1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong cải cách tư pháp

105 642 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 864,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; Tạp chí Cộng sản số 61 năm 2004 của GS Lê Xuân Lựu; - Một số đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí dân chủ và

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

PHẠM THỊ HỒNG LÊ

T¦ T¦ëNG Hå CHÝ MINH VÒ NHµ N¦íC PH¸P QUYÒN

Vµ Sù VËN DôNG TRONG C¶I C¸CH T¦ PH¸P

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phạm Thị Hồng Lê

Trang 3

CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 6

pháp quyền 12

pháp quyền 14

nước của dân, do dân, vì dân 28

Chương 2: CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ Ý NGHĨA, NỘI DUNG CƠ

BẢN CỦA SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN 48

Trang 4

2.3 Quan điểm về cải cách tư pháp 60

hoạt động của cơ quan tư pháp theo hướng nhà nước pháp quyền 60

pháp theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp 63

pháp luật, đặc biệt là pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự 64

Đảng, giám sát của Mặt trận tổ quốc và nhân dân 65

về nhà nước pháp quyền trong cải cách tư pháp hiện nay 67

pháp quyền trong cải cách tư pháp hiện nay 67

quyền trong cải cách tư pháp hiện nay 68 KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Số hiệu bảng Tên bảng Trang

Bảng 2.1: Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta trong thế kỉ XX là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Cách mạng tháng tám đã xoá

bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỉ nguyên mới của lịch

sử dân tộc, kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội

Thành quả lớn nhất của cách mạng tháng Tám năm 1945 là đã xây dựng Nhà nước cách mạng kiểu mới ở Việt Nam Đặc trưng nổi bật của Nhà nước cách mạng kiểu mới đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Ngay sau khi giành được chính quyền, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng toàn dân xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân Sau một tháng kể từ ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trong bài “Chính phủ là công bộc của

dân”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Các công việc của Chính phủ làm phải

nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu sự tự do hạnh phúc cho mọi người, cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi của nhân dân lên hết thảy Việc gì có lợi cho dân thì làm Việc gì có hại cho dân thì phải tránh” [16]

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hồ chủ tịch, Hiến pháp năm 1946, bản hiến pháp đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam và trong lịch sử các dân tộc Đông Nam châu Á đã được xây dựng và thông qua Với hiến pháp năm 1946, chủ nghĩa lập hiến và quyền con người từ các giá trị tư tưởng đã trở thành các giá trị pháp luật hiện thực trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam Những quy định của Hiến pháp năm 1946 là chuẩn mực hiến định đầu tiên cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam

Tuy nhiên, quá trình xây dựng và tổ chức Nhà nước trong mấy chục

Trang 8

năm qua cho thấy, hàng loạt vấn đề về tổ chức và hoạt động của nhà nước vẫn chưa được tổng kết làm rõ Do vậy, các giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước được triển khai trong nhiều giai đoạn lịch sử vẫn chưa đem lại các kết quả mong muốn Sự bất cập trong tổ chức bộ máy nhà nước

và cơ chế vận hành của bộ máy này đang cản trở việc phát huy vai trò của nhà nước ta trong cơ chế kinh tế mới

Nhận thức lý luận về chế độ pháp quyền trong hoạt động nhà nước và

xã hội vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển và do vậy chưa tạo lập được các cơ ở khoa học vững chắc cho việc tìm kiếm các giải pháp cải cách thực tiễn đối với đời sống nhà nước Chính vì thế, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền đang là một trong những tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay

Tính tất yếu khách quan này xuất phát từ định hướng xây dựng CNXH,

mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Chúng ta ý thức sâu sắc rằng để đạt được một chế

độ xã hội với mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền kinh tế thị trường XHCN, một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học về đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, có thể kể tên một số bài viết đã được thực hiện như:

- Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền ở nước ta, Tạp chí Cộng sản

số 1(122) năm 2007 của TS Nguyễn Văn Hiện;

- Xây dựng nhà nước pháp quyền; Tạp chí Cộng sản số 1 (122) năm

Trang 9

- Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; Tạp chí Cộng sản số 61 năm 2004 của GS Lê Xuân Lựu;

- Một số đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí dân chủ và pháp luật số 5 năm 2005 của TS Hoàng Thị Kim Quế;

- Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới và pháp luật ở Việt Nam; Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1982 của tác giả Nguyễn Ngọc Minh;

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới; Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội năm 1995 của tác giả Hoàng Văn Hảo;

Và một số tài liệu như Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh toàn tập của nhà xuất bản Chính trị quốc gia, các Nghị quyết hội nghị Trung ương 8 khoá VII năm 1995, văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, lần thứ IX…

Các tài liệu, bài viết trên đã tiếp cận vấn đề và nhận định đánh giá vấn

đề ở các góc độ khác nhau, tuy nhiên cũng cần phải làm rõ thêm các đặc điểm phù hợp với Việt Nam là căn cứ vào đâu, hoàn cảnh Việt Nam, thế giới, đặc điểm tâm lý, văn hoá của đất nước ta hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Bản luận văn “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong cải cách tư pháp” là công trình tập trung nghiên cứu tổng thể và chi tiết một số vấn đề cơ bản liên quan đến nhà nước pháp quyền, đặc điểm của nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền, từ đó đưa ra những nhận thức về lý luận và thực tiễn trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân trong công cuộc xây dựng CNXH thời kì đổi mới, vận dụng vào quá trình cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội qua một số nội dung sau:

Trang 10

- Đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân;

- Giải quyết mối quan hệ công dân-nhà nước là mối quan hệ chính trị

cơ bản để xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân;

- Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân phải dựa trên truyền thống, đặc điểm dân tộc, nhất là truyền thống chính trị của đất nước;

- Xây dựng quyền lực nhà nước của các công dân trên nền tảng một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện;

- Nhà nước pháp quyền XHCN phải được vận hành và tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam;

- Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải phù hợp với những giá trị phổ biến tiến bộ của nhân loại

- Xây dựng nhà nước pháp quyền thể hiện qua công cuộc cải cách tư pháp hiện nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Với phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho tư duy và góc độ nghiên cứu luôn đi đúng hướng và có hiệu quả, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh, đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và phương pháp liên ngành; là ba phương pháp nghiên cứu chính và cụ thể để sử dụng khi nghiên cứu đề tài này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Hiện nay chúng ta đang từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và vì dân Chỉ khi có một nhà nước như vậy mới có thể phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo quyền sống, quyền được làm việc, được lao động, được học hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội Nó ảnh hưởng đến sự lành mạnh của nền dân chủ, tới cuộc sống và

số phận của từng người dân, tới chiều hướng phát triển của xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã xác định xây dựng nhà nước

Trang 11

pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ

có tính chiến lược; đề tài được nghiên cứu góp phần làm sáng rõ các giá trị lâu bền, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền mang tính thời đại đối với thực tế nước ta hiện nay, không chỉ có quan điểm lý luận mà còn xây dựng một nhà nước pháp quyền thực tế, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, đặc biệt “chế độ pháp trị”, điều hành đời sống xã hội, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương:

Chương 1 Sự hình thành và nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà

nước pháp quyền

Chương 2 Cải cách tư pháp và ý nghĩa, nội dung cơ bản của sự vận

dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền

Trang 12

Chương 1

SỰ HÌNH THÀNH VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1 Sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

