Lý do chọn đề tài: Hiện nay chưa có bài viết chuyên sâu về việc vận dụng mối quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy tại các trường cao đẳng cộng đồng, đặc biệt là trườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN BIỆN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ
ĐẠO ĐỨC - THỰC TIỄN VẬN DỤNG
VÀO NHIỆM VỤ GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT
VÀ MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CỘNG ĐỒNG BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN BIỆN
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ
ĐẠO ĐỨC - THỰC TIỄN VẬN DỤNG VÀO NHIỆM VỤ GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT
VÀ MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CỘNG ĐỒNG BẮC KẠN
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số : 60 38 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Hà Nội - 2010
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các số liệu, ví dụ trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2010
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Văn Biện
Trang 4
MỤC LỤC Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU……….……… ………… …1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ
PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC 8
1 1 Một số quan niệm cơ bản về pháp luật và đạo đức.……… … 8
1.1.1 Một số quan niệm về pháp luật……… 8
1.1.2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật………… 10
1.1.3 Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội… 14
1.2 Quan niện về đạo đức.……….………… ………… … 17
1.2.1 Một số quan niệm chủ yếu về đạo đức……….……… ……17
1.2.2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ đạo đức………….….… 21
1.2.3 Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội… … 25
1.3 So sánh một số điểm giống nhau và khác nhau giữa pháp luật và đạo đức ……… ……… … 27
1.3.1 Điểm giống nhau giữa pháp luật và đạo đức……… 27
1.3.2 Điểm khác nhau giữa pháp luật và đạo đức………… ……… ….28
1.4 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức ……… … ….31
1.4.1 Pháp luật và đạo đức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và phát triển, cùng phản ánh đời sống kinh tế xã hội đương thời và định hướng cho sự phát triển của xã hội ……… 31
1.4.2 Những quan niệm đạo đức tiến bộ, phù hợp được nâng lên thành pháp luật……… … ……… 36
Trang 51.4.3 Pháp luật tác động mạnh mẽ tới ý thức, quan điểm, quan niệm
đạo đức trong xã hội, góp phần loại bỏ những tập tục lạc
hậu, xây dựng nền đạo đức tiến bộ và xây dựng lối sống mới…… 38 1.5 Đạo đức là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng pháp
luật và có tác động mạnh mẽ đối với pháp luật 42 1.6 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức biểu hiện trong mộ số
ngành luật cụ thể:……….……… … 46 1.7 Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong điều kiện
xây dựng nhà nước pháp quyền và nền kinh tế thị trường
hiện nay……… 48
Chương 2: VẬN DỤNG MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT
VÀ ĐẠO ĐỨC VÀO THỰC TIỄN NHIỆM VỤ
GIẢNG DẠY MÔN PHÁP LUẬT VÀ MÔN ĐẠO ĐỨC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CỘNG ĐỒNG
giảng dạy môn Pháp luật học và môn Đạo đức học theo chương
trình đổi mới ……… 62 2.3.1 Vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ
giảng dạy phần pháp luật học………….… ….……….62
2.3.2 Vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào
nhiệm vụ giảng dạy môn đạo đức học……….……… 83
Trang 62.4 Một số giải pháp chủ yếu mhằm tăng cường vận dụng mối
quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào thực tiễn thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật học và môn đạo đức học có
hiệu quả ……… 102
2.4.1 Tiếp tục đẩy mạnh Tiến hành đổi mới nội dung, phương pháp
dạy học, tăng cường mua sắm các phương tiện kỹ thuật dạy
học, đổi mới cách học tập của sinh viên, giáo sinh, học sinh…… 102
2.4.2 Tiến hành biên soạn các tập đề cương bài giảng môn
Pháp luật học và môn Đạo đức học để sử dụng lưu hành trong
nội bộ trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn……… … 105
2.4.3 Thực hiện tốt các giải pháp nhằm vận dụng có hiệu quả mối
Quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức vào giảng dạy theo chương
trình đổi mới……… ………… 105
KẾT LUẬN……… …113
TÀI LIỆU THAM KHẢO.……… … 115
