1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

93 336 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 752,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy, công ty TNHH một thành viên có sự độc lập tương đối với chủ sở hữu công ty trong sử dụng và định đoạt tài sản của công ty, có quyền tham gia vào các quan hệ tài sản có giá trị n

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta kinh tế quốc doanh được Đảng và Nhà nước xác định là giữ vai trò chủ đạo, trong đó doanh nghiệp Nhà nước là lực lượng nòng cốt, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; là một công cụ quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ

mô nền kinh tế, thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển

Chính vì vậy, việc đổi mới để nâng cao sức mạnh và hiệu quả của Doanh nghiệp Nhà nước là một đòi hỏi cấp thiết, là trọng tâm của đổi mới kinh tế ở Việt nam Đây cũng là vấn đề được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm trong quá trình cải cách kinh tế

Trong những năm qua, Đảng và Chính phủ Việt nam đã đề ra rất nhiều biện pháp nhằm đổi mới, phát triển hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước Song những biện pháp đó chưa thật sự làm thay đổi cơ bản về tình hình hoạt động của khu vực doanh nghiệp này Nhìn chung hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước chưa cao, số Doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả chưa nhiều, điều đó có ảnh hưởng không nhỏ đến

sự phát triển của nền kinh tế Quốc dân

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3, khoá IX đề ra chủ trương tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước theo hướng: tiếp tục cổ phần hoá đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% sở hữu; sáp nhập, giải thể, khoán kinh doanh, cho thuê những doanh nghiệp quy mô nhỏ không cổ phần hoá được

và Nhà nước không cần nắm giữ Đối với những doanh nghiệp mà Nhà nước quyết định nắm giữ 100% vốn sẽ chuyển sang hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một chủ sở hữu là Nhà nước hoặc công ty cổ phần gồm các

cổ đông là các Doanh nghiệp Nhà nước, đổi mới cơ chế đầu tư cho các Doanh nghiệp Nhà nước thông qua các công ty đầu tư tài chính

Trang 3

Chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là việc thực hiện xu hướng công ty hoá các Doanh nghiệp Nhà nước Đây là một trong những hình thức mới về cải cách Doanh nghiệp Nhà nước, tuy đã được pháp luật ghi nhận nhưng chúng ta lại chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn về vấn đề này Cho đến thời điểm hiện tại, Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển Doanh nghiệp Nhà nước và Bộ

kế hoạch và đầu tư đang chỉ đạo thí điểm một số doanh nghiệp tiến hành các bước chuyển đổi để rút kinh nghiệm

Chính vì vậy, cơ sở pháp lý về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên, những điểm hợp lý và bất hợp lý của pháp luật liên quan đến việc chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là vấn đề đang được quan tâm và đòi hỏi phải được giải quyết trên cả phương diện lý luận

và thực tiễn

Trên thực tế đã có một số bài viết về vấn đề này, tuy nhiên những bài viết đó chỉ đề cập đến một vài khía cạnh nào đó của vấn đề mà chưa có một công trình nào nghiên cứu và đề cập một cách đầy đủ nhất đến tất cả các khía cạnh của vấn đề

Đề tài: "Pháp luật về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành

công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên" do vậy đã được tác giả lựa

chọn là đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình, nhằm giải quyết thấu đáo những đòi hỏi bức xúc đó

2 Tính mới của luận văn: Luận văn chỉ ra cơ sở lý luận của việc

chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên; tìm hiểu các quy định của pháp luật về vấn đề này để thấy được những điểm phù hợp và không phù hợp; đồng thời đưa ra phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật

về chuyển Doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên

3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn: là những quy định của pháp

luật liên quan đến việc chuyển dổi doanh nghiệp Nhà nước (không bao gồm

Trang 4

các doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội) thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

4 Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, luận văn

sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp quy nạp, kết hợp giữa phương pháp phân tích, tổng hợp và có áp dụng phương pháp so sánh, đối chiếu với luật pháp các nước về vấn đề chuyển đổi DNNN

5 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chương I: Cơ sở lý luận của việc chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Chương II: Quy định của pháp luật về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty TNHH một thành viên ở Việt nam

Chương II: Phương hướng và những giải pháp hoàn thiện pháp luật

về chuyển đổi Doanh nghiệp Nhà nước thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ở Việt nam

Trang 5

Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là khái niệm chung để khái quát tất

cả các loại hình doanh nghiệp do Nhà nước đầu tư vốn thành lập và tổ chức quản lý với các hình thức và tên gọi khác nhau như xí nghiệp, nhà máy, công ty, tổng công ty… Mặc dù với các hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng DNNN vẫn được hiểu là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn để

thành lập

Điều 1 của Luật Doanh nghiệp Nhà nước (Ngày 20-4-1995) quy định như sau:

"DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn để thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao

DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý

DNNN có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam"

DNNN có một số đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất: Về sở hữu vốn:

Vốn và tài sản trong DNNN thuộc quyền sở hữu của Nhà nước Khi nói đến DNNN, thông thường là nói đến tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu

Trang 6

nước luôn giữ vai trò là người chủ sở hữu đối với DNNN Trên thực tế đại diện chủ sở hữu ở DNNN là ai không được xác định rõ Quyền quản lý của Nhà nước và quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp chưa được phân định rõ; quyền sở hữu phân công cho nhiều cơ quan nhưng chưa phân định

rõ chức năng nhiệm vụ và mối quan hệ của các cơ quan này nên thực tế là vừa buông lỏng quản lý, vừa can thiệp quá sâu và chồng chéo vào hoạt động của doanh nghiệp

Thứ hai: Trong DNNN có sự tách bạch giữa chủ thể sở hữu và chủ

thể kinh doanh Chủ thể sở hữu là Nhà nước, chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp Tuy nhiên quyền năng của những chủ thể này cũng không được phân định rõ ràng Do vậy doanh nghiệp không được thực hiện đầy đủ các quyền năng của người chủ sở hữu đối với khối tài sản mình đang quản lý và

sử dụng vào hoạt động kinh doanh, đặc biệt là quyền định đoạt Có thể nói

sự tự chủ của DNNN trong hoạt động kinh doanh không được đảm bảo, các

cơ quan chủ quản vẫn can thiệp rất sâu vào hoạt động của doanh nghiệp Sự can thiệp của chủ quản không chỉ đối với hoạt động kinh doanh mà còn can thiệp cả vào việc quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp, chế độ lương thưởng đối với các bộ phận của doanh nghiệp đây là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp

Thứ ba: DNNN là pháp nhân kinh doanh, điều đó có nghĩa là mỗi

DNNN là một đơn vị kinh doanh độc lập và hoàn toàn tự chủ về hoạt động kinh doanh của mình trong phạm vi số tài sản Nhà nước giao Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong phạm vi

số tài sản đã đầu tư vào doanh nghiệp Tuy nhiên, trên thực tế các điều kiện

để đảm bảo tư cách pháp nhân của DNNN chưa được thiết lập đầy đủ đồng thời cũng chưa được tôn trọng DNNN chưa có tài sản độc lập với Nhà nước Mặc dù, Nhà nước đã tiến hành giao vốn cho DNNN nhưng vẫn tiếp tục can thiệp dưới nhiều hình thức đến khối tài sản của doanh nghiệp như: điều chuyển vốn và tài sản của doanh nghiệp, quyết định mua bán, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp đối với tài sản của doanh nghiệp Khi các DNNN kinh doanh thua lỗ do rất nhiều lý do khác nhau trong đó lý do cơ bản là các cơ quan chủ quản không muốn mất quyền chủ quản, nên mặc dù

Trang 7

nó đã thật sự lâm vào tình trạng nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp vượt quá khả năng thanh toán, nó không bị giải thể hay phá sản mà Nhà nước sẽ

hà hơi, tiếp sức cho doanh nghiệp thông qua các biện pháp tài chính như bù

lỗ, rót thêm vốn, khoanh nợ, xoá nợ để cho các doanh nghiệp này tiếp tục tồn tại Bởi vậy có thể nói trên thực tế DNNN là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân không đầy đủ, phạm vi trách nhiệm của chủ sở hữu đối với hoạt động của doanh nghiệp không được xác định rõ

Chính đặc điểm này dẫn đến tình trạng trách nhiệm và quyền lợi của

cả DNNN và của Nhà nước không rõ ràng Trong trường hợp DNNN kinh doanh thua lỗ, hoạt động kém hiệu quả thì ngân sách Nhà nước là nơi cấp bù; còn khi DNNN kinh doanh có hiệu quả thì việc phân bổ lợi nhuận sau thuế thường thiên về lợi ích của Nhà nước với lý do Nhà nước là chủ sở hữu nên có quyền định đoạt tất cả do đó không tạo được động lực cho doanh nghiệp

Ở Việt nam hiện nay, DNNN do Nhà nước đầu tư 100% vốn thành lập là loại hình DNNN phổ biến nhất và được tổ chức theo các mô hình chủ yếu sau đây:

1 DNNN độc lập là những doanh nghiệp không nằm trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp khác;

2 Các DNNN là thành viên của các DNNN khác (thành viên của tổng công ty Nhà nước) Các DNNN này thường phụ thuộc vào tổ chức của tổng công ty với hai loại hình chủ yếu là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập và doanh nghiệp thành viên hạch toán phụ thuộc;

3 DNNN được tổ chức dưới hình thức tổng công ty Nhà nước được hợp thành từ các DNNN là thành viên

Trước thời kỳ đổi mới, số lượng DNNN ở Việt nam rất lớn (hơn 12.000 doanh nghiệp) các doanh nghiệp này ra đời không tuân theo những điều kiện nhất định, đặc biệt là điều kiện về vốn, nên hiện tượng thiếu vốn kinh doanh của các DNNN thường xuyên xảy ra Bên cạnh đó, các cơ quan chủ quản thường xuyên can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, không đảm bảo được sự chủ động của doanh nghiệp đối với hoạt