1.1.1 Tư tưởng về nhà nước pháp quyền trong lịch sử

Pháp quyền là một khái niệm được hình thành và phát triển dọc theo chiều dài lịch sử của văn minh nhân loại Tư tưởng về Nhà nước pháp quyền luôn gắn liền với tư tưởng phát triển dân chủ đã hình thành ngay từ thời cổ đại, thể hiện trong quan điểm của các nhà tư tưởng của thời cổ đại như Xôcrat (469-399 tr.CN), Arixtốt (384-322 tr.CN), Xixêrôn (l06-43 tr.CN) Những tư tưởng này đã được các nhà tư tưởng chính trị và pháp lý tư bản sau này như John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), J.J.Rút-xô (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hêghen (1770 - 1831)… phát triển như một thế giới quan pháp lý mới Các nội dung, nguyên tắc cơ bản của pháp quyền đã không ngừng được giải thích, bổ sung và hoàn thiện theo từng giai đoạn và từng thời kỳ lịch sử Từ thời Hy Lạp cổ đại, tư tưởng pháp quyền xuất hiện nơi mà nền dân chủ sơ khai đã được hình thành Trong giai đoạn này, các nhà

tư tưởng cổ đại không chỉ thuần túy quan tâm tới tính thượng tôn của pháp luật mà còn coi pháp quyền như là một phương thức tìm kiếm sự tổ chức hợp

lý của hệ thống quyền lực nhà nước Đáng chú ý trong thời kỳ này là tư tưởng pháp quyền sơ khai của hai triết gia nổi tiếng Plato và Aristotle Plato khẳng định pháp luật phải là ông chủ của chính quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của những kẻ chuyên quyền Tương tự, Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được xem như là sự kiềm chế đối với các pháp quan để hạn chế sự tùy tiện trong quá trình đưa ra các phán quyết

Tư tưởng và các học thuyết pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát

Trang 13

đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội, từ đó từng bước giành ảnh hưởng trên chính trường Trong thời kỳ này, tư tưởng pháp quyền được phát triển và hòa quyện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến

và dân chủ Nhiều nhà nghiên cứu lớn đã xuất hiện với vai trò hết sức quan trọng trong việc bồi đắp và phát triển các học thuyết pháp quyền Các tên tuổi

và tác phẩm trứ danh trong thời kỳ này cần phải kể đến là Locke J với tác phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, J.J Rousseau với tác phẩm “Khế ước xã hội” và Ch.L Montesquieu với tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Đặc điểm nổi bật nhất của tư tưởng pháp quyền trong giai đoạn này là đề cao các giá trị dân chủ, tự do và quyền con người J.J Rousseau đã bắt đầu tác phẩm của mình với câu nói bất hủ: “Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng khắp nơi lại bị xiềng xích” Từ đó, các nhà tư tưởng trong giai đoạn này tập trung tìm kiếm một cơ chế chế ước quyền lực nhà nước, chống lại sự lạm quyền và xây dựng một mô hình chính phủ hợp lý nhằm hạn chế việc vi phạm các quyền con người Ch.L Montesquieu với học thuyết tam quyền phân lập

đã được các học giả tư sản phương Tây coi là hòn đá tảng trong việc xây dựng

lý luận tổ chức quyền lực nhà nước tư sản Một nhà nghiên cứu đã nhận xét khái quát tư tưởng pháp quyền chủ đạo trong giai đoạn này bằng một khẩu

hiệu: Con người chỉ được tự do khi chính phủ không được tự do

Các hướng tiếp cận về pháp quyền trong nền khoa học pháp lý thế giới

là hết sức phong phú, đa dạng Để có thể hiểu được toàn diện khái niệm pháp quyền trong nền khoa học pháp lý thế giới, chúng ta cần xem xét các học thuyết pháp quyền trong mối quan hệ biện chứng, liên tục, đan xen, gắn bó và

bổ sung cho nhau Trong khi hệ thống pháp luật Anh-Mỹ nhấn mạnh pháp quyền như một sự cơ chế đảm bảo cho sự vận hành hợp lý và hiệu quả của hệ thống pháp luật nhằm giúp các cá nhân trong xã hội có thể hợp tác và theo đuổi những kế hoạch phát triển của mình thì các học thuyết pháp quyền của

Trang 14

Đức nhấn mạnh đến nguyên tắc phân chia, phân công quyền lực trong tổ chức

bộ máy nhà nước, củng cố cơ chế tiếp cận công lý và đảm bảo quyền con người Hướng tiếp cận về pháp quyền của Trung Quốc, quốc gia có hệ thống pháp luật XHCN lại thể hiện thái độ thận trọng trên con đường tìm kiếm mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Trong khi đó, các tổ chức quốc tế nhấn mạnh đến tính linh hoạt, tính mở và năng động của khái niệm pháp quyền trên thế giới tùy thuộc vào đặc điểm cụ thể của hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, truyền thống, tính cách dân tộc của từng quốc gia

Những đặc trưng này được xem là các giá trị phổ biến của nhà nước pháp quyền nói chung đã được đề cập trong nhiều quan điểm, học thuyết của các nhà tư tưởng, các nhà lý luận chính trị - pháp lý trong lịch sử phát triển các tư tưởng chính trị - pháp lý nhân loại

Các giá trị phổ biến này được trình bày dưới các dạng thức khác nhau bởi các nhà lý luận, phục thuộc vào lập trường chính trị - pháp lý và quan điểm học thuật của từng người Các trình bày có thể khác nhau, song về bản chất có thể quy về các giá trị có tính tổng quát sau:

Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ Dân chủ

vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ nhà nước

Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện

Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn

bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước

Trang 15

Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều

có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp

và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội

Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội

Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà nước Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của mình theo đúng các quy định của luật pháp

Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng Mô hình quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ những điều luật cấm

Quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền được tổ chức và thực hiện theo các nguyên tắc dân chủ: phân công quyền lực và kiểm soát quyền lực Tính chất và cách thức phân công, kiểm soát quyền lực nhà nước rất đa

dạng, tuỳ thuộc vào chính thể nhà nước ở các nước khác nhau, nhưng đều có điểm chung là quyền lực nhà nước không thể tập trung vào một người, vào một cơ quan, mà phải được phân công (phân chia) giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Đồng thời, việc tổ chức và thực thi quyền lực phải được kiểm soát chặt chẽ với các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể kể cả bên trong bộ máy nhà nước

và bên ngoài bộ máy nhà nước

Nhà nước pháp quyền gắn liền với một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật phù hợp

Nền tảng của nhà nước pháp quyền là Hiến pháp và một hệ thống pháp

Trang 16

luật dân chủ và công bằng, do vậy, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp và pháp luật luôn là một yêu cầu, một điều kiện cần thiết nhằm đảm bảo cho Hiến pháp, pháp luật luôn được tôn trọng, đề cao và tuân thủ nghiêm minh

Hình thức và phương thức bảo vệ Hiến pháp và pháp luật ở các quốc gia

có thể đa dạng và khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu là bảo đảm địa vị tối cao, bất khả xâm phạm của Hiến pháp, loại bỏ hành vi trái với tinh thần và quy định của Hiến pháp, không phụ thuộc và chủ thể của các hành vi này

Đồng thời với bảo vệ Hiến pháp, nhà nước pháp quyền luôn đòi hỏi phải xây dựng và thực thi một chế độ tư pháp thật sự dân chủ, minh bạch và trong sạch để duy trì và bảo vệ pháp chế trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội

Trong nhà nước pháp quyền, quyền lực nhà nước luôn được giới hạn trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội

Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của các mô hình kinh tế thị trường, theo hướng Nhà nước tôn trọng, phát huy các quy luật khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh

tế, đồng thời khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường

Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản

lý xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu trúc xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội)

Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác, quy định và chi phối lẫn nhau Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật

1.1.2 Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy được biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được phản

Trang 17

ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều

hiến chương loại chí, Kinh nghiệm làm luật, trị nước được ghi lại trong các

bộ luật nổi tiếng như Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ luật Hồng Đức (đời Lê), mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật

nổi tiếng ở phương Đông, trong đó có những tư tưởng còn được đề cập đến sớm hơn cả phương Tây, ví dụ vấn đề bình đẳng đối với phụ nữ: cho phép ly hôn, có quyền thừa kế tài sản, công nhận công lao chung của vợ chồng trong vấn đề tài sản, cho phép nhận con nuôi…

Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng

thịnh trong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh lý tưởng về nhà nước "vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn", "nước lây dân làm gốc" tiếp thu được ở Nho giáo, là những hành trang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một mô hình nhà nước tiên bộ cho đất nước sau khi giành được độc lập

Chủ tịch Hổ Chí Minh khởi xướng cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cho dân tộc mình và cho các dân tộc thuộc địa bằng việc vạch trần bản chất vô nhân đạo, phản tiến hóa của cái gọi là "công lý" mà thực dân, đế quốc thi

hành ở các xứ "bảo hộ" [17, tr.349] Người viết:

Ở Đông Dương có 2 thứ công lý: một thứ cho người Pháp, một thứ cho người bản xứ Người Pháp thì được xử như ở Pháp Người Việt Nam thì không có hội đồng bổi thẩm, cũng không có luật sư người Việt Thường người ta xử án và tuyên án theo giấy tờ, vắng mặt người bị cáo Nếu có vụ kiện cáo giữa người Việt Nam với người Pháp thì lúc nào người Pháp cũng có lý cả, mặc dù tên này ăn cướp hay giết người [17, tr.420]

Năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước tại Pháp,

dưới tên ký Nguyễn Ái Quốc, Người gửi đến Hội nghị Véc xây bản "Yêu

Trang 18

Trong lịch sử chính trị và pháp lý của nước ta, đây là văn kiện pháp lý đầu tiên đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền tự quyết của các dân tộc với các quyền tự do, dân chủ của nhân dân; tức là kết hợp chặt chẽ quyền dân tộc và quyền con người Đây cũng là lần đầu tiên một người Việt Nam yêu nước, nhân một Hội nghị quốc tế, đã dũng cảm đứng lên đoạt lại ngọn cờ về quyển dân tộc và quyền con người trong tay thực dân, đế quốc, biến những chiêu bài bịp bợm của chúng thành những yêu sách chính trị và pháp lý chính đáng, buộc chúng phải thực hiện những quyền dân tộc và dân chủ mà chúng đã rêu rao

Trên hành trình cứu nước, Người đã khảo sát mô hình nhà nước tư sản

Mỹ, Pháp, "những cuộc cách mạng không đến nơi", vì ở đó, chính quyền vẫn

ở trong tay một số ít người Người đã phát hiện ra rằng, sau những lời hoa mỹ

về "quyền bình đẳng, quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc"

của Tuyên ngôn độc lập 1776, là sự bất bình đẳng, nghèo đói, nạn phân biệt

chủng tộc và biết bao sự tàn bạo, bất công khác, nhất là đối với người da đen

Người coi đó là: “Một cuộc cách mạng chưa đến nơi, vì cách mạng đã thành

công hơn 150 năm nay mà công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mạng lần thứ hai” [18, tr.270]

Sau khi đến Liên Xô, Người đã tìm hiểu một mô hình Nhà nước Xô

viết, nhà nước đó: "Phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ

thuyền, ra sức tổ chức kinh tế mới để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đổng" [18] Mô hình nhà nước đó là một gợi ý cho Người về một kiểu nhà

nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai

1.1.3 Quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

Từ những nghiên cứu, khảo sát trên, Hồ Chí Minh từng bước hình thành và phát triển tư tường của mình về một mô hình nhà nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai

Năm 1930, trong Chánh cương vắn tắt, lần đầu tiên Người nêu mục

Trang 19

tiêu "dựng ra chính quyền công nông binh" [18, tr.1] Ý tưởng này chỉ thấy

Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ: Sau khi đánh đuổi được

đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá

cờ toàn quốc Chính phủ ấy do quốc gia đại hội cử ra [10, tr.150]

Khi thời cơ giải phóng dân tộc đã đến gần, trong Thư gửi đồng bào

toàn quốc (10-1944), Hồ Chí Minh cũng nói rõ: trước hết cần có một chính

phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm tất cà các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong

nước bầu cừ ra "Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì

lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc ngoài thì giao thiệp với các hữu bang" [19, tr.505]

Như vậy, từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu cho khối đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam

Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng được mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi thuộc các tình Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái,

Trang 20

Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh chi thị thành lập Khu giải phóng, cử

ra ủy ban chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng

Tại các địa phương trong Khu giải phóng, các ủy ban nhân dân cách mạng

cũng được thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của Việt

Minh Khu giải phóng là hình ảnh "nước Việt Nam mới phôi thai", "các ủy

ban nhân dân cách mạng vừa lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tổng khởi nghĩa, vừa tập cho nhân dân cầm chính quyền" [3, tr.134]

Tiếp theo, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào đã đi đến quyết định lịch sử: phát động tổng khởi nghĩa, thành lập ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, ra mắt Quốc dân Đại hội, làm chức năng của Chính phủ lâm thời ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi

Sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, trong gần 1/4 thế kỷ, trên cương vị là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam mới, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở châu Á, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có công đầu trong việc đặt nền móng xây dựng một nhà nước kiểu mới trong lịch

sử dân tộc: Nhà nước của dân, do dân, vì dân, một nền móng cho nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, tất cả những nghiên cứu, khảo sát cùng thực tiễn tổ chức, hoạt động của Hồ Chí Minh được nói đến ở trên là cơ sở góp phần hình thành nên

tư tưởng của Người về nhà nước pháp quyền

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền

1.2.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hiến pháp, pháp luật

Tiếp xúc với nền văn minh Âu - Mỹ, nhất là kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng, quản lý xã hội bằng pháp luật là dân chủ, tiến bộ và có tính chất phổ biến đối với các xã hội hiện đại

Nhận thức được tầm quan trọng của luật pháp, từ rất sớm, Hồ Chí Minh

Trang 21

đã đề cập đến vai trò của chúng trong điều hành và quản lý xã hội Năm 1919, tám yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Véc- xây đã có 4 điểm liên quan đến vấn đề pháp quyền, còn lại liên quan đến công lý và quyền con người

Bản Yêu sách của nhân dân An Nam được Hồ Chí Minh chuyển thành

“Việt Nam yêu cầu ca”, trong đó yêu cầu thứ bảy là: “Bảy xin hiến pháp ban

hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” [17] Đây là tư tưởng rất đặc

sắc của Hồ Chí Minh, phản ánh nội dung cốt lõi của Nhà nước dân chủ mới - Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật Đồng thời, đây cũng là nguyên tắc xuyên suốt trong hoạt động quản lý nhà nước của Người

Sau Cách mạng Tháng Tám, năm 1945, Hồ Chí Minh đề ra một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là: Chúng

ta phải có một Hiến pháp dân chủ Ngày 20/9/1945, Chủ tịch lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ký Sắc lệnh thành lập Ban dự thảo Hiến pháp gồm 7 thành viên do Chủ tịch Hồ Chí Minh làm trưởng ban Bản dự thảo Hiến pháp hoàn thành khẩn trương và nghiêm túc dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Hồ Chủ tịch Tại kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khoá I vào tháng 10/1946, Quốc hội đã thảo luận dân chủ và thông qua bản dự thảo Hiến pháp này Đó là bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam: Hiến pháp năm 1946 Trong phiên họp Quốc hội thông qua hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu:

“… Hiến pháp đã nêu một tinh thần đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc Việt Nam và một tinh thần liêm khiết, công bình của các giai cấp” Và nhấn mạnh rằng: “Chính phủ cố gắng làm theo đúng 3 chính sách: dân sinh, dân quyền

và dân tộc” [13]