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Hiện nay chưa có bài viết chuyên sâu về việc vận dụng mối quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy tại các trường cao đẳng cộng đồng, đặc biệt là trường Cao đẳng Cộng đồng miền núi đào tạo đa ngành nghề, chức năng nhiệm vụ chủ yếu là đào tạo mã ngành Sư phạm sau khi sinh viên, giáo sinh ra trường là những thầy giáo, cô giáo tiểu học, trung học cơ sơ tiếp xúc nhiều với môn Đạo đức học, môn Giáo dục công dân và đào tạo một số mã ngành khác nhằm hoàn thiện đội ngũ cán bộ thiết yếu một
số ngành trong tỉnh đáp ứng nhiệm vụ chính trị của tỉnh
Trong chương trình giảng dạy môn Đạo đức và môn pháp luật học tại các trường cao đẳng có sự đan xen kiến thức đạo đức và pháp luật, đặc biệt
là môn đạo đức học và môn Phương pháp dạy đạo đức, các sinh viên, giáo sinh chuyên ngành Sư phạm cần nắm rõ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức để sau khi ra trường có kiến thức cần thiết phục vụ cho nhiệm vụ giảng dạy môn Đạo đức ở tiểu học và môn Giáo dục công dân ở trung học cơ sở
Đối với các chuyên ngành ngoài Sư phạm, đề tài này có là tư liệu tham hữu ích trong học tập và trong quản lý chuyên môn nghiệp vụ
Thực hiện đề tài này còn là tư tham khảo liệu hữu ích giúp cho giảng viên, giáo viên, các nhà nghiên cứu quan tâm có thêm cơ sở lý luận để nghiên cứu thêm mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức và vận dụng vào công việc thực tiễn có liên quan đế lĩnh vực này
Với những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài "Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - thực tiễn vận dụng vào nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật
và môn đạo đức ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn", hy vọng đề tài sẽ hữu ích, thiết thực cho công tác nghiên cứu, nhiệm vụ giảng dạy và học tập tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc kạn
Trang 82 Mục đích, tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Mục tiêu chính của đề tài là:
Phân tích để làm rõ thêm các khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật và đạo đức và so sánh một số chức năng, nhiệm vụ của pháp luật
và đạo đức trong đời sống xã hội để làm nổi bật tầm quan trọng của pháp luật và đạo đức trong đời sống xã hội và làm cơ sở cho việc vận dụng vào giảng dạy môn Pháp luật học và môn Đạo đức học ở Trường Cao đẳng Cộng
đồng Bắc Kạn theo chương trình đổi mới
Giúp sinh viên, giáo sinh, học sinh và các độc giả quan tâm đến chuyên đề này hiểu sâu thêm mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, trang
bị thêm cho họ một phần kiến thức quan trọng liên quan tới lĩnh vực này tạo hành trang cần thiết đi vào cuộc sống, góp phần đào tạo họ trở thành những cán bộ, giáo viên, người lao động có kiến thức, có tài, có đức, để xây dựng quê hương, đất nước
Đề tài là một trong những tư liệu tham khảo quan trọng cho các giảng viên, giáo viên các nhà nghiên cứu tại các trường Cao đẳng nói chung, các trường cao đẳng Cộng đồng nói riêng nghiên cứu, tham khảo vận dụng trong thực tế công tác xây dựng cơ chế, chính sách quản lý giáo dục, và thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn học có liên quan tại trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
Nhiệm vụ chính của đề tài:
Phân tích làm rõ thêm một số vấn đề lý luận về pháp luật và đạo đức
và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức để làm cơ sở vận dụng vào thực tiễn nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật và môn đạo đức ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
Trang 9Phân tích thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy các môn pháp luật học và môn đạo đức học tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
Từ những luận cứ trên, đề tài vạch ra khuynh hướng vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy môn Pháp luật học và môn Đạo đức học tại trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn theo chương trình đổi mới đồng thời đề tài đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật học, môn đạo đức học ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc kạn
Ý nghĩa của đề tài:
Đề tài là tư liệu thiết thực phục vụ việc thực hiện nhiệm giảng dạy môn Pháp luật học và môn Đạo đức học tại các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp miền núi nói chung và Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn nói riêng
