Rủi ro trong các năm gần đây (thiethailon) cho thấy có hay không việc

gặp phải thiệt hại về thu nhập do thiên nhiên trong những năm gần đây Nếu

có gặp phải thiệt hại lớn về thu nhập người dân có xu hướng ý thức được rủi ro

và khả năng tham gia bảo hiểm sẽ cao hơn Ngược lại không gặp phải thiệt hại lớn trong sản xuất

Người nông dân trong năm qua có tích lũy tiền được từ hoạt động sản

xuất hay không (tietkiem) Biến được kì vọng tỷ lệ nghịch với khả năng tham

gia của hộ Có tiết kiệm chứng tỏ hộ nông dân thường có thu nhập ổn định, sản xuất có lợi nhuận và đã có tích lũy đủ tài chính phòng khi rủi ro xảy ra nên

ít có khả năng tham gia bảo hiểm phòng ngừa rủi ro

Người nông dân hiện có vay để sản xuất hay không (vayvon) được kì

vọng tỷ lệ thuận với khả năng tham gia của của hộ trồng lúa Vay vốn do hộ chưa tích lũy được nguồn vốn lưu động cần thiết để sản xuất, làm cho rủi ro tăng cao và hộ trồng lúa sẽ có khả năng tham gia bảo hiểm cao hơn để bù đắp lại rủi ro

Tóm lại, đây là các yếu tố được kỳ vọng sẽ có ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm nông nghiệp Các yếu tố này sẽ được sử dụng để mô tả mẫu

và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm, từ đó làm

cơ sở để đánh giá tác động

Bước 2: Xác định xác suất dự đoán

Sau khi tiến hành hồi quy mô hình ta tính giá trị dự đoán hay xác suất dự

đoán (propensity score) cho từng cá thể trong hai nhóm hộ, hay còn gọi là điểm xu hướng Giá trị xác suất dự đoán sẽ nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Sau

đó, loại bớt một số hộ có xác suất dự đoán quá thấp hoặc quá cao so với cả

mẫu Để thực hiện tác giả sử dụng lệnh pscore trong phần mềm Stata

Bước 3: So sánh đối tượng tham gia và không tham gia

Sau khi tính toán được giá trị pscore, Becker và Ichino (2002) đưa ra 3 cách để tính toán giá tác động của dự án, chính sách là so sánh cận gần nhất,

so sánh bán kính và so sánh hạt nhân

So sánh cận gần nhất (Nearest Neighbor Matching) sắp xếp các cá thể trong nhóm can thiệp (tham gia) và nhóm đối chiếu (không tham gia) theo thứ

Trang 36

tự ngẫu nhiên rồi lần lượt mỗi đơn vị can thiệp được so sánh với đơn vị đối chiếu có điểm xu hướng gần nhất

So sánh bán kính (Radius Matching) tiến hành so sánh có thay thế giữa các điểm xu hướng trong một phạm vi nhất định Sau khi đặt ngưỡng hay mức sai lệch tối đa trên mỗi điểm xu hướng, lấy mỗi đối tượng thuộc nhóm tham gia sẽ tiến hành ghép cặp với các đối tượng thuộc nhóm không tham gia trong phạm vi đã xác định

So sánh hạt nhân/So sánh trung tâm (Kernel Matching) sử dụng bình quân gia quyền của tất cả các đối tượng không tham gia và dùng số liệu đó đối chiếu với mỗi đối tượng tham gia

Kết quả của những so sánh này là tác động của dự án đối với mỗi cá thể tham gia dự án, gọi là “individual gains” Cuối cùng tính trung bình của tất cả

“individual gains” để được giá trị trung bình chung, giá trị trung bình chung này chính là tác động của dự án đối với những người tham gia

Tóm lại, việc đánh giá tác động của bảo hiểm nông nghiệp đến thu nhập của hộ tham gia bảo hiểm cây lúa được thực hiện qua ba bước cơ bản: xây dựng mô hình hồi quy logit để đánh giá các yếu tố tác động đến quyết

định tham gia rồi dựa trên đó thực hiện kiểm định cân bằng và sau cùng là

ghép cặp so sánh với ba phương pháp: so sánh cận gần nhất, so sánh bán kính,

so sánh trung tâm Kết quả của ba phương pháp ghép cặp so sánh sẽ cho thấy tác động của chương trình bảo hiểm đến thu nhập hộ tham gia

