1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá

96 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 808,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: - Phương pháp phân tích để phân tích các quan điểm, các khái niệm, các quy định pháp luật thuế; - Phương pháp tổng hợp tron

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG THỊ XUYÊN

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ THUÕ

Cña c¸c DOANH NGHIÖP NGOµI QUèC DOANH TR£N §ÞA BµN THÞ X· SÇM S¥N, THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

ĐẶNG THỊ XUYÊN

THùC HIÖN PH¸P LUËT VÒ THUÕ

Cña c¸c DOANH NGHIÖP NGOµI QUèC DOANH TR£N §ÞA BµN THÞ X· SÇM S¥N, THANH HãA

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật

Mã Số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TSKH ĐÀO TRÍ ÚC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đặng Thị Xuyên

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

Danh mục các bảng

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 6

1.1 Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh 6

1.2 Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 10

1.2.1 Định nghĩa pháp luật thuế 10

1.2.2 Vai trò của pháp luật thuế 10

1.2.3 Hình thức, nội dung của pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 15

1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 19

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 23

1.4.1 Ý thức pháp luật của các doanh nhân trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh 23

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật 24

1.4.3 Hoạt dộng của cơ quan quản lý thuế 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 28

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN 29

Trang 5

2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình doanh nghiệp ngoài

quốc doanh ở thị xã Sầm Sơn 29

2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội 29

2.1.2 Tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị xã 32

2.2 Những kết quả đạt được và những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh 36

2.2.1 Kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh 36

2.2.2 Những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật thuế của doanh nghiệp ngoài quốc doanh 40

2.3 Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn 56

2.4 Đánh giá chung về công tác quản lý thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn 60

2.5 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã Sầm Sơn hiện nay 66

2.5.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế 66

2.5.2 Nâng cao ý thức pháp luật của doanh nhân 69

2.5.3 Các giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về quản lý thuế các DNNQD của cơ quan thuế 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 84

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thị xã

Bảng 2.7: Số liê ̣u kiểm tra quyết toán thuế của các DNNQD qua

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Thuế là một khoản nộp bắt buộc mà các cá nhân và pháp nhân có nghĩa

vụ phải thực hiện đối với Nhà nước, phát sinh trên cơ sở các văn bản pháp luật do Nhà nước ban hành, không mang tính chất đối giá và hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp thuế Thuế không phải là một hiện tượng tự nhiên mà là một hiện tượng xã hội do chính con người định ra và nó gắn liền với phạm trù Nhà nước và pháp luật [28, tr.2]

Nắm bắt kịp thời chính sách pháp luật thuế của Nhà nước là sự quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp Bởi mỗi một sắc thuế được ban hành; mỗi một sự đổi thay hay bổ sung, sửa đổi là một lần doanh nghiệp phải cập nhật, nắm bắt và triển khai thực hiện Mục đích cuối cùng của doanh nghiệp là hoạt động sản xuất kinh doanh tuân thủ đúng luật, đặc biệt là chấp hành tốt chính sách, pháp luật thuế của nhà nước, tránh tối đa các sai sót trong kê khai, nộp thuế

Ở Việt Nam hiện nay các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển một cách mạnh mẽ không những về số lượng mà còn cả về chất lượng với quy mô kinh doanh ngày càng lớn, không những mở rộng thị trường trong nước mà còn vươn ra thị trường thế giới Những doanh nghiệp này đã góp phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, đóng góp một phần lớn vào Ngân sách nhà nước qua việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý cao, là nguồn thu chủ yếu cho ngân sách Nhà nước, trong đó, khoản thuế do khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng tương đối cao Thời gian qua, việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp loại này chưa thực hiện tốt chế độ sổ sách kế toán, chứng từ hóa đơn; hiện tượng khai

Trang 9

man thuế, trốn thuế, lậu thuế còn nhiều, từ đó tạo ra sự bất bình đẳng và sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các thành phần kinh tế

Việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sầm Sơn cũng không nằm ngoài thực trạng đó Vì thế, việc nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn thời gian qua, chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế của hoạt động này, tìm ra những giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này nhằm tăng thêm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước là việc làm cần thiết Đó cũng là lý do để tôi chọn và nghiên cứu đề tài:

“Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa” làm luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến đề tài

Thực hiện pháp luật là một nội dung quan trọng trong hệ thống lý luận chung về nhà nước và pháp luật Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đó là biện pháp cơ bản để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, củng

cố trật tự pháp luật Vấn đề thực hiện pháp luật được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội và mọi công dân Thực hiện pháp luật về thuế không nằm ngoài mục tiêu góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình nghiên cứu tác giả đã tham khảo một số công trình nghiên cứu về thực hiện pháp luật và về pháp luật thuế như:

Đề tài "Thực hiện và áp dụng pháp luật" của PGS-TS Nguyễn Minh

Đoan – Trường Đại học Luật Hà Nội đi sâu nghiên cứu từng vấn đề về thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật, quy trình thực hiện và áp dụng pháp luật, những bảo đảm thực hiện pháp luật Ngoài ra còn đề cập đến vấn đề áp dụng pháp luật tương tự, giải thích pháp luật và hiệu quả thực hiện pháp luật tại Việt Nam

Trang 10

Đề tài “Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và thực tiễn trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Ngô Thị Cẩm Lệ, Luận văn làm rõ các khái niệm,

đặc điểm, vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN), trình bày hiện trạng các quy định của pháp luật thuế TNDN và phân tích, đánh giá các ưu điểm, bất cập của pháp luật thuế TNDN hiện hành Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội, chỉ ra những bất cập trong quá trình áp dụng các quy định của pháp luật thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội

Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế TNDN hiện nay và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thuế TNDN trên địa bàn Hà Nội

Đề tài “Tăng cường quản lý thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục thuế thành phố Lạng Sơn” của tác giả Bùi Minh Bằng

Đề tài “Nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Chi cục Thuế thành phố Thanh Hoá” của tác giả Đoàn Văn Hào

Với 2 đề tài trên tác giả đề tài đã đi sâu nghiên cứu thực trạng đối với DNNQD trên địa bàn, đồng thời đề xuất các giải pháp từ vi mô đến vĩ mô, từ công tác quản lý thu thuế của Chi cục Thuế đến hành lang pháp lý của Quốc Hội, Chính phủ, Bộ Tài chính khi ban hành các văn bản quy phạm pháp Luật về thuế và các văn bản dưới Luật Tuy nhiên tác giả chưa đề cập giải pháp

cụ thể để đẩy mạnh công tác kê khai thuế qua mạng Internet và nộp thuế qua hệ thống Ngân hàng để cải cách thủ tục hành chính, tiết kiệm chi chí và nhân lực cho NNT nhiều hơn nữa

Dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân có thể khẳng định rằng chưa

có công trình nào đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận cũng như thực trạng của việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như công trình này

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Việc nghiên cứu đề tài này để tìm ra những ưu điểm, hạn chế trong quá trình thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Sầm Sơn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này ở địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn được xác định như sau:

- Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

- Đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa, tìm ra nguyên nhân đưa đến thực trạng đó

- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị Xã Sầm Sơn trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn TX Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa

Từ đó kiến nghị đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả các chính sách pháp luật thuế đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế trên địa bàn

+ Phạm vi về không gian

Thị xã Sầm Sơn – Thanh Hóa

+ Phạm vi về thời gian

Trang 12

Đề tài sử dụng thông tin được công bố trên các tài liệu, báo cáo, trong các năm từ (2010- 2013)