Đề tài phân tích toàn diện, sâu sắc về toàn bộ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, giúp chúng ta hiểu thêm khoa học về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức và cũng là cơ sở lý luận để triển khai nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật, môn đạo đức, môn Phương pháp dạy đạo đức tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn, giúp cho giảng viên, giáo viên làm tốt hơn nhiệm
vụ giảng dạy một số môn học thuộc nhóm chính trị trong các trường cao đẳng cộng đồng, trung học chuyên nghiệp và cả ở các trung học phổ thông
Ngoài ra đề tài còn có tác dụng cho các cấp quản lý tham khảo định hướng xây dựng cơ chế quản lý giảng dạy có hiệu quả hơn
3 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, thực trạng tình hình nghiên cứu mối quan
hệ giữa pháp luật và đạo đức đã được một số nhà nghiên cứu chú ý đến và đã
có một số công trình nghiên cứu, bài viết đề cập tới mối quan hệ giữa pháp
Trang 10luật và đạo đức, nội dung những công trình, bài viết này đề cập tới rất nhiều khía cạnh khác nhau của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, cụ thể có một số công trình nghiên cứu, bài viết có nội dung liên quan đến vấn đề này sau đây:
- Một số giáo trình và công trình nghiên cứu khác
* Các bài viết nêu ý kiến phân tích bình luận về vấn đề này bao gồm:
- Bài "Hội nhập khu vực châu Á nhìn từ góc độ sự tương tác của nền văn hóa pháp luật", Tạp chí Nhà nước pháp luật, số 7 - 1999
- Bài "Tác động của các nhân tố phi kinh tế trong đời sống pháp luật", Tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 8, 9 - 2001
- Đề tài "Xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật", của thầy Đào Chí Úc,
Đề tài khoa học KX-07.17, Hà Nội, 1995
- Cuốn "Đạo đức Tư pháp và việc vận dụng các phạm trù đạo đức trong xét
sử các vụ án hình sự", của Nguyễn Tất Viễn, Tạp chí Bộ Tư pháp số 11-
1998
- Một số bài viết bình luận nằm rải rác ở trong các tạp chí, báo trí khác
Trang 11Tất cả các giáo trình, bài viết liệt kê trên đã đề cập, phân tích tương đối đầy đủ, chi tiết ở nhiều khía cạnh khác nhau về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, nhưng chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề mối quan hệ qua lại và tác động của mối quan hệ này trong việc xây dựng, áp dụng pháp luật, thực hiện pháp luật hoặc quản lý xã hội trong một lĩnh vực nào đó, chưa có bài viết chuyên sâu về việc vận dụng mối quan hệ này vào công tác giảng dạy tại các trường cao đẳng cộng đồng có nhiều môn học có liên quan đến kiến thức đạo đức và kiến thức pháp luật hoặc công trình nghiên cứu với nội dung tương tự
4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích một số khái niệm, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật và đạo đức, so sánh chúng để xác định được giá trị các quan niệm pháp luật và đạo đức làm nổi bật vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ và tầm quan trọng của nó trong đời sống xã hội để làm cơ sở cho việc vận dụng vào thực tiễn Nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức, sự tác động lẫn nhau giữa pháp luật và đạo đức để làm cơ sở lý luận để vận dụng mối quan hệ vào nhiệm vụ giảng dạy môn pháp luật, môn đạo đức, môn Phương pháp dạy đạo đức ở trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
Đưa ra một số kiến nghị về việc xây dựng cơ chế, chính sách, vận dụng mối quan hệ này vào đổi mới giảng dạy môn Pháp luật học, môn Đạo đức học, môn Phương pháp dạy đạo đức nhằm nâng cao chất lượng học tập
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Để hoàn thành đề tài của mình tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: Kết hợp lý luận và thực tiễn, phương pháp xã hội học, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp luật học lịch sử, phương pháp luật học so sánh, phương pháp trừu tượng hóa khoa học, các phương pháp cụ thể trên được thực hiện trên nền tảng phương pháp biện chứng để
Trang 12rút ra các luận điểm tổng kết ý nghĩa lý luận và thực tiễn để khẳng định giá trị của đề tài Ví dụ trong chương 1 đề tài sử dụng nhiều phương pháp phân tích, so sánh kết hợp với thống kê các quan điểm đã được thừa nhận để rút ra những luận điểm cần thiết được sử dụng để hỗ trợ đắc lực cho các luận điểm
đề tài đưa ra Đề tài còn sử dụng kết hợp các phương pháp khác như nghiên cứu, so sánh các vấn đề lý luận và thực tiễn dạy học để làm tăng khả năng thuyết phục khi đưa ra những giải pháp kiến nghị kết luận tại chương 2 khẳng định được giá trị lý luận cũng như thực tiễn của đề tài