Sau năm 1954, khi miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhiều quy định trong Hiến pháp năm 1946 không còn phù hợp, Hồ Chí Minh đã chủ trương sửa đổi và ban hành Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959 Trong tư duy Hồ Chí Minh,

Trang 22

một khi điều kiện kinh tế - xã hội thay đổi thì pháp luật, nhất là đạo luật “gốc”

- Hiến pháp, cũng phải thay đổi để bảo đảm khả năng điều chỉnh hợp lý các quan hệ xã hội đã phát sinh và định hình

Ngoài hai bản Hiến pháp năm 1946, 1959, từ năm 1945 đến 1969, Hồ Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300 văn bản dưới luật, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức nhà nước đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước có nhiều nhân tố cơ bản của một nhà nước pháp quyền

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ, phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế Nhà nước sử dụng pháp luật

để quản lý xã hội Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, một trong 5 nhiệm vụ để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên

là “Tăng cường không ngừng chính quyền nhân dân Nghiêm chỉnh thực hiện

dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch Triệt để chấp hành mọi chế

độ và pháp luật của Nhà nước” [26, tr.235]

Nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước là các

cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật nhưng trong điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến ở phương Đông, Hồ Chí Minh sử dụng linh hoạt pháp trị và đức trị trong tổ chức hoạt động của Nhà nước và quản lý nhà nước

Cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm minh Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ “gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần

Trang 23

chúng mà mình tham gia” Trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật, cán bộ làm công tác tư pháp có vai trò quan trọng Họ chính là người trực tiếp thực thi luật pháp, đại diện cụ thể cho “cán cân công lý” Vì thế, Hồ Chí Minh yêu cầu ở họ phải có phẩm chất đạo đức cần thiết: Trong công tác xử án phải công bằng, liêm khiết, trong sạch như thế cũng chưa đủ vì không thể chỉ hạn chế hoạt động của mình trong khung toà án mà còn phải gần dân, giúp dân, học dân, hiểu dân để giúp mình thêm liêm khiết thêm công bằng, trong sạch

Với Hồ Chí Minh, pháp luật không phải là để trừng trị con người mà là công cụ bảo vệ, thực hiện lợi ích của con người Tư tưởng pháp quyền trong

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua đội ngũ cán bộ, công chức của Người thấm đượm một tấm lòng thương yêu nhân dân, chăm lo cho

ấm no, hạnh phúc của nhân dân, thấm đượm lòng nhân ái, nghĩa đồng bào theo đạo lý truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam Vì thế, kết hợp giữa đức trị và pháp trị trong tổ chức nhà nước của Hồ Chí Minh có nội hàm triết lý, mang đậm tính dân tộc và dân chủ sâu sắc

Là người đầu tiên truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm nhuần sâu sắc quan điểm của các nhà mácxít về bản chất của pháp luật

Trước hết, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhà nước và pháp luật chỉ ra đời, tồn tại và phát triển khi xã hội phân chia thành những giai cấp đổi kháng về lợi ích và mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được Không tồn tại nhà nước và pháp luật phi giai cấp, “siêu giai cấp” Nhà nước của giai cấp nào lập ra thì pháp luật mang bản chất của giai cấp đó

Tính giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị Giai cấp thống trị thông qua nhà nước thể hiện ý chí

Trang 24

các cơ quan nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện C.Mác và Ph Ăngghen,

khi nghiên cứu về pháp luật tư sản đã đi đến kết luận: “Pháp luật của các ông

chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định”

[2, tr.562] Rõ ràng ý chí của giai cấp thống trị, thông qua pháp luật, hướng tới việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm định hướng các quan hệ xã hội phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị, đồng thời bảo vệ và cùng

cố địa vị của giai cấp thống trị

Như vậy, bản chất giai cấp luôn là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu pháp luật nào, nhưng mồi kiểu pháp luật có những cách thể hiện riêng Tuy nhiên, điểm chung của pháp luật trong các kiểu nhà nước bóc lột trước đó chỉ

là ý chí của thiểu số giai cấp thống trị, là công cụ áp bức giai cấp còn pháp luật xã hội chủ nghĩa thì hoàn toàn khác với các kiểu pháp luật trước đó về chất, nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công

cụ để xây dựng xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình đẳng, dân chủ và công bằng xã hội được bảo đảm

Trong quá trình hoạt động của mình, với tinh thần phê phán sâu sắc và đấu tranh kiên quyết chống pháp luật tư sản và chế độ thuộc địa tàn bạo, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là sự kiện đánh dấu sự thay đổi về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật Đứng trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử Mácxít, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:

“Trong các nhà nước bóc lột, pháp luật là vũ khí của giai cấp thống trị dùng

để cai trị các giai cấp đối kháng, pháp luật đó là ý chí của thiểu số, bảo vệ, duy trì lợi ích của giai cấp thống trị và áp bức đa số nhân dân lao động” [15]

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng Tổ chức cuộc đấu tranh vạch trần bản chất phản nhân dân, phản tiến bộ của nhà nước và pháp luật đế quốc, thực

dân: “Pháp luật cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí của toàn

Trang 25

thể nhân dân ta” [32, tr.185] Pháp luật là vũ khí của giai cấp thống trị để

trừng trị giai cấp chống lại mình; mục đích đầu tiên của pháp luật bóc lột là trừng trị và áp bức giai cấp; bản chất của pháp luật bóc lột là phản dân chủ, phản tiến bộ Người khẳng định ở đâu chủ nghĩa thực dân cũng đều biến người dân thuộc địa thành nô lệ, không có quyền sống, quyền được pháp luật bảo hộ Công lý được đề cao trong các cương lĩnh của các cuộc cách mạng tư sản chỉ là giả hiệu, lừa dân Trong tham luận tại Đại hội lần thứ 3 Quốc tế

công hội đỏ, Hồ Chí Minh chỉ ra ràng: “Bộ luật thuộc địa do những nhà khai

hóa Pháp soạn ra chính là để đàn áp bất kỳ một biểu hiện nào có tính tự chủ của người dân bản xứ nói chung và tầng lớp vô sản nói riêng ” [17, tr.92]

Cũng từ cách phê phán bản chất của pháp luật phong kiến, tư sản, thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chi rõ: Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân Tư bản đặt ra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động Luật pháp của giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột Luật pháp

cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chi có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân Đồng thời, Người khẳng định:

Không có pháp luật chung chung, mà chi có một bên là pháp luật cách mạng tiến bộ và một bên là pháp luật phản động Pháp luật của chúng ta là ý chí của giai cấp vô sản, đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động Pháp luật ta không những đặt ra là để đàn áp

kẻ thù của cách mạng mà còn để cải tạo xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giáo dục quần chúng làm cách mạng, xây dựng cuộc sống tốt đẹp của mình [15, tr.185]

Như vậy, pháp luật của nước ta là ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của cả dân tộc, nó bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động Pháp luật đó nhằm mục đích đấu tranh, loại trừ áp bức, bất công, thiết lập

Trang 26

trật tự và công bằng xã hội Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, để xây dựng pháp luật phải dựa hẳn vào lực lượng nhân dân, lực lượng lao động

Pháp luật là vũ khí trong tay của một giai cấp, với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, pháp luật là vũ khí để trừng trị bọn phản động, thiết lập xã hội mới, đảm bảo các quyền làm chủ của nhân dân lao động Ngay khi thực dân Pháp lập Chính phủ bù nhìn tại Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:

“Ngày nay thực dân Pháp đã đưa ra một chính phủ bù nhìn toàn quốc, để mưu bán Tổ quốc Việt Nam cho chúng Chính phủ và nhân dân Việt Nam sẽ theo pháp luật nước nhà trừng trị bọn phản quốc ấy” [37, tr.438] Với thái độ

kiên quyết dùng pháp luật để trừng trị bọn phản động, trong cuộc trà lời Điện phỏng vấn của Quốc dân Nhật báo (năm 1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