5 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, luận văn đã quán triệt sâu sắc phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin,

tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam để nghiên cứu, phân tích các quy luật, chính sách kinh tế - xã hội của đất nước Luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích để phân tích các quan điểm, các khái niệm, các quy định pháp luật thuế;

- Phương pháp tổng hợp trong quá trình phân tích để đưa ra các quan điểm, các nhận xét có giá trị thực tiễn;

- Phương pháp biện chứng và duy vật lịch sử nhằm tìm ra những quy luật hình thành, phát triển quan điểm về thuế, từ đó dự đoán xu hướng phát triển hoạt động này trong tương lai để đưa ra giải pháp hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, đảm bảo các điều kiện cần và đủ cho việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn, Thanh Hóa

6 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục biểu đồ, thì nội dung luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật thuế của các

doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Chương 2: Thực trạng thực hiện và giải pháp nâng cao hiệu quả thực

hiện pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT THUẾ CỦA CÁC

DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

1.1 Khái quát về doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ chức của những người sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác nhau Họ đầu tư vốn, thuê mướn và sử dụng lao động để sản xuất một loại hàng hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận Trong nền kinh tế thị trường, tổ chức kinh tế thực hiện các hoạt động sản xuất

và trao đổi hàng hoá chủ yếu là các doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh bao gồm hoạt động kinh doanh tư nhân và hoạt động kinh doanh của Nhà nước Việc phân biệt hoạt động kinh doanh tư nhân với hoạt động kinh doanh của Nhà nước căn cứ vào việc ai là người tổ chức và chỉ đạo các hoạt động này

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổ chức kinh tế do cá nhân, tổ chức đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay, các hình thức sở hữu thường đan xen nhau Có nhiều doanh nghiệp trong đó vừa có yếu tố tư nhân vừa có

sự tham gia của Nhà nước

Ở Việt Nam trước đây, tư liệu sản xuất của một cơ sở sản xuất kinh doanh nào đó thường thuộc sở hữu toàn dân hoặc tập thể Hội nghị trung ương

VI - Đại hội lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam đã xem xét lại các quan điểm cũ và khẳng định lại rằng: trong hoạt động sản xuất - kinh doanh, các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau Các doanh nghiệp quốc doanh có thể huy động vốn cổ phần của các cá nhân và tổ chức khác Còn các cơ sở sản xuất -

Trang 14

kinh doanh tư nhân cũng có thể liên kết với các doanh nghiệp quốc doanh nhằm mở rộng sản xuất Do đó, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh không chỉ bao gồm các cơ sở sản xuất - kinh doanh hoàn toàn thuộc sở hữu tư nhân mà bao gồm cả các cơ sở sản xuất - kinh doanh có phần vốn góp của Nhà nước nhưng hoạt động của chúng lại do một hay một nhóm tư nhân tổ chức và chỉ đạo

Tóm lại, doanh nghiệp ngoài quốc doanh là doanh nghiệp mà chủ sở hữu không phải là Nhà nước, bao gồm các doanh nghiệp do tư nhân và các

tổ chức ngoài Nhà nước bỏ vốn thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh

Theo Luật Doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua thì doanh nghiệp NQD hiện nay của nước ta gồm: Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp doanh, doanh nghiệp tư nhân

DN ngoài quốc doanh ra đời và tồn tại trong nền kinh tế quốc dân đã đem lại rất nhiều lợi ích kinh tế xã hội trong mỗi quốc gia DN loại này phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động; tạo cho ngân sách có nguồn thu ổn định và ngày càng tăng; tăng vốn đầu tư cho xã hội Các doanh nghiệp đã thực sự trở thành một động lực mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế – xã hội ở nước ta Hàng năm, các DN ngoài quốc doanh đã đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế DN ngoài quốc doanh đã tạo việc làm và góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động Khu vực DN ngoài quốc doanh đóng góp rất lớn trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư xã hội Vốn đầu tư vào các DN ngoài quốc doanh đang trở thành nguồn vốn đầu tư chủ yếu đối với sự phát triển kinh tế ở nhiều địa phương Đây là lĩnh vực dễ tạo ra công ăn việc làm cho người lao động, linh hoạt trong thành lập và tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 15

Các đặc điểm cơ bản của DNNQD:

Thứ nhất, trong doanh nghiệp NQD hiệu quả sản xuất gắn liền với

quyền lợi cá nhân người sản xuất Mục tiêu lớn nhất đối với doanh nghiệp NQD là lợi nhuận Vì vậy, doanh nghiệp rất nhạy bén trong tìm hiểu đầu tư và

có thể sẵn sàng bằng bất cứ giá nào lao vào đầu tư để kiếm được thật nhiều lợi nhuận, thông qua những phương án kinh doanh táo bạo và mạo hiểm Đôi khi

để đạt được mục đích họ có thể xem thường pháp luật, không ít các doanh nghiệp NQD kinh doanh trái phép, không kê khai nộp thuế, trốn thuế, lợi dụng hoá đơn chứng từ xin hoàn thuế… gây hậu quả xấu cho xã hội Đặc điểm này cho thấy, công tác quản lý thuế phải đặc biệt chú trọng đến doanh nghiệp NQD, thậm chí phải chú trọng quản lý doanh nghiệp NQD hơn so với các doanh nghiệp nhà nước

Thứ hai, số lượng đối tượng kinh doanh nhiều, kinh doanh ở tất cả

các lĩnh vực; quy mô kinh doanh đa dạng, có thể có quy mô lớn, quy mô vừa và quy mô nhỏ nhưng phổ biến là quy mô vừa và nhỏ; một số doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực sản xuất do trình độ công nghệ lạc hậu nên năng suất lao động thấp… Đối tượng kinh doanh vừa nhiều lại trải trên diện rộng ở khắp các địa phương trong cả nước làm cho việc quản lý đối tượng nộp thuế thêm phức tạp

Thứ ba, trong doanh nghiệp NQD người lao động có trình độ văn hoá

đa dạng, tự do dẫn đến trình độ quản lý, trình độ công nghệ thấp Trong số những người lao động trong các doanh nghiệp NQD có cả những người già, cán bộ công nhân viên nghỉ hưu, nghỉ mất sức hoặc không có việc làm… Do

đó, việc tuyên truyền giải thích chính sách gặp nhiều vần đề khó khăn, công tác quản lý có nhiều trở ngại do hạn chế về khả năng ngoại ngữ, thiếu thông tin về thị trường… Vì vậy, khó ứng phó được với tác động của thị trường bên ngoài Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh

Trang 16

nghiệp đối với doanh nghiệp NQD cần có những biện pháp tuyên truyền phù hợp và các hình thức hỗ trợ đặc biệt để doanh nghiệp NQD có điều kiện thuận lợi tuân thủ pháp luật

Thứ tư, một bộ phận không nhỏ các doanh nghiệp NQD có ý thức chấp

hành pháp luật kém Tình trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký kinh doanh diễn ra tương đối phổ biến Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp NQD không đăng ký thuế, nhiều doanh nghiệp thành lập nhưng không hoạt động, còn có tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn chứng từ không đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra tương đối phổ biến Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp NQD phải vừa chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, vừa nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật

Thứ năm, doanh nghiệp NQD có mô hình tổ chức quản lý, kinh

doanh gọn nhẹ, năng động và nhạy bén, dễ dàng thích ứng với sự thay đổi của môi trường kinh doanh và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Đồng thời,

số lượng lao động trong các doanh nghiệp ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí nhân công thấp, tạo lợi thế cạnh tranh

về giá và sản phẩm cung cấp cho thị trường trong nước Nhưng do quy mô nhỏ nên khó cạnh tranh được trên thị trường quốc tế Đặc điểm này cho thấy, trong công tác quản lý thuế nói chung và quản lý thuế thu nhập doanh nghiệp nói riêng, phải tạo những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp NQD thực hiện nghĩa vụ thuế và phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh Hoạt động quản lý thuế phải chặt chẽ nhưng không cản trở hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phải tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 17

1.2 Pháp luật thuế đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.2.1 Định nghĩa pháp luật thuế

Nghiên cứu quá trình hình thành pháp luật thuế ở Việt Nam cho thấy pháp luật thuế ra đời rất sớm Nhà nước với tư cách là chủ thể quyền lực, sử dụng công cụ riêng là pháp luật để tập trung của cải xã hội mà không phụ thuộc vào ý chí của đối tượng nắm giữ của cải đó Điều này cũng giúp cho việc phân biệt giữa luật thuế với luật ngân sách nhà nước mặc dù giữa luật thuế và luật ngân sách nhà nước có mối quan hệ nội tại Quan hệ thu, nộp thuế giữa nhà nước và dân cư phải được thực hiện dựa trên căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế

Thuế là khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc để mọi người dân và mọi tổ chức kinh tế thực hiện, nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại sản phẩm do các tổ chức và người dân tạo ra, nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước [28]

Trên cơ sở quan niệm về pháp luật có thể hiểu pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước [34] Quan hệ pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chính là quan

hệ thu, nộp thuế giữa Nhà nước và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh dựa trên những căn cứ pháp lý nhất định

1.2.2 Vai trò của pháp luật thuế

Vai trò của pháp luật thuế ở nước ta hiện nay thể hiện ở những điểm sau:

- Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội

Trang 18

Hệ thống pháp luật thuế được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng

và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi cá nhân và pháp nhân Sự bình đẳng và công bằng được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảm bảo sự bình đẳng và công bằng Vai trò điều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác động của pháp luật thuế đối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã hội Sự vận động của nền kinh tế theo cơ chế thị trường đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau để khắc phục sự mất cân đối về mặt

xã hội trong đó có mất cân đối về thu nhập Nhà nước sử dụng pháp luật thuế làm công cụ để điều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội Sự điều tiết này thể hiện

ở chỗ thông qua các quy định của pháp luật thuế, Nhà nước thực hiện việc điều tiết thu nhập của các đối tượng nộp thuế và các thành viên trong xã hội

Sự thay đổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế trong hệ thống thuế, về thuế suất đều có tác động đến thu nhập và sử dụng thu nhập trong xã hội Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm pháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, đơn giản hóa cơ cấu hệ thống thuế và thuế suất Việc xây dựng các quy phạm đó không làm triệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước trong điều kiện nền kinh tế thị trường

- Pháp luật thuế tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước

Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có vai trò điều chỉnh các quan hệ xã hội Mục đích chủ yếu và quan trọng nhất của sự điều chỉnh quan

hệ pháp luật thu – nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách nhà nước Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn định các loại thuế áp dụng đối với các

Trang 19

pháp nhân và cá nhân trong xã hội Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỉ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà nước Theo kết quả nghiên cứu về lịch sử tồn tại và phát triển của thuế qua các thời

kỳ, ở các quốc gia đã cho thấy: thu từ thuế chiếm phần lớn tổng thu ngân sách Nhà nước, thuế luôn luôn là quốc sách của tất cả các nhà nước Ở Việt Nam,

từ những năm 1990 trở lại đây, nguồn thu từ thuế đáp ứng phần lớn các khoản chi tiêu ngân sách Nhà nước Các luật thuế được ban hành đều xác nhận

“động viên một phần thu nhập vào ngân sách Nhà nước” như một lý do cơ bản Khoản thu từ thuế chiếm khoảng 90% tổng thu ngân sách Nhà nước (theo Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001 – 2010) Điều này lý giải cơ cấu cân đối ngân sách Nhà nước được pháp luật ghi nhận Điều 8 Luật

Ngân sách Nhà nước quy định rõ “Ngân sách Nhà nước được cân đối theo nguyên tắc tổng thu từ thuế, phí, lệ phí phải lớn hơn tổng số chi thường xuyên

và góp phần tích lũy ngày càng cao vào đầu tư phát triển” [34]

Chính vì những lý do trên, bất kì quốc gia nào cũng cần phải có và mong muốn có được hệ thống pháp luật thuế đầy đủ với tư cách là căn cứ pháp lý vững chắc để tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước Mọi thay đổi về cơ cấu hệ thống luật thuế, từng nội dung luật thuế đều ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả thu ngân sách nhà nước từ thuế

- Pháp luật thuế được sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện đường lối, chính sách kinh tế trong một thời kì nhất định của đất nước

Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế còn có vai trò quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp

và pháp luật Là một bộ phận của hệ thống pháp luật Việt Nam, pháp luật thuế đóng vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước Thông qua việc

Trang 20

ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước thể chế hóa và thực hiện chính sách điều tiết đối với nền kinh tế, điều tiết thu nhập và tiêu dùng xã hội Thông qua các quy định của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi đối tượng nộp thuế, thuế suất, miễn giảm thuế…, Nhà nước chủ động phát huy vai trò điều tiết của pháp luật thuế đối với nền kinh tế Vai trò này của pháp luật thuế được thể hiện ở chỗ pháp luật thuế là công cụ tác động đến tư duy đầu tư, hành vi đầu tư của các chủ thể kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội Dựa vào công cụ thuế, Nhà nước

có thể thúc đẩy hoặc hạn chế việc đầu tư, tiêu dùng Nhà nước, bằng pháp luật có khả năng quản lý, điều tiết tới mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội Bằng hệ thống pháp luật thuế, nhà nước thể hiện ý chí của mình đối với đường lối phát triển kinh tế một cách gián tiếp, thông qua đó thực hiện công bằng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, các tổ chức, cá nhân có thể tồn tại

và vận động theo nhu cầu và lợi ích của chính họ, điều này có thể tổn thương đến trật tự xã hội cũng như định hướng của nhà nước trong từng giai đoạn ở mỗi quốc gia Giải quyết vấn đề này, pháp luật thuế có thể làm thay đổi hoặc can thiệp gián tiếp vào hoạt động, vào quyết định đầu tư của các chủ thể nhằm đạt được mục tiêu nhất định của nhà nước Thông qua hệ thống pháp luật thuế, nhà nước có thể thay đổi cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành kinh tế mà không cần can thiệp hành chính Để thực hiện cơ cấu đầu tư định trước, pháp luật thuế có những quy định cụ thể khác nhau giữa nghĩa vụ thuế của đối tượng ưu tiên và đối tượng bị hạn chế Chính điều này sẽ làm ảnh hưởng đến

cơ hội tìm kiếm thu nhập của đối tượng đầu tư, qua đó có thể làm thay đổi hướng chu chuyển vốn từ khu vực đầu tư này sang khu vực đầu tư khác Pháp luật thuế các quốc gia, trong đó có Việt Nam đều phản ánh rõ vai trò nêu trên Chẳng hạn, việc quy định đánh thuế hay không đánh thuế, mức thuế suất khác nhau đối với từng ngành nghề, các mặt hàng hay các loại thu