Trang 37

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH BẢO HIỂM

CÂY LÚA Ở TỈNH ĐỒNG THÁP 3.1 ĐẶC ĐIỂM VỀ TỰ NHIÊN

Đồng Tháp là một tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, ở đầu nguồn

sông Tiền, phía Bắc giáp Long An, phía Tây Bắc giáp tỉnh Preyveng –

Campuchia, phía Nam giáp An Giang và Cần Thơ Tổng diện tích tự nhiên

3.238 km2 với 9 huyện và 2 thành phố (Cao Lãnh và Sa Đéc), trung tâm tỉnh lỵ

đặt tại Cao Lãnh Đồng Tháp có đường biên giới quốc gia với Campuchia dài

khoảng 50 km từ Hồng Ngự đến Tân Hồng, với 4 cửa khẩu (Thông Bình, Dinh

Bà, Mỹ Cân và Thường Phước) Hệ thống đường quốc lộ 30, 80, 45 cùng với

quốc lộ N1, N2 gắn kết Đồng Tháp với thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh

trong khu vực

(Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Đồng Tháp)

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp

Đồng Tháp được chia thành 2 vùng lớn là vùng phía Bắc sông Tiền có

diện tích tự nhiên 250.731 ha, thuộc khu vực Đồng Tháp Mười, địa hình tương

đối bằng phẳng; vùng phía Nam sông Tiền có diện tích tự nhiên 73.074 ha,

nằm kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu

Đồng Tháp nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, đồng nhất trên địa giới

toàn tỉnh, có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng

Trang 38

12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình từ 1.170 – 1.520 mm, tập trung vào mùa mưa, chiếm 90 – 95% lượng mưa cả năm Đặc điểm khí hậu này tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện

Đồng Tháp là tỉnh không đa dạng về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu có:

cát xây dựng các loại, phân bố ở ven sông, cồn hoặc các cù lao, là mặt hàng chiến lược của tỉnh trong xây dựng; sét gạch ngói: có trong phù sa cổ, trầm tích biển, trầm tích sông, trầm tích đầm lầy, phân bố rộng khắp trên địa bàn tỉnh với trữ lượng lớn; sét cao lanh có nguồn trầm tích sông, phân bố ở các huyện phía bắc tỉnh; than bùn: từ nguồn gốc trầm tích, phân bố ở huyện Tam Nông, Tháp Mười với trữ lượng khoảng 2 triệu m3

Đồng Tháp ở đầu nguồn sông Cửu Long, có nguồn nước mặt khá dồi

dào, nguồn nước ngọt quanh năm không bị nhiễm mặn trở thành điều kiện thuận lợi hàng đầu cho hoạt động trồng lúa của địa phương Ngoài ra còn có hai nhánh sông Sở Hạ và sông Sở Thượng bắt nguồn từ Campuchia đổ ra sông Tiền ở Hồng Ngự Phía Nam còn có sông Cái Tàu Hạ, Cái Tàu Thượng, sông

Sa Đéc… hệ thống kênh rạch chằng chịt, ngoài ra cũng có nhiều vỉa nước ngầm ở các độ sâu khác nhau, nguồn này hết sức dồi dào, mới chỉ khai thác,

sử dụng phục vụ sinh hoạt đô thị và nông thôn, chưa đưa vào dùng cho công nghiệp Hệ thống đê bao chưa bao phủ hết được diện tích canh tác, nên nhiều khu vực canh tác bị ngập nước vào mùa nước nổi (tháng 9,10 hằng năm) Những khu vực ngập nước chỉ có thể canh tác được 2 vụ lúa trong một năm

ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của người nông dân so với sản xuất 3 vụ lúa

3.2 THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2013 3.2.1 Phát triển kinh tế

Nền kinh tế của Đồng Tháp qua tổng kết của Chi cục thống kê tỉnh Đồng Tháp tăng trưởng bình quân mọi khu vực sản xuất đạt 8,60% nhưng thấp hơn mức tăng trưởng của năm 2012 (9,76%) Trong đó khu vực Nông - Lâm - Thủy sản tăng 4,18% (năm 2012 tăng 3,87%), khu vực Công nghiệp - Xây dựng tăng 8,81% (năm 2012 tăng 11,19%) và đặc biệt tăng trưởng mạnh nhất