Trang 8

động kinh doanh Tất cả những điều đó đã tác động và làm cho hoạt động kinh doanh của DNNN kém hiệu quả, DNNN trở thành gánh nặng của Ngân sách quốc gia Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới cho đến nay khu vực DNNN đã có những biến đổi theo chiều hướng tích cực: Số lượng DNNN giảm đi hơn một nửa, hiện có khoảng hơn 5000 doanh nghiệp; bước đầu giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp nên hiệu quả hoạt động của DNNN đã dần được nâng lên Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt động của DNNN vẫn còn những tồn tại không nhỏ: Hiệu quả kinh doanh của DNNN không tương xứng với những tiềm năng và lợi thế có được, số DNNN hoạt động thật sự có hiệu quả không nhiều Theo đánh giá chung, khoảng gần 40% DNNN hoạt động có hiệu quả, khoảng 20% doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả thua lỗ liên tục, số còn lại hoạt động chưa có hiệu quả, khi lỗ, khi lãi (24.10.tr.33) Tình trạng kinh doanh kém hiệu quả của DNNN trong điều kiện nước ta hiện nay có nguy cơ đe doạ đến sự an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính bởi DNNN là khách hàng vay chủ yếu của 4 ngân hàng thương mại quốc doanh; hơn thế nữa khả năng cạnh tranh của các DNNN rất yếu ngay trong cả những ngành, sản phẩm được bảo hộ tuyệt đối Khả năng cạnh tranh kém của các DNNN trong điều kiện Việt Nam đang và sẽ thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế có nguy

cơ dẫn đến tình trạng Nhà nước sẽ phải chịu chi phí rất lớn trong tương lai

để trợ cấp và duy trì các DNNN

Để DNNN có thể giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân thì những yếu kém, tồn tại của DNNN cần được khắc phục thông qua các biện pháp đổi mới tổ chức, hoạt động của DNNN

1.1.2 Công ty TNHH một thành viên

1.1.2.1 Khái quát về công ty

Công ty là loại hình doanh nghiệp xuất hiện rất sớm ở các nước phương tây Ngay từ những năm 70 của thế kỷ XVII, vua nước Pháp là Louis XIV đã ban hành sắc lệnh về công ty Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, phát triển và hoàn thiện, ngày nay công ty đã trở thành hình thức cơ bản của doanh nghiệp hiện đại.Nhiều nước trên thế giới đã có luật công ty để quy định về loại hình doanh nghiệp này

Trang 9

Hàm nghĩa ban đầu của công ty là nói về loại doanh nghiệp có từ 2 người góp vốn kinh doanh trở lên nhằm mục đích sinh lợi với 4 đặc trưng

cơ bản sau: là tổ chức kinh tế nhằm mục tiêu lợi nhuận; có từ 2 thành viên trở lên đầu tư góp vốn kinh doanh, có quan hệ rõ ràng về quản lý tài sản ở công ty; có tư cách pháp nhân; đăng ký theo luật định

Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 trên thế giới bắt đầu trào lưu cải cách mạnh mẽ DNNN, trong đó có việc áp dụng nguyên lý tổ chức

và quản lý của công ty tư nhân để áp dụng vào DNNN Từ đây xuất hiện loại hình công ty có một chủ sở hữu là Nhà nước và đã được một số nước bổ sung và quy định trong luật công ty của mình như: Úc, Niudilân, Trung quốc

Hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc thiết lập cho được cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty sao cho có hiệu quả nhất Trong đó vấn đề trọng tâm là làm thế nào thiết lập mối quan hệ quản lý của người chủ sở hữu với người được uỷ quyền quản lý để họ có trách nhiệm trong quản lý công ty, đồng thời vẫn tạo cho họ sự chủ động trong quản lý công ty

Các mô hình công ty hiện đại trên thế giới gồm 3 bộ phận chủ yếu: Chủ sở hữu; Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám sát và Giám đốc điều hành Chức năng của các bộ phận này như sau:

Chủ sở hữu (hoặc cổ đông) là người cung cấp vốn đầu tư hoặc vốn

cổ phần có các quyền cơ bản sau: Bầu và bãi miễn Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám sát; Thông qua hoặc không thông qua một số những vấn đề

cơ bản có tính nguyên tắc của công ty như thay đổi điều lệ, sáp nhập, tăng giảm vốn công ty; quyết định mức lãi và thụ hưởng lãi

Hội đồng quản trị là cơ quan thay mặt Chủ sở hữu (cổ đông) thực hiện việc quản lý công ty thông qua những công việc cụ thể sau: Bổ nhiệm, miễn nhiệm Giám đốc điều hành; Giám sát hoạt động điều hành của Giám đốc điều hành; Xem xét và thông qua các quyết định quan trọng khác không trực tiếp do chủ sở hữu quyết định

Trang 10

Giám đốc điều hành công ty không phải là một người mà là một số người do Hội đồng quản trị lựa chọn và bổ nhiệm Thực chất đây là bộ máy điều hành công ty, thực hiện chức năng điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty

Mô hình tổ chức quản lý công ty như vậy đã phân chia quyền lực giữa 3 bộ phận của công ty, đảm bảo cho cổ đông có thể quản lý và giám sát một cách tốt nhất đối với các nhà quản trị điều hành công ty

1.1.2.2 Khái niệm, đặc điểm của Công ty TNHH một thành viên

Công ty TNHH một thành viên là một loại hình doanh nghiệp mới ở Việt Nam, được quy định trong Luật doanh nghiệp ngày 12/6/1999 Loại hình doanh nghiệp này ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau được bình đẳng và cạnh tranh lành mạnh trên cùng một mặt bằng pháp lý

Điều 46 Luật Doanh nghiệp quy định: "Công ty TNHH một thành

viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu; chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp

Chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác

Công ty TNHH một thành viên không được quyền phát hành cổ phiếu Công ty TNHH một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh"

Trong thực tế kinh doanh ở Việt Nam đã tồn tại rất nhiều công ty TNHH trong đó có một số thành viên danh nghĩa, còn thực chất chỉ có một thành viên Việc đưa thêm một số thành viên danh nghĩa vào danh sách thành viên sáng lập công ty chỉ là cách làm hợp pháp hóa việc thành lập công ty, còn thực chất công ty chỉ có một chủ Như vậy, dù có được pháp luật thừa nhận hay không thì công ty TNHH một thành viên vẫn tồn tại và hoạt động nên thực tế Luật công ty trước đây không có khả năng ngăn chặn việc thành lập công ty thuộc sở hữu một chủ Do đó, khi Luật doanh

Trang 11

nghiệp thừa nhận loại hình kinh doanh này tức là đã đưa ra một giải pháp

pháp lý đối với một vấn đề bức xúc trên thực tế, môi trường kinh doanh có

thể rõ ràng và minh bạch hơn Ở một số nước trên thế giới cũng quy định

về loại hình công ty TNHH một thành viên, ở đó thành viên duy nhất của

công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức

Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là theo quy định tại Điều 46 Luật

doanh nghiệp thì: "Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một

tổ chức làm chủ sở hữu”, chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên

phải là tổ chức có tư cách pháp nhân Theo quy định tại Điều 14, Nghị định

số 03/2000/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03 tháng 02 năm 2000 Về hướng

dẫn thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp thì những tổ chức sau đây

có thể là chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên: cơ quan Nhà nước,

đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; các tổ chức chính trị, tổ chức

chính trị - xã hội cấp Trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung

ương; Liên hiệp các tổ chức hoà bình, đoàn kết hữu nghị Việt nam; các

doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; các tổ chức xã hội, tổ chức xã

hội nghề nghiệp; quỹ xã hội, quỹ từ thiện; các tổ chức khác có tư cách pháp nhân

Công ty TNHH một thành viên có một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Điểm đặc thù của mô hình công ty TNHH một thành

viên thể hiện ở chỗ: thành viên duy nhất của công ty cũng là chủ sở hữu

của công ty Về nguyên tắc, khi một người đầu tư vốn vào đâu thì họ có

quyền tham gia quyết định đối với hoạt động kinh doanh ở nơi đó Nên để

tránh sự lạm dụng quyền hạn của Chủ sở hữu công ty, Luật doanh nghiệp

đưa ra một số quy định ràng buộc nghiêm ngặt đối với Chủ sở hữu công ty,

đó là:

Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút vốn đã góp vào công

ty (dù là một phần hay toàn bộ) Chỉ được rút vốn bằng cách chuyển

nhượng một phần hay toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác

Khi Chủ sở hữu thực hiện quyền này, có thể Chủ sở hữu sẽ làm thay đổi

hình thức sở hữu hoặc hình thức pháp lý của doanh nghiệp Nếu Chủ sở

hữu chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho một tổ chức có tư cách pháp

Trang 12

nhân thì nó chỉ làm thay đổi Chủ sở hữu của doanh nghiệp; nhưng khi Chủ

sở hữu quyết định chuyển toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho cá nhân khác, hoặc khi chủ sở hữu chuyển một phần vốn điều lệ cho một tổ chức hoặc cá nhân khác, hình thức pháp lý của doanh nghiệp sẽ thay đổi, doanh nghiệp tồn tại dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty TNHH 2 thành viên trở lên

Chủ sở hữu chỉ được rút lợi nhuận của công ty khi công ty đã thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả

Việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ được thực hiện bằng cách tăng hoặc giảm vốn góp của chủ sở hữu công ty; điều chỉnh mức vốn điều lệ tương ứng với giá trị tài sản của công ty

Thứ hai: Công ty TNHH một thành viên có quyền độc lập, tự chủ

đối với hoạt động kinh doanh của mình Công ty TNHH một thành viên có đầy đủ các quyền năng: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với tài sản của mình; quyết định hợp đồng mua bán vay cho vay và các hợp đồng khác có giá trị dưới 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công

ty hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn được quy định trong điều lệ công ty