“Vĩnh Thụy làm tay sai cho thực dân, là một tên phản quốc Pháp luật Việt

Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân” [6, tr.581]

Đồng thời, Người khẳng định:

Những bọn phản động chưa đến nỗi bị xử tử, vẫn là quốc dân Nhưng chúng không được ở trong địa vị nhân dân, không được hưởng quyền lợi như nhân dân Chúng không có quyền tuyển cử, ứng cử; không có quyền tổ chức tuyên truyền, Song chúng cần phải làm tròn nghĩa vụ, phải phục tùng trật tự, phải tuân theo pháp luật của nhân dân [23, tr.219]

Như vậy, theo quan điểm của Hồ Chủ tịch, pháp luật của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là pháp luật kiểu mới, khác với pháp luật thực dân phong kiến Pháp luật đó không chỉ có ý nghĩa như là một công cụ trấn áp nhằm xử lý, trừng trị những kẻ phạm tội mà còn là công cụ tuyên truyền, giáo dục đối với những người lầm đường, lạc lối, biết ăn năn, hối cải Với quan niệm về pháp luật như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh không nhấn mạnh một

Trang 27

chiều bản chất giai cấp của pháp luật mà còn hết sức chú ý tính nhân dân và tính dân tộc của pháp luật

Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phạm trù “nhân dân” được diễn đạt bằng các danh từ “quốc dân”, “đồng bào”, song đều chi toàn bộ các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội có sự đóng góp vì sự tiến bộ trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân Đối với Bác, pháp luật là của nhân dân và để phục vụ nhân dân Mọi quyền hạn, công

lý “đều ở nơi dân” Hồ Chí Minh cho rằng, trong nhà nước của nhân dân, do

nhân dân và vì nhân dân, pháp luật là “của nhân dân, dùng để ngăn cản

những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân” [22, tr.453] Trong tác phẩm Thường thức chính trị, Hồ Chí Minh

nhấn mạnh tính nhân dân của nhà nước và pháp luật kiểu mới:

Trước kia Việt Nam ta vẫn có Nhà nước và chính phủ Song

đó là công cụ của đế quốc và phong kiến để áp bức nhân dân Cách mạng Tháng Tám thành công, ta lập ra chính phủ mới, quân đội, công an, tòa án, pháp luật mới của nhân dân để chống kẻ địch trong

và ngoài, và để giữ gìn quyền lợi của nhân dân [23, tr.217]

Để đảm bảo pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh cho rằng:

Bản Hiến pháp chúng ta thảo ra phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân Sau khi thảo xong, chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách thật rộng rãi Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật sự là một bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ [24, tr.322]

Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng, những giá trị công bằng, độc lập, tự do, chân chính cần phải được thể hiện trong nội dung pháp luật của nhân dân Trách nhiệm của Nhà nước là tạo ra những khuôn mẫu, chuẩn mực

Trang 28

để công dân lựa chọn hành vi của mình sao cho phù hợp với lẽ phải, bào đảm công bằng, tự do và trật tự xã hội Chính vì thế tư tưởng của Hồ Chủ tịch về công tác xây dựng pháp luật luôn xoay quanh một trục chính đó là vì dân, lấy

dân làm gốc “quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” [20, tr.698], do đó

“phải đưa chính trị vào giữa dân gian” [20, tr.298] Bàn về Hiến pháp năm

1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng “Hiến pháp Việt Nam phải ghi rõ

những thành tích vẻ vang của cách mạng và phải xây dựng trên nguyên tắc đoàn kết toàn dân, đảm bảo các quyền tự do dân chủ” [25, tr.582]

Tính nhân dân trong xây dựng pháp luật không chỉ thể hiện ờ chỗ nội dung các đạo luật ghi nhận quyền và lợi ích của nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng các đạo luật Việc xây dựng pháp luật phải xuất phát từ sáng kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp ý kiến của các cơ quan đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân Do hoàn cảnh chiến tranh việc xây dựng Hiến pháp năm 1946 được soạn thảo và thảo luận trong phạm

vi Quốc hội, không được tổ chức lấy ý kiến nhân dân Vì thế, Hồ Chí Minh

cho rằng “Bản Hiến pháp đó chưa hoàn toàn nhưng nó đã làm ra theo một

hoàn cảnh thực tế” [20, tr.40] Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm

1959, việc bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân cả nước vào xây dựng pháp luật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm Tổng kết qua hai đợt thảo luận về Hiến pháp năm 1959, Hồ Chủ tịch viết:

“Nhân dân ta đã hăng hái sử dụng quyền dân chủ của mình để xây dựng Hiến pháp của mình Nhân dân các địa phương, các cơ quan đoàn thể, các đơn vị

bộ đội, Hội đồng nhân dân các tình, nhiều đồng bào ở miền Nam và kiều bào

ở nước ngoài, các báo chí đã góp nhiều ý kiến” [25, tr.94] Vì thế bản Hiến

pháp này là bản Hiến pháp xã hội chủ nghĩa và thực sự dân chủ

Cùng với tính nhân dân, pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rõ nét tính dân tộc gắn liền với chù nghĩa xã hội Ngay từ lúc ra đi tim

Trang 29

đường cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã có dịp chứng kiến và đối chiếu cảnh “vong nô” của nước nhà với tình trạng nô lệ, bất bình đẳng của người dân ở nhiều nước thuộc địa trên thế giới Trong những trường hợp như vậy, Người nhận ra rằng không thể có pháp luật dân chủ tiến bộ đích thực được Pháp luật theo tư tưởng của Người luôn gắn chặt với quyền tự quyết cho dân tộc ta Tư tưởng và hành động của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện rõ và nhất quán một nguyên tắc: “Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập” vì “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ năm 1945 mà Người thay mặt Chính phủ nước

Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công bố trước quốc dân và toàn thế giới là sự khẳng định trên thực tế, không chỉ tư tưởng mà bằng hành động của Người về khát vọng lớn lao về nền độc lập cho nước nhà Theo Người, chỉ khi nào giành được độc lập cho dân tộc thì nhân dân Việt Nam mới thực sự có nhà nước và pháp luật của chính mình Những trích dẫn về quyền cơ bản của con người

trong Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ (1776) và Tuyên ngôn nhân quyển và

dân quyền của Pháp (1789) chính là cơ sở để dân tộc ta tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” [19, tr.557]

Pháp luật đích thực chỉ có thể tồn tại trong một nước tự do và độc lập

Và hơn thế, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc

lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” [20, tr.56] Tư tưởng gắn liền độc lập dân tộc

với cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội đã hình thành rất sớm ở Người,

nhất là từ khi Người bắt gặp Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của

V.I Lênin (năm 1920) Tư tưởng đó xuyên suốt cuộc đời cách mạng của

Người và trở thành mong muốn giản dị: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham

muốn tột bậc, là làm sao cho đất nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta

Trang 30

được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” [17, tr.19] Muốn vậy, “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản” là

sự lựa chọn duy nhất đúng đắn

Tóm lại, bản chất pháp luật trong tư tưởng Hồ Chí Minh được thể hiện thông qua tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự kết hợp hài hòa giữa chúng với nhau

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức rất rõ về mối quan hệ mật thiết không tách rời nhau giữa nhà nước và pháp luật, trong mối quan hệ đó, pháp luật vừa là cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của Nhà nước, vừa là công

cụ quan trọng nhất để Nhà nước quản lý các công việc của mình và của xã hội Pháp luật đúng đắn sẽ tạo nên sự ổn định của Nhà nước, đảm bảo hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, duy trì trật tự xã hội

