1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tòa án trong kiểm soát quyền lực nhà nước

106 897 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhà nước hiện đại và dân chủ cần phải kể đến vai trò của tòa án với vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, được ví như bức tường che chắn những xâm phạm t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS NGUYỄN ĐĂNG DUNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Tạ Thị Ngọc Liên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC 5

1.1 Tại sao phải kiểm soát quyền lực nhà nước 5

1.2 Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước 8

1.2.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài 9

1.2.2 Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong 19

1.2.3 Tòa án – cửa ải cuối cùng để phòng chống sự tùy tiện của quyền lực nhà nước 32

Kết luận Chương 1 35

Chương 2: NỘI DUNG CỦA PHƯƠNG THỨC KIỂM SOÁT QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC BẰNG TÒA ÁN 36

2.1 Bản tính độc lập – cơ sở để tòa án thực hiện chức năng kiểm soát quyền lực nhà nước 36

2.2 Hoạt động xét xử của tòa án đối với hành vi tùy tiện của các quan chức và cơ quan nhà nước 39

2.2.1 Bảo hiến – chức năng của tòa án nhằm bảo vệ Hiến pháp 39

2.2.2 Tài phán hành chính – biện pháp kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành chính và cán bộ, công chức, viên chức 48

2.3 Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm – phương thức tòa án tự kiểm soát chính mình 51

Kết luận chương 2 55

Trang 5

1

Chương 3: TÒA ÁN VIỆT NAM TRONG KIỂM SOÁT QUYỀN

LỰC NHÀ NƯỚC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA TÒA ÁN TRONG KIỂM SOÁT

QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA 56

3.1 Đánh giá hiệu quả của Tòa án Việt Nam trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước 56

3.1.1 Thẩm quyền hạn chế của Tòa án trong hoạt động bảo hiến 56

3.1.2 Sự mờ nhạt trong hoạt động của Tòa án hành chính 60

3.1.3 Bất cập trong thẩm quyền và thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 65

3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống Tòa án trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta 68

3.2.1 Làm rõ vị trí, chức năng, nhiệm vụ của tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp, nhằm tạo ra những cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của Tòa án 68

3.2.2 Cải cách bộ máy tòa án theo hướng trọng tâm là đảm bảo sự độc lập của tòa án trong hoạt động xét xử 79

Kết luận chương 3 95

KẾT LUẬN 96

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

TTDS : Tố tụng dân sự

TTHC : Tố tụng hành chính

TTHS : Tố tụng hình sự

UBND : Ủy ban nhân dân

UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi chính quyền mới được thành lập, vấn đề được đặt ra là phải kiểm soát quyền lực của chính quyền sao cho nó không xâm phạm đến dân chúng, đồng thời để đảm bảo cho quyền lực tối cao thuộc về nhân dân Đó chính là một nhu cầu tất yếu khách quan Quyền lực nhà nước được chế ngự sẽ đảm bảo cho hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền con người và quyền cơ bản của công dân

Xuất phát từ nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước đòi hỏi phải có những cơ chế kiềm chế chính thức giữ cho các cơ quan công quyền và các quan chức phải có trách nhiệm về hoạt động của họ Trong nhà nước hiện đại và dân chủ cần phải kể đến vai trò của tòa án với vai trò quan trọng trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước, được ví như bức tường che chắn những xâm

phạm tới Hiến pháp và các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân

Ở Việt Nam, trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành đã ghi nhận những căn cứ pháp lý cho cơ chế giám sát của Tòa án đối với các cơ quan nhà nước, nhưng chưa thể hiện đầy đủ cơ chế kiểm soát quyền lực bằng cơ quan tư pháp theo đúng nghĩa của nó Đặc biệt, ở nước ta Tòa án chưa được thực hiện chức năng tài phán Hiến pháp Bên cạnh đó, thẩm quyền giải thích Hiến pháp vẫn thuộc về UBTVQH chứ không thuộc về Tòa án, hoạt động của Tòa án hành chính chưa hiệu quả, không đáp ứng được kì vọng của người dân trong giải quyết các tranh chấp hành chính

Xuất phát từ lý do trên tôi chọn đề tài: “Vai trò của Tòa án trong kiểm

soát quyền lực Nhà nước” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch

sử nhà nước và pháp luật Đề tài được nghiên cứu với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước của tòa án ở nước ta, góp phần xây dựng và từng bước hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam

Trang 8

2

2 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước đã được giới khoa học pháp lý tại Việt Nam nghiên cứu, trong đó có nhiều công trình, bài báo của các nhà nghiên cứu đề cập đến một số khía cạnh liên quan đến đề tài, trong đó đáng chú ý là một số giáo trình, sách chuyên khảo, tham khảo về kiểm soát quyền lực nhà nước như: “Hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước” của GS.TS Nguyễn Đăng Dung, NXB Tư pháp năm 2010; “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, nhũng vấn đề lý luận và thực tiễn” của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Hồng Đức, năm 2012; “Tài phán Hiến pháp – Một số vấn

đề lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam”

do PGS.TS Nguyễn Như Phát (chủ biên), NXB Khoa học xã hội năm 2011;

“Tài phán hành chính trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” do PGS.TS Nguyễn Như Phát, PGS.TS Nguyễn Thị Việt Hương (chủ biên), NXB Khoa học xã hội năm 2010; “Bảo hiế+n ở Việt Nam” của Th.s Bùi Ngọc Sơn, NXB Tư pháp, năm 2006

Bên cạnh các công trình khoa học được xuất bản dưới dạng sách tham khảo, còn có một số luận văn như: “Nâng cao vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay” – luận văn thạc sĩ luật học của Trần Phụng Vương; “Vị trí, vai trò của Tòa án nhân dân trong thể chế nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” – luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Văn Tám; “Chiến lược cải cách tư pháp với mục tiêu bảo vệ công lý ở Việt Nam” – luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thế Anh

Qua nghiên cứu các công trình đã công bố, tác giả nhận thấy các kết kết quả nghiên cứu rất công phu, có giá trị khoa học cao và là tiền đề quan trọng

để tác giả nghiên cứu đề tài của mình Tuy nhiên, việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của Tòa án trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta còn chưa đầy đủ, còn nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu Về vấn đề

Trang 9

3

đánh giá hoạt động kiểm soát quyền lực của tòa án vẫn còn một số vấn đề chưa được nghiên cứu rõ như: đánh giá hoạt động của tòa án Việt Nam với tư cách là thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước, những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của Tòa án Việt Nam trong kiểm soát quyền lực nhà nước… chưa được đề cập cụ thể

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích luận văn:

+ Làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá về vai trò của tòa án trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước

+ Đánh giá thực trạng của hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước của

hệ thống TAND ở Việt Nam

+ Đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của tòa án trong thực hiện vai trò kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam

* Nhiệm vụ của luận văn:

Với mục đích nghiên cứu như trên, luận văn phải hoàn thành những nhiệm vụ sau đây:

+ Lý giải tại sao quyền lực nhà nước phải bị hạn chế và bị kiểm soát bằng nhiều phương thức khác nhau, nêu lên các phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước Trong đó làm nổi bật vai trò của tòa án, cách thức tòa án kiểm soát quyền lực nhà nước

+ Từ những tiền đề lý luận trên, luận văn đánh giá hoạt động của hệ thống TAND trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam, những hạn chế trong quy định của pháp luật Việt Nam làm giảm hiệu quả của tòa án khi thực hiện vai trò này

+ Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hệ thống TAND trong hoạt động chế ngự quyền lực nhà nước ở nước ta

Trang 10

4

4 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu những quy định pháp luật và thực tiễn về hoạt động kiểm soát quyền lực của TAND ở nước ta hiện nay Qua đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của tòa án trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp thống kê, so sánh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của tòa án trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, làm phong phú thêm những vấn đề lý luận trong lĩnh vực này Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ đóng góp một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao vai trò của TAND trong hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập tại các trường đại học, cao đẳng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận của kiểm soát quyền lực nhà nước

Chương 2 Nội dung của phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

bằng Tòa án

Chương 3 Tòa án Việt Nam trong kiểm soát quyền lực nhà nước và

những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của tòa án trong kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta

Trang 11

mà về thực chất phục vụ giai cấp thống trị, duy trì sự thống trị giai cấp và đàn

áp chính những người nuôi dưỡng nó

Như vậy, khi nhà nước ra đời, quyền lực công cộng của toàn xã hội đã dần dần bị biến đổi, bị tha hóa và trở thành quyền lực chính trị của giai cấp thống trị trong xã hội Nhân dân – chủ thể của quyền lực công đã không còn kiểm soát được chính nó và dần dần trở thành đối tượng bị bóc lột, bị đàn áp Bên cạnh đó, một trong những đặc trưng cơ bản của quyền lực nhà nước, đó chính là tính độc quyền sử dụng sức mạnh vũ lực Ngoài nhà nước, không một chủ thể nào được công khai trong việc sử dụng sức mạnh cưỡng chế Không chỉ có vậy, quyền lực nhà nước lại dựa trên nguồn của cải vật chất và

bộ máy cưỡng chế phục vụ nên nó trở nên nguy hiểm với lợi ích hợp pháp của dân chúng Đó là lý do vì sao mà Thomas Jefferson (1743 – 1826), một trong

những nhà soạn thảo ra Tuyên ngôn Độc lập nước Mỹ nói: “Nhân dân có hai

kẻ địch là tội ác và chính quyền” [13] Vì vậy, để đảm bảo nhân dân là chủ

Trang 12

6

thể của quyền lực nhà nước thì quyền lực nhà nước cần phải được chế ngự nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân nhưng lại đe dọa chính nhân dân

Tại sao phải kiểm soát quyền lực nhà nước? Bản thân quyền lực vốn không tốt, không xấu Bởi vì, nó chỉ là công cụ, là phương tiện để quản lý xã hội Công cụ này được sử dụng như thế nào sẽ phụ thuộc vào những người nắm trong tay quyền lực đó Nếu như quyền lực nhà nước được thực hiện bởi những người có đức hạnh, tài năng và với mục đích vì nhân dân thì sự chế ngự quyền lực nhà nước là vô nghĩa Madison - một trong những nhà khai sáng nên nước Mỹ đã nhận định:

Chính phủ là gì nếu không phải là cái đã phản chiếu rõ ràng nhất bản tính loài người? Nếu con người là thần thánh thì loài người cần phải có Chính phủ để làm gì? Và nếu con người được thần thánh cai trị thì Chính phủ của loài người cũng chẳng cần phải có những khoản tiên liệu để Chính phủ kiểm soát dân chúng và Chính phủ tự mình kiểm soát lấy mình [12, tr.115]

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, chủ thể của quyền lực nhà nước là cá nhân, cho nên nhà nước phản ánh bản tính của con người Con người ai cũng có cái tốt, cái xấu, không cá nhân nào là không có nhược điểm Trong đó có những tính xấu như lười nhác, tham lam, tùy tiện và đặc biệt là đam mê quyền lực Bởi vì, quyền lực là cái phục vụ cho con người, giúp họ thỏa mãn những nhu cầu nhất định Khi nắm trong tay quyền lực, con người sẽ dễ dàng

có được những thứ mà họ muốn như của cải, danh vọng, sự tôn vinh của xã hội Tuy nhiên, khi tập trung quá nhiều quyền lực vào một người hay một nhóm người sẽ dẫn đến một hệ quả xấu, đó chính là sự tha hóa quyền lực, mà biểu hiện trước tiên của nó là sự lạm dụng quyền lực

Trong cuốn “Thăng trầm quyền lực”, Alvin Toffler cho rằng: “Khi nói

Trang 13

Nguyên nhân của sự lạm dụng quyền lực bắt nguồn từ chính bản tính đam

mê quyền lực của con người Khi có quyền lực trong tay, cá nhân dễ dàng sai khiến người khác làm mọi việc nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình Họ ham muốn quyền lực chỉ để trán áp người khác và thủ lợi cho bản thân, cho gia đình và cho

những kẻ dưới trướng của họ Sự thực “lòng đam mê quyền lực và lòng đam mê

danh vọng là những ước muốn vô hạn định của con người” [16, tr.137] Chính

quyền lực, một thứ tưởng chừng chỉ là công cụ để con người thỏa mãn nhu cầu của mình, lại chính là thứ sai khiến con người thực hiện những hành vi đi ngược lại chuẩn mực xã hội Lịch sử đã cho thấy sự tàn bạo của chế độ độc tài

và quyền lực nhà nước không bị hạn chế Những bài học đắt giá của nhân loại càng chứng minh cho vấn đề quyền lực nhà nước cần phải được chế ngự, nhằm đảm bảo quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân, việc thực hiện quyền lực nhà nước phải vì nhân dân

Như đã phân tích ở trên, bản thân sự lạm quyền có mối liên hệ chặt chẽ

Trang 14

8

với sự tùy tiện khi sử dụng quyền lực nhà nước của nhà cầm quyền Mỗi cá nhân đều có bản tính tùy tiện và không có một sự đảm bảo chắc chắn rằng một cá nhân sẽ luôn luôn kiểm soát được tính tùy tiện của mình Đặc biệt trong trường hợp có quyền lực trong tay, lý trí của nhà cầm quyền sẽ bị che lấp bởi của cải, dục vọng và lòng tham thì quyết định của họ càng dễ dàng phạm sai lầm Bởi vậy, một nhà nước mà không có sự rõ ràng với những rào cản trong tổ chức quyền lực thì rất dễ bị thao túng bởi những nhà cầm quyền tùy tiện

Những người đứng đầu nhà nước sẽ có nhiều quyền lực, trong đó được quyền ra lệnh những người khác phải thực hiện theo ý mình Tuy nhiên, khi quyết định của họ gây ra sai lầm thì họ phải chịu trách nhiệm trước dân chúng Bởi vậy, con người thường có xu hướng trốn trách trách nhiệm Sự trốn tránh trách nhiệm của nhà cầm quyền sẽ dẫn đến một chính quyền vô trách nhiệm Thay vì sửa chữa sai lầm của mình, nhóm cai trị sẽ sử dụng những sử dụng chính quyền lực công cộng để đàn áp những người chống đối

Vì vậy, để tránh lặp lại những chính quyền vô trách nhiệm thì cần phải lập ra những cơ chế hữu hiệu bắt buộc chính quyền phải chịu tránh nhiệm với nhân dân Một nhà nước có uy tín phải là một nhà nước hoạt động có hiệu quả và trách nhiệm

Tóm lại, từ những phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy rằng, kiểm soát quyền lực nhà nước là một quy luật khách quan khi xã hội cần đến nhà nước Nhân loại với những bài học lịch sử đầy máu và nước mắt, đã cho chúng

ta thấy rằng: quyền lực nhà nước phải có giới hạn và phải được kiểm soát chặt chẽ Quyền lực nhà nước được chế ngự sẽ đảm bảo cho quyền lực tối cao thuộc

về nhân dân, bảo vệ quyền con người và quyền cơ bản của công dân

1.2 Các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước

Các phương thức chế ngự quyền lực nhà nước đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử, từ khi con người ý thức được sức mạnh đáng sợ của quyền lực nhà nước

Trang 15

9

Ngay từ thời cổ đại, nhiều nhà tư tưởng vĩ đại như Heraclit, Platon, Xixeron…

đã đề xuất quan điểm quyền lực nhà nước cần phải được giới hạn bằng pháp luật Nhà nước chỉ được làm những gì mà pháp luật quy định, còn công dân được phép làm những gì mà pháp luật không cấm Các phương thức này được hoàn thiện hơn trong cách mạng tư sản với nội dung là chống lại sự chuyên quyền của chế độ phong kiến và bảo vệ nhân quyền Trong xã hội hiện đại, sự hiện diện của các quy định về kiểm soát quyền lực và trách nhiệm của nhà nước trong Hiến pháp và các đạo luật là dấu hiệu của dân chủ và tiến bộ xã hội

Xuất phát từ những nguyên nhân dẫn đến sự lạm dụng quyền lực nhà nước, các nhà tư tưởng chính trị, pháp lý đã đề xuất những biện pháp khác nhau nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước Về cơ bản, các hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước có thể được phân định thành: kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong và kiểm soát từ bên ngoài Việc thường xuyên kiểm tra, chế ước quyền lực nhà nước bằng việc kết hợp các biện pháp khác nhau sẽ ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh của con người khi nắm trong tay quyền lực

1.2.1 Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài

Kiểm soát quyền lực từ bên ngoài bao gồm những biện pháp tác động

từ bên ngoài, xuất phát từ phía nhân dân và các thiết chế xã hội, chủ yếu bao gồm các biện pháp sau: sự ghi nhận và tạo ra các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân; sự giám sát của nhân dân thông qua hoạt động minh bạch của các cơ quan nhà nước và quyền được tiếp cận thông tin của dân chúng; và kiểm soát bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí

1.2.1.1 Sự ghi nhận và tạo ra các cơ chế bảo vệ quyền con người, quyền công dân – ranh giới phòng chống sự tùy tiện của các cơ quan công quyền

Khi nghĩ tới các biện pháp kiểm soát quyền lực nhà nước, chúng ta thường hướng đến các chủ thể có quyền lực Tuy nhiên, hạn chế quyền lực nhà nước không chỉ là ràng buộc nhà nước bằng pháp luật mà cần vạch ra những