Trang 21

nhập đều có thể tác động đến các ngành nghề, qua đó đảm bảo sự phát triển

cân đối ngành nghề trong nền kinh tế

Hệ thống pháp luật thuế cũng có khả năng định hướng chi tiêu xã hội, điều chỉnh thu nhập trong những trường hợp cần thiết Việc tiêu dùng xã hội,

ở mỗi quốc gia có những định hướng khác nhau tùy theo điều kiện thực tế Pháp luật thuế Việt Nam ghi nhận rõ sự hạn chế chi tiêu của các đối tượng đối với hàng hóa, dịch vụ chưa thực sự phù hợp với giai đoạn hiện tại, trong khi

đó lại khuyến khích, tạo cơ hội tối đa cho mọi đối tượng có thể tiếp cận đối với những hàng hóa, dịch vụ thiết yếu của đời sống xã hội Bên cạnh những vai trò trên, pháp luật thuế còn được các nhà nước đương đại sử dụng như một công cụ thực hiện các chính sách xã hội, điều tiết thu nhập của các chủ thể trong xã hội, góp phần bảo đảm công bằng xã hội

- Pháp luật thuế có thể được nhà nước sử dụng như là công cụ để kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh

Để thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ nộp thuế, các đối tượng nộp thuế buộc phải quan tâm và tuân thủ những quy định gắn với chế độ chứng từ hóa đơn, nội dung kinh doanh, quy mô kinh doanh, hình thức kinh doanh, cơ cấu

tổ chức… Điều đó cũng có nghĩa bằng việc quy định những vấn đề liên quan đến nghĩa vụ thuế, nhà nước gián tiếp quản lý nền kinh tế, trên cơ sở đó, hệ thống pháp luật được ban hành, sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng trong từng giai đoạn ở tầm vĩ mô cũng như hỗ trợ phù hợp cho các đối tượng nộp thuế ở tầm vi mô Mặt khác, cũng thông qua việc kiểm tra việc tuân thủ pháp luật thuế, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có khả năng phát hiện và

xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật thuế nói riêng và vi phạm trong quá trình hoạt động gắn với tư cách của đối tượng nộp thuế nói chung

Tóm lại, pháp luật thuế có ý nghĩa như sau:

Pháp luật thuế là công cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các

thành phần kinh tế, điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội

Trang 22

Thuế điều tiết thu nhập một cách hợp lý dựa trên thu nhập: Các luật thuế được ban hành đều xác nhận “động viên một phần thu nhập vào ngân sách nhà nước” như một lý do cơ bản để ban hành sắc thuế đó

Nhà nước đánh thuế cao đối với mặt hàng cần hạn chế tiêu dùng và đánh thuế thấp đối với mặt hàng thiết yếu, khuyến khích tiêu dùng

Hệ thống pháp luật thuế mới được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thế nhân

Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, nội dung pháp luật thuế hiện nay ở nước ta bao gồm quy định về các sắc thuế chủ yếu là thuế GTGT, thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân, thuế TTĐB, thuế XNK, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, thuế môn bài, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế

Nội dung pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh bao gồm quy định về các vấn đề sau:

Trang 23

- Các quy định về đối tượng nộp thuế xác định rõ các chủ thể có nghĩa

vụ phải nộp thuế cho Nhà nước

- Các quy định về nguyên tắc thu, nộp thuế bao gồm quy định về quyền và nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế; trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan thu thuế

- Các quy định về căn cứ tính thuế bao gồm các quy định về đối tượng tính thuế, thuế suất, số lượng hàng hoá, giá tính thuế

- Các quy định về chế độ kê khai, nộp thuế, thu thuế bao gồm quy định

về các loại tài liệu, sổ sách kế toán, hóa đơn chứng từ liên quan đến việc tính

và nộp thuế mà đối tượng nộp thuế phải kê khai và cung cấp cho cơ quan thu thuế Tùy thuộc vào yêu cầu của việc tính thuế đối với từng loại thuế mà Luật thuế và các văn bản pháp luật thuế có liên quan quy định nội dung pháp lý về nghĩa vụ kê khai của đối tượng nộp thuế

- Các quy định về chế độ thu, nộp thuế bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong công tác thu nộp thuế và phương thức thu nộp thuế

- Các quy định về chế độ miễn, giảm thuế; về việc khen thưởng và xử

lý vi phạm trong việc thực hiện pháp thuế

Ngoài ra, còn có các quy định về một số khoản thu mang tính chất lệ phí, nhằm vừa động viên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính

- Một số sắc thuế chủ yếu đối với kinh tế ngoài quốc doanh

Nhằm bao quát mọi đối tượng phải thu thuế, đảm bảo tính công bằng trong động viên điều tiết tiền thuế và đáp ứng yêu cầu thu của ngân sách, hệ thống thuế hiện nay ở nước ta bao gồm các sắc thuế sau:

Thuế GTGT; Thuế TTĐB; Thuế XNK; Thuế tài nguyên; Thuế TNDN; Thuế thu nhập cá nhân; Thuế sử dụng đất nông nghiệp; Thuế phi nông

Trang 24

nghiệp; Thuế tiêu thụ đặc biệt, Thuế tài nguyên, Thuế bảo vệ môi trường, Thuế môn bài

Mỗi sắc thuế có chức năng, tác dụng, đối tượng nộp khác nhau nhưng

có mối liên hệ chặt chẽ tác động lẫn nhau; giữa thuế trực thu và thuế gián thu

để phát huy tác dụng toàn diện của hệ thống thuế

* Các sắc thuế doanh nghiệp phải thực hiện:

- Thuế Giá trị gia tăng: Là một loại thuế tiêu dùng, tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở từng khâu trong quá trình sản

xuất, lưu thông đến tiêu dùng

Giá trị gia tăng (GTGT) là phần giá trị mới được tạo ra trong sản xuất kinh doanh Nó được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị sản xuất và tiêu thụ với tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào tương ứng Thuế GTGT phải nộp ở mỗi giai đoạn được tính bằng cách lấy số thuế GTGT đầu ra (được tính bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ bán ra) trừ số thuế GTGT đầu vào (được tính bằng cách lấy thuế suất x giá hàng hoá dịch vụ mua vào)

Thuế GTGT là công cụ có hiệu quả trong việc động viên nguồn thu cho ngân sách nhà nước (NSNN) Số thuế GTGT từ sản xuất kinh doanh nội địa chiếm tỷ trọng cao nhất (so với các loại thuế khác) trong tổng thu NSNN: khoảng 16,8%, (từ kinh doanh hàng hoá xuất nhập khẩu chỉ khoảng 9%) và chiếm 36% trong tổng thu từ doanh nghiệp Thuế GTGT được áp dụng ở nước ta từ 01/01/1999 thay cho thuế doanh thu trước đây (sắc thuế này hiện

đã có trên 120 quốc gia áp dụng).Thuế GTGT vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu thuế và phí, năm 2013 chiếm khoảng 28-30% trên tổng thu NSNN

- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Là một loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập chịu thuế của các DN

Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) được tính bằng cách lấy thu nhập chịu thuế (bằng doanh thu trừ giá vốn và chi phí + các thu nhập khác) x thuế suất

Trang 25

Thuế TNDN được sử dụng để điều tiết thu nhập của các nhà đầu tư nhằm góp phần đảm bảo công bằng xã hội, là một trong các nguồn thu quan trọng của NSNN, Thuế TNDN tăng khá, lên khoảng 17-18%; Thuế TNCN tăng nhanh, năm 2011 khoảng 1,9% tổng thu NSNN, đến năm 2013 đạt trên 5%

- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là loại thuế tiêu dùng, đánh vào một số hàng hoá dịch vụ đặc biệt nằm trong danh mục Nhà nước qui định, được tính căn

cứ vào giá cả và thuế suất (giá tính thuế là giá chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt) Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu

Thuế tiêu thụ đặc biệt là nguồn thu quan trọng của NSNN, là công cụ quan trọng thực hiện mục đích hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ được coi là đặc biệt, thực hiện tái phân phối thu nhập của các tầng lớp

có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội Hiện nay, số thuế tiêu thụ đặc biệt từ sản xuất kinh doanh nội địa chiếm khoảng 6-8% trong tổng thu NSNN (từ kinh doanh hàng hoá xuất, nhập khẩu là 1%), và chiếm 20,8 % trong tổng thu từ doanh nghiệp

- Thuế tài nguyên: Là loại thuế đánh vào tài nguyên thiên nhiên khai

thác được Thuế này được tính bằng cách lấy số lượng tài nguyên thực tế khai

thác x Giá tính thuế đơn vị tài nguyên x Thuế suất

Thuế tài nguyên là công cụ để quản lý, kiểm soát, hướng dẫn, điều tiết các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước, bảo vệ môi trường sinh thái và động viên một phần thu nhập cho NSNN Số thuế tài nguyên chiếm khoảng 0,7% trong tổng thu NSNN và chiếm 2% trong tổng thu từ DN năm 2011

- Thuế môn bài: Là thuế đăng ký kinh doanh được tính theo năm, mức thuế được áp dụng theo số tuyệt đối và được phân biệt theo 2 nhóm: Tổ chức kinh tế và hộ kinh doanh cá thể Đối với DN (tổ chức) thì mức môn bài được qui định từ 1.000.000đ đến 3.000.000đ tuỳ theo vốn đăng ký

Trang 26

Số thuế môn bài chiếm khoảng 0,4% trong tổng thu NSNN và chiếm 0,6% trong tổng thu từ DN năm 2013

Ngoài ra còn một số khoản thu khác đối với doanh nghiệp như thuế nhà đất, tiền thuê đất Những khoản thu này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng

thu từ doanh nghiệp

Mỗi sắc thuế nêu trên có phương pháp quản lý cụ thể khác nhau, tuy nhiên trong phạm vi luận văn không đi sâu vào quản lý của từng sắc thuế cụ thể mà chỉ đề cập những vấn đề quản lý mang tính chất chung nhất của một số sắc thuế thu vào DNNQD như thuế GTGT, thuế TNDN, thuế môn bài Ngoài

ra, còn một số khoản thu mang tính chất lệ phí, nhằm động viên sự đóng góp cho NSNN vừa mang tính chất phục vụ cho người nộp lệ phí thực hiện một số thủ tục hành chính

1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trong khoa học pháp lý Việt Nam có nhiều cách diễn đạt về khái niệm thực hiện pháp luật, chẳng hạn:

Thực hiện pháp luật là hoạt động, là quá trình làm cho những quy tắc của pháp luật trở thành hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật [18, tr.344] Hoặc: Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích nhằm hiện thực hoá các quy định của pháp luật, làm cho chúng đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật [33, tr.463]

Các quan niệm trên đã được trình bày trong giáo trình của các cơ sở đào tạo luật học là Khoa Luật, Đại học Quốc gia và Trường đại học Luật Hà Nội Tuy nhiên, khái niệm thực hiện pháp luật cũng có thể được diễn đạt

một cách ngắn gọn và bao quát như sau: "Thực hiện pháp luật là hoạt động

có mục đích nhằm thực hiện những yêu cấu của pháp luật, thực hiện pháp

Trang 27

luật là hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể pháp luật làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống” Trong

các cơ sở đào tạo luật học nói trên, thực hiện pháp luật được giải thích là gồm bốn hình thức: tuân theo pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật

Dù được diễn đạt theo các cách khác nhau song có thể khẳng định thực hiện pháp luật luôn là nghĩa vụ của mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội, đồng thời, tổ chức thực hiện pháp luật là một trong những hình thức cơ bản để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước; thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Vai trò của pháp luật chỉ phát huy được trên thực tế khi pháp luật được mọi chủ thể tuân thủ, chấp hành và sử dụng có hiệu quả, cũng như các chủ thể được Nhà nước trao quyền, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đúng đắn Nói cách khác, pháp luật chỉ có hiệu quả khi nó được thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tế cuộc sống

Trên cơ sở các quan niệm đã nêu về thực hiện pháp luật, có thể hiểu

Thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hành vi của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh kê khai chính xác và giao nộp đầy

đủ, đúng hạn các loại thuế do pháp luật quy định nhằm làm cho các quy phạm pháp luật thuế trở thành hiện thực trong cuộc sống

Khái niệm trên cho thấy chủ thể thực hiện pháp luật thuế ở đây là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Hình thức thực hiện pháp luật thuế của họ chủ yếu là thi hành pháp luật, tức là thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế chính xác và đầy đủ, cập nhật sổ sách kế toán; bên cạnh đó là tuân thủ pháp luật, tức là không kê khai gian lận và khống trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế; và

cả sử dụng pháp luật, tức là lựa chọn loại thuế và mức thuế, thời hạn nộp trong trường hợp pháp luật cho phép

Trang 28

Theo quy định tại Điều 30 Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày

29 tháng 11 năm 2006 như sau:

Nguyên tắc khai thuế và tính thuế

1 Người nộp thuế phải khai chính xác, trung thực, đầy đủ các nội dung trong tờ khai thuế theo mẫu do Bộ Tài chính quy định và nộp đủ các loại chứng từ, tài liệu quy định trong hồ sơ khai thuế với

cơ quan quản lý thuế

2 Người nộp thuế tự tính số thuế phải nộp, trừ trường hợp việc tính thuế do cơ quan quản lý thuế thực hiện theo quy định của Chính phủ [23, Điều 30];

Hồ sơ khai thuế

1 Hồ sơ khai thuế đối với loại thuế khai và nộp theo tháng bao gồm:

a) Tờ khai thuế tháng;

b) Bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ bán ra;

c) Bảng kê hoá đơn hàng hoá, dịch vụ mua vào;

d) Các tài liệu khác có liên quan đến số thuế phải nộp

2 Hồ sơ khai thuế đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm bao gồm:

a) Hồ sơ khai thuế năm gồm tờ khai thuế năm và các tài liệu khác liên quan đến xác định số thuế phải nộp;

b) Hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý gồm tờ khai thuế tạm tính và các tài liệu khác liên quan đến xác định số thuế tạm tính;

c) Hồ sơ khai quyết toán thuế khi kết thúc năm gồm tờ khai quyết toán thuế năm, báo cáo tài chính năm và các tài liệu khác liên quan đến quyết toán thuế

3 Hồ sơ khai thuế đối với đối với loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế bao gồm:

Trang 29

a) Tờ khai thuế;

b) Hoá đơn, hợp đồng và chứng từ khác liên quan đến nghĩa

vụ thuế theo quy định của pháp luật

4 Đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thì hồ sơ hải quan được sử dụng làm hồ sơ khai thuế