6 Những đóng góp của đề tài:
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trên cơ sở
kế thừa một số quan điểm trước đó đồng thời nhấn mạnh phâm tích làm sâu thêm một số quan điểm có tính thực tiễn cao, có thể vận dụng được vào thực tiễn quản lý, giảng dạy tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc kạn
Nội dung chính của đề tài đề cập đến lĩnh vực vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy ở Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn Đề tài nhận định những nguyên nhân dẫn tới hạn chế và tìm
ra giải pháp khắc phục và có kiến nghị để ngày càng nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý, giảng dạy tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
7 Kết cấu đề tài:
Kết cấu của đề tài bao gồm 2 chương chính:
Ngoài phần mở đầu; xác định lý do chọn đề tài, cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn, mục đích, phạm vi và thực trạng nghiên cứu đề tài, sự cần thiết thực hiện đề tài, những điểm mới của để tài và một số phương pháp nghiên cứu đề tài, đề tài khai thác làm rõ các nội dung chính sau đây:
Chương 1; Đề tài tìm hiểu một số quan niệm về pháp luật, Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật và đạo đức, tầm quan trọng của pháp luật
Trang 13trong đời sống xã hội So sánh một số điểm giống nhau và khác nhau giữa
pháp luật và đạo đức
Chương 2; Đề tài xác định thực trạng và một số giải pháp về việc vận dụng mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức vào nhiệm vụ giảng dạy môn Pháp luật học và môn Đạo đức học tại trường Cao đẳng cộng đồng Bắc Kạn theo chương trình đổi mới và có đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục môn Pháp luật học và môn Đạo đức học Trường Cao đẳng Cộng đồng Bắc Kạn
Cuối cùng rút ra kết luận các nội dung chính để thấy được tính thực
tế, hữu ích của đề tài
Trang 14Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
VÀ ĐẠO ĐỨC 1.1 Một số quan niệm cơ bản về Pháp luật và Đạo đức
1.1.1 Một số quan niện về pháp luật
Có nhiều quan niệm pháp luật khác nhau đã tồn tại trong lịch sử phát triển của nhân loại, nỗi quan niện đều có những lý do riêng giải thích cho sự hình thành tồn tại và phát triển của pháp luật một cách khác nhau; ví dụ như:
Theo trường phái "ý tưởng" các nhà làm luật quan niệm pháp luật điều chỉnh hành vi con người thoát ly khỏi hiện thực
Quan niệm của thiên chúa giáo coi pháp luật là những lời răn dạy của chúa trong kinh thánh được nhà nước thể chế hóa thành luật
Thuyết duy danh cho rằng pháp luật xuất phát từ ý chí con người vì chúa đã để con người tự do sinh ra các luật lệ Trường phái "pháp luật tự nhiên" quan niệm pháp luật vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính duy lý, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng đều có quy luật tự nhiên, khách quan không phụ thuộc vào nhà làm luật nào cả đặc biệt là lẽ phải và sự hợp lý phải được coi là nguyên tắc của mọi người và các nhà làm luật phải cụ thể hóa các nguyên tắc đó thành pháp luật Pháp luật chỉ có thể tồn tại khi hợp với quá trình tự nhiên đang diễn ra trong xã hội
Trường phái "Pháp luật thực định" cho rằng pháp luật phải phù hợp với hiện thực, phù hợp với quy tắc nhà nước ban hành ít liên hệ với pháp luật tự nhiên quan điểm này nghiêng về quyền lực nhà nước trong việc xây dựng, ban hành pháp luật
Quan điểm của "Thuyết vị lợi " cho rằng mục đích của pháp luật là lợi ích, lợi ích vừa là nền tảng, vừa là giá trị pháp luật Cốt lõi trong giá trị pháp luật là tìm được tỷ lệ lợi ích chung và lợi ích cá nhân Quan điểm này đã
Trang 15nhìn nhận được yếu tố lợi ích chứa đựng trong pháp luật, nhưng lại chưa thấy rõ ngoài yếu tố lợi ích pháp luật còn bị tác động bởi nhiều yếu tố xã hội khác nữa
Thuyết tương đối của Montesquieu luận giải theo công thức luật xuất phát từ bản chất sự vật, hiện tượng hoàn toàn mang tính tương đối vì vậy việc nhìn nhận pháp luật cũng như các sự việc diễn ra trong xã hội như bản thân chúng đang tồn tại khách quan và tìm ra cách xử lý vấn đề sao cho hợp
xử, nhưng dễ dẫn tới sự tùy tiện trong công tác xét xử nên theo một số ý kiến
là quan điểm này chỉ phù hợp với một số ngành luật như luật dân sự, luật kinh tế, luật lao động, mà không phù hợp với việc vận dụng vào xét xử các
vụ việc trong lĩnh vực hình sự, hành chính…
Học thuyết Mác - Lê Nin cho rằng pháp luật có tính giai cấp và tính