Chủ sở hữu công ty quyết định về các dự án đầu tư, về các quan hệ hợp đồng có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty

Như vậy, công ty TNHH một thành viên có sự độc lập tương đối với chủ sở hữu công ty trong sử dụng và định đoạt tài sản của công ty, có quyền tham gia vào các quan hệ tài sản có giá trị nhỏ hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong sổ sách kế toán công ty

Thứ ba: Công ty TNHH một thành viên là một pháp nhân kinh

doanh hoàn toàn độc lập, nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật Khi có rủi ro xảy ra từ hoạt động của công ty TNHH một thành viên, công ty TNHH một thành viên sẽ sử dụng tài sản là vốn điều lệ của công ty

để chịu trách nhiệm Điều đó có nghĩa là trách nhiệm của công ty TNHH một thành viên trong hoạt động kinh doanh là trách nhiệm hữu hạn Chủ sở

Trang 13

hữu công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi vốn điều lệ của doanh nghiệp

1.2 CĂN CỨ CỦA VIỆC CHUYỂN DNNN THÀNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

Công ty TNHH một thành viên là mô hình kinh doanh hiện đại, có

tư cách pháp nhân, có quyền độc lập, tự chủ đối với hoạt động kinh doanh của mình trong phạm vi số vốn chủ sở hữu giao Chủ sở hữu Công ty TNHH một thành viên là một tổ chức có tư cách pháp nhân, đây là điểm tương đồng giữa DNNN và Công ty TNHH một thành viên Về DNNN, mặc dù Luật Doanh nghiệp Nhà nước có quy định rõ DNNN là pháp nhân kinh doanh có các quyền và nghĩa vụ dân sự, độc lập chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của mình trong phạm vi số tài sản mà Nhà nước giao Như vậy có nghĩa là Luật doanh nghiệp Nhà nước đã quy định DNNN có đầy đủ các đặc trưng của công ty hiện đại Nhưng trên thực tế, DNNN không có được những đặc trưng này Điều đó dẫn đến hiệu quả hoạt động

và khả năng cạnh tranh của các DNNN trên thương trường rất kém

Từ khi Việt nam bước vào thời kỳ đổi mới, chủ trương của Đảng và Nhà nước là phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong nền kinh tế đó không chỉ có DNNN và các hợp tác xã là chủ thể kinh doanh nữa, mà: mọi cá nhân, tổ chức được tham gia vào hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật (Điều 57- Hiến pháp 1992) Sự bình đẳng của tất cả các thành phần kinh tế khi tham gia vào hoạt động kinh doanh đã được pháp luật thừa nhận Do vậy, trong những năm gần đây, môi trường kinh doanh của các DNNN đã thay đổi, các doanh nghiệp đang phải cạnh tranh gay gắt trên nhiều mặt Thực lực kinh doanh của DNNN không đáp ứng yêu cầu đề ra là: kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, DNNN là lực lượng nòng cốt (1.tr.12) Do vậy, việc đổi mới hoạt động của DNNN đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ rất sớm Hội nghị lần

thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII đã chỉ rõ: “Chuyển các

DNNN hoạt động kinh doanh sang hoạt động theo cơ chế công ty TNHH hoặc công ty cổ phần; bổ sung hình thức công ty TNHH chỉ có một sáng lập viên để áp dụng đối với doanh nghiệp kinh doanh 100% vốn Nhà

Trang 14

nước” Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX khẳng định tiếp tục thực hiện

chủ trương này “Chuyển các DNNN kinh doanh sang cơ chế công ty TNHH

hoặc công ty cổ phần” Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương

Đảng khoá IX đã đưa ra Nghị quyết về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển

và nâng cao hiệu quả DNNN và khẳng định: “DNNN phải không ngừng

được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả, giữ vị trí then chốt trong nền kinh tế, làm công cụ vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô, làm lực lượng nòng cốt, góp phần chủ yếu để kinh tế Nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” và “chuyển các doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn sang hình thức công ty TNHH một chủ sở hữu là Nhà nước hoặc công ty cổ phần gồm các cổ đông là các DNNN” Căn cứ vào định hướng trên đây của

Đảng, ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp Tại điều

1, khoản 2 Luật doanh nghiệp quy định: DNNN khi chuyển đổi thành công

ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần được điều chỉnh theo luật này Trình tự và thủ tục chuyển đổi do Chính phủ quy định Mục II Chương III của Luật này quy định về loại hình công ty TNHH một thành viên Trên cơ

sở đó, ngày 20/7/1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 20/1999/CT-TTg yêu cầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo Nghị định quy định về trình tự và thủ tục chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên Ngày 14/9/2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2001/NĐ-CP về chuyển đổi DNNN, doanh nghiệp của tổ chức chính trị,

tổ chức chính trị xã hội thành công ty TNHH một thành viên Nghị định này không chỉ quy định về trình tự, thủ tục chuyển đổi, mà còn bổ sung các quy định cần thiết về tổ chức, quản lý, nhằm đảm bảo sự vận hành đôí với công ty TNHH một thành viên sau chuyển đổi

Chủ trương, định hướng của Đảng về đổi mới DNNN, quy định Luật doanh nghiệp về công ty TNHH một thành viên; Nghị định số 63/2001/NĐ/CP ngày 14/9/2001 của Chính phủ về chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên; các thông tư hướng dẫn của các Bộ, ngành có liên quan về các vấn để có liên quan đến chuyển đổi DNNN thành

Trang 15

công ty TNHH một thành viên chính là cơ sở Chính trị, pháp lý của việc chuyển đổi này

Các DNNN để có thể đứng vững trong cạnh tranh và làm tròn vai trò mà Nhà nước giao phó, thì nó phải có quyền tự quyết định cao hơn và

tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình, giảm bớt trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động của doanh nghiệp Để làm được điều đó thì những vấn đề sau đây của DNNN cần được giải quyết:

(1) Xác lập đầy đủ tư cách pháp nhân của DNNN để các DNNN hoàn toàn độc lập đối với hoạt động kinh doanh của mình Các DNNN đã được xác định là có tư cách pháp nhân nhưng hiện vẫn chưa có đầy đủ các điều kiện để đảm bảo tư cách pháp nhân DNNN chưa có đủ các quyền đối với tài sản do Nhà nước giao, vẫn bị chủ sở hữu can thiệp dưới nhiều hình thức; doanh nghiệp chưa có quyền tự chủ nhân danh mình (pháp nhân độc lập) để tham gia vào các quan hệ kinh tế và quyết định các vấn đề kinh doanh của doanh nghiệp như quyết định đầu tư, liên doanh, góp vốn, mua bán, thanh lý, cầm cố, chuyển nhượng tài sản;

(2) Đảm bảo chế độ trách nhiệm hữu hạn của DNNN Hiện nay các DNNN ở Việt nam chưa thực hiện chế độ tự chịu trách nhiệm; nhiều doanh nghiệp vẫn được Nhà nước xoá nợ, khoanh nợ hoặc tiếp tục cho hưởng chế

độ bao cấp dưới nhiều hình thức Như vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp

đã được chuyển giao một phần cho Nhà nước, DNNN không thực hiện được nghĩa vụ, trách nhiệm của pháp nhân là tự chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản của mình;

(3) Tạo động lực cho hoạt động của các doanh nghiệp, tạo ra một sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Các quy định hiện hành chưa tạo động lực đủ mạnh để DNNN hoạt động có hiệu quả hơn, vẫn tồn tại những quy định áp đặt những thủ tục phiền hà, cơ chế trách nhiệm cá nhân, các chế tài chưa nghiêm minh, chưa

đủ mạnh để hạn chế những tiêu cực phát sinh Môi trường hoạt động bên trong và bên ngoài DNNN không tạo được đủ động lực cho DNNN phát triển, chưa có một sân chơi bình đẳng cho DNNN và các doanh nghiệp

Trang 16

(4) Tách mục tiêu xã hội ra khỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, để doanh nghiệp có thể tập trung mọi nguồn lực để thực hiện hoạt động kinh doanh Hiện nay, DNNN được giao thực hiện quá nhiều mục tiêu xen kẽ nhau, thậm chí trái ngược nhau làm cho doanh nghiệp không thể tập trung toàn bộ nguồn lực để thực hiện mục tiêu chính là kinh doanh như các công ty tư nhân nên hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNN rất yếu kém

(5) Phân định rạch ròi giữa quyền quản lý Nhà nước và quyền của chủ sở hữu Nguyên nhân cơ bản dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của DNNN là việc trong DNNN không có sự phân biệt rạch ròi giữa quyền năng của Chủ sở hữu và quyền quản lý Nhà nước; giữa quyền chủ sở hữu và quyền tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp Quyền sở hữu phân công cho nhiều cơ quan nhưng chưa phân định rõ chức năng nhiệm vụ

và mối quan hệ của các cơ quan này, nên vừa buông lỏng quản lý, vừa can thiệp quá sâu và chồng chéo vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đại diện Chủ sở hữu doanh nghiệp đồng thời là người thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp, can thiệp trực tiếp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Bởi vậy, trên thực tế Nhà nước là người thực hiện hoạt động kinh doanh Một chủ thể vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đồng thời lại là chủ thể kinh doanh thì sẽ không thể đạt được kết quả cao nhất từ cả hai hoạt động

Tổ chức quản lý hoạt động của công ty TNHH một thành viên theo quy định của Luật Doanh nghiệp khắc phục được những hạn chế đó của DNNN

Vấn đề trọng tâm nhất của cải cách DNNN ở Việt nam từ khi bắt đầu công cuộc này cho đến nay là làm thế nào để tách bạch rõ giữa quyền Chủ sở hữu và quyền quản lý Nhà nước Qua rất nhiều giai đoạn của quá trình cải cách, chúng ta vẫn luôn tỏ ra lúng túng trong việc xử lý vấn đề này