Trang 16

10

“vùng cấm” đối với công quyền Vùng cấm ở đây chính là những quyền con người và quyền cơ bản của công dân mà nhà nước không thể vi phạm và đồng thời phải có trách nhiệm bảo vệ Hay nói cách khác, việc quy định quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp cũng như những đảm bảo pháp lý quan trọng để quyền con người, quyền công dân được thực thi trong thực tế là một trong những biện pháp chế ngự quyền lực nhà nước

Quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn

có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [11, tr.38] Gắn liền với khái niệm quyền con

người là khái niệm quyền công dân Quyền công dân về bản chất là những quyền tự nhiên của con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình

Theo học thuyết về quyền tự nhiên, quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có và không thể bị tước bỏ của mọi cá nhân Do đó, không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người

Đồng thời, theo John Lock, một nhà triết học người Anh, đã khẳng định “Các

chính phủ chỉ có thể chính danh hay hợp pháp khi thừa nhận, tôn trọng, bảo

vệ và thúc đẩy các quyền bẩm sinh, vốn có của nhân dân…”[11, tr.40] Điều

đó có nghĩa là, nghĩa vụ của các nhà nước phải làm là tôn trọng quyền con người, đồng thời có những biện pháp để thực hiện, thúc đẩy quyền con người trong thực tế Nghĩa vụ tôn trọng đòi hỏi các nhà nước phải biết kiềm chế, không can thiệp vào sự thụ hưởng của các cá nhân Đó chính là biện pháp nhằm hạn chế sự tùy tiện của các cơ quan nhà nước, phòng tránh sự vi phạm các quyền cơ bản của công dân

Để đảm bảo cho quyền con người, quyền công dân được tôn trọng và thực hiện thì dân quyền phải được quy định trong văn bản pháp lý có hiệu lực tối cao nhất là Hiến pháp Nhìn chung, trên thế giới, các quyền con người, quyền công dân được quy định theo ba cách cơ bản:

Trang 17

11

Cách thứ nhất, quyền con người, quyền công dân được quy định thành các điều, các chương trong Hiến pháp Đây là cách thức quy định phổ biến, được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng Ví dụ: ở Việt Nam, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản công dân quy định tại chương

2, Hiến pháp năm 2013

Cách thứ hai, quyền con người, quyền công dân được quy định trong một văn bản riêng, được thừa nhận là một nội dung của Hiến pháp Ví dụ: bản Tuyên ngôn về Nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp được thừa nhận

là một bộ phận của Hiến pháp năm 1958

Cách thứ ba, quy định trong một văn bản riêng và được xác định là những điều bổ sung cho Hiến pháp Ví dụ: Hiến pháp Mỹ bao gồm 7 điều gốc

và 27 Tu chính án bổ sung sau này, trong đó có 10 Tu chính án được gọi là

Bộ luật về quyền của nước Mỹ

Mặc dù được quy định theo cách này hay cách khác, nhưng các Hiến pháp đều quy định những quyền thiết yếu nhất của con người Việc quy định nhân quyền phải đảm bảo vừa bao quát hết được các quyền con người hiện tại và sau này, lại vừa cụ thể để dễ dàng cho việc ngăn chặn sự vi phạm nhân quyền từ mọi chủ thể trong xã hội Bên cạnh đó, cần có những thiết chế hữu hiệu để bảo vệ quyền con người Sự ngăn ngừa phải được thực hiện ngay từ trước nhằm ngăn chặn những vi phạm đến quyền con người, quyền công dân từ phía chủ thể là nhà nước; hoặc khi các quyền con người bị xâm phạm thì cần phải có những biện pháp trừng phạt chủ thể vi phạm, khôi phục lại những quyền đó

Là cơ quan thực hiện quyền lực tư pháp, tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người Luật Nhân quyền quốc tế đòi hỏi sự hiện diện của tòa án trong việc bảo vệ quyền con người được hiệu quả Cụ thể, theo điều 8 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR) được Liên hợp quốc quy định:

Trang 18

12

“Mọi người đều có quyền được các tòa án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng

các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được Hiến pháp hay luật pháp quy định” [32, tr.219] Các tòa án

quốc gia được ví như một trong những nguồn lực sẵn có để bảo vệ các quyền con người mà không cần sự can thiệp của các cơ chế bảo vệ mang tính khu vực

và quốc tế Nhưng quan trọng hơn và quyền năng rộng hơn chính là cơ chế bảo hiến Việc đảm bảo thực thi các quyền hiến định trong thực tiễn là cơ sở nền tảng

và thiết yếu cho việc bảo vệ nhân quyền

Liên quan đến cơ chế bảo vệ nhân quyền, Hiến pháp của một số quốc gia quy định về một cơ quan nhân quyền quốc gia với vị thế độc lập với chức năng chuyên trách bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền Lý do cho việc thành lập cho loại cơ quan này xuất phát từ đặc điểm nhà nước vừa là chủ thể có nghĩa

vụ chính trong việc bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền; vừa là thủ phạm chính của các vi phạm nhân quyền Vì thế cần một cơ quan đóng vai trò tư vấn để góp ý

và trợ giúp các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ nhân quyền Trên thế giới, các cơ quan này được thiết lập theo ba hình thức chủ yếu là: Cơ quan thanh tra quốc hội (Ombudsman); Ủy ban nhân quyền quốc gia (National Human Rights Comission); Cơ quan chuyên trách về một vấn đề nhân quyền

cụ thể (Specialized Institutions) Về cơ bản, các cơ quan này đều tuân thủ những nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhân quyền quốc gia (Các nguyên tắc Paris)

Nguyên tắc độc lập được coi là một trong những nguyên tắc không thể thiếu trong hoạt động của các cơ quan nhân quyền Nguyên tắc này xuất phát

từ bản chất của cơ quan này, đó là: mặc dù được nhà nước lập ra, nhưng không phải là cơ quan nhà nước, nó là cơ quan đứng giữa xã hội dân sự và nhà nước Mức độ độc lập của cơ quan này được đảm bảo bằng các yếu tố

Trang 19

13

liên quan đến trụ sở, nguồn tài trợ và quan trọng nhất là việc thành lập, cơ cấu

tổ chức và chức năng được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Địa vị pháp lý ở tầm hiến định là đảm bảo pháp lý cao nhất của tính độc lập Sự hiến định chức năng, thẩm quyền và tổ chức của cơ quan này sẽ tạo cho cơ quan nhân quyền năng lực pháp lý cao trong việc thực hiện chức năng của mình

Tóm lại, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân là mục đích cũng là nhiệm vụ của bất cứ nhà nước nào Không thể có sự hạn chế quyền lực chuyên chế mà không có sự bảo vệ các quyền cơ bản của công dân Bởi vì, xét đến cùng, mục đích của hạn chế quyền lực nhà nước là thực hiện dân chủ, mở rộng sự tham gia của nhân dân vào quyền lực nhà nước, đảm bảo quyền lực tối cao thuộc về nhân dân

1.2.1.2 Sự giám sát của nhân dân thông qua hoạt động minh bạch của các cơ quan nhà nước và quyền được tiếp cận thông tin của dân chúng

Điều cốt lõi của bất cứ nền dân chủ nào là việc đảm bảo sự tham gia tích cực của công dân vào các quyết định của chính quyền Muốn làm được như vậy thì chính quyền phải hoạt động công khai để nhân dân có nhiều khả năng giám sát chính quyền Công khai hoạt động của nhà nước sẽ tạo ra sức ép để bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả hơn

Lịch sử cho thấy chính quyền ở bất cứ thời nào cũng có khuynh hướng

là muốn cai trị và không muốn người dân có thể tham gia vào mọi hoạt động của chính quyền Đây là bản năng của con người và cũng là bản năng của chính quyền Sự chuyên quyền, độc đoán sẽ xảy ra nếu mọi thông tin về hoạt động của chính quyền được che dấu trong bóng tối

Không chỉ có vậy, việc nhà nước “bảo mật” những thông tin quản lý sẽ là cánh cửa rộng mở cho tham ô, bất công và bất bình Tham nhũng gia tăng ở những nơi bí mật, tránh nơi công cộng, vì vậy có thể nhận thấy những gì không công khai sẽ là mầm mống

Trang 20

14

của tham nhũng “Bản năng” giữ rịt thông tin thường mọc rễ trong những môi trường bảo mật, cho phép các quan chức trở nên bất khả xâm phạm, chẳng phải giải trình với ai Chính những nền văn hóa bảo mật đó là chậm bước mở cửa của xã hội, làm ngăn cản sự phát triển của xã hội [18, tr.18]

Xuất phát từ những đặc điểm trên, việc công khai và minh bạch hóa hoạt động của chính quyền là biện pháp để chế ngự được khuynh hướng muốn bưng bít thông tin của chính quyền Công khai tức là mọi hoạt động của nhà nước phải được công bố hoặc truyền tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và mọi người dân có thể được tiếp cận dễ dàng Còn sự minh bạch nghĩa là mọi việc phải diễn ra giản đơn và có thể dự đoán trước được