xã hội, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội là cội nguồn của pháp luật Trên cơ
sở học thuyết Mác - Lê Nin một số định nghĩa về pháp luật đã được các nhà nghiên cứu đưa ra, cụ thể như:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các yêu cầu về lợi ích
xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định vì sự phát triển bền vững của xã hội [26, tr 228]
Trang 16Theo như định nghĩa trên thì pháp luật không những thể hiện ý chí của giai cấp thống trị mà còn ghi nhận các nhu cầu về lợi ích xã hội và vì sự ổn định và phát triển của xã hội Như vậy rõ ràng pháp luật vừa mang bản chất giai cấp vừa mang bản chất xã hội
Dựa trên quan điểm Mác – Lê Nin về pháp luật, quan điểm về pháp luật xã hội chủ nghĩa được định nghĩa như sau:
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, dưới
sự lãnh đạo của đảng, do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước trên
cơ sở giáo dục và thuyết phục mọi người tôn trọng và thực hiện.[26, tr 337]
Theo như các định nghĩa trên, thì pháp luật đều do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nó có hai thuộc tính đó là tính giai cấp và tính xã hội Khi các quy phạm đạo đức hoặc quy phạm xã hội được nâng lên thành pháp luật thì sẽ được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế thông qua các cơ quan có chức năng của nhà nước
1.1.2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ của pháp luật
Bản chất của pháp luật:
Ngay từ buổi đầu, để xã hội có trật tự, phải có sự điều chỉnh nhất định đối với các mối quan hệ của con người; trong bất kỳ xã hội nào cũng có sự điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạm xã hội Khi chưa có nhà nước các quy tắc điều chỉnh là tập quán, đạo đức, tín điều, tôn giáo…
Do kinh tế phát triển, mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, quá trình đấu tranh giai cấp diễn ra mạnh mẽ đến mức khốc liệt dẫn tới sự ra đời của nhà nước đồng thời xuất hiện một loại quy tắc mới do nhà nước ban hành đó là pháp luật Pháp luật được hình thành cùng với nhà nước trong
Trang 17quá trình đấu tranh giai cấp một mặt giai cấp thống trị thông qua bộ máy nhà nước cải tạo, sửa chữa các quy tắc phong tục tập quán, đạo đức có sẵn phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị đưa lên thành luật Mặt khác thông qua
bộ máy nhà nước của mình giai cấp thống trị đặt ra các quy phạm pháp luật mới, dùng quyền lực nhà nước buộc mọi thành viên trong xã hội phải tuân theo nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và duy trì xã hội trong vòng trật tự chung
Bản chất pháp là một thể thống nhất bao gồm hai mặt - hai phương diện cơ bản: đó là phương diện giai cấp và phương diện xã hội hay còn được gọi là tính giai cấp và tính xã hội
Bản chất giai cấp của pháp luật thể hiện ở chỗ ý chí của giai cấp thống trị được thể chế hóa thành pháp luật và được bảo đảm được thực hiện bằng nhà nước Nội dung ý chí do điều kiện tồn tại xã hội của giai cấp thống trị quyết định C Mác và Ph Ăngghen đã viết:
"Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định".[12, tr 262]
Bản chất giai cấp được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật, ví dụ như
ở nước ta Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành là căn cứ pháp lý trực tiếp, duy nhất để các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án áp dụng trong thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề trách nhiệm hình sự như định tội danh, quyết định hình phạt, miễn trách nhiệm hình sự…đối với hành vi bị nhà nước coi
là tội phạm Bộ luật hình sự thật sự là một công cụ quyền uy thể hiện bản chất giai cấp thống trị, trong một số trường hợp, người phạm tội có thể bị tước đi cả mạng sống
Pháp luật không chỉ phản ánh tính giai cấp mà còn thể hiện thông qua tính xã hội của pháp luật Trong trường hợp lợi ích của giai cấp thống trị về
Trang 18cơ bản phù hợp với lợi ích dân tộc và lợi ích của các giai cấp khác thì pháp luật sẽ phản ánh được lợi ích chung được số đông chấp nhận và những quy phạm pháp luật này trở thành khuôn mẫu, chuẩn mực hành vi Giá trị xã hội pháp luật còn thể hiện ở chỗ quy phạm pháp luật vừa là công cụ kiểm nghiệm các quá trình, các hiện tượng xã hội, vừa là công cụ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, trật tự hóa các quan hệ xã hội theo đúng hướng vận động phát triển phù hợp với quy luật nội tại của đời sống xã hội; ví dụ như: Trong