Trong giai đoạn hiện nay, khi mà việc sắp xếp, đổi mới DNNN được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ cấp bách, chiến lược của cải cách kinh tế ở Việt nam thì nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình này là phải thay đổi cách thức tổ chức quản lý, đổi mới quan hệ của chủ sở hữu với các doanh nghiệp, khắc phục những hạn chế trong cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý hiện tại của khu vực DNNN

Trang 17

Đổi mới DNNN bằng cách công ty hoá DNNN - chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên là rất phù hợp với điều kiện thực tế của Việt nam, đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của quá trình đổi mới nền kinh tế nói chung và khu vực DNNN nói riêng

Do vậy có thể nói: nền kinh tế thị trường được xác lập tương đối hoàn chỉnh với những yêu cầu đặt ra về đổi mới tổ chức quản lý DNNN đã nêu trên là căn cứ cơ bản để chuyển DNNN sang hoạt động theo mô hình công

Tuy có tỷ trọng kinh tế Nhà nước khác nhau nhưng các nước đều quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả của DNNN Từ cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ 20, Chính phủ của nhiều nước đã bắt đầu xem xét lại vai trò của mình trong phát triển kinh tế Nhà nước, tiến hành cải cách DNNN theo nhiều cách khác nhau, trong đó xu hướng nổi bật là chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty Các nước cũng tiến hành tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về hiệu quả giữa DNNN và khu vực kinh tế tư nhân để cải cách DNNN Nguyên nhân cơ bản của tình trạng hoạt động kém hiệu quả của DNNN có nguồn gốc từ chỗ

có sự khác biệt trong tổ chức quản lý DNNN so với các công ty tư nhân, do

đó DNNN không có được động lực phát triển như đối với các công ty tư nhân

Để cải thiện tình hình khu vực kinh tế Nhà nước, nhiều nước trên

Trang 18

áp dụng biện pháp chuyển đổi sở hữu từ khu vực Nhà nước sang khu vực tư nhân; hoặc vẫn giữ sở hữu Nhà nước nhưng giảm dần sự kiểm soát quá chặt của Nhà nước, tạo cho DNNN quyền tự quyết trong điều hành doanh nghiệp theo kiểu của công ty tư nhân Chính việc áp dụng có hiệu quả kiểu quản lý của công ty tư nhân đối với DNNN là hướng quan trọng để hình thành các công ty Nhà nước ở nhiều nước trên thế giới

Thực tế đã khẳng định sự đúng đắn của luận điểm cho rằng việc nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN có thể thực hiện được không chỉ bằng cách tiến hành tư nhân hoá DNNN mà có thể áp dụng các nguyên tắc

tổ chức và quản lý của công ty đối với những DNNN mà Nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ 100% vốn

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước về chuyển đổi DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty cho thấy các hình thức sau đây được áp dụng:

1- Chuyển DNNN thành công ty một chủ Nhà nước và áp dụng các nguyên tắc tổ chức và quản lý theo kiêủ công ty tư nhân

2- Thành lập các công ty TNHH, công ty Cổ phần Nhà nước trên cơ

sở vốn góp của các DNNN

3- Cổ phần hoá DNNN để chuyển các DNNN thành các công ty Cổ phần trên cơ sở phát hành cổ phiều để thu hút thêm vốn vào DNNN hoặc bán bớt cổ phần của DNNN

Các nước như: Niudilân, Úc, Hàn quốc, Trung Quốc đã tiến hành rất mạnh các biện pháp nêu trên để cải cách DNNN, làm cho việc cải cách DNNN đạt được mục tiêu quan trọng là nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh của DNNN

Ở Niudilân năm 1985, Bộ tài chính Niudilân đã công bố 5 nguyên tắc cơ bản để tổ chức lại hoạt động kinh doanh của các DNNN như sau:

1 Các chức năng phi kinh doanh cần phải tách khỏi tổ chức kinh doanh của Nhà nước;

Trang 19

2 Các nhà quản trị kinh doanh phải tiến hành các hoạt động kinh doanh đạt kết quả tốt;

3 Các nhà quản trị doanh nghiệp có trách nhiệm về việc sử dụng đầu vào, giá cả, tiếp thị;

4 Các doanh nghiệp hoạt động không được dựa vào lợi thế cạnh tranh, xoá bỏ những lợi thế hoặc bất lợi thế này trong kinh doanh;

5 Doanh nghiệp phải được thành lập đúng theo mô hình công ty tư nhân (theo luật tư)

Ở Úc, công ty hóa DNNN được thực hiện theo các nguyên tắc:

1 Định rõ mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp được công ty hóa, theo đó tách mục tiêu xã hội ra khỏi doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ còn chức năng kinh doanh;

2 Đảm bảo quyền tự quyết của người quản lý doanh nghiệp Hội đồng quản trị của doanh nghiệp này có quyền tự điều hành doanh nghiệp không bị chi phối bởi các quyết định mang ý nghĩa chính trị của Chính phủ,

kể cả các nhiệm vụ xã hội do Chính phủ giao;

3 Quy định rõ ràng chế độ thưởng phạt đối với Ban quản lý điều hành doanh nghiệp trên cơ sở những cam kết giữa Hội đồng quản trị và cổ đông đại diện cho Nhà nước;

4 Tạo môi trường cạnh tranh công bằng cho các công ty, các doanh nghiệp có vốn Nhà nước không được ưu ái hơn các doanh nghiệp khác;

5 Sau khi chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty, các DNNN

là công ty thuộc sở hữu Nhà nước, kho bạc Nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm theo dõi hoạt động và đánh giá hiệu quả của công ty, đồng thời công

ty có trách nhiệm định kỳ báo cáo lên kho bạc Nhà nước

Theo đánh giá chung, thông qua việc chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty đã làm cho việc cải cách doanh nghiệp ở Úc đạt được kết quả khả quan là nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của DNNN và có thể thay thế được biện pháp tư nhân hoá

Trang 20

Ở Trung Quốc việc cải cách DNNN được tiến hành từng bước theo phương pháp tiếp cận dần, công cuộc này bắt đầu từ năm 1979 Trong quá trình cải cách DNNN Trung Quốc đã đưa ra được những chủ trương và giải pháp phù hợp nổi bật nhất là:

(1) Trao quyền tự chủ cho DNNN và giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp Trung Quốc đang tiếp tục cải cách

và trao quyền tự chủ thật sự cho doanh nghiệp để doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình và giảm dần sự ỷ lại vào Nhà nước

Theo quy định của Luật xí nghiệp công nghiệp thuộc sở hữu toàn

dân nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa năm 1988 thì: “Xí nghiệp là đơn vị

sản xuất, kinh doanh hàng hoá, tự chủ kinh doanh, tự chịu lỗ lãi, hoạch toán độc lập theo luật định Nhà nước giao cho xí nghiệp quyền quản lý kinh doanh tài sản thuộc sở hữu toàn dân theo nguyên tắc tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kinh doanh Xí nghiệp được hưởng quyền sở hữu,

sử dụng và xử lý theo luật định đối với tài sản mà Nhà nước giao cho xí nghiệp quản lý kinh doanh”

Quy định của luật pháp đã tạo cho các DNNN quyền tự chủ trong hoạt động kinh doanh Tài sản của doanh nghiệp là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng khi doanh nghiệp được thành lập thì doanh nghiệp có quyền tự chủ trong sử dụng và xử lý đối với tài sản theo luật định, Nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Sự độc lập, tự chủ của doanh nghiệp đối với hoạt động quản lý của Nhà nước không chỉ dừng lại ở việc xác lập quyền sở hữu, sử dụng và xử lý đối với tài sản mà nó còn thể hiện trong cả cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Nhà nước (Bộ chủ quản) chỉ có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm đối với giám đốc, người này trong nhiều trường hợp có thể do đại hội công nhân viên chức quyết định, các chức danh lãnh đạo trung gian khác trong doanh nghiệp do giám đốc doanh nghiệp quyết định

(2) Đa dạng hóa các loại hình DNNN và xây dựng doanh nghiệp hiện đại, cụ thể là:

Trang 21

Hoàn thiện chế định pháp nhân doanh nghiệp, trong đó xác định rõ phạm vi trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp đối với hoạt động kinh doanh Mặc dù sở hữu Nhà nước vẫn được duy trì nhưng doanh nghiệp vẫn có quyền sở hữu tài sản và bằng các tài sản của mình để chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài sản Nhà nước bằng vốn góp vào doanh nghiệp chịu trách nhiệm hữu hạn đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giữa Nhà nước và doanh nghiệp không còn quan hệ hành chính phụ thuộc như trước

Xác định rõ chủ thể đầu tư của doanh nghiệp, hiện nay Trung Quốc

có bốn loại chủ thể đầu tư là: Công ty khống chế cổ phần Nhà nước, Công

ty quốc hữu, Công ty kinh doanh tài sản Nhà nước và Công ty theo mô hình tập đoàn Đây là các chủ thể đầu tư chủ yếu cho các loại DNNN

Xác định lại hình thức tổ chức DNNN, chuyển DNNN thành công

ty, hoạt động này nhằm chuyển các DNNN có điều kiện sang kinh doanh theo mô hình công ty tư nhân trong khi Nhà nước vẫn chi phối bằng các hình thức: lập công ty 100% sở hữu Nhà nước hoặc Nhà nước nắm giữ cổ phần khống chế dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty TNHH Để tạo cơ

sở pháp lý cho việc này, năm 1993 Trung Quốc đã ban hành Luật công ty trong đó quy định rõ 3 loại công ty có thể áp dụng cho DNNN là: công ty TNHH đặc biệt có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước; công ty TNHH

và công ty cổ phần hữu hạn có các cổ đông là các DNNN (27.tr.126)