Sự minh bạch trong hoạt động của chính phủ luôn là trọng tâm của nguyên tắc minh bạch của nhà nước Với đội ngũ nhân viên đông đảo, trực tiếp sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý xã hội, hoạt động của chính phủ cần được thực hiện dưới sự giám sát của người dân Sự công khai hoạt động của chính phủ cho phép công dân có quyền chất vấn và ngăn chặn những hành động của chính quyền mà họ không đồng tình Sự phản đối từ phía người dân đối với các hoạt động của chính quyền buộc các quan chức luôn phải hành động một cách cẩn trọng và trách nhiệm Do đó, sự cởi mở và minh bạch trong hoạt động của chính phủ là một trong những nhân tố góp phần kiểm soát hữu hiệu đối với sự lạm dụng quyền lực được nhân dân ủy thác

Những nhà nước dân chủ trên thế giới đều có những nguyên tắc đảm bảo sự minh bạch trong hoạt động của chính phủ, mà tiêu biểu là nước Mỹ

Kể từ khi lập quốc, hệ thống luật lệ tại Hoa Kì đã tạo điều kiện dễ dàng cho công dân được tham dự một số cuộc họp quan trọng của các quan chức chính phủ, có quyền yêu cầu và được nhận các tài liệu của chính phủ và đóng góp vào các quyết định và quá trình hoạch định luật lệ của chính phủ Đạo luật

Trang 21

15

“Ánh dương” (Sunshine laws) được ban hành năm 1976 quy định khi các quan chức họp để tiến hành các công việc của chính phủ, thông thường họ phải thông báo trước về các cuộc họp của mình và tổ chức họp trong những diễn đàn được công khai trước công chúng Trong nhiều trường hợp, người dân không chỉ được phép dự các cuộc họp công khai mà còn được phát biểu ý kiến trong các trường hợp đó Ngoài ra, người dân còn thể hiện quan điểm của mình là gửi thư hoặc email cho các quan chức Điều này sẽ đảm bảo cho các quan chức mà người dân bầu ra luôn hành động trách nhiệm với nhân dân

Không chỉ tham dự các phiên họp của các cơ quan nhà nước, người dân còn được tham dự các phiên tòa, đầu tiên là các phiên xử hình sự và sau đó, nhiều tòa án ở Mỹ nới rộng đến việc tham dự các phiên tòa dân sự Nhiều tòa

án ở các tiểu bang đã cho phép thu hình và phát các phiên xử trực tiếp trên truyền hình Việc tiếp cận với tiến trình pháp lý “có tầm quan trọng rất lớn”, theo nhận xét của Oliver Wendell Holmes, một thẩm phán của thế kỉ XIX:

Công khai hóa khiến cho việc thi hành luật pháp được an toàn hơn… Các vụ xử dân sự nên được tiến hành với sự tham dự của dân chúng không phải vì việc tranh chấp giữa hai cá nhân là một mối quan tâm của dân chúng mà là vì các vụ xử đó là những dịp quan trọng nhất mà những người thi hành luật pháp phải luôn hành động với một tinh thần trách nhiệm trước công chúng…[12, tr.357] Quyền được tiếp cận thông tin của người dân là một biện pháp quan trọng đảm bảo sự công khai và minh bạch, qua đó thể hiện sự giám sát của dân chúng đối với hoạt động của của chính phủ Luật Tự do thông tin được ban hành năm 1966 đã trở thành một công cụ giúp các công dân Mỹ có thể yêu cầu được cấp bản sao các hồ sơ của các cơ quan thuộc chính phủ liên bang, các bộ và giới quân sự, trừ một số ngoại lệ như những thông tin có thể ảnh hưởng đến an ninh quốc gia hoặc có thể xâm phạm đến sự riêng tư của cá

Trang 22

16

nhân… Khi một cơ quan từ chối tiết lộ thông tin dựa trên các ngoại lệ đó thì người dân có quyền khiếu nại và được tòa án nhanh chóng giải quyết Nếu tòa

án thấy lý do ngoại lệ do cơ quan đưa ra không đúng thì sẽ ra lệnh cho cơ

quan đó phải tiết lộ tài liệu và có thể phạt tiền cơ quan đó nữa “Luật tự do

thông tin cho phép người dân Mỹ được tiếp cận nhiều hơn với thông tin về các hoạt động của chính phủ Mỹ” [12, tr.367] Không chỉ ở cấp độ liên bang

ở Mỹ đều có luật của tiểu bang cho dân chúng tiếp cận với hồ sơ của chính quyền địa phương Các đạo luật đã góp phần thay đổi tư duy trong nề nếp làm việc của chính quyền, dần dần hình thành nên một chính quyền cởi mở và công dân dễ dàng tiếp cận thông tin về hoạt động của chính quyền

Những phân tích trên đã cho chúng ta thấy rằng, Mỹ là một trong số ít quốc gia có những cơ chế hữu hiệu đảm bảo công dân có quyền hợp pháp để tiếp cận những thông tin về hoạt động của chính quyền Đó là những kinh nghiệm đối với các nước khác khi muốn tạo dựng một chính quyền minh bạch

và trách nhiệm Sự công khai hóa các hoạt động của nhà nước và quyền tiếp cận thông tin nhà nước của dân chúng được xem là hai thành tố của một xã hội dân chủ Quyền tiếp cận thông tin có ý nghĩa trong việc tạo ra cơ chế

“kiểm soát và cân bằng” giữa công dân và nhà nước, giữa sức mạnh của nhà nước và quyền lợi của công dân

1.2.1.3 Kiểm soát bằng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Một xã hội muốn nhận việc công khai hóa là có một giá trị nổi bật không những cho người dân có quyền rộng rãi tự do phát biểu

mà còn tiến thêm một bước nữa tức là thực sự đưa các tiến trình nghị luận chính sách của chính quyền ra đón nhận sự soi xét của mặt trời công luận [12, tr.362]

Gắn chặt với một chính quyền công khai, minh bạch là quyền tự do ngôn luận của công dân và tự do báo chí Quyền tự do ngôn luận được ghi nhận trong

Điều 19 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền (UDHR): “Mọi người đều có

Trang 23

17

quyền tự do ngôn luận và bày tỏ ý kiến; kể cả tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền

bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kì phương tiện truyền thông nào và không

có giới hạn về biên giới” [11, tr.186] Nội dung của Điều 19 UDHR sau đó được

khẳng định và cụ thể hóa trong các Điều 19 và 20 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) Tại khoản 3, điều này xác định quyền tự do ngôn luận phải được thực hiện kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt

Vì vậy, quyền này có thể bị hạn chế bằng pháp luật vì những lý do: tôn trọng các quyền và uy tín của người khác và để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,

sự bình yên và đạo đức xã hội

Tự do ngôn luận là một phần của tự do chính trị, là điều kiện của xã hội dân chủ Không những thế, tự do ngôn luận còn có rất nhiều tác dụng cho việc tăng cường trách nhiệm của các quan chức nhà nước và giảm đi sự tùy tiện của nhà nước Khi công dân được quyền nói lên tiếng nói của mình và được chính quyền tiếp nhận không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà còn tạo điều kiện cho nhân dân giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền Đó chính là hoạt động tố cáo những hành vi sai trái của các cơ quan nhà nước và quan chức bằng việc nêu lên những thông tin mà họ biết được, qua đó phanh phui ra những hành vi lạm dụng quyền lực nhà nước Ngoài việc tiếp nhận và xử lý các thông tin từ phía dân chúng, nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ những người tố cáo, khiếu nại khỏi những hành vi trả đũa từ phía chủ thể bị tố cáo Sự bảo vệ dành cho những người chống tiêu cực sẽ tạo điều kiện cho người dân dám cung cấp những thông tin vào đúng lúc để các hành động cần thiết có thể được tiến hành Các quyền đó là nền móng của tính trách nhiệm của chính quyền trong các nhà nước có quyền lực bị hạn chế

Để thông tin được dễ dàng tiếp cận với dân chúng thì phải kể đến hoạt động truyền thông qua mạng lưới báo chí, truyền thanh, truyền hình Trong cuốn

Nền dân trị Mỹ, Alexis de Tocqueville đã viết: “Tôi càng quan sát những tác

Trang 24

18

động của một nền báo chí tự do, thì tôi lại càng tin rằng trong thế giới hiện đại,

tự do báo chí là một yếu tố chủ chốt, thậm chí phải nói là một yếu tố cấu thành chính yếu trong sự tự do”[1, tr.237] Tự do báo chí gắn liền với tự do ngôn luận,

là thành phần cốt yếu để bảo vệ một xã hội dân chủ Tự do báo chí, bên cạnh việc phát huy quyền tự do ngôn luận của người dân, còn đem lại cho nền dân chủ một điều tốt đẹp, đó là: buộc chính quyền phải có trách nhiệm