5 Hồ sơ khai thuế đối với trường hợp chấm dứt hoạt động, chấm dứt hợp đồng, chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm:

a) Tờ khai quyết toán thuế;

b) Báo cáo tài chính đến thời điểm chấm dứt hoạt động hoặc chấm dứt hợp đồng hoặc chuyển đổi hình thức sở hữu doanh nghiệp hoặc tổ chức lại doanh nghiệp;

c) Tài liệu khác liên quan đến quyết toán thuế

6 Chính phủ quy định loại thuế khai theo tháng, khai theo năm, khai tạm tính theo quý, khai theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế, khai quyết toán thuế và hồ sơ khai thuế đối với từng trường hợp cụ thể [23, Điều 31]

Và nghĩa vụ của người nộp thuế được quy định cụ thể hơn trong từng loại luật thuế

Việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

sẽ góp phần ổn định ngân sách quốc gia Nhà nước muốn tồn tại và hoạt động thì cần phải có ngân sách Và nguồn tài chính đó có thể nhận được bằng cách động viên một phần thu nhập từ xã hội thông qua hình thức: vay, quyên góp, bắt buộc đóng góp Để có nguồn tài chính ổn định thì chỉ có thể bắt buộc đóng góp và coi thuế như nghĩa vụ của mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp, mỗi chủ thể sản xuất kinh doanh thì việc thu thuế mới hiệu quả Vì vay thì phải trả cả gốc lẫn lãi suất, người cho vay có thể cho vay hoặc từ chối và có quyền yêu

Trang 30

cầu hoàn trả bất cứ lúc nào; quyên góp thì phải phụ thuộc vào khả năng tài chính và sự tự nguyện mà điều này lại rất khó thực hiện trên thực tế

Các khoản thu từ thuế vào ngân sách cũng là để phục vụ cho chính lợi ích của công dân Ngân sách nhà nước chỉ có một phần được dùng cho quản lý hành chính còn lại đều được Nhà nước sử dụng để phục vụ lợi ích cộng đồng

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

1.4.1 Ý thức pháp luật của các doanh nhân trong doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trên cơ sở quan niệm về ý thức pháp luật nói chung, có thể hiểu ý thức pháp luật của doanh nhân là tổng thể những quan điểm, quan niệm, tư tưởng

về pháp luật và thái độ, tình cảm, sự đánh giá của doanh nhân đối với pháp luật cũng như đối với hành vi pháp luật của các chủ thể trong xã hội

Ý thức pháp luật của doanh nhân là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hành vi thực hiện pháp luật thuế của họ Nếu các doanh nhân trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều hiểu rõ, chính xác nội dung, yêu cầu của các quy định pháp luật trong lĩnh vực thuế, đều có thái độ tôn trọng, đồng tình ủng hộ các quy định đó, coi đó là những quy định không thể thiếu để góp phần bổ sung và ổn định nguồn cung ngân sách bảo đảm cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước, phục vụ lợi ích chung của xã hội thì họ sẽ nghiêm chỉnh thực hiện các quy định đó, kê khai thuế một cách nghiêm túc, trung thực, chính xác và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn Ngược lại, khi các doanh nhân không hiểu rõ, chính xác các quy định pháp luật về các sắc thuế và mức thuế

mà doanh nghiệp của họ có nghĩa vụ phải nộp; hoặc hiểu rõ nhưng lại coi thường, khinh nhờn các quy định đó, đặt lợi ích của doanh nghiệp mình lên trên lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung của xã hội thì họ sẽ tìm mọi cách để

Trang 31

vi phạm pháp luật thuế, có thể kê khai không trung thực, gian lận, chây ỳ, nợ thuế hoặc trốn thuế

Ảnh hưởng của ý thức pháp luật của doanh nhân tới việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn thể hiện ở chỗ khi các doanh nghiệp đều ý thức được rằng việc nộp thuế cho Nhà nước của họ không chỉ là nghĩa vụ đối với Nhà nước, với xã hội, mà còn là quyền, là danh

dự công dân của họ đối với cộng đồng Bởi lẽ họ đã được hưởng các dịch vụ công do Nhà nước và xã hội cung cấp thì họ cũng có nghĩa vụ và trách nhiệm đóng góp công sức và tài sản cho việc tạo nên và cung ứng các dịch vụ đó, cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; nghĩa vụ và quyền nộp thuế của họ là tất yếu thì họ sẽ phấn khởi, tự giác kê khai trung thực và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn

1.4.2 Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật

Mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật tác động tới việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh chủ yếu thể hiện qua các quy định liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh và nghĩa vụ nộp thuế của các doanh nghiệp này Nếu pháp luật thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, giúp các doanh nghiệp này kinh doanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận cao; quy định về loại thuế, mức thuế phải nộp là phù hợp với khả năng và điều kiện kinh doanh của các doanh nghiệp này; thủ tục kê khai, nộp thuế đơn giản, nhanh gọn thì việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp này cũng dễ dàng, thuận lợi và nghiêm túc hơn Ngược lại, nếu quy định của pháp luật hoặc là gây khó khăn, cản trở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, là một trong những nguyên nhân khiến cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp này kém hiệu quả, lợi nhuận thu được thấp; hoặc các sắc thuế quy định cho các doanh nghiệp này phải nộp quá nhiều, mức thuế phải nộp quá cao so với khả năng và điều kiện sản xuất kinh

Trang 32

doanh của chúng; hoặc là quy định về thủ tục kê khai và nộp thuế quá phiền

hà, phức tạp, rắc rối đều có thể dễ dàng dẫn đến sự vi phạm pháp luật thuế

Thực tế cho thấy, nếu quy định của pháp luật thuế có lỗ hổng, khiếm khuyết, không chặt chẽ thì có thể trở thành nguyên nhân dẫn đến việc kê khai thuế gian lận, trốn thuế, nợ thuế hoặc hối lộ nhân viên của cơ quan thuế để có thể được tính thuế ở mức thấp hơn quy định của pháp luật

1.4.3 Hoạt dộng của cơ quan quản lý thuế

Thuế gắn liền với yếu tố quyền lực Thuế xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, cung cấp cơ sở vật chất cho nhà nước thực hiện chức năng

và nhiệm vụ của mình Bằng quyền lực chính trị, nhà nước tạo ra cho thuế tính ổn định, sự tuân thủ của đối tượng nộp thuế Các yếu tố như đối tượng nộp thuế, thuế suất, được quy định trong một khoảng thời gian nhất định Chỉ gắn với yếu tố quyền lực thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn thu nhập tài chính cho quốc gia Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh được bảo đảm thực hiện không chỉ bằng sự tự giác của các doanh nhân mà chủ yếu là bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục thuyết phục, tổ chức thực hiện cho đến áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước

Có thể khẳng định các quy định của pháp luật thuế không thể trở thành hiện thực, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không thể thực hiện được nghĩa vụ kê khai và nộp thuế nếu không có hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý thuế bởi vì đó chính là các cơ quan tổ chức thực hiện pháp luật thuế

Luật Quản lý thuế năm 2006 quy định:

Nội dung quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, ấn định thuế; thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế; xoá nợ tiền thuế, tiền phạt; quản lý thông tin về người nộp thuế; kiểm tra thuế,

Trang 33

thanh tra thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế; xử lý vi phạm pháp luật thuế; giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [23, Điều 3] Quy định này cho thấy chức năng của cơ quan quản lý thuế bao gồm các hoạt động sau:

- Quản lý người nộp thuế thông qua việc cấp mã số thuế cho doanh

nghiệp để có sơ sở kiểm soát thuế;