Tổ chức lại cơ cấu quản lý nội bộ của doanh nghiệp tạo ra sự chủ động của người điều hành hoạt động của doanh nghiệp trong việc quyết định nhân sự của doanh nghiệp

Chuyển DNNN thành các công ty cổ phần có sở hữu hỗn hợp Hình thức này ở Trung Quốc khác Việt Nam ở chỗ, nó thu hút thêm vốn góp từ bên ngoài vào doanh nghiệp chứ không bán tài sản của Nhà nước

Trung Quốc cũng đã quy định về công ty TNHH một chủ từ rất sớm, những công ty này được gọi là công ty TNHH đặc biệt vì nó chỉ có một chủ sở hữu duy nhất là Nhà nước (chủ sở hữu là cơ quan được Nhà nước uỷ quyền đầu tư hoặc ngành được Nhà nước giao quyền) Hiện nay Chính phủ Trung Quốc đang thực hiện chuyển đổi phương thức quản lý tài

Trang 22

nước, công ty này sẽ là đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại các doanh nghiệp, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chủ sở hữu

Từ kinh nghiệm cải cách DNNN theo hướng chuyển DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty mà Nhà nước vẫn nắm giữ 100% sở hữu ở các nước trên thế giới cho thấy đây là một hướng đi đúng, bởi nó đã phân định rõ trách nhiệm của doanh nghiệp với tư cách là một pháp nhân thực hiện hoạt động kinh doanh và Nhà nước với tư cách là người đầu tư vốn; tách bạch rõ chức năng quản lý Nhà nước với chức năng quản lý của chủ sở hữu Điều này làm tăng thêm tính chủ động trong kinh doanh của doanh nghiệp, khắc phục sự ỷ lại của doanh nghiệp vào Nhà nước Đây là xu hướng chung được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng khi tiến hành cải cách DNNN

Ở Việt Nam từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ thứ VI, kinh tế Việt nam chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa DNNN trở thành chủ thể tham gia vào quan hệ thị trường, chịu sự tác động của thị trường, đồng thời chịu

sự tác động nhất định của Nhà nước Để DNNN có thể làm tốt vai chủ đạo trong nền kinh tế Quốc dân thì DNNN rất cần phải được thay đổi về tổ chức quản lý, về quan hệ giữa Nhà nước và DNNN, tạo cho DNNN những đặc điểm của công ty nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Việc thay đổi cách thức tổ chức quản lý, đổi mới quan hệ của chủ

sở hữu với DNNN, khắc phục những hạn chế của cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý DNNN bằng cách chuyển DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên là rất phù hợp

Đối với các đơn vị bên trong doanh nghiệp, việc chuyển DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty là nhằm cơ cấu lại nội bộ doanh nghiệp, tạo ra cơ cấu tổ chức quản lý thích ứng với cơ chế thị trường, đổi mới đội ngũ cán bộ công nhân viên tạo ra phong cách làm việc phù hợp với yêu cầu của thị trường, tạo ra động lực bên trong của doanh nghiệp mà nguồn gốc của nó là xuất phát từ quyền tự chủ và lơị ích của pháp nhân doanh nghiệp được tôn trọng

Trang 23

Trong quan hệ giữa DNNN với các doanh nghiệp khác, việc chuyển DNNN sang hoạt động theo mô hình công ty chính là tạo điều kiện để DNNN sử dụng quyền của pháp nhân doanh nghiệp, qua đây xác định rõ hơn tư cách pháp nhân của doanh nghiệp, trong đó vấn đề cốt lõi là xác định quyền tài sản của pháp nhân DNNN, tạo điều kiện dễ dàng hơn cho DNNN trong việc tham gia vào các quan hệ kinh doanh Mục tiêu chính của vấn đề này là chuyển DNNN từ loại hình kém năng động, phụ thuộc vào Nhà nước, do các cơ quan Nhà nước trực tiếp can thiệp và quản lý sang loại hình doanh nghiệp năng động, phản ứng linh hoạt với những tín hiệu của thị trường mà vẫn do Nhà nước chi phối

1.3 Ý NGHĨA CỦA VIỆC CHUYỂN DNNN THÀNH CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN

Việc cải cách DNNN là một công việc cấp bách đã được tiến hành ở Việt Nam từ nhiều năm nay, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN nói riêng và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội Việt Nam nói chung Chuyển các DNNN mà Nhà nước vẫn nắm giữ 100% vốn sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên có ý nghĩa to lớn trên tất cả các mặt đối với tiến trình cải cách kinh tế nói chung và cải cách khu vực DNNN nói riêng Cụ thể là:

1.3.1 Về mặt pháp lý

Mô hình DNNN và công ty TNHH một thành viên đều có chung một đặc điểm là thuộc sở hữu của một chủ (một tổ chức) Nhưng đối với hoạt động của doanh nghiệp, chủ sở hữu các doanh nghiệp này can thiệp không giống nhau Điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Các DNNN chưa có đủ quyền hạn và không hoàn toàn chịu trách nhiệm về những yếu kém trong kinh doanh (30.tr.38) Trong khi đó, công ty TNHH một thành viên lại có được những lợi thế hơn hẳn DNNN, đó chính là sự chủ động của công ty đối với hoạt động kinh doanh Bởi thế, việc chuyển các DNNN sang hoạt động theo mô hình công

ty TNHH một thành viên xét dưới góc độ pháp lý là rất phù hợp vì các lý do:

Trang 24

Thứ nhất: Xác định rõ về tư cách pháp nhân của doanh nghiệp

Công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ DNNN là pháp nhân,

có quyền tự chủ (nhân danh mình) tham gia các quan hệ kinh tế, quyết định các vấn đề kinh doanh của doanh nghiệp như: đầu tư, liên doanh, góp vốn, mua bán, thanh lý, cầm cố, chuyển nhượng tài sản… Những việc này trước đây do chủ sở hữu can thiệp dưới nhiều hình thức

Thứ hai: Có sự chuyển đổi sâu sắc trong quan hệ giữa doanh

nghiệp với Nhà nước Cụ thể là:

Xác định rõ một tổ chức duy nhất là Chủ sở hữu hoặc đại diện Chủ

sở hữu nên đã giảm sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Giảm bớt cơ chế xin - cho đối với cơ quan quản lý hay chủ sở hữu, xóa bao cấp và một số nghĩa vụ xã hội không mang tính kinh doanh cho doanh nghiệp, doanh nghiệp được hạch toán kinh doanh theo thị trường Như vậy có nghĩa là vai trò của Nhà nước đối với các DNNN đã thay đổi căn bản Từ chỗ được nhìn nhận và hoạt động như người quản lý điều hành tác nghiệp doanh nghiệp, nay Nhà nước đã chuyển sang vai trò của người chủ, người sở hữu đối với doanh nghiệp Quá trình chuyển đổi này đã tạo ra một khoảng cách cần thiết nhất định giữa Nhà nước và doanh nghiệp, giúp cho Nhà nước quản lý doanh nghiệp đúng vai trò của một người chủ, không can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp

Do sự chuyển đổi này nên Nhà nước sẽ không can thiệp sâu vào quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, mà đối xử với doanh nghiệp với tư cách là Chủ đầu tư vốn vào doanh nghiệp Ở đây có sự tách bạch giữa Chủ

sở hữu và người quản lý doanh nghiệp

Thứ ba: Góp phần đưa Luật doanh nghiệp trở thành luật chung điều

chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam Các DNNN khi chuyển thành công ty TNHH một thành viên sẽ hoạt động theo Luật doanh nghiệp- hoạt động trên cùng mặt bằng pháp lý với các doanh nghiệp khác và hoàn toàn bình đẳng với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có cơ hội cạnh tranh bình đẳng với

Trang 25

nhau, đây là động lực thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp nói riêng

và nền kinh tế Việt Nam nói chung

Thực tế đã chứng minh: Bất kỳ doanh nghiệp nào dù là quốc doanh hay tư nhân cũng chỉ có thể hoạt động có hiệu quả khi phải đương đầu với một thị trường cạnh tranh Các doanh nghiệp sẽ phải phát triển kỹ năng Marketing của mình, quan tâm chặt chẽ tới chất lượng phục vụ, nâng cao trình độ công nghệ và kiểm soát chi phí và được lợi từ hoạt động này là

xã hội và dân cư trong xã hội đó

Thứ tư: Về bản chất của việc chuyển đổi DNNN thành công ty

TNHH một thành viên Khi các DNNN chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên sẽ không làm thay đổi bản chất sở hữu của doanh nghiệp

mà chỉ làm thay đổi về hình thức pháp lý Sở hữu của các doanh nghiệp này vẫn thuộc Nhà nước, nhưng quyền hạn, nghĩa vụ của doanh nghiệp sau chuyển đổi sẽ tương tự như các doanh nghiệp hoạt động theo luật doanh nghiệp, tổ chức quản lý và hoạt động thực hiện theo Luật Doanh nghiệp, cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp theo cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH một thành viên Như vậy có nghĩa là mọi vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước sau khi chuyển đổi được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp và các văn bản pháp luật về chuyển đổi, Luật Doanh nghiệp Nhà nước không còn được áp dụng với doanh nghiệp này

Đây không chỉ đơn thuần là sự chuyển đổi về hình thức pháp lý của doanh nghiệp mà là sự thay đổi về chất đối với doanh nghiệp do sự chuyển đổi hình thức pháp lý và cơ cấu của doanh nghiệp mang lại như: Có sự chuyển đổi sâu sắc trong quan hệ giữa Nhà nước với doanh nghiệp, giảm sự can thiệp của Nhà nước, giới hạn trách nhiệm của Nhà nước, xóa bỏ bao cấp, loại bỏ những nghĩa vụ xã hội phi kinh tế cho doanh nghiệp Nhà nước đối xử với doanh nghiệp với tư cách là chủ đầu tư vốn vào doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh và bình đẳng với các doanh nghiệp khác, quyền hạn, trách nhiệm tương tự như các doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp, nhờ vậy mà nâng cao hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Trang 26