Khi người dân không có điều kiện để đi quan sát các phiên xử, ngồi nghe tranh luận trong các phiên điều trần hay điều tra các hoạt động của chính phủ thì giới truyền thông có thể thay thế họ làm những việc này Trong một chế độ dân chủ, báo chí sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện tham nhũng, phanh phui những sai trái trong việc thi hành công lý hay các hoạt động thiếu hiệu quả của chính quyền Một quốc gia không có tự do báo chí thì không thể nào là một quốc gia tự do Một dấu hiệu của chế độ độc tài là không có tiếng nói của giới truyền thông

Khi nhắc đến hiệu quả của hoạt động báo chí thì phải kể đến vai trò của

báo chí điều tra Theo Salvio Waisbord, tác giả của bài viết Tại sao nền dân

chủ cần báo chí điều tra đã đưa ra nhận xét:

Báo chí điều tra là quan trọng vì nó có nhiều đóng góp đối với sự điều hành dân chủ Vai trò của nó có thể được hiểu tương ứng với mô hình báo chí là cơ quan quyền lực thứ tư Theo mô hình này, báo chí cần làm cho chính phủ phải có trách nhiệm bằng cách xuất bản các thông tin về những vấn đề thuộc lợi ích công cộng cho dù những thông tin đó vạch trần những sự lạm dụng hay tội ác do nhà cầm quyền phạm phải… Nó gắn chặt với nguyên tắc kiểm soát và cân bằng lẫn nhau trong chế độ dân chủ Nó đặt ra cơ chế quý giá của các thể chế dân chủ theo nghĩa rộng, bao gồm cả các cơ quan chính phủ, các tổ chức công dân và các công ty công cộng Vai trò trung tâm của

Trang 25

19

báo chí trong nền dân chủ hiện tại khiến giới chính trị chóp bu phải quan tâm đến những tin tức, đặc biệt là những tin xấu, thường gây ra những chấn động trong công chúng Việc công bố những tin tức về việc làm sai trái trong chính trị và kinh tế có thể dẫn đến các cuộc điều tra trong quốc hội và các cơ quan tư pháp [12, tr.344]

Đó là lý do các nhà cầm quyền không hề thích truyền thông vì những phóng sự điều tra cũng như những chỉ trích của họ đối với những hành động của mình Bởi vì nó có tác động lớn đến dân chúng, những người sẽ quyết định ai là người đại diện nắm giữ quyền lực nhà nước Có thể nói, báo chí, truyền thông tự do và độc lập có thể đóng vai trò tích cực để phản biện và là

tấm gương để nhà nước xem xét lại các chính sách và hành động của mình

1.2.2 Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong

Kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong bao gồm các biện pháp tự nhiên, xuất phát từ chính nội lực bên trong của nhà nước Trọng tâm của kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên trong chính là phân quyền; bầu cử dân chủ; chủ nghĩa hiến pháp và mô hình nhà nước pháp quyền

1.2.2.1 Phân quyền

Quyền lực rất dễ bị lạm dụng khi nó tập trung vào trong tay một người,

do đó không còn cách nào khác để giải quyết vấn đề này ngoài việc phân chia quyền lực cho các thành phần khác nhau của chính quyền Madison đã chỉ rõ

vấn đề này trong tập Những luận cương liên bang:

Phương pháp ngăn ngừa sự tập trung nhiều quyền lực trong tay một bộ phận hoặc một ngành là giao phó cho mỗi bộ, mỗi ngành những phương tiện được tiên liệu trong Hiến pháp để mỗi bộ, ngành

có thể ngăn chặn sự can thiệp hoặc xâm lấn của ngành, bộ khác…

Để chống lại tham vọng của kẻ khác, chúng ta cũng phải sử dụng tham vọng… [12, tr.115]

Trang 26

Trên cơ sở kế thừa tư tưởng phân quyền của các nhà tư tưởng đi trước, Montesquieu đã phát triển và hoàn thiện học thuyết này Nhận thấy rõ bản chất của chế độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền và nguyên nhân của nó chính là việc tập trung quyền lực vào một mối, Montesquieu cho rằng: tổ chức quyền lực nhà nước theo phương thức phân chia quyền lực nhà nước là để chống lại chế độ chuyên chế, xóa bỏ nạn lạm quyền, bảo đảm quyền tự do của con người Theo ông:

Khi mà quyền lập pháp và quyền hành pháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên lão thì không còn tự do nữa; vì người ta sợ rằng chính ông ta hay viện ấy sẽ đặt ra những luật độc tài

để thi hành một cách độc tài Cũng không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và quyền hành pháp Nếu

Trang 27

21

quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì ông quan tòa sẽ có sức mạnh của kẻ đàn áp Nếu một người hay một tổ chức của quan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng nắm luôn

cả ba thứ quyền lực nói trên thì tất cả sẽ mất hết [6, tr.100]

Từ nhận định đó, cùng với sự phân chia quyền lực tối thượng thành các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Montesquieu cho rằng ba quyền này phải được phân tách, độc lập và được giao cho những cơ quan khác nhau với những phương thức hình thành và lĩnh vực hoạt động riêng Trong đó, quyền lập pháp biểu hiện ý chí chung của quốc gia, được trao cho nghị viện nắm giữ Hành pháp là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập, được trao cho chính phủ Cuối cùng, quyền tư pháp là quyền trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các cá nhân Các thẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật, được giao cho tòa án Sự bổ sung thêm quyền tư pháp chính là điểm mới của Montesquieu và làm cho học thuyết phân quyền của ông hoàn hảo hơn

Sau khi quyền lực đã được phân chia như vậy thì bước tiếp theo là cần một cơ chế mà theo đó “quyền lực này có thể ngăn chặn quyền lực khác” Đảm bảo được điều này thì sẽ tránh được rủi ro là quyền lực mạnh quá sẽ có tham vọng ở nên độc đoán Từ đó, Montesquieu đã đưa ra giải pháp là tổ chức

ra thành hai viện để viện nọ kiểm soát viện kia Bên cạnh đó, ông cũng nói đến công cụ để hành pháp ngăn chặn lập pháp Đó là việc quyền của hành pháp quy định thời hạn và thời gian của các phiên họp của ngành lập pháp Ngoài ra, cơ quan hành pháp không có quyền đưa ra các sáng kiến trước lập pháp nhưng có quyền ngăn cản việc thi hành các đạo luật đã được ngành lập pháp thông qua Và nếu như cơ quan hành pháp có quyền ngăn cản đối với việc thi hành các đạo luật thì cơ quan lập pháp có quyền xem xét việc thi hành

Trang 28

22

các đạo luật mà mình đã ban hành ra Như vậy, với việc kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực đã đảm bảo không một cơ quan nào có thể thao túng được toàn bộ quyền lực của dân chúng

Học thuyết tam quyền phân lập của Montesquieu đã đóng vai trò quyết định trong lịch sử đấu tranh của giai cấp tư sản chống lại sự chuyên quyền, độc đoán của nhà vua Nguyên tắc phân chia quyền lực đã trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước tư sản Ngày nay, quyền lực nhà nước được phân chia và kiểm soát theo hai phương thức cơ bản: phân quyền theo chiều ngang và phân quyền theo chiều dọc Phân quyền theo chiều ngang là phân quyền giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; đây là biện pháp quan trọng nhất để kiểm soát quyền lực nhà nước Phân quyền theo chiều dọc là phân quyền giữa cơ quan trung ương và các cơ quan ở địa phương, trong đó đảm bảo tính độc lập của chính quyền địa phương

- Phân quyền ngang

Đa số các nhà nước dân chủ hiện nay đều được tổ chức và hoạt động trên cơ sở nguyên tắc phân chia quyền lực nhà nước thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Mục tiêu của việc phân định này không những là

để chống lại sự chuyên chế, độc đoán và xu hướng lạm dụng quyền lực mà còn hạn chế sự tùy tiện của các chủ thể khi thực hiện quyền lực nhà nước Đó cũng chính là giải pháp mà Madison đã đề ra:

Trong trường hợp không thể tin tưởng con người lúc nào cũng

có những động lực cao cả, chính sách phân định quyền hạn mà căn bản dựa trên những quyền lợi trái ngược nhau của các ngành và các

bộ là một chính sách có thể áp dụng không những trong việc tư mà

cả trong việc công Chính sách này không những trong việc chia chính quyền ra thành nhiều ngành mà cả trong việc phân chia mỗi

Trang 29

23

ngành thành nhiều bộ, nhiều cơ quan khác nhau Mục tiêu của sự phân chia này là làm thế nào để cơ quan này kiểm soát và hạn chế quyền lực của cơ quan kia Nhưng tuy có sự phân quyền cho nhiều ngành, chúng ta nhận thấy không thể thành lập mỗi ngành hoàn toàn bình đẳng cùng nhau, nghĩa là làm cho mỗi ngành có đủ sức tự

vệ để chống đối lại sự uy hiếp của ngành khác [12, tr.115-116] Trung tâm của vấn đề kiểm soát quyền lực từ bên trong là việc chính phủ phải chịu trách nhiệm, phải giải trình trước nhân dân hoặc cơ quan đại diện của nhân dân Mối quan hệ giữa lập pháp và hành pháp, cũng như cơ chế chịu trách nhiệm của Chính phủ đã dẫn đến ba loại phân quyền:

Loại thứ nhất, phân quyền mềm dẻo, là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước của chính thể quân chủ và cộng hòa đại nghị Trong đó, tổng thống – nguyên thủ quốc gia do nghị viện bầu Do không được nhân dân trực tiếp bầu

ra nên dù có rất nhiều quyền hạn được quy định trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế tổng thống lại không tham gia trực tiếp vào việc giải quyết các công việc của nhà nước Bên cạnh đó, chính phủ được thành lập dựa trên cơ sở nghị viện – cơ quan lập pháp và phải chịu trách nhiệm trước nghị viện Do đó, chính phủ được hoạt động đến khi nào còn nhận được sự tín nhiệm của nghị viện, nếu không chính phủ sẽ bị lật đổ và kèm theo đó là việc nghị viện bị giải tán Nghị viện ngoài thực hiện quyền lập pháp, thì còn phải đảm nhiệm chức năng thành lập và giám sát chính phủ Đây là biểu hiện của cơ chế phòng chống sự tùy tiện của cơ quan nhà nước ở các nước theo chế độ đại nghị

Loại thứ hai, phân quyền cứng rắn được áp dụng trong chính thể cộng hòa tổng thống mà điển hình là nước Mỹ Trong chính thể này, sự tùy tiện của chính phủ được hạn chế trước nhân dân, là những người thành lập nên chính phủ Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu bộ máy hành ph áp, do nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra Việc áp dụng nguyên

Trang 30

24

tắc phân quyền khá tuyệt đối trong quy định chức năng lẫn nhân sự của chính phủ và nghị viện là cơ sở của cơ chế “kìm chế và đối trọng” Lập pháp và hành pháp kìm chế và đối trọng lẫn nhau để không cơ quan nào có thể lợi dụng quyền lực Nghị viện không có quyền lật đổ tổng thống và ngược lại, tổng thống cũng không có quyền giải tán nghị viện trước thời hạn Mặc dù tổng thống không có quyền sáng kiến pháp luật, nhưng trên thực tế, bằng nhiều biện pháp khác nhau, tổng thống Mỹ đã can thiệp khá sâu vào hoạt động lập pháp của quốc hội Không có quyền trình dự án luật nhưng tổng thống lại có quyền phủ quyết các dự án luật đã được quốc hội thông qua, mặc

dù quyền này không phải là tuyệt đối Ngược lại, quốc hội được quyền phê chuẩn các quyết định bổ nhiệm của tổng thống và các hiệp định đã được tổng thống kí kết với nước ngoài Tư pháp được quyền xét xử các hành vi của hành pháp, hành pháp được bổ nhiệm các thẩm phán của tòa án tối cao Lập pháp được quyền quyết định ngân sách hoạt động của hành pháp và tư pháp, tư pháp được quyền xét xử các đạo luật vi hiến Như vậy, ở chính thể này, tất cả các cơ cấu của bộ máy nhà nước đều được đặt trong cơ chế kiềm chế và đối trọng Tổng thống, người nhận được sự tấn phong của nhân dân có được nhiều quyền năng nhưng cũng phải hạn chế sự tùy tiện của mình trước cử tri, thông qua bầu cử tổng thống

Loại thứ ba, phân quyền hỗn hợp trong nhà nước được tổ chức theo chính thể lưỡng tính cộng hòa Ở loại chính thể này, việc tổ chức nhà nước mang cả những đặc điểm của cộng hòa đại nghị và cộng hòa tổng thống Trong đó, chính phủ phải hạn chế sự tùy tiện của mình trước nghị viện, đồng thời tổng thống phải chịu trách nhiệm trước cử tri Tổng thống do nhân dân trực tiếp bầu ra chứ không phải do nghị viện bầu ra như ở các nước theo chính thể cộng hòa đại nghị Tổng thống có quyền hạn rất lớn, bao gồm cả quyền giải tán nghị viện của cộng hòa đại nghị lẫn quyền tự thành lập chính phủ của

Trang 31

25

cộng hòa tổng thống Tổng thống được quyền bổ nhiệm thủ tướng và các bộ trưởng, và chính phủ phải hạn chế sự tùy tiện của mình trước tổng thống lẫn nghị viện Nếu như các chính sách của chính phủ đã được tổng thống thông qua mà không được thực thi thì thủ tướng và các bộ trưởng phải từ chức Bên cạnh đó, tổng thống trực tiếp nắm quyền hành pháp nên có quyền giải tán quốc hội để kéo dài nhiệm kì hay tăng cường quyền lực của mình hơn

Tóm lại, dù có sự áp dụng khác nhau nguyên tắc phân quyền vào việc tổ chức bộ máy nhà nước nhưng Hiến pháp các nước đều quy định đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong việc hạn chế quyền lực của nhà nước và đảm bảo các quyền tự do, dân chủ của công dân Thông qua việc phân công nhiệm vụ và giám sát quyền lực, các cơ quan nhà nước sẽ hoạt động hiệu quả và hạn chế được sự tùy tiện của mình khi sử dụng quyền lực nhà nước

- Phân quyền dọc giữa trung ương và địa phương

Sự phân quyền không đơn thuần chỉ diễn ra theo chiều ngang thành ba nhánh quyền lực mà còn cần thiết ở cả chiều dọc giữa trung ương và địa phương Ở mọi cấp chính quyền, quyền lực nhà nước cần phải được phân định rõ ràng, làm cho quyền lực đó không thể bị lạm dụng Phân quyền theo chiều dọc với việc tăng cường quyền lực nhà nước ở địa phương sẽ làm giảm quyền lực nhà nước ở cấp trên, qua đó sẽ hạn chế sự tùy tiện của chính quyền trung ương Đến lượt mình, quyền lực của cơ quan địa phương lại bị phân chia thành các cơ quan lập pháp và hành pháp địa phương Chính quyền địa phương sẽ thực hiện các nhiệm vụ của mình, dựa trên cơ sở các chủ trương, chính sách mà chính quyền trung ương đã xây dựng và chịu sự kiểm tra, giám sát của trung ương

Giữa chính quyền trung ương và chính quyền địa phương có sự phân công nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể trong những lĩnh vực cụ thể

Đó là cơ sở của việc phân định trách nhiệm của quyền lực nhà nước Trong

Trang 32

26

đó, chính quyền trung ương sẽ chủ yếu giải quyết những vấn đề công như chủ quyền lãnh thổ, đối ngoại…; còn chính quyền địa phương sẽ phụ trách các vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục ở địa phương, chủ động tiến hành giao lưu, hợp tác với các địa phương, các tổ chức khác trong quyền hạn của mình Sự phân định rõ ràng trong thẩm quyền cũng như sự độc lập của chính quyền địa phương trong giải quyết các nhiệm vụ của mình sẽ hạn chế được sự tùy tiện trong sử dụng quyền lực của nhà nước

Các đơn vị lãnh thổ địa phương trên thế giới được hình thành theo hai nguyên tắc cơ bản: tự nhiên và nhân tạo Lãnh thổ hành chính tự nhiên là lãnh thổ được hình thành tự nhiên theo các đặc điểm về dân cư, địa lý, phong tục tập quán… Đó là các cộng đồng dân cư bền vững mà nhà nước buộc phải công nhận trong quá trình thực hiện sự cai trị của mình trên toàn lãnh thổ Do

đó, việc quản lý các vùng lãnh thổ này cần phải tính đến nguyện vọng và ý chí của cộng đồng dân cư Bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước tham gia vào

cơ chế vận hành bộ máy nhà nước ở địa phương còn có các cơ quan do dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra Tổ chức chính quyền còn mang nhiều tính chất

tự quản, tự trị

Lãnh thổ hành chính nhân tạo là những đơn vị hình thành dựa trên cơ sở nhà nước trung ương chia lãnh thổ thành các đơn vị hành chính trực thuộc theo nhu cầu quản lý Do đó, tổ chức và hoạt động của các cơ quan địa phương chủ yếu để thực hiện chức năng quản lý Tùy theo tính chất phức tạp về lãnh thổ và dân cư, các nhà nước có thể tổ chức chính quyền địa phương thành hai cấp hoặc

ba cấp Trong một nhà nước dân chủ, chính quyền địa phương sẽ được tăng cường tính chất tự quản, bớt lệ thuộc vào cấp trên Mối quan hệ trên dưới bằng cách hướng dẫn, chỉ đạo, ra lệnh sẽ được thay thế dần bằng pháp luật, trong đó quy định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của các bên