Trước Cách mạng Tháng Tám, nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến Nhà nước trong thời kỳ đó không phải là Nhà nước của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội mà chỉ là bộ máy chuyên chế của một nhóm thiểu số bọn địa chủ phong kiến cấu kết với những kẻ thực dân Vì vậy, pháp luật trong xã hội lúc bấy giờ chủ yếu được sử dụng như là công cụ trấn áp, chuyên chính đối với quần chúng nhân dân Hồ Chủ tịch đã từng đúc kết rằng, thứ công lý mà thực dân Pháp thi hành ở nước ta là công lý “quả cân và thanh kiếm” Trong quá trình đấu tranh vì độc lập cho dân tộc và các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy được pháp luật không chi đảm bảo các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân mà còn là cơ sở để xây dựng một chính quyền của nhân dân Do vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có chủ trương đánh đuổi thực dân Pháp để xây dựng một nhà nước với chế độ

pháp luật thực sự dân chủ ở Việt Nam Ngay từ năm 1926, trong Nhời hô

hoán cùng vạn Quốc hội, bản yêu sách viết bằng tiếng Việt, Người đã đề cập

đến việc “xếp đặt một nền Hiến pháp theo lý tưởng dân quyền” Đó chính là

Trang 31

Với bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng

định trước thế giới quyền độc lập, tự do hoàn toàn của nước Việt Nam, tuyên

bố xây dựng chế độ nhà nước, pháp luật dân chủ ở Việt Nam Bản Tuyên

ngôn độc lập được các nhà nghiên cứu đánh giá là áng văn lập quốc vĩ đại mở

ra kỷ nguyên mới của Nhà nước và pháp luật nước ta

Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trình

bày trước Hội đồng Chính phủ những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Trong sáu nhiệm vụ thì vấn đề thứ ba được đề cập là:

Trước chúng đã ta bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có hiến pháp Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế

độ phổ thông đầu phiếu [20, tr.8]

Sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, Quốc hội lập hiến được thành lập, tại

kỳ họp thứ hai (11-1946), sau khi nghe ủy ban dự thảo Hiến pháp thuyết trình, Quốc hội khóa I đã thảo luận và thông qua Hiến pháp vào ngày 9-11-1946

Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp khẳng định những thành quả của Cách mạng Tháng Tám, cụ thể hóa đường lối chiến lược của Đảng trong giai đoạn mới và làm cơ sở cho việc xây dựng một hệ thống pháp luật kiểu mới ở Việt Nam Đồng thời, Hiến pháp là cơ sở pháp lý cho việc thiết lập một Nhà nước của nhân dân, thiết lập trật tự xã hội trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Cùng với việc xây dựng Hiến pháp năm 1946, ngay từ ngày đấu thành lập nước Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã ký sắc lệnh 47 về việc tạm giữ lại các luật lệ cũ chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập tự do Theo Người, quản

lý nhà nước, quản lý xã hội không thể thiếu pháp luật Chính vì vậy ngay

Trang 32

một loạt những sắc lệnh cấp bách cần thiết cho việc xây dựng, củng cố chính quyền, ổn định đời sống nhân dân Tính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh

về vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội thể hiện sự tiếp thu, kế thừa các giá trị xã hội của pháp luật, kể cả pháp luật trong lịch sử, Người không có ý định phá bỏ tất cả những di sản pháp luật của chế độ cũ,

mà có sự lựa chọn các quy định của pháp luật cũ có thể tạm duy trì trong chế

độ mới Theo Người: “Cái gì cũ mà xấu thì phải bỏ Cái gì cũ mà không

xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa đổi lại cho hợp lý Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm Cái gì mới mà hay, thì ta phải làm” [21, tr.94]

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn xa, nhất quán về tầm quan trọng, về vai trò tối thượng của Hiến pháp và pháp luật trong quản lý nhà nước và xã hội, nên Người luôn nhắc nhở cơ quan nhà nước phải chú ý lo việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật cho ngày càng hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn với

điều kiện, hoàn cảnh mới phát sinh Trong Hội nghị học tập của cán bộ tư

pháp (1950) Hồ Chí Minh đã nói: “Chúng ta cũng thấy luật pháp của ta hiện nay chưa đầy đủ Chính các chú có trách nhiệm góp phần làm cho luật pháp của ta tốt hơn, càng ngày càng phong phú hơn Phải cố gắng làm cho luật pháp dân chủ ngày càng nhiều hơn, tốt hơn” [15, tr.187]

Để phát huy vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội, Người còn hết sức chăm lo đưa pháp luật vào đời sống, giáo dục ý thức làm chủ của nhân dân Khi chưa giành được chính quyền thi tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng Khi có chính quyền, có Hiến pháp, pháp luật thì phải tuyên truyền Hiến pháp, pháp luật

Nhà nước quản lý bằng pháp luật thì không chỉ là dùng pháp luật để quản lý xã hội mà chính các cơ quan nhà nước cũng phải làm theo pháp luật Mọi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, các cá nhân được Nhà nước trao quyền đều bị xử lý theo pháp luật Hơn nữa, trong chế độ dân chủ, pháp luật trở thành đại lượng công bằng, thước đo các giá trị xã hội, việc thực hiện

Trang 33

nghiêm chính pháp luật không có ngoại lệ Điều đó đòi hỏi các cơ quan nhà nước cũng phải thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật và mọi vi phạm của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, các tổ chức và cá nhân đều phải bị xử lý bằng pháp luật Có như vậy pháp luật mới phát huy được vai trò trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội Điều này được Người đặc biệt chú ý trong điều kiện đất nước mới giành được độc lập, trình độ dân trí còn hạn chế, nhiều hủ tục của chế độ cũ còn rơi rớt lại, các thế lực thù địch ra sức chống phá chính quyền non trẻ Trong kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I (11-1946), Người nói:

Chính phủ hiện thời đã cố gắng liêm khiết lắm Nhưng trong Chính phủ từ Hồ Chí Minh đến những người làm việc ờ các

ủy ban làng đông lắm và phức tạp lắm Dù sao Chính phủ đã hết sức làm gương Và nếu làm gương không xong, thì sẽ dùng luật mà trị những kẻ ăn hối lộ - đã trị, đang trị và sẽ trị kỳ hết [15, tr.158] Những ví dụ điển hình về tư tưởng này của Bác được thể hiện cụ thể trong thực tiễn lịch sử khi Người đã chuẩn y án từ hình hai cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước là Cục trưởng Cục Quân nhu Trần Dụ Châu và Thứ trưởng

Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phê phán cán bộ, đảng viên không chấp hành pháp luật của Nhà nước, lợi dụng quyền thế vi phạm pháp luật Người chỉ

ra “có cán bộ, đảng viên lợi dụng quyền thế của Đảng và Nhà nước làm những

việc trái với chính sách và pháp luật, xâm phạm đến lợi ích vật chất và quyền

tự do dân chủ của nhân dân, nhưng cũng chưa bị xử phạt kịp thời Như vậy là

kỷ luật chưa nghiêm” [26, tr.575] Đồng thời, Người chỉ rõ: “trong một nước thưởng phạt phải nghiêm minh thì nhân dân mới yên ổn, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công” [20, tr.163] Trong những ngày đầu của

chính quyền nhân dân, tháng 1-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Quốc lệnh quy định cụ thể 10 điểm thưởng và 10 điểm phạt để cho quân dân biết những

Trang 34

trọng trong việc hạn chế và ngăn chặn tình trạng lạm dụng quyền lực của các

cơ quan nhà nước và các cá nhân được Nhà nước trao quyền

1.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quyền lực nhà nước, về nhà nước của dân, do dân, vì dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền của dân, do dân,

vì dân, vấn đề dân chủ với ý nghĩa thể hiện bản chất của quyền lực nhà nước

và phương thức tổ chức, triển khai quyền lực nhà nước là một nét đặc sắc Hồ Chí Minh coi dân chủ là quyền lực chính trị thuộc về nhân dân Đã là nhà nước của dân thì chính quyền ấy nhất thiết phải do dân quyết định, tức là nhân dân phải là người thực hiện quyền lực, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp thông qua các đại biểu của mình - hình thức cơ bản nhất biểu hiện dân chủ Như vậy, nền tảng xã hội sâu rộng, ý thức chính trị và khả năng tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân là yếu tố đảm bảo cho nền dân chủ mới Địa vị làm chủ của người dân trong quan hệ với quyền lực nhà nước được Hồ Chí