1.3.2 Về mặt kinh tế

Việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên làm cho các quyền của doanh nghiệp được mở rộng hơn, doanh nghiệp có sự năng động, tự chủ, sáng tạo trong quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn đảm bảo được định hướng và sự quản lý của Chủ sở hữu Những tác dụng tích cực về mặt kinh tế thể hiện trên các phương diện:

Thứ nhất: Xác định rõ ràng phạm vi trách nhiệm của doanh nghiệp

đối với hoạt động kinh doanh, góp phần làm giảm gánh nặng cho ngân sách Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty Khi DNNN chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên, tình trạng Nhà nước bù lỗ, khoanh nợ, xoá nợ cho DNNN sẽ chấm dứt Doanh nghiệp được hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường và cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp khác Điều đó cũng có nghĩa là chuyển mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp hướng vào mục đích thương mại theo nhu cầu của thị trường Doanh nghiệp không còn phải ở trong tình trạng vừa thực hiện hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận vừa phải đảm trách nhiệm vụ

xã hội, dẫn đến nhiều khi mục tiêu kinh doanh thu lợi nhuận thường bị triệt tiêu hoặc bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu xã hội

Thứ hai: Sự năng động, tự chủ của doanh nghiệp trong kinh doanh

sau khi được chuyển đổi, tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển hoạt động kinh doanh, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Điều này phù hợp với mong muốn của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong quá trình cải cách và đổi mới hoạt động của DNNN

Doanh nghiệp có quyền tự do hoạt động như bất kỳ đơn vị kinh doanh nào khác mà không chịu sự ràng buộc chặt chẽ như trước đây với tư cách là đơn vị trực thuộc Chính phủ Nhu cầu về tài chính của doanh nghiệp luôn được đáp ứng trên nguyên tắc thương mại, có vay có trả, Nhà nước không phải trả nợ thay cho doanh nghiệp; doanh nghiệp được quyền

tự do lựa chọn bạn hàng và nội dung các quan hệ kinh doanh của mình… Tất cả những điều đó đều khẳng định rằng: khi các DNNN được tổ chức và

Trang 27

hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên thì nó hoàn toàn chủ động trong mọi hoạt động của mình Sự chủ động là một trong những yếu tố cơ bản quyết định đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Nhà nước thực hiện quyền quản lý của mình đối với doanh nghiệp bằng phương thức: xây dựng cơ chế, chính sách pháp luật, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp; tổ chức là Chủ sở hữu doanh nghiệp có quyền quyết định thành lập, đầu tư vốn vào doanh nghiệp và quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp; doanh nghiệp là chủ thể độc lập thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình

Chủ sở hữu doanh nghiệp chỉ quản lý doanh nghiệp trên cơ sở giá trị

mà không quản lý về hiện vật, nên hạn chế được sự can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp (của người quản lý doanh nghiệp)

Thứ ba: Các DNNN chuyển thành công ty TNHH một thành viên

góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam Các doanh nghiệp có quyền chủ động trong việc sử dụng vốn, đổi mới công nghệ tạo cho sản phẩm của doanh nghiệp không chỉ có thị trường Việt Nam là thị trường chính như hiện tại, mà sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam có

đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đây là cơ sở để khu vực doanh nghiệp này bớt khó khăn hơn trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và Quốc tế

Thứ tư: Khi các DNNN được chuyển thành công ty TNHH một

thành viên thì quyền lợi của các bạn hàng của doanh nghiệp sẽ được đảm bảo hơn Bởi các quy định về công ty TNHH một thành viên có khả năng hạn chế được sự tùy tiện của chủ sở hữu đối với việc rút vốn, điều chuyển vốn… Chủ sở hữu công ty không được trực tiếp rút vốn mà chỉ có quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn đã góp vào công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác, chủ sở hữu không được quyền rút lợi nhuận khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ và các nghĩa

vụ tài sản khác đến hạn phải trả

Trang 28

1.3.3 Về mặt xã hội

Việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên có ý nghĩa to lớn về mặt xã hội Cụ thể là:

 DNNN khi được chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên

sẽ hoạt động theo cơ chế thị trường Người làm việc trong doanh nghiệp không còn chế độ biên chế Số lượng lao động, yêu cầu về trình độ, năng lực của người lao động do doanh nghiệp (người sử dụng lao động) quyết định Doanh nghiệp có quyền chủ động xử lý đối với số lao động dôi dư, không có năng lực Doanh nghiệp có quyền chủ động trong việc thuê lao động theo chế độ hợp đồng đối với những người có năng lực, đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp; có quyền cho thôi việc, chấm dứt hợp đồng nếu người lao động vi phạm hợp đồng đã ký kết; có quyền quyết định mức lương, hình thức trả lương cho người lao động… dựa vào hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Điều đó đòi hỏi: người lao động phải có ý chí học hỏi vươn lên đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường sức lao động Bên cạnh đó cũng cho phép người lao động được đào tạo về trình độ, tay nghề cao, có thể tìm kiếm và lựa chọn những cơ hội làm việc tốt nhất cho mình

Do sự tác động theo chiều hướng tích cực từ nhiều phía nên các doanh nghiệp có nhiều khả năng phát triển và mở rộng quy mô của mình, khi đó nhu cầu sử dụng sức lao động sẽ tăng, khả năng có được việc làm của những lao động đã được đào tạo và chưa có việc làm rất lớn Vì vậy, việc chuyển đổi DNNN dưới hình thức này trong tương lai sẽ góp phần giải quyết các vấn đề về lao động - xã hội, một phần giải quyết được tình trạng thất nghiệp của số đông người lao động

 Do có được hiệu quả cao trong kinh doanh sau khi chuyển đổi nên phần đóng góp của những doanh nghiệp này vào ngân sách cũng tăng lên, ngân sách Nhà nước không phải thường xuyên có một khoản dành để hỗ trợ cho các DNNN Và như vậy, một nguồn không nhỏ từ ngân sách Nhà nước được đưa vào quỹ phúc lợi xã hội góp phần to lớn trong việc cải thiện đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Trang 29

Việt Nam đã và đang từng bước tiến hành đổi mới hoạt động của khu vực DNNN bằng nhiều biện pháp khác nhau, trong đó việc công ty hóa DNNN cũng bắt đầu được áp dụng thông qua biện pháp: Cổ phần hóa các DNNN Nhưng thực tế đã chứng minh rằng, việc quản lý đối với các DNNN cổ phần hóa là rất khó khăn và phức tạp, có nhiều khả năng vốn trong doanh nghiệp một phần thuộc về Nhà nước nhưng lợi nhuận thu được

từ hoạt động kinh doanh sẽ chảy vào túi tư nhân Nên một doanh nghiệp hoàn toàn chủ động, linh hoạt trong các hoạt động kinh doanh, kinh doanh

có hiệu quả mà vẫn thuộc sở hữu 100% của Nhà nước là một sự lựa chọn đúng

Vấn đề chuyển DNNN thành công ty TNHH một thành viên đã được pháp luật quy định Hiện nay chúng ta đang bắt đầu áp dụng những quy định đó vào thực tiễn Do vậy việc tìm hiểu nội dung của pháp luật về chuyển đổi, phân tích ưu, nhược điểm của những quy định đó có ý nghĩa rất quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại DNNN diễn ra hợp lý

Trang 30

CHƯƠNG II

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM

HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN Ở VIỆT NAM

Thực hiện chủ trương của Đảng về việc tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN để DNNN góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa được thể hiện trong Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết Trung ương IV - khóa IX của Đảng cộng sản Việt Nam Quốc hội, Chính phủ đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật để thể chế hóa đường lối, chủ trương này của Đảng Một trong những hình thức đổi mới DNNN theo tinh thần của Nghị quyết Trung ương III khóa IX là chuyển các DNNN hoạt động kinh doanh mà Nhà nước vẫn tiếp tục nắm giữ 100% vốn sang hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên Chủ tương đổi mới này của Đảng đã được Chính phủ thể chế hóa bằng Nghị định số 63/2001/NĐ-CP ngày 14/9/2001 về chuyển đổi DNNN, doanh nghiệp của tổ chức chính trị - xã hội thành công

ty TNHH một thành viên căn cứ vào Nghị định số 63/CP, các cơ quan chức năng có liên quan như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh và xã hội đã ban hành các thông tư hướng dẫn thực hiện Quy định trong các văn bản đó chính là cơ sở pháp lý cho việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên

2.1 NỘI DUNG CỦA PHÁP LUẬT CHUYỂN ĐỔI

2.1.1 Đối tượng chuyển đổi

Để thực hiện việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên trước hết phải xác định được những DNNN nào là doanh nghiệp thuộc diện chuyển đổi

Trang 31

Chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên trước hết

là nhằm tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, xóa bao cấp của Nhà nước cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp… để nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Do vậy những doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công ích, do còn được Nhà nước giao kế hoạch, được hỗ trợ, bù đắp chi phí… không tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình không phải là đối tượng thuộc diện chuyển đổi

Các DNNN là đối tượng để chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên theo Nghị định số 63 là những doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh mà Nhà nước quyết định nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ; những doanh nghiệp không thuộc diện chuyển đổi sở hữu, tức là những doanh nghiệp không thuộc diện giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê, giải thể phá sản hoặc không nằm trong kế hoạch cổ phần hóa

Theo Quyết định số 58/2002/QĐ-TTg ngày 26/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ thì: Nhà nước nắm giữ 100% vốn đối với những DNNN hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sau:

(1) Những DNNN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước bao gồm: sản xuất, cung ứng vật liệu nổ; sản xuất cung ứng hóa chất độc; sản xuất cung ứng chất phóng xạ; hệ thống truyền tải điện quốc gia; mạng trực thông tin quốc gia và quốc tế; sản xuất thuốc lá điếu

(2) Những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh đáp ứng đủ các điều kiện sau: vốn Nhà nước từ 20 tỷ đồng trở lên; mức thu nộp ngân sách Nhà nước bình quân của 3 năm trước liền kề từ 3 tỷ đồng trở lên; đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao; góp phần quan trọng

ổn định kinh tế vĩ mô và hoạt động trong những ngành, lĩnh vực sau: sản xuất điện; khai thác các khoáng sản quan trọng như dầu thô và khí tự nhiên, than, bôxit, quặng đồng, quặng thiếc, quặng có chất phóng xạ, vàng, đá quý; sản xuất một số sản phẩm cơ khí như máy công cụ, máy động lực, máy móc thiết bị phục vụ nông, lâm, ngư nghiệp, thiết bị kỹ thuật điện và vật liệu điện, máy công nghiệp chuyên dùng, đóng và sửa chữa phương tiện vận tải đường biển, đường sắt, đường không; sản xuất thiết bị điện tử; công

Trang 32

nghệ thông tin; sản xuất kim loại mầu (thiếc, đồng); sản xuất kim loại đen (gang, thép) trên 100.000 tấn/năm; sản xuất hóa chất cơ bản; sản xuất phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; sản xuất xi măng công nghệ hiện đại chất lượng cao trên 1,5 triệu tấn/năm; khai thác, lọc và cung cấp nước sạch ở thành phố; công nghiệp xây dựng; sản xuất một số mặt hàng tiêu dùng và công nghiệp thực phẩm quan trọng như: giấy in báo, giấy viết; dệt, sợi; in trên 3 tỷ trang thành phẩm quy đổi (13x19cm)/năm; sản xuất muối; sản xuất bia trên 50 triệu lít/năm; sản xuất cồn và rượu trên 10 triệu lít/năm; sản xuất cung ứng thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, hóa dược; bán buôn lương thực; bán buôn xăng dầu; vận tải đường không, đường sắt, đường biển; dịch vụ viễn thông cơ bản; kinh doanh tiền tệ, bảo hiểm

(3) Những DNNN hoạt động kinh doanh bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào nông thôn, đồng bào dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa

(4) Những DNNN hoạt động kinh doanh có tính chất đặc thù như: các nhà xuất bản (trừ xuất bản sách giáo khoa, sách báo chính trị, sách báo cho thiếu nhi, sách tiếng dân tộc); xổ số kiến thiết; một số doanh nghiệp hoạt động trong những ngành quan trọng theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ

Như vậy, các DNNN thuộc đối tượng chuyển đổi thành công ty TNHH một thành viên trước hết là các DNNN kinh doanh trong lĩnh vực độc quyền Nhà nước và những doanh nghiệp kinh doanh trên một số lĩnh vực ngành nghề mà Nhà nước quyết định nắm giữ 100% vốn điều lệ

2.1.2 Về quan hệ giữa thành viên công ty với công ty

Một trong những điều kiện đảm bảo cho hoạt động của DNNN có hiệu quả là xác định được rõ cơ quan nào là đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp, xóa bỏ được tình trạng còn có quá nhiều cơ quan là đại diện chủ sở hữu Nhà nước, can thiệp quá sâu và chồng chéo vào hoạt động của doanh nghiệp

Điều 46 - Luật doanh nghiệp quy định: công ty TNHH một thành viên do một tổ chức làm chủ sở hữu Do vậy, việc chuyển các DNNN

Trang 33

thành công ty TNHH một thành viên cũng đòi hỏi phải xác định được một

tổ chức duy nhất làm chủ sở hữu đối với mỗi công ty và thống nhất các chức năng, quyền hạn của chủ sở hữu hiện vẫn phân tán ở các cơ quan Nhà nước khác nhau vào tổ chức đó

2- Hội đồng quản trị Tổng công ty Nhà nước đối với công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ doanh nghiệp thành viên thuộc Tổng công ty Nhà nước

Những tổ chức này chỉ được ủy quyền là đại diện chủ sở hữu, trong khi chưa thành lập được công ty đầu tư tài chính và quản lý vốn đầu tư của các doanh nghiệp, công ty này sẽ là chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ DNNN, bởi nếu các tổ chức này là đại diện chủ sở hữu thì có nhiều khả năng là chế độ bộ chủ quản cấp hành chính chủ quản sẽ quay trở lại, đồng thời sẽ không thực hiện được việc tách quản lý Nhà nước với quản lý của chủ sở hữu, vì thế sẽ không đáp ứng được yêu cầu cải cách hiện nay

Hiện nay, công ty Đầu tư tài chính và quản lý vốn đầu tư ở các doanh nghiệp đã ra đời theo Nghị định số 79/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 Công ty này không chỉ thực hiện chức năng đầu tư tài chính

mà còn làm chủ sở hữu và quản lý vốn Nhà nước ở các doanh nghiệp khác

Cụ thể là:

Trang 34

- Thực hiện chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ của chủ sở hữu các công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ các DNNN độc lập thuộc các bộ, ngành trung ương, địa phương

- Đầu tư tài chính vào các công ty TNHH một thành viên được chuyển đổi từ các DNNN, và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác Công ty đầu tư tài chính Nhà nước có quyền của Chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên theo quy định tại Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty

2.1.2.2 Quyền hạn và nghĩa vụ của chủ sở hữu

Chủ sở hữu hoặc tổ chức được ủy quyền là chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên có những quyền hạn, nhiệm vụ sau:

1 Quyết định nội dung sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;

2 Quyết định điều chỉnh vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác;

3 Quyết định dự án đầu tư, mua, bán tài sản, hợp đồng vay, cho vay

có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% giá trị tài sản được ghi trong sổ kế toán của công ty theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định;

4 Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty theo một trong hai mô hình Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, quyết định tiền lương, thưởng và các lợi ích khác đối với các vị trí trong bộ máy quản lý công ty; phân cấp cho Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật, quyết định lương thưởng và các lợi ích khác của Giám đốc công ty;

5 Tổ chức giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty, hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị hoặc Chủ tịch công ty;

6 Duyệt báo cáo tài chính hàng năm; quyết định việc sử dụng lợi nhuận của công ty;

7 Quyết định tổ chức lại công ty…

Bên cạnh đó, Chủ sở hữu hoặc tổ chức được ủy quyền là đại diện Chủ sở hữu có những trách nhiệm:

Trang 35

- Tổ chức được ủy quyền là đại diện Chủ sở hữu chịu trách nhiệm trước chủ sở hữu về nhiệm vụ, quyền hạn được ủy quyền;

- Chủ sở hữu chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn điều lệ của công ty;

- Chủ sở hữu có nghĩa vụ góp vốn đầy đủ, đúng hạn như đã đăng ký; tuân thủ điều lệ công ty; tuân thủ quy định của pháp luật về hợp đồng trong việc mua, bán, vay, cho vay, thuê và cho thuê giữa công ty và Chủ sở hữu;

- Chủ sở hữu không được trực tiếp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty, chỉ được rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần vốn điều lệ của công ty cho tổ chức hoặc cá nhân khác; Chủ sở hữu không được rút lợi nhuận của công ty khi công ty không thanh toán đủ các khoản

nợ và các nghĩa vụ tài sản khác đến hạn phải trả…

Những quy định đó nhằm giới hạn rõ quyền hạn của chủ sở hữu trong việc quản lý công ty, đồng thời hạn chế được sự tùy tiện của chủ sở hữu trong việc rút vốn, điều chuyển vốn, thu hồi lợi nhuận của công ty Điều đó tạo được sự chủ động cho công ty trong các hoạt động kinh doanh của mình

Ở nhiều nước trên thế giới việc cải cách nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các DNNN được tiến hành theo nhiều cách khác nhau, trong đó đổi mới vai trò của chủ sở hữu đối với DNNN là một trong những trọng tâm được đặt ra Để tách vai trò hoạch định chính sách kinh tế của Chính phủ ra khỏi vai trò sở hữu tài sản của Nhà nước và xóa bỏ hay làm hạn chế sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, một số nước như Trung Quốc, Hungari, Italia… đã giao cho một tổ chức không phải là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc một công ty làm chủ sở hữu DNNN

Chẳng hạn như ở Trung Quốc đối với công ty TNHH đặc biệt (có 100% vốn Nhà nước) Để tách chức năng Chủ sở hữu tài sản Nhà nước ra khỏi chức năng chính quyền trong quản lý kinh tế - xã hội, thực hiện vai trò Chủ sở hữu dưới hình thức cổ đông, người đầu tư vốn và chịu trách nhiệm hữu hạn đối với doanh nghiệp Chính phủ Trung Quốc đang tiến hành thí

Trang 36

điểm thực hiện chuyển đổi phương thức quản lý tài sản Nhà nước từ các cơ quan chủ quản sang công ty kinh doanh tài sản - đây là một loại hình công

ty đặc biệt do Nhà nước thành lập Công ty kinh doanh tài sản Nhà nước thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu Nhà nước tại doanh nghiệp Công

ty Chủ sở hữu có các quyền và nghĩa vụ chính với doanh nghiệp có vốn đầu

tư của công ty như sau:

1 Quyết định các vấn đề quan trọng về hướng phát triển của các doanh nghiệp như: sáp nhập, phân chia, giải thể, tăng hoặc giảm vốn phát hành trái phiếu, thẩm định phương án đầu tư lớn, quy định thủ tục chuyển nhượng tài sản của doanh nghiệp…;

2 Bổ nhiệm, miễn nhiệm Hội đồng quản trị hoặc Giám đốc doanh nghiệp;

3 Nhận lợi ích từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư của công ty và được sử dụng lợi nhuận để đầu tư vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời;