1.2.2.2 Bầu cử dân chủ - một phương thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước

Trang 33

27

Bản Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1948

đã khẳng định: “Nền tảng uy quyền của các quyền lực công cộng là ý chí của

nhân dân; ý chí này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử thường kỳ và chân thực, được tổ chức theo nguyên tắc bình đẳng, phổ thông đầu phiếu và bỏ phiếu kín hoặc bằng những tiến trình bầu cử tự do tương đương” [12, tr.184] Thông

qua các cuộc bầu cử dân chủ, nhân dân có thể “tự do lựa chọn những người

có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước” [17, tr.338] Như vậy, ý chí

của nhân dân chính là nền tảng của quyền lực nhà nước và bầu cử chính là cách thức chuyển giao quyền lực một cách chính đáng

Bằng việc hợp pháp hóa quyền lực nhà nước, bầu cử là một trong những hình thức để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước Thông qua bầu

cử, nhân dân trao quyền, ủy quyền cho những cá nhân thay mặt mình đảm trách những công việc của nhà nước theo một nhiệm kì được giới hạn trong Hiến pháp Đồng thời, đây cũng là cơ hội để loại bỏ những quan chức tham nhũng, độc đoán, chuyên quyền Do đó, bầu cử có thể được coi là một trong những phương pháp hữu hiệu để hạn chế sự tùy tiện của các cơ quan, công chức nhà nước

Bầu cử là phương thức buộc người thắng cử phải có trách nhiệm đối nhân dân bầu ra mình Nếu người đại diện tỏ ra không xứng đáng với sự kì vọng của nhân dân, thì nhân dân có quyền không bầu cử họ Do đó, bầu cử buộc các quan chức nhà nước phải làm tròn nhiệm vụ được giao và hạn chế

sự tùy tiện khi thực hiện quyền lực nhà nước trước nhân dân Thông qua bầu cử, nhân dân sẽ xem xét lại năng lực làm việc của chính quyền mà mình đã bầu ra Nếu như chính quyền vẫn nhận được sự tin tưởng của đa số dân chúng, chính quyền sẽ được tiếp tục thực hiện nhiệm vụ của mình Ngược lại, một chính quyền mới sẽ được hình thành để thực hiện quyền lực

mà nhân dân sẽ ủy thác cho họ Do đó, có thể nói, các cuộc bầu cử thường

Trang 34

28

xuyên là hoạt động đánh giá chính quyền của người dân Bầu cử càng tự do bao nhiêu, tính chất cạnh tranh giữa các ứng cử viên càng nhiều bấy nhiêu thì sự hạn chế quyền lực nhà nước càng được gia tăng

Trên thế giới hiện nay, không có một nhà nước dân chủ nào mà không

sử dụng bầu cử như là một biện pháp để tạo ra sự chính đáng của quyền lực nhà nước Về cơ bản, có hai cách để nhân dân lựa chọn ra những người đại diện cho mình:

Phương pháp thứ nhất, nhân dân trực tiếp bầu ra nghị viện (ở các nước

có một viện) hoặc bầu ra hạ nghị viện (ở các nước mà nghị viện được tổ chức thành hai viện) Sau đó, cơ quan này sẽ bầu ra nguyên thủ quốc gia và thành lập một chính phủ do thủ tướng đứng đầu Do vậy, nguyên thủ quốc gia lẫn chính phủ đều phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Một đặc điểm quan trọng trong việc thực hiện quyền lực nhà nước thông qua hình thức bầu cử này là mặc dù được quy định rất nhiều quyền hạn trong Hiến pháp, nhưng trên thực tế nguyên thủ quốc gia lại bị hạn chế quyền trong khi giải quyết các vấn đề của đất nước Cơ quan nhà nước được nhân dân trực tiếp bầu ra bao giờ cũng có nhiều quyền lực hơn so với cơ quan được hình thành bằng phương pháp bầu cử gián tiếp

Phương pháp thứ hai, nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra nguyên thủ quốc gia, không những là người đứng đầu nhà nước mà còn là người trực tiếp lãnh đạo chính phủ Đây là cơ sở của tổng thống không phải chịu trách nhiệm trước lập pháp mà phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Nhân dân trực tiếp hạn chế quyền lực của tổng thống bằng các cuộc bầu cử Nhưng cũng chính nhờ sự tấn phong của nhân dân mà tổng thống có nhiều quyền lực thực tế hơn so với tổng thống của các nước được bầu ra dựa trên cơ sở của nghị viện Quyền lực của tổng thống có thể được coi là ngang hàng so với nghị viện

Như vậy, bầu cử vừa là cách thức nhân dân thực hiện quyền lực của mình

Trang 35

29

vừa là một phương pháp hữu hiệu để hạn chế sự tùy tiện của cơ quan nhà nước Một chính quyền được thành lập hợp pháp bằng con đường bầu cử tự do là một chính quyền hoạt động hiệu quả và có trách nhiệm với dân chúng

1.2.2.3 Chủ nghĩa hiến pháp và mô hình nhà nước pháp quyền

Chủ nghĩa hiến pháp hay còn gọi là chủ nghĩa hợp hiến, là một khái

niệm phức tạp, có thể được định nghĩa một cách tóm tắt như sau: “Chủ nghĩa

hiến pháp hay pháp quyền có nghĩa là quyền lực lãnh đạo và các cơ quan Chính phủ bị giới hạn, và những giới hạn đó có thể được thực hiện thông qua những quy trình định sẵn” [8] Chủ nghĩa lập hiến là một nội dung cốt lõi của

tư tưởng nhà nước pháp quyền và là nền tảng cơ bản của dân chủ

Theo Lý Ba, một luật sư người Trung Quốc đã miêu tả khái niệm chủ nghĩa hợp hiến như sau:

Chủ nghĩa hợp hiến là hệ thống có những định chế chính trị với đạo luật tối cao (thường được gọi là Hiến pháp), trong đó tất cả (đặc biệt là toàn bộ hệ thống chính quyền) được cai quản bởi đạo luật tối cao này, mà chỉ có dân ý (được định nghĩa qua thủ tục định chế đã được ấn định trước, thường là qua cơ cấu bầu cử tuyệt đại đa số) mới có thể thay thế và sửa đổi nó; đạo luật này cũng khó thay đổi vì không dễ gì thu thập đủ sự ủng hộ đa số cần thiết Thêm vào

đó, có sự phân chia, kiểm soát và cân bằng quyền lực và cơ quan tư pháp độc lập chuyên về lý luận luật pháp bảo tồn sự tối cao của Hiến pháp [12, tr.40]

Từ những định nghĩa trên, có thể rút ra được những kết luận cơ bản về chủ nghĩa hợp hiến: Thứ nhất, chủ nghĩa hợp hiến có vai trò quan trọng trong việc chế ngự và kiểm soát quyền lực nhà nước Quyền lực nhà nước là không tuyệt đối, có giới hạn và bị kiểm soát bởi đạo luật tối cao là Hiến pháp Thứ hai, chủ nghĩa hợp hiến không thừa nhận quyền tối thượng của cơ quan lập

Trang 36

30

pháp, mà chỉ thừa nhận quyền tối thượng của nhân dân Quyền lực nhà nước phải xuất phát từ quyền lực nhân dân hay nói cách khác, nhân dân chính là chủ thể của quyền lực nhà nước Các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều do Hiến pháp tạo ra và hoạt động trong một giới hạn được tạo ra bằng Hiến pháp Thứ ba, chủ nghĩa hiến pháp gắn liền với mục tiêu hạn chế quyền lực nhà nước nên việc tổ chức nhà nước phải theo nguyên tắc phân quyền Bên cạnh

đó, các cơ quan và quan chức không được tự do làm bất cứ những gì họ muốn

mà họ phải bị ràng buộc bởi những giới hạn được quy định trong Hiến pháp

và các đạo luật Thứ tư, sự cần thiết có một cơ quan tư pháp độc lập thực hiện hai nhiệm vụ cơ bản là bảo vệ sự tối cao của Hiến pháp bằng việc bãi bỏ các đạo luật, quy định trái với Hiến pháp và bảo vệ những quyền cơ bản của con người Thứ năm, qua việc kiểm soát quyền lực nhà nước và hoạt động xét xử độc lập của tòa án, quyền con người được đảm bảo thực thi

Như vậy, từ những phân tích cơ bản về chủ nghĩa hiến pháp ở trên, chúng ta có thể thấy được nhà nước pháp quyền chính là sự cụ thể hóa những nguyên tắc của chủ nghĩa hiến pháp về sự giới hạn và kiểm soát quyền lực nhà nước bằng pháp luật Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, được thành lập thông qua những cuộc bầu cử chân chính và sự giới hạn quyền lực nhà nước, với mục tiêu bảo vệ quyền con người

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền ra đời nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán và tùy tiện của nhà nước, gắn liền với việc xác lập và phát triển dân chủ Do đó, nhà nước pháp quyền mang đầy đủ những đặc điểm được coi là những biện pháp hữu hiệu trong phòng chống quyền lực nhà nước Cụ thể:

Đặc điểm thứ nhất, nhà nước pháp quyền là nhà nước được thành lập hợp pháp Nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp thành lập ra nhà nước bằng con đường bầu cử tự do, chân chính, qua đó chuyển giao quyền lực nhân dân cho

Trang 37

xã hội, các chủ thể phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật theo nguyên tắc: cá nhân được phép làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm, còn cơ quan nhà nước chỉ được phép làm những gì mà pháp luật quy định Pháp luật của nhà nước pháp quyền với mục tiêu đảm bảo các quyền cơ bản của con người

Đó là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế sự tùy tiện của các

cơ quan nhà nước

Đặc điểm thứ ba, nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân quyền để hạn chế sự tùy tiện của các cơ quan nhà nước và các cá nhân công quyền Theo đó, quyền lực nhà nước được phân ra thành ba nhánh lập pháp, hành pháp và tư pháp, được ba cơ quan nắm giữ tương ứng Không chỉ dừng lại ở chỗ phân quyền, các cành quyền lực trong nhà nước

pháp quyền còn có những cơ chế kiểm soát lẫn nhau theo nguyên tắc “sử

dụng tham vọng để chống lại tham vọng” Trong nhà nước pháp quyền, tòa án

có vị trí quan trọng nhằm đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp và xử lý những hành vi trái pháp luật của các cơ quan nhà nước, cá nhân công quyền

Đặc điểm thứ tư, nhà nước pháp quyền là nhà nước có mục tiêu đảm bảo các quyền tự do và bình đẳng của con người Các quyền này phải được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, đồng thời có cơ chế hữu hiệu đảm bảo thực hiện trên thực tế Trong xã hội pháp quyền, tất cả đều bình đẳng trước pháp luật, mọi cá nhân đều được phát huy tính cực, sáng tạo của bản thân Nhà nước được xây dựng trên nền tảng xã hội công dân, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, do đó, nhà nước và các cơ quan nhà nước phải phục tùng lợi ích của công dân mà không có điều ngược lại

Trang 38

32

Những đặc điểm trên của nhà nước pháp quyền đều có thể khái quát: Nhà nước pháp quyền là một nhà nước dân chủ, tự đặt mình dưới pháp luật, được xây dựng, tổ chức và hoạt động theo pháp luật và quản lý bằng pháp luật, mà Hiến pháp là đạo luật có tính tối cao Tóm lại, sự ra đời của Hiến pháp và lý thuyết về nhà nước pháp quyền đều nhằm hướng đến một mục đích là hạn chế quyền lực nhà nước Nếu như Hiến pháp hạn chế quyền lực nhà nước bằng việc ghi nhận nguyên tắc phân quyền – được xem là một phương thức hữu hiệu nhất để hạn chế quyền lực nhà nước – thì nhà nước pháp quyền đặt ra yêu cầu hạn chế quyền lực nhà nước bằng pháp luật, mà đứng đầu là Hiến pháp

1.2.3 Tòa án – cửa ải cuối cùng để phòng chống sự tùy tiện của quyền lực nhà nước

Như đã phân tích ở trên, Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà mọi tổ chức, cá nhân, bao gồm cả cơ quan nhà nước đều phải đặt mình dưới pháp luật và chịu sự điều chỉnh của pháp luật Theo Joseph Raz, một triết gia pháp luật nổi tiếng thì nhà nước pháp quyền phải đáp ứng 8 tiêu chuẩn cơ bản là:

Một là, mọi quy phạm pháp luật đều không áp dụng hồi tố, công khai và rõ ràng; hai là, pháp luật có tính ổn định tương đối;

ba là, quy trình làm ra quy phạm pháp luật đều được chỉ dẫn bởi những quy tắc chung, rõ ràng, ổn định và công khai; bốn là, hoạt động xét xử của tòa án phải được độc lập; năm là, các nguyên tắc

cơ bản của công lý tự nhiên đều phải được tôn trọng; sáu là, tòa

án nên có thẩm quyền kiểm soát tư pháp đối với các nhánh quyền lực khác; bảy là, việc tiếp cận với tòa án của các đương sự phải được dễ dàng; tám là, quyền cân nhắc trong việc ra các quyết định của các cơ quan phòng chống tội phạm không được để ở mức có thể bóp méo pháp luật [7]

Như vậy, khi xem xét đến tiêu chuẩn của một nhà nước pháp quyền,

Trang 39

33

chúng ta có thể thấy được vai trò tiên quyết của tòa án trong việc hiện thực hóa các yêu cầu đó Vị trí của tòa án được đề cao trong việc xét xử các vi phạm và tranh chấp trong xã hội, trong đó có hành vi của các quan chức nhà nước Dựa trên cơ sở pháp lý là pháp luật, các phán quyết có hiệu lực của tòa

án có tính bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức phải tuân thủ và chấp hành Thông qua hoạt động của tòa án, pháp luật được tôn trọng và tuân thủ một cách triệt để

Với chức năng xét xử, tòa án giữ vai trò quan trọng trong việc kiểm soát lạm quyền bởi lập pháp và hành pháp Nếu quyền của dân chúng bị xâm hại bởi các quyết định và hành vi tùy tiện của các cơ quan lập pháp và hành pháp, dân chúng có thể dựa vào Hiến pháp mà khởi kiện ra Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Vai trò này của tòa án được tổng kết từ rút ra từ thực tiễn chống lại sự lạm dụng quyền lực nhà nước:

Để làm sáng tỏ những điều còn mơ hồ trong luật pháp và những quy định và để buộc phải phục tùng, các xã hội đã nghĩ ra một loạt các cơ chế chính thức và không chính thức để làm điều này, nhưng không có một cơ chế nào quan trọng hơn một hệ thống

tư pháp chính thức, chỉ riêng ngành này có quyền cưỡng chế các cơ quan khác của nhà nước qua các cuộc phán xử Và cũng chỉ mình

nó có quyền chính thức phán quyết về sự hợp pháp những hoạt động của ngành lập pháp và hành pháp Mối quan hệ đặc biệt này đối với các ngành còn lại của nhà nước đặt ngành tư pháp vào một

vị trí độc nhất để hỗ trợ cho sự phát triển bền vững, bằng cách giữ cho hai ngành khác phải hạn chế sự tùy tiện của nhà nước về những quyết định của họ và bằng cách củng cố sự tin cậy của toàn bộ công cuộc kinh doanh và môi trường chính trị [9, tr.200]

Để thực hiện vai trò này, tòa án có quyền phán xét tính hợp hiến của các đạo luật của Quốc hội và các quyết định, hành vi của các cơ quan hành

Trang 40

34

chính nhà nước Đây là phương thức kiểm soát chính quyền hữu hiệu nhất nhằm đảm bảo ý chí chung của nhân dân được thể hiện trong Hiến pháp và các quyền con người, quyền công dân được bảo vệ Trong Nhà nước pháp quyền, tòa án là nơi mà mọi tranh chấp trong xã hội được đem ra phán xét, kể

cả các tranh chấp chính trị Bất cứ hành vi nào của các cơ quan công quyền vi phạm pháp luật đều bị nghiêm trị thông qua một hệ thống tòa án công bằng và độc lập Do đó, nếu như nhà nước cần một thành trì cuối cùng, độc lập chống lại mọi sự đe dọa đối với các nguyên tắc, giá trị nền tảng của xã hội, thì tòa án

là sự lựa chọn tối ưu nhất

Đó là lý do tại sao mà ở các nước dân chủ hiện đại, việc nhân dân dựa vào tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình chính là minh chứng cho sự tin tưởng của người dân vào tòa án Bất kì một công dân nào cũng đều nhận được

sự bảo hộ của pháp luật trước những hành vi tùy tiện của cơ quan công quyền,

thông qua phán quyết công bằng của tòa án “Ở Mỹ, mọi cái đều kết thúc tại

tòa án Người ta tin tưởng rằng tiếng nói của tòa án là tiếng nói cuối cùng, sự giải thích của tòa án về Hiến pháp có giá trị hơn quan điểm của Quốc hội và Tổng thống” [21, tr.27]

Tóm lại, cùng với sự phát triển của xã hội và sự mở rộng quyền tự do, dân chủ của công dân, vai trò của một hệ thống tòa án độc lập càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Nếu như pháp luật là công cụ quy định những phương thức hạn chế sự tùy tiện của chính quyền thì tòa án chính là sự đảm bảo cho những quy định đó được thực thi trên thực tế Thông qua hoạt động xét xử của mình, tòa án đã thiết lập nên một hàng rào pháp lý ngăn cản việc

cơ quan nhà nước tùy tiện sử dụng sức mạnh được nhân dân trao cho Hoạt động của hệ thống tòa án tạo thành một phương thức quan trọng để kiểm soát quyền lực nhà nước trong một quốc gia dân chủ

Ngày đăng: 19/10/2015, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w