- Kiểm soát căn cứ tính thuế Trong điều kiện các doanh nghiệp được

phép tự tính, tự khai và tự nộp thuế thì nếu các cơ quan quản lý kiểm soát tốt căn cứ tính thuế sẽ bảo đảm cho việc tính thuế của các doanh nghiệp là đúng đắn, chính xác, bảo đảm được nguồn thu phù hợp cho ngân sách nhà nước Ngược lại, nếu các cơ quan quản lý thuế không kiểm soát căn cứ tính thuế một cách nghiêm túc thì có thể bỏ lọt những trường hợp tính thuế không đúng, thấp hơn mức quy định và làm thất thu cho ngân sách nhà nước

- Quản lý việc kê khai, nộp thuế

Trong cơ chế tự tính, tự khai thì quản lý kê khai, nộp thuế là hết sức quan trọng, bởi lẽ việc tổ chức kê khai, nộp thuế đúng hạn, đủ tiền thuế sẽ hạn chế nợ đọng Thông qua quản lý việc kê khai thuế để có phương pháp đánh giá, giám sát, thanh tra và kiểm tra trên cơ sở xây dựng các tiêu chí rủi ro, đồng thời có thể quản lý tốt các doanh nghiệp, kịp thời có biện pháp hướng dẫn, nhắc nhở để các doanh nghiệp nộp hồ sơ khai thuế đúng hạn, nộp thuế đúng hạn Quản lý thu nộp thuế là việc kiểm tra, theo dõi số tiền thuế mà doanh nghiệp thực tế nộp vào NSNN so với số liệu kê khai Thông qua việc quản lý thu nộp thuế, cơ quan quản lý có thể phát hiện ra các doanh nghiệp nợ đọng, chiếm dụng tiền thuế để áp dụng các chế tài và biện pháp xử lý răn đe, giáo dục NNT nộp đúng, nộp đủ số thuế phát sinh vào NSNN, góp phần làm cho pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh

Trang 34

- Quản lý việc miễn, giảm, hoàn thuế

Chính sách miễn, giảm, hoàn thuế nhằm thực hiện mục tiêu ưu đãi thuế của Nhà nước đối với một số đối tượng và đảm bảo thực hiện đúng các thông

lệ, tập quán thương mại quốc tế, đồng thời đảm bảo nguyên tắc và mục tiêu xây dựng một chính sách thuế công bằng, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Hoàn thuế cho doanh nghiệp để khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy SXKD phát triển Tuy nhiên đây cũng là yếu tố mà các doanh nghiệp có thể lợi dụng để chiếm đoạt tiền thuế, do vậy ngoài việc đề ra các chính sách rõ ràng thì Nhà nước cũng cần có các biện pháp quản lý phù hợp nhằm hạn chế các trường hợp gian lận trong miễn, giảm và hoàn thuế nhằm chiếm đoạt tiền từ NSNN

- Thanh tra, kiểm tra thuế

Thanh tra, kiểm tra là khâu hậu kiểm trong quản lý thuế nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các trường hợp gian lận thuế Đặc biệt trong

cơ chế tự tính, tự khai, tự nộp thuế và với sự lớn mạnh của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng thì vai trò của thanh tra, kiểm tra thuế lại càng quan trọng

Nội dung thanh tra, kiểm tra thuế đối với các DN ngoài quốc doanh bao gồm:

+ Thanh tra, kiểm tra việc đăng ký thuế của các doanh nghiệp

+ Thanh tra, kiểm tra việc kê khai, tính thuế

+ Thanh tra, kiểm tra việc nộp thuế vào NSNN

+ Thanh tra, kiểm tra việc miễn, giảm, hoàn thuế

Tất cả các hoạt động này nếu được thực hiện nghiêm túc, đúng pháp luật thì sẽ đảm bảo cho pháp luật thuế được thực hiện nghiêm chỉnh bởi các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Trang 35

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Có thể nói Thuế là một phạm trù rộng và hàm chứa nhiều nội dung phức tạp, hiểu và vận dụng kiến thức về thuế nói chung, pháp luật thuế nói riêng trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội hiện nay có một ý nghĩa quan trọng đối với mọi người dân, doanh nghiệp và Nhà nước

Pháp luật thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhằm hình thành nguồn thu ngân sách nhà nước để thực hiện các mục tiêu xác định trước

Pháp luật thuế có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, nó vừa là công

cụ góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng

xã hội, vừa tạo cơ sở pháp lý quan trọng và ổn định cho nguồn thu đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Vì thế, pháp luật thuế được nhà nước sử dụng như một công cụ điều tiết nền kinh tế, thực hiện đường lối, chính sách kinh tế trong một thời kì nhất định của đất nước, đồng thời cũng là công cụ để kiểm tra gián tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, pháp luật thuế chỉ có thể đảm nhiệm được vai trò của mình khi được thực hiện nghiêm chỉnh trong

xã hội bởi các chủ thể sản xuất kinh doanh trong đó có các doanh nghiệp ngoài quốc doanh

Thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là hành vi của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh kê khai chính xác và giao nộp đầy đủ, đúng hạn các loại thuế do pháp luật quy định nhằm làm cho các quy phạm pháp luật thuế trở thành hiện thực trong cuộc sống

Việc thực hiện pháp luật thuế của các doanh nghiệp quốc doanh chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố mà cơ bản là ý thức pháp luật của các doanh nhân, mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật và hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý thuế

Trang 36

Chương 2

THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP

NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THUẾ CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH

TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ SẦM SƠN

2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội và tình hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở thị xã Sầm Sơn

2.1.1 Đặc điểm kinh tế xã hội

Thị xã Sầm Sơn thành lập năm 1981, nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách Thành phố Thanh Hoá khoảng 16km; phía Bắc giáp huyện Hoằng Hoá (ranh giới là sông Mã); phía Nam và phía Tây giáp huyện Quảng Xương (cách sông Đơ); phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ Thị xã Sầm Sơn có 5 đơn vị hành chính, gồm 04 phường và 01 xã với tổng diện tích tự nhiên gần 17,9km2

, dân số năm 2010 là 62.550 người, chiếm 0,16% diện tích và 1,68% dân số tỉnh Thanh Hoá

Thị xã Sầm Sơn là một trong những trung tâm du lịch tắm biển, nghỉ mát nổi tiếng của khu vực phía Bắc và cả nước Sầm Sơn có nhiều tài nguyên

du lịch phong phú, đa dạng, có nhiều bãi tắm đẹp trải dài trên 9km bờ biển đan xen với những tài nguyên du lịch sinh thái, di tích lịch sử, văn hóa như: Đền Độc Cước, đền Cô Tiên, khu du lịch sinh thái Quảng Cư, núi Trường Lệ Cùng với đó là cơ sở hạ tầng được đầu tư đồng bộ tạo lợi thế để Sầm Sơn ngày càng phát triển và hướng tới một đô thị du lịch văn minh, hiện đại

Trong những năm gần đây, cả kinh tế lẫn xã hội của Sầm Sơn đều phát triển khá mạnh, đặc biệt ngành du lịch - dịch vụ đã trở thành ngành kinh tế chủ lực của Sầm Sơn Hệ thống cơ sở vật chất ngày càng được đầu tư nâng cấp, kết cấu hạ tầng du lịch, giao thông, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật ngày