ở khu vực Dịch vụ đạt mức 12,92% (năm 2012 tăng 15,20%)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế 2013 đạt được vượt các chỉ tiêu (0,60%) so với kế hoạch đề ra; Đối với khu vực Nông - Lâm - Thủy sản có tốc độ tăng trưởng cao hơn 1,38% so với mục tiêu tăng trưởng cả năm 2013 là khu vực tăng vượt mức nhiều nhất so với chỉ tiêu đề ra (kế hoạch cả năm 2,80%); Khu vực Công nghiệp - Xây dựng tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng

đặt ra cho cả năm 2013 là 0,31% (kế hoạch cả năm 8,50%); Khu vực Thương

Trang 39

mại – dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao hơn kế hoạch 0,02% (kế hoạch cả năm 12,90%)

3.2.2 Cơ cấu kinh tế

Cơ cấu kinh tế tính theo giá thực tế do hàng Nông - thủy sản trong năm

2013 đứng giá ở mức thấp trong một thời gian dài nên cùng với sự tăng trưởng cao hơn ở khu vực 2 và khu vực 3 nên tỷ trọng của Khu vực 1 có chuyển dịch mạnh theo hướng giảm xuống Cơ cấu kinh tế theo giá thực tế năm 2013 như sau:

(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2013 – chi cục thống kê

Đồng Tháp)

Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Tháp năm 2013

Cơ cấu kinh tế của tỉnh Đồng Tháp được trình bày ở hình 3.2 cho thấy khu vực Nông- Lâm-Thủy sản vẩn là khu vực kinh tế quan trọng chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng cơ cấu nền kinh tế Đồng Tháp (46%), đồng thời thấy

được tầm quan trọng của khu vực Thương mại dịch vụ (31%) cũng đã vượt

qua được khu vực Công nghiệp-Xây dựng trong quá trình phát triển kinh tế tỉnh Đồng Tháp Định hướng phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Tháp tập trung cho 2 mặt hàng thế mạnh trong sản xuất nông nghiệp là gạo và thủy sản tạo sự phát triển bền vững góp phần vào tăng trưởng kinh tế trong thời gian sắp tới

3.2.3 Tình hình xã hội tỉnh Đồng Tháp 2013

Ước tính dân số trung bình tỉnh Đồng Tháp năm 2013 là 1.679.510

người, trong đó tỷ lệ chênh lệch nam nữ là không lớn nhưng vẫn lệch về phía nam, có 842.306 nữ, 837.204 nam (Cục thống kê Đồng Tháp, 2014) Dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn, số người sống ở thành thị là 298.246 người, số

Trang 40

người sống ở nông thôn là 1.381.264 người Tỷ lệ sinh 1,425%; Tỷ lệ chết 0,445%; Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 0,980%

Trong năm Tỉnh Đồng Tháp thực hiện nhiều chính sách xã hội trong đó quan trọng nhất là chính sách lao động và chính sách xóa đói giảm nghèo Trong năm đã giải ngân 26.929 triệu đồng, tạo việc làm cho 1.444 lao động, ngoài ra đã tích cực triển khai tốt các hoạt động hỗ trợ và tạo việc làm cho người lao động ở địa phương thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, công tác vận động, giới thiệu tư vấn việc làm cho người lao

động đã góp phần giải quyết việc làm cho 30.596 người, trong đó xuất khẩu

lao động 58 người

Được thực hiện một cách đồng bộ với nhiều chương trình, dự án cụ thể: với số liệu thống kê từ báo cáo kinh tế xã hội tỉnh Đồng Tháp năm 2013 thì Ngân hàng Chính sách xã hội triển khai hỗ trợ tín dụng cho 5.073 lượt hộ nghèo vay vốn làm ăn, với tổng doanh số cho vay 78.970 triệu đồng; trợ giúp các hộ nghèo 8 xã vùng biên giới; Hỗ trợ tiền điện cho 42.327 hộ nghèo; Giải ngân 22 tỷ đồng cho 1.171 học sinh, sinh viên nghèo vay vốn học tập; mua và cấp thẻ bảo hiểm y tế cho 141.796 người nghèo Để giúp đỡ hộ nghèo vui xuân đón Tết, tham mưu UBND Tỉnh trích ngân sách và vận động các cá nhân

tổ chức, cá nhân đã thăm, tặng quà tết cho 55.933 lượt hộ gia đình nghèo, với

số tiền 11.930 triệu đồng Phối hợp với các cơ quan chức năng giúp đỡ và hỗ trợ những hộ nghèo đã đạt được những kết quả tích cực, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã giảm từ 10,01% năm 2012 xuống còn 7,48% năm 2013 (giảm 2,53%), vượt so với chỉ tiêu nghị quyết đề ra cho năm 2013 là giảm đến mức 2%