bộ luật dân sự quy định các quy tắc ứng xử bảo đảm hài hòa lợi ích giữa cá nhân và xã hội, đã có những quy định như khi đào giếng, đào ao hoặc xây dưng công trình ngầm dưới mặt đất chủ sở hữu công trình phải đào ao, xây cách mốc giới một khoảng do pháp luật xây dựng quy định Trong trường hợp công trình có nguy cơ đe dọa sự an toàn của bất động sản liền kề và xung quanh thì chủ công trình phải thực hiện ngay các biện pháp khắc phục, nếu gây thiệt hại cho chủ sở hữu bất động sản liền kề hoặc xung quanh thì phải bồi thường Những quy định như vậy nhằm bảo đảm hành lang pháp lý điều hòa lợi ích giữa các chủ thể khác nhau trong xã hội, vì sự phát triển chung của cộng đồng Tính xã hội được thẩm thấu vào pháp luật khi lợi ích của giai cấp thống trị về cơ bản phù hợp với lợi ích của dân tộc và lợi ích của các giai cấp khác trong xã hội
Xu hướng dân chủ hóa xã hội, xuất hiện những đòi hỏi về nhân quyền, các quyền tự do, công bằng, hài hòa lợi ích luôn luôn là động lực thúc đẩy sự tiến bộ xã hội, là động lực thúc đẩy việc giải quyết hài hòa một cách tối ưu nhất lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng xã hội Chúng ta hiểu:
Các quy phạm pháp luật là kết quả tuyển chọn lâu dài trong thực tiễn xã hội Bản thân các quy phạm pháp luật cũng mang tính quy luật Những cách xử sự hợp lý, khách quan được trải nghiệm trong cuộc sống, chuyển giao qua nhiều thế hệ rất nhiều trong số đó
Trang 19có cội rễ từ trong xã hội tiền giai cấp được nhà nước tuyển chọn, đưa thêm các quan điểm, lợi ích của mình thông qua những thủ tục, hình thức pháp lý nhất định nâng lên thành luật.[26, tr 278 - 279]
Bản chất xã hội còn thể hiện pháp luật có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội khác như quy phạm đạo đức, quy tắc xử sự của tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng phản ánh lợi ích cơ bản, lâu dài của họ bởi vậy một mặt pháp luật tác động mạnh mẽ tới đạo đức, mặt khác pháp luật cũng
bị ảnh hưởng của đạo đức
Tập quán và các quy phạm xã hội khác cũng có tác động qua lại với pháp luật cho nên để phát huy vai trò của pháp luật thì cần xem xét đến mối quan hệ của pháp luật với tập quán và các quy phạm xã hội khác Để pháp luật thể hiện đúng bản chất của mình đồng thời phù hợp với điều kiện kinh
tế xã hội cần xem xét mối quan hệ pháp luật với nhiều yếu tố khác mới hiểu
rõ bản chất pháp luật
Chức năng của pháp luật:
Chức năng điều chỉnh: Nhà nước ban hành pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định, một mặt nhà nước ghi nhận những quan hệ xã hội cơ bản và phổ biến trong xã hội, mặt khác nhà nước quy định bảo đảm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó phát triển theo hướng phù hợp với lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội Bằng các quy định như khuyến khích, cho phép, ngăn cấm, pháp luật đã tạo hành lang pháp lý, xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội điều chỉnh họ đi vào nề nếp, trật tự theo khuôn khổ quy định của pháp luật Ví dụ như: Quy định về phạm vi điều chỉnh của Bộ luật dân sự là quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quy định quyền, nghĩa vụ các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các
Trang 20quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình và một số quan hệ khác như quan hệ thương mại, hợp đồng lao động, thừa kế…
Chức năng bảo vệ; Pháp luật bảo vệ các quan hệ xã hội cơ bản phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị và một số quan hệ xã hội khác Khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra sẽ bị nhà nước dùng biện pháp cưỡng chế quy định tại chế tài của quy phạm pháp luật tương ứng nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội tránh khỏi bị bị xâm hại Bằng các quy định của mình pháp luật tạo ra hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội vận động và phát triển trong vòng trật tự Khi lợi ích cơ bản của giai cấp phù hợp với lợi ích của xã hội, lợi ích của dân tộc thì pháp luật sẽ trở thành công cụ đắc lực để bảo vệ lợi ích phổ biến của cả cộng đồng xã hội
Chức năng giáo dục: Trong thực tế pháp luật thực hiện chức năng giáo dục không chỉ thông qua công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật mà còn thông qua sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của pháp luật vào các vụ việc
cụ thể, thông qua đó pháp luật đi vào ý thức con người, từng bước hình thành ý thức pháp luật, hình thành hành động phù hợp với quy định của pháp luật đã ban hành Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật góp phần thực hiện tốt hơn chức năng này