Trang 37

càng được hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, tỷ lệ đô thị hóa cao, văn hóa - xã hội có nhiều chuyển biến tích cực cả về chiều sâu lẫn diện rộng, Với kết quả đó, ngày 23/4/2012, Bộ trưởng Bộ Xây dựng ký Quyết định số 378 công nhận Thị

xã Sầm Sơn là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Thanh Hóa

Với vị thế là đô thị loại III, Sầm Sơn cũng là một trong 12 đô thị du lịch biển trọng điểm của cả nước Sầm Sơn được thiên nhiên ưu đãi ban tặng có nhiều danh lam thắng cảnh Nơi đây cũng là vùng đất huyền thoại, có truyền thống lịch sử lâu đời, giàu bản sắc văn hóa với nhiều di tích lịch sử Đặc biệt, trong những năm gần đây, du lịch Sầm Sơn đã có những bước phát triển toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Du lịch đã trở thành ngành kinh tế chủ lực trong

sự phát triển của địa phương

Năm 2013 là năm hội tụ nhiều yếu tố để du lịch Sầm Sơn phát triển khi Cảng hàng không Thọ Xuân đi vào hoạt động, tuyến đường quốc lộ 47 đã hoàn thành cùng với Khu kinh tế Nghi Sơn khởi động là những yếu tố góp phần thu hút du khách đến với Sầm Sơn Năm 2013, Sầm Sơn thể hiện sự quyết tâm xây dựng thương hiệu đô thị dụ lịch biển Văn minh - Thân thiện, là điểm đến lý tưởng của bạn bè và du khách trong và ngoài nước Để đạt được mục tiêu trên, Thị xã tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư phát triển du lịch, nâng cao chất lượng du lịch đến năm 2015 Khuyến khích, đầu tư phát triển khai thác thủy sản có công suất lớn; chuyển đổi mạnh mẽ cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao; phát triển tiểu thủ công nghiệp; khôi phục, duy trì nghề truyền thống, đặc biệt chú trọng các mặt hàng thủ công mỹ nghệ;…

Công tác quy hoạch, quản lý xây dựng và phát triển đô thị được chú trọng quan tâm Quy hoạch mở rộng không gian đô thị và quy hoạch tổng thể phát triển KTXH đã và đang được triển khai, hoàn thiện; các dự án phát triển

Trang 38

kinh tế hạ tầng đã và đang được xúc tiến tích cực như xã Quảng Tiến là một trong những địa bàn chiến lược trong phát triển kinh tế xã hội của Thị xã đã được nâng cấp thành Phường Quảng Tiến,…

Công tác quản lý tài nguyên và môi trường đạt nhiều chuyển biến mới, môi trường đã xanh - sạch - đẹp đã từng bước làm thay đổi diện mạo đô thị Sầm Sơn

Sự nghiệp giáo dục - đào tạo từng bước được nâng lên rõ rệt Số học sinh thi đậu vào các trường đại học, cao đẳng ngày càng tăng, hàng năm đạt bình quân 25%, năm sau cao hơn năm trước Hoạt động khoa học công nghệ

có chuyển biến tích cực, có nhiều ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, góp phần phát triển kinh tế - xã hội

Sự nghiệp Văn hoá - Thông tin - Truyền thanh - Thể dục thể thao có tiến bộ, từng bước nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân và đáp ứng nhu cầu du khách

Sự nghiệp Y tế - Dân số và công tác gia đình ngày càng được quan tâm Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân đạt kết quả khá, hướng tới xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc

Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước gặp rất nhiều khó khăn, thách thức, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt thấp, giá cả một số mặt hàng tiêu dùng thiết yếu liên tục tăng, sức mua của thị trường giảm đã ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình KTXH Thị xã Sầm Sơn Trên địa bàn thị xã cả hai ngành kinh tế mũi nhọn là dịch vụ du lịch và khai thác hải sản mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng hiệu quả chưa cao

Tình hình kinh tế - xã hội của Thị xã Sầm Sơn tuy tạo ra những tiền đề thuận lợi song vẫn còn những khó khăn thách thức đối với việc thực hiện

Trang 39

pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trên địa bàn Thị

xã Sầm Sơn, hoạt động kinh doanh của các DN gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng các chính sách cắt giảm đầu tư công, giá cả hàng hóa vẫn ở mức cao,

DN không tiếp cận được vốn vay…, đặc biệt là các DN hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng cơ bản Các doanh nghiệp đã có nhiều cố gắng khắc phục phó khăn, nâng cao hiệu quả kinh doanh và ý thức chấp hành pháp luật nên số thu ở lĩnh vực này đạt cao Tuy nhiên, trên địa bàn chủ yếu là các hộ kinh doanh cá thể, các DN vừa và nhỏ và tính chất kinh doanh theo mùa vụ nên cũng gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn

2.1.2 Tình hình phát triển doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Thị xã

Do địa hình giáp biển nên ngành du lịch và chế biến thủy hải sản phát triển hơn các ngành khác Các doanh nghiệp NQD trên địa bàn TX Sầm Sơn tồn tại dưới nhiều hình thức: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân… nhưng chủ yếu tồn tại với quy mô vừa và nhỏ, hoạt động trong nhiều ngành nghề Nhìn chung, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

ở Sầm Sơn đang phát triển mạnh mẽ về số lượng, đa dạng về loại hình kinh doanh, đa dạng về ngành nghề và đã có những đóng góp quan trọng cho tăng trưởng kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách trên địa bàn Thị xã trong thời gian qua Bảng số liệu sau đây sẽ cho thấy tình hình phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã Sầm Sơn

Trang 40

Bảng 2.1: Tổng hợp các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Sầm Sơn từ 2011- 2013

Chỉ tiêu

Đã cấp

mã số

Đang hoạt động

Ngừng hoạt động

Tạm nghỉ kinh doanh

Đã cấp

mã số

Đang hoạt động

Ngừng hoạt động

Tạm nghỉ kinh doanh

Đã cấp

mã số

Đang hoạt động

Ngừng hoạt động

Tạm nghỉ kinh doanh

Ngày đăng: 19/10/2015, 16:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tổng hợp các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Sầm Sơn từ 2011- 2013 - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.1 Tổng hợp các loại hình doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Sầm Sơn từ 2011- 2013 (Trang 40)
Bảng 2.2: Tình hình nộp thuế của các DN NQD qua các năm  2011-2013 - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.2 Tình hình nộp thuế của các DN NQD qua các năm 2011-2013 (Trang 44)
Bảng 2.3: Một số đơn vị có số nộp lớn nhất - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.3 Một số đơn vị có số nộp lớn nhất (Trang 45)
Bảng 2.4: Công tác kê khai hồ sơ khai thuế của DNNQD trên địa bàn TX - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.4 Công tác kê khai hồ sơ khai thuế của DNNQD trên địa bàn TX (Trang 46)
Bảng 2.5: Số liệu tình hình nợ đọng thuế TNDN của các DNNQD qua - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.5 Số liệu tình hình nợ đọng thuế TNDN của các DNNQD qua (Trang 48)
Bảng 2.6: Số liệu nợ đọng thuế của một số đơn vị - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.6 Số liệu nợ đọng thuế của một số đơn vị (Trang 49)
Bảng 2.7: Số liê ̣u kiểm tra quyết toán thuế của các DNNQD qua các - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.7 Số liê ̣u kiểm tra quyết toán thuế của các DNNQD qua các (Trang 50)
Bảng 2.9: Số liệu khai sai chi phí được trừ của một số doanh nghiệp NQD - Thực hiện pháp luật về thuế của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thị xã sầm sơn, thanh hoá
Bảng 2.9 Số liệu khai sai chi phí được trừ của một số doanh nghiệp NQD (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w