3.3 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI THÍ ĐIỂM BẢO HIỂM CÂY LÚA TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2013

3.3.1 Qui mô hoạt động trồng lúa Đồng Tháp năm 2013

Đồng Bằng Sông Cửu Long là khu vực sản xuất lúa gạo hàng đầu cả

nước với diện tích lớn và sản lượng dồi dào phục vụ cho cả an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu Từ lâu lúa gạo đã được coi là thế mạnh của các tỉnh

Đồng Bằng Sông Cửu Long, Đồng Tháp là tỉnh nằm ở thượng nguồn sông

Tiền và sông Hậu nên có được điều kiện thiên phú cho hoạt động nông nghiệp

đặc biệt là trồng lúa

Nền nông nghiệp lúa nước ở Đồng Tháp đã có từ lâu đời, dù tỉnh Đồng Tháp cũng như nhiều địa phương khác đã tiến hành hiện đại hóa nên kinh tế giảm bớt sự phụ thuộc vào nông nghiệp, nhưng diện tích cũng như sản lượng trồng lúa ở Đồng Tháp vẫn còn rất lớn và nên sản xuất nông nghiệp chiếm vai

Ngày đăng: 19/10/2015, 22:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Đồng Tháp (Trang 37)
Hình 3.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Tháp năm 2013 - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Hình 3.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Đồng Tháp năm 2013 (Trang 39)
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Đồng Tháp năm 2013 - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 3.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa tỉnh Đồng Tháp năm 2013 (Trang 41)
Bảng 3.2: Tổng kết dịch bệnh năm 2013 tỉnh Đồng Tháp - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 3.2 Tổng kết dịch bệnh năm 2013 tỉnh Đồng Tháp (Trang 42)
Bảng 3.4: Kết quả thực hiện chương trình thí điểm - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 3.4 Kết quả thực hiện chương trình thí điểm (Trang 43)
Bảng  3.4  thống  kê  lại  phí  bảo  hiểm  thu  về,  diện  tích,  giá  trị  được  bảo  hiểm, số tiền bồi thường và số tiền đã giải ngân cho người dân - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
ng 3.4 thống kê lại phí bảo hiểm thu về, diện tích, giá trị được bảo hiểm, số tiền bồi thường và số tiền đã giải ngân cho người dân (Trang 43)
Bảng  3.5:  Thống  kê  kết  quả  tham  gia  bảo  hiểm  cây  lúa  năm  2013  tỉnh  Đồng Tháp - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
ng 3.5: Thống kê kết quả tham gia bảo hiểm cây lúa năm 2013 tỉnh Đồng Tháp (Trang 44)
Bảng 4.1: Thông tin của chủ hộ trồng lúa - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 4.1 Thông tin của chủ hộ trồng lúa (Trang 46)
Bảng 4.3: Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia bảo hiểm - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 4.3 Thông tin diện tích trồng lúa và diện tích tham gia bảo hiểm (Trang 48)
Hình 4.1 Cơ cấu các khoản chi phí cho sản xuất lúa - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Hình 4.1 Cơ cấu các khoản chi phí cho sản xuất lúa (Trang 49)
Bảng 4.4: Mô tả thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích mỗi vụ - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 4.4 Mô tả thu nhập trên mỗi đơn vị diện tích mỗi vụ (Trang 50)
Bảng  4.3  thống  kê  cho  ta  thấy  thu  nhập  từ  hoạt  động  trồng  lúa  của  hộ  trồng lúa một vụ trên mỗi đơn vị diện tích - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
ng 4.3 thống kê cho ta thấy thu nhập từ hoạt động trồng lúa của hộ trồng lúa một vụ trên mỗi đơn vị diện tích (Trang 51)
Bảng 4.6: Kết quả hồi qui mô hình - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 4.6 Kết quả hồi qui mô hình (Trang 52)
Bảng 4.7: Kết quả hệ số hồi qui và hiệu ứng biên của các biến độc lập - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
Bảng 4.7 Kết quả hệ số hồi qui và hiệu ứng biên của các biến độc lập (Trang 53)
Câu 21. Hình thức  tiết  kiệm của Ông/Bà là gì? - đánh giá tác động của chương trình bảo hiểm cây lúa đến thu nhập của hộ trồng lúa địa bàn tỉnh đồng tháp
u 21. Hình thức tiết kiệm của Ông/Bà là gì? (Trang 82)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w