Minh làm rõ: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ

Trong bộ máy cách mạng, từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”, “nếu dân là chủ thì nhà nước, cán bộ nhà nước là công bộc của dân” [19] Đồng thời, Hồ Chí Minh nêu nội hàm

của khái niệm "công bộc của dân" với nghĩa các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc đến các làng đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của thực dân Pháp, phát xít Nhật Tư tưởng này của Hồ Chí Minh phản ánh một cách rõ nét nhất sự đối lập về chất của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với nhà nước phong kiến, thực dân

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, mở đầu một chính thể nhà nước mới ở Việt Nam: chính thể dân chủ cộng hoà Sự ra đời của chính thể dân chủ cộng hoà thể hiện một

Trang 35

tư duy sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc lựa chọn mô hình tổ chức nhà nước, vừa tiếp thu được các giá trị phổ biến của nền dân chủ nhân loại, vừa phù hợp với các đặc điểm của đất nước

Tư tưởng Hồ Chí Minh về mô hình bộ máy nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân được thể hiện sâu sắc trong các văn kiện pháp lý quan trọng của đất nước do chính Người chỉ đạo xây dựng và ban hành Có thể thấy rằng hai bản Hiến pháp 1946, 1959 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo và 613 sắc lệnh kể từ 1945 đến 1969, trong đó có 243 sắc lệnh liên quan đến bộ máy nhà nước và luật pháp do Người ký ban hành đã hình thành một thể chế bộ máy nhà nước vừa hiện đại vừa dân tộc kết tinh sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân

Tuy không tiếp nhận tư tưởng phân quyền vốn là nền tảng lý luận của

mô hình nhà nước dân chủ phương Tây, nhưng Hồ Chí Minh đã đưa vào mô hình tổ chức bộ máy nhà nước những yếu tố hợp lý và khoa học của nguyên tắc phân quyền Theo đó, bộ máy nhà nước theo Hiến pháp 1946 được thiết kế trên cơ sở phân chia quyền lực uyển chuyển giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp Trong mô hình tổ chức bộ máy nhà nước này, không có một cơ quan nào là độc quyền quyền lực, có quyền đứng trên cơ quan khác Nghị viện nhân dân là cơ quan

có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà (Điều 22 - Hiến pháp 1946), nhưng không thể là cơ quan toàn quyền; Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc (Điều 43 - Hiến pháp 1946) nhưng không phải là cơ quan chấp hành của Quốc hội như các quy định của Hiến pháp 2013 Cơ quan tư pháp là hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử Với quy định của Hiến pháp 1946 bộ máy nhà nước về cơ bản được cấu tạo theo ba quyền: quyền lập pháp (Nghị viện nhân dân); quyền hành pháp (Chủ tịch nước và Chính phủ); quyền tư pháp (Hệ thống toà án được tổ chức theo cấp xét xử)

Trang 36

Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị

cao nhất là dân vì dân là chủ”,“Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân

là chủ” [22] Với Hồ Chí Minh, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của

quyền lực nhà nước Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân,

do nhân dân uỷ quyền cho bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân Bộ máy nhà nước được thiết lập là bộ máy thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân, đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước không thể là

các ông quan cách mạng mà là công bộc của nhân dân “Chúng ta hiểu rằng,

các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” [20, tr.56]

Là nhà nước của dân, do chính nhân dân lập qua thông qua chế độ bầu

cử dân chủ Bầu cử dân chủ là phương thức thành lập bộ máy nhà nước đã được xác lập trong nền chính trị hiện đại, đảm bảo tính chính đáng của chính quyền khi tiếp nhận sự uỷ quyền quyền lực từ nhân dân Chính vì vậy, để thật

sự là nhà nước của dân, ngay từ những ngày đầu giành được nền độc lập, Hồ Chí Minh đã đặc biệt quan tâm đến tổ chức cuộc tổng tuyển cử để nhân dân trực tiếp bầu ra các đại biểu xứng đáng thay mặt mình gánh vác việc nước

Chỉ một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn độc lập vào 3/9/1945 Hồ Chủ tịch đã họp và đề ra những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước, trong đó Người

đề nghị “Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ

phổ thông đầu phiếu” [20, tr.133]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân, không chỉ do dân lập ra thông qua bầu cử dân chủ mà còn là nhà nước chịu sự kiểm tra, giám sát, định đoạt của nhân dân Người khẳng định:

Chế độ ta là chế độ dân chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân Nhân dân có quyền đôn đốc phê bình Chính phủ Chính phủ thì

Trang 37

việc to nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ nhân dân Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân Nguyên tắc ấy bảo đảm quyền kiểm soát của nhân dân đối với đại biểu của mình [23, tr.368]

Người nhắc nhở:

Nước ta là nước dân chủ; địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ Trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch nước đều là phân công làm đầy tớ cho dân Người còn viết: Chính phủ cộng hoà dân chủ là gì? là đầy tớ của dân từ Chủ tịch toàn quốc đến Đảng – Dân là chủ thì Chính phủ là đầy tớ… Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ [23, tr.282]

Đối với Hồ Chí Minh, một nhà nước của dân thật sự phải là một nhà nước do dân và vì dân Người viết:

Kinh nghiệm trong nước và các nước chứng tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng, việc to tát mấy, khó khăn mấy cũng làm được Không có, thì việc gì làm cũng không xong Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ

mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra; Không có lực lượng nhân dân, thì việc nhỏ mấy, dễ mấy làm cũng không xong… [22, tr.292]

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là nguồn sức mạnh của Nhà nước, là nguồn trí tuệ của Nhà nước, là nguồn sáng kiến vô tận, nhà nước có chức năng khơi nguồn, phát hiện, tiếp thu và hoàn thiện các sáng kiến của nhân dân để xây dựng chính sách và luật pháp

Một nhà nước của dân, do dân, vì dân theo Hồ Chí Minh là một nhà nước nếu biết lắng nghe và học hỏi nhân dân, biết tôn trọng bồi dưỡng và nâng cao sức dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng, ý chí của nhân dân thì sẽ

Trang 38

thấy nhân dân không chỉ nói lên những mong muốn của mình mà còn chỉ ra được nhà nước cần phải hành động như thế nào để giải quyết các vấn đề quốc kế dân sinh Chính vì lẽ đó Nhà nước được thành lập không vì mục đích làm thay cho dân, mà thực hiện vai trò người cầm lái, người tổ chức để nhân dân bằng trí tuệ, sức mạnh của mình giải quyết các vấn đề của chính

mình Người viết: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực

lượng Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối” [19, tr.56] Nhà

nước của dân, do dân không có mục đích tự thân, ý nghĩa, mục tiêu và sứ mệnh của Nhà nước là phụng sự hạnh phúc của nhân dân, vì nhân dân Vì lẽ

đó Hồ Chủ Tịch cho rằng:

… Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà Nhưng nếu nước nhà độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì Chính phủ

ta đã hứa với dân sẽ gắng sức làm cho ai nấy đều có phần hạnh phúc [20, tr.56] Người nhắc nhở: Việc gì lợi cho dân thì phải hết sức làm Việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh [20, tr.57]

Tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước vì dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân là tư tưởng nhất quán trong suốt cuộc đời của Người Cả cuộc đời Người là một tấm gương trong sáng thể hiện sinh động tư tưởng, đạo đức của một con người suốt đời vì dân, vì nước Khi đảm nhận chức vụ Chủ tịch nước,

Hồ Chủ Tịch đã trả lời các nhà báo “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công

danh phú quý chút nào Bây giờ phải gánh vác chức chủ tịch là vì đồng bào

uỷ thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra trước mặt trận” [17, tr.381]

1.2.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân

Quyền con người là một trong những vấn đề có lịch sử lâu đời về cả phương diện thực tiễn cũng như lý luận Đó luôn là mối quan tâm của nhân

Trang 39

loại Mỗi thời kỳ phát triển của quyền con người đều gắn liền với thành quả của cuộc đấu tranh giai cấp, các cuộc cách mạng - xã hội Điều đó, phản ảnh quá trình nhân loại tự giải phóng mình, do vậy vấn đề này bao giờ cũng là điểm nóng của cuộc đấu tranh giai cấp, đặc biệt trên lĩnh vực đấu tranh tư tưởng

Song, do những giới hạn lịch sử khách quan, các giai cấp thống trị ở mỗi thời kỳ chỉ có thể đáp ứng và bảo đảm quyền con người ở một mức độ, một nấc thang nhất định Sự phát triển của lịch sử đã cho thấy sức mạnh vô địch của nhu cầu về quyền và tự do của con người Quyền con người có nội dung rất phong phú, có tính chất nhạy cảm, phức tạp và càng phức tạp hơn khi

nó gắn với các chế độ chính trị khác nhau, bởi vậy thường có những quan điểm khác nhau thậm chí đối lập nhau, do cách tiếp cận khác nhau

Hồ Chí Minh tiếp cận với quyền con người hoàn toàn khác với các luận điểm của cá học giả ở phương Tây Xuất phát từ thực tiễn và truyền thống của dân tộc Việt Nam đã thôi thúc Người đi tìm chân lý Người đã kế thừa những nội dung hợp lý của tư tưởng nhân quyền trước đó, để đưa ra những luận điểm mới mẻ sâu sắc và toàn diện về quyền con người, phù hợp đặc điểm của thời đại mới và tình hình cụ thể ở Việt Nam Từ đặc điểm của dân tộc đang bị mất nước, bị bóc lột nặng nề dưới chế độ đế quốc thực dân và bọn địa chủ phong kiến tay sai, mọi quyền sống của con người cũng như quyền dân tộc đều không có Vì vậy, để giải quyết vấn đề nhân quyền hay còn gọi là quyền con người ở Việt Nam chỉ có thể được giải quyết thông qua cuộc cách mạng để giải quyết hai mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam Đó là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến tay sai, chỗ dựa cho bộ máy thống trị và bóc lột của chủ nghĩa thực dân Pháp Hai mâu thuẫn đó có quan hệ chặt chẽ với nhau, trong đó mâu thuẫn giữa dân tộc ta với thực dân Pháp xâm lược là mâu thuẫn chủ yếu Vì vậy,

Trang 40

nhiệm vụ chống thực dân Pháp xâm lược và nhiệm vụ chống địa chủ phong kiến tay sai không tách rời nhau Đấu tranh giành độc lập dân tộc phải gắn chặt với đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ Đó là yêu cầu của cách mạng Việt Nam đặt ra, cần được giải quyết, có giải quyết được yêu cầu này thì quyền con người mới được bảo đảm

Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người bắt nguồn sâu xa

từ lịch sử dân tộc và thực tiễn của đất nước, kế thừa có chọn lọc những tư tưởng nhân quyền tiến bộ của các nước phương Đông cũng như các nước phương Tây Đặc biệt là vận dụng có sáng tạo tư tưởng giải phóng con người

và xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin Đây là đặc điểm nổi bật trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về nhân quyền

Kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình, quê hương, đất nước, ngay từ nhỏ Người đã có hoài bão lớn gắn trách nhiệm của mình với

vận mệnh của đất nước “Khi tôi 13 tuổi, tôi đã từng lần đầu tiên nghe nói về

tự do, bình đẳng và bác ái Tôi muốn tự mình làm quen với văn hóa Pháp, để tìm hiểu điều gì ẩn sau những khái niệm này” [17] để về giúp đồng bào mình

Đây là một trong những động lực đầu tiên thúc đẩy Người ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân Người đã thâm nhập trực tiếp vào các nước phương Tây

để kiểm nghiệm giá trị “tự do, bình đẳng, bác ái”, tìm hiểu ngọn nguồn, bản chất của chế độ thực dân đế quốc và cũng là để học hỏi tinh hoa thế giới để về giúp đồng bào Đó là một đột phá mới trong tư duy chính trị lúc bấy giờ

Với ý chí kiên cường, trải qua biết bao thử thách của thực tiễn cuộc sống, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã củng cố vững chắc lý tưởng độc lập,

tự do của mình Trong những năm tìm đường cứu nước, Người đã dành nhiều thời gian để khảo sát thực tế, tìm hiểu “tự do, bình đẳng, bác ái” được thực thi các nước “mẫu quốc” tại các thuộc địa như thế nào Người đã đi vào sào huyệt của chủ nghĩa thực dân để xem cái “hào nhoáng” của những nền “văn

Ngày đăng: 19/10/2015, 17:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Cảnh Bình (2009), Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào, NXB Tri Thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào
Tác giả: Nguyễn Cảnh Bình
Nhà XB: NXB Tri Thức
Năm: 2009
2. Bộ chính trị (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ chính trị
Năm: 2005
3. Trường Chinh (1987), Tuyển tập, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập
Tác giả: Trường Chinh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1987
4. Ngô Huy Cương (2006), Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay, NXB Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần bàn về cải cách pháp luật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Ngô Huy Cương
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
5. Đảng cộng sản Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1982
6. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 7, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
7. Vũ Đình Hoè (2004), Hồi ký Vũ Đình Hoè, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồi ký Vũ Đình Hoè
Tác giả: Vũ Đình Hoè
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2004
8. Hội luật gia Việt Nam (1985), Hồ Chủ tịch và pháp chế, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ tịch và pháp chế
Tác giả: Hội luật gia Việt Nam
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1985
9. Đoàn Minh Huấn (2001), “Phạm trù nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử đảng, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm trù nhân dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Đoàn Minh Huấn
Nhà XB: Tạp chí Lịch sử đảng
Năm: 2001
10. Hoàng Mạnh Hùng (2010), “Tiếp tục đổi mới hoạt động của hệ thống tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, (4), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp tục đổi mới hoạt động của hệ thống tòa án nhân dân ở nước ta hiện nay
Tác giả: Hoàng Mạnh Hùng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử
Năm: 2010
11. Phạm Văn Hùng (2008), “Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (135), tháng 11, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tòa án và vấn đề cải cách tư pháp
Tác giả: Phạm Văn Hùng
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Năm: 2008
12. Jean-Jacques Rousseau (2004), Bàn về khế ước xã hội, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về khế ước xã hội
Tác giả: Jean-Jacques Rousseau
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2004
13. Hồ Chí Minh (1971), Nhà nước và pháp luật, tập 3, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 1971
14. Hồ Chí Minh (1976), Tuyên ngôn độc lập, NXB Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên ngôn độc lập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Sự thật
Năm: 1976
15. Hồ Chí Minh (1985), Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1985
16. Hồ Chí Minh (1992), Bàn về Nhà nước và pháp luật, NXB Pháp lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Pháp lý
Năm: 1992
17. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 1
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
18. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 2
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
19. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 3
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000
20. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2000

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình - Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong cải cách tư pháp
Bảng 2.1 Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình (Trang 6)
Bảng 2.1: Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 - Tư tưởng hồ chí minh về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong cải cách tư pháp
Bảng 2.1 Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (Trang 78)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w