Nhiệm vụ của pháp luật:
Pháp luật có nhiệm vụ chủ yếu là bảo vệ lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền trong xã hội, điều hòa các quan hệ lợi ích khác nhau trong xã hội
để giảm bớt mâu thuẫn về lợi ích, tạo ra môi trường ổn định cho sự phát triển và điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng nhất định
1.1.3 Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội
Vai trò của pháp luật đối với nhân dân:
Pháp luật tiến bộ ghi nhận một cách chính thức các giá trị và lợi ích
mà nhà nước và các chủ thể cùng hướng tới, nhờ đó các thành viên trong xã
Trang 21hội bằng phương tiện pháp luật có điều kiện hơn trong việc bảo vệ các quyền
tự do, dân chủ và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chống lại các hiện tượng tiêu cực trong xã hội Nhân dân có thể sử dụng pháp luật làm công cụ hữu hiệu nhất bảo đảm cho các quyền tự do, dân chủ, các quyền, lợi ích thiết thực, hợp pháp sẽ bảo đảm được thực hiện
Vai trò của pháp luật đối với hệ thống chính trị:
Pháp luật là phương tiện để kiểm chứng tính đúng đắn đường lối, chính sách của đảng cầm quyền trên thực tế, pháp luật đồng thời là công cụ hữu hiệu, đắc lực nhất để quản lý về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Đối với các tổ chức chính trị xã hội, đoàn thể quần chúng pháp luật pháp luật là phương tiện cho các tổ chức đó hoạt động, pháp luật tạo nên hành pháp lý trong quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các cơ quan nhà nước, đồng thời pháp luật tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước và hoạt động xây dựng, quản lý nhà nước xác định nhiều quyền về chính trị như quyền bầu cử, ứng cử và các cơ quan quản lý nhà nước
Pháp luật là phương tiện cho mặt trận tổ quốc và các thành viên của Mặt trận tổ quốc tham gia vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, là công cụ pháp lý của các tổ chức chính trị xã hội để xác định mối quan
hệ giữa các tổ chức chính trị xã hội với nhà nước và công dân
Vai trò của pháp luật trong việc ghi nhận, bảo vệ và định hướng cho việc phát triển kinh tế:
Pháp luật tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế, xã hội Pháp luật tiến bộ là người đồng minh tự nhiên của nền sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế được công nhận và đồng thời cũng là đồng minh tự nhiên của bảo vệ quyền lợi chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại áp bức, bất công xây dựng xã hội mới
Trang 22Pháp luật là một trong những nền tảng quan trọng đưa các quan hệ xã hội hướng tới công bằng, dân chủ, văn minh, khơi dậy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân, giải phóng sức sản xuất để phát triển nền kinh tế thị trường theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy hơn nữa quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trước hết pháp luật ghi nhận về mặt pháp lý cho các quan hệ kinh tế phản ánh và định hướng cho trật tự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, xác định giá trị đích thực của nền kinh
tế, đồng thời là hành lang pháp lý để cho các doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ bình đẳng chống lại việc hành xử ngẫu nhiên, tùy tiện, ngăn ngừa rối loạn, khủng hoảng kinh tế Pháp luật thể chế hóa các quan hệ hàng hóa, tiền tệ, lợi ích giữa các thành phần kinh tế khác nhau trong xã hội, các quan
hệ liên quan đến việc quản lý, điều hành kinh tế đất nước giữ gìn sự bảo đảm cho các quan hệ này ổn định và phát triển
Vai trò của pháp luật đối với xã hội:
Pháp luật ghi nhận, thể chế hóa các quyền tự do, dân chủ và lợi ích cơ bản của công dân mặt khác ghi nhận những giá trị văn hóa tốt đẹp mà con người hướng tới nhờ đó các quan hệ xã hội được bảo đảm thực hiện ngày càng tốt hơn Pháp luật còn là công cụ hữu hiệu bảo đảm sự an toàn tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm, tự do và công bằng của công dân, nhờ có pháp luật mà công dân có điều kiện hơn trong việc tự bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp cho mình một cách tốt nhất
Vai trò của pháp luật đối với đạo đức:
Các quy phạm pháp luật thực sự trở thành chỗ dựa tin cậy, đắc lực cho việc hình thành các chẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa Các nguyên tắc cơ bản nhất của đạo đức phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội thường được thể chế hóa thành pháp luật, giữa một số chuẩn mực đạo đức xã hội