4 Công ty có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước đầu

tư cho công ty…

Tuy nhiên công ty kinh doanh tài sản Nhà nước không chỉ là chủ sở hữu đối với những doanh nghiệp TNHH đặc biệt mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn mà nó còn là đại diện chủ sở hữu của các công ty cổ phần, công

ty TNHH có phần vốn góp của Nhà nước

Sự ra đời của công ty này góp phần làm tách bạch giữa hoạt động quản lý của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tạo cho các doanh nghiệp có được sự chủ động trong kinh doanh Đây là điều mà các quốc gia đều hướng tới khi tiến hành cải cách DNNN

2.1.3 Trình tự và thủ tục chuyển đổi

Theo quy định tại Thông tư số 01/2002/TT-BKH ngày 28 tháng 01 năm 2002 của Bộ kế hoạch và Đầu tư hướng đẫn quy trình chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên thì việc chuyển đổi DNNN thành công ty TNHH một thành viên được tiến hành qua những bước sau:

Bước 1: Chuẩn bị chuyển đổi Trên cơ sở dự kiến danh sách DNNN

chuyển đổi của các cơ quan chức năng, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng,

Trang 37

Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh phê duyệt danh sách các DNNN thuộc đối tượng chuyển đổi

Cụ thể: Hội đồng quản trị của các Tổng công ty 90, 91 dự kiến danh sách và kế hoạch chuyển đổi các doanh nghiệp thành viên của Tổng công

ty thành công ty TNHH một thành viên; Ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp của Bộ, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương dự kiến danh sách và

kế hoạch chuyển đổi đối với các DNNN độc lập trực thuộc Bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh Danh sách dự kiến các DNNN thuộc diện chuyển đổi này sẽ được người có thẩm quyền phê duyệt

Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể danh sách từ DNNN do mình ra quyết định thành lập chuyển đổi trong từng năm, và thông báo cho các DNNN cùng các cơ quan

có liên quan biết

Các DNNN thuộc diện chuyển đổi sẽ thành lập Ban chuyển đổi doanh nghiệp để giúp Giám đốc thực hiện các công việc chuyển đổi

Ban chuyển đổi doanh nghiệp gồm có: Giám đốc hoặc Phó giám đốc làm trưởng ban, Kế toán trưởng là Ủy viên thường trực, Ủy viên ban chuyển đổi DNNN là các trưởng phòng (ban) kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tổ chức cán bộ, bí thư Đảng ủy (hoặc Chi bộ), Chủ tịch công đoàn Ban chuyển đổi gửi thông báo chuyển đổi đến tất cả các chủ nợ và người lao động trong doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có quyết định chuyển đổi

Bước hai: Xây dựng phương án chuyển đổi

1 Ban chuyển đổi doanh nghiệp tiến hành kiểm kê, phân loại xác định vốn, tài sản và công nợ của doanh nghiệp; phân loại, lập danh sách số lao động tiếp tục làm việc tại doanh nghiệp sau khi chuyển đổi, số lao động

Trang 38

lao động) sang công ty TNHH một thành viên; xây dựng dự thảo điều lệ và

mô hình tổ chức của công ty

Công ty được chuyển đổi từ DNNN kế thừa các quyền, lợi ích hợp pháp bao gồm cả quyền sử dụng đất hoặc hợp đồng thuê đất và chịu trách nhiệm kế thừa các khoản nợ chưa thanh toán và các nghĩa vụ tài sản khác của DNNN được chuyển đổi

Về lao động, doanh nghiệp chuyển đổi tiếp nhận toàn bộ số lao động của DNNN trừ số lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động

Vốn và tài sản của công ty TNHH một thành viên được doanh nghiệp chuyển đổi bàn giao là những tài sản và vốn có đến thời điểm chuyển đổi

Vốn điều lệ của công ty TNHH một thành viên do chủ sở hữu đầu tư

và ghi trong điều lệ công ty bao gồm:

- Vốn của chủ sở hữu thực có trên sổ kế toán tại thời điểm chuyển đổi;

- Lợi nhuận sau thuế để lại bổ sung vốn cho công ty;

- Vốn do chủ sở hữu bổ sung cho công ty

Ngoài ra, vốn điều lệ của công ty còn có thể là vốn được bổ sung từ nguồn: khoản phải nộp ngân sách Nhà nước nhưng được Nhà nước để lại

bổ sung vốn (nếu có)

Điều lệ công ty do doanh nghiệp chuyển đổi xây dựng; chủ sở hữu công ty hoặc thủ trưởng được ủy quyền là chủ sở hữu công ty sẽ phê duyệt Nội dung điều lệ bao gồm: Mục tiêu, ngành nghề kinh doanh; vốn điều lệ của công ty; chủ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; cơ cấu

tổ chức của công ty; người đại diện theo pháp luật của công ty; nguyên tắc

sử dụng lợi nhuận; các trường hợp giải thể và thủ tục thanh lý tài sản của công ty; thể thức sửa đổi bổ sung điều lệ công ty và những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật

Bước 3: Thẩm định và phê duyệt phương án chuyển đổi

Trang 39

Bộ trưởng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định và phê duyệt phương án chuyển đổi, vốn điều lệ, điều lệ của công ty TNHH một thành viên đối với các DNNN độc lập;

Hội đồng quản trị tổng công ty Nhà nước thẩm định và phê duyệt phương án chuyển đổi vốn điều lệ, điều lệ của công ty TNHH một thành viên với các DNNN là thành viên tổng công ty

Những người có quyền thẩm quyền và phê duyệt này đồng thời chỉ đạo các doanh nghiệp trực thuộc thực hiện phương án chuyển đổi đã được phê duyệt, xử lý các vấn đề về tài sản, tài chính và lao động của doanh nghiệp

- Tài sản hiện có thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp được kiểm kê, phân loại, xác định số lượng, thực trạng, bao gồm: tài sản thuê, mượn, nhận giữ hộ, nhận ký gửi; tài sản không có nhu cầu sử dụng, tài sản ứ đọng cần thanh lý, tài sản dôi thừa, tài sản hao hụt mất mát và các tổn thất khác về tài sản của doanh nghiệp; các khoản phải thu, các khoản phải trả và có biện pháp xử lý tài chính cụ thể

Ban chuyển đổi doanh nghiệp phối hợp cùng ban đổi mới và phát triển doanh nghiệp của cơ quan cấp trên lập phương án xử lý tài chính, xử

lý lao động, chuyển giao doanh nghiệp (về quyền lợi, nghĩa vụ, tài sản, vốn, công nợ, lao động) sang công ty TNHH một thành viên; xây dựng điều

lệ và mô hình tổ chức của công ty TNHH một thành viên

Đối với tài sản: Những tài sản không có nhu cầu sử dụng, tài sản ứ đọng, chờ thanh lý, doanh nghiệp được nhượng bán, thanh lý theo quy định của pháp luật hiện hành Chênh lệch giữa số tiền thu được từ nhượng bán, thanh lý với giá trị còn lại của tài sản và chi phí của việc nhượng bán được hạch toán vào thu nhập của doanh nghiệp

Tài sản thuê, mượn, giữ hộ, ký gửi… tùy nhu cầu mà doanh nghiệp

có thể thỏa thuận với người có tài sản để tiếp tục kế thừa hoặc thanh lý tài sản trước khi chuyển đổi

Đối với tài sản dôi thừa doanh nghiệp không xác định được nguyên nhân và không tìm được chủ sở hữu, thì doanh nghiệp sẽ hạch toán tăng vốn Nhà nước tương ứng với giá trị thực tế của tài sản

Trang 40

Tài sản thiếu hụt, mất mát và các tổn thất khác về tài sản: Khoản chênh lệch giữa giá trị còn lại của tài sản theo sổ sách với tiền bồi thường của người có liên quan được bù đắp bằng quỹ dự phòng tài chính, nếu thiếu

sẽ được trừ vào vốn của Nhà nước

Các khoản nợ phải trả và phải thu công ty có trách nhiệm kế thừa Các khoản nợ phải trả mà không còn đối tượng trả thì doanh nghiệp được hạch toán vào vốn chủ sở hữu Các khoản nợ phải thu không có khả năng thu hồi, doanh nghiệp được sử dụng khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi

và quỹ dự phòng tài chính để bù đắp, nếu không đủ thì được giảm trừ vào vốn sở hữu Nhà nước

- Lao động được phân thành số lao động đủ điều kiện được chuyển sang làm việc theo quy định của pháp luật lao động (căn cứ vào khối lượng, chất lượng theo yêu cầu của sản xuất kinh doanh mà số lượng lao động được chuyển đổi ở mỗi doanh nghiệp là khác nhau) và số lao động tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động sau khi đã được hưởng đầy đủ các chế

độ theo quy định của Luật lao động

Bước 4: Quyết định chuyển đổi và đăng ký kinh doanh

- Quyết định chuyển đổi do người có thẩm quyền quyết định danh sách và kế hoạch chuyển đổi doanh nghiệp ký Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển đổi các DNNN là thành viên của Tổng công ty 91; Bộ trưởng, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển đổi đối với những DNNN độc lập và DNNN là thành viên của Tổng công ty 90

Quyết định chuyển đổi phải ghi rõ vốn điều lệ của công ty, chủ sở hữu hoặc tổ chức được ủy quyền là chủ sở hữu công ty, trách nhiệm của công ty đối với việc kế thừa các quyền, nghĩa vụ và xử lý những vấn đề tồn tại, phát sinh của doanh nghiệp được chuyển đổi

Quyết định chuyển đổi sau khi ký, được thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, gửi đến tất cả các chủ nợ và không báo cho người lao động trong doanh nghiệp biết trong thời hạn 15 ngày

- Sau khi có quyết định chuyển đổi, doanh nghiệp tiến hành đăng ký kinh doanh theo quy định của Luật doanh nghiệp

Ngày đăng: 19/10/2015, 20:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w