Trang 23chủ nghĩa và pháp luật xã hội chủ nghĩa có sự đan xen về nội dung, nhiều quy phạm đạo đức tồn tại có tác dụng thúc đẩy việc thực hiện pháp luật do vậy pháp luật xã hội chủ nghĩa luôn luôn có khuynh hướng bảo vệ các quan
hệ đạo đức tiến bộ, bảo vệ sự tự do, dân chủ, công bằng, nhân đạo
Vai trò của pháp luật đối với tư tưởng:
Pháp luật là công cụ đắc lực để chuyển tải hệ tư tưởng nhất định, là phương tiện quản lý khoa học về thế giới quan của giai cấp cầm quyền
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là phương tiện để chuyển tải tải thế giới quan khoa học của chủ nghĩa Mác Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh và các giá trị tiến bộ của nhân loại, vì vậy pháp luật là công cụ chủ yếu để định hướng hệ tư tưởng trong một xã hội nhất định
1.2 Quan niện về đạo đức
1.2.1 Một số quan niệm chủ yếu về đạo đức
Từ buổi đầu sơ khai con người phải quan hệ với nhau để sinh tồn và phát triển, mối quan hệ đó ngày càng trở nên phức tạp, đa dạng, phong phú đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cho mình cách ứng xử điều chỉnh hành vi thái độ của mình cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của xã hội, của cộng đồng Đối với những trường hợp ứng xử đúng đắn, biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích cộng đồng của con người được coi
là có đạo đức, và ngược lại những cá nhân ứng xử không đúng đắn không biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội thì bị coi
là người không có đạo đức
Các hiện tượng xã hội phản ánh mối quan hệ đạo đức không phải có cội nguồn xa lạ mà bắt nguồn từ chính hành vi cuộc sống con người, đạo đức góp phần làm cho họ nhận thức được ý nghĩa của cuộc sống trong quá khứ, hiện tại và tương lai, cho phép xác định mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng giới hạn trong vòng trật tự chung của cộng
Trang 24đồng, của dân tộc, tạo nên nét đặc sắc văn hóa của cộng đồng, dân tộc Sự phát triển của đạo đức nhân loại là cả một quá trình từ thấp đến cao trên cơ
sở sự phát triển sản xuất, quá trình đấu tranh, gạn lọc, kế thừa phát triển theo các nấc thang giá trị nền văn minh nhân loại
Có rất nhiều quan niệm đạo đức khác nhau đã từng tồn tại trong lịch
sử của nhân loại, ví dụ như:
Khổng Tử coi trọng chữ "nhân” nghĩa, lễ, trí, tín, trong đó lấy "nhân" làm gốc mong mỏi xây dựng xã hội tốt đẹp hơn đó là quan điểm tiến bộ, nhưng quan niệm này chưa đầy đủ vì chỉ thiên dạy cách làm người để phục
vụ mục đích chính trị của chế độ xã hội đương thời, chưa chú ý đẩy mạnh phát triển sản xuất, xây dựng xã hội nên chưa thể xây dựng được những quy chuẩn đạo đức thật sự tốt đẹp, mạnh mẽ để thúc đẩy sự phát triển xã hội
Max Weber chỉ ra rằng những giáo hội kháng cách ủng hộ việc tìm kiếm các lợi ích kinh tế cách thuần lý, các hoạt động trần thế được xem là có
ý nghĩa tích cực về đạo đức, theo quan điểm này mỗi người đề có bổn phận tôn giáo theo đuổi nghề nghiệp với lòng nhiệt tình cao nhất, điều này tạo cho
xã hội phát triển Học thuyết này khuyến khích việc sử dụng số tiền kiếm được cho tái đầu tư kiếm ra lợi nhuận tạo đà cho xã hội ngày càng phát triển Quan điểm này đã góp phần thúc đẩy lao động sản xuất làm ra của cải vật chất, góp phần giúp cho xã hội phát triển hơn
Chủ nghĩa hiện sinh, đề cao giá trị cá nhân, đề cao giá trị con người,
và ở một mức độ nhất định quan điểm này mang tính nhân đạo, vì nó coi trọng nguồn lực con người, coi con người là đối tượng nghiên cứu, là chủ thể xã hội
Chủ nghĩa thực dụng lấy hữu dụng và vô dụng làm tiêu chuẩn để phân biệt chân lý với sai lầm, chủ nghĩa này tuy dẫn dắt con người đi đến lối sống thực dụng, hưởng lạc, nhưng cũng có nhiều điểm tích cực, như dẫn dắt con
Trang 25người làm những việc thực tế, hữu ích có hiệu quả cao, thỏa mãn mục đích
mà họ lựa chọn vì vậy ở mức độ nhất định họ cũng giúp cho xã hội phát triển nhanh chóng nhưng dễ dẫn đến sự phát triển lệch lạc
Thực tế, con người vẫn luôn luôn mong muốn xây dựng xã hội hạnh phúc, xã hội tự do phát triển mà ở đó cái đẹp và đạo đức ngự trị, con người
có cuộc sống lành mạnh cả về thể chất, tinh thần, một xã hội "hạnh phúc như trời định", một xã hội hùng mạnh giàu có xuất phát từ lợi ích cá nhân không mâu thuẫn với lợi ích tập thể…Mặc dù có nhiều quan điểm đạo đức khác nhau giữa phương Tây và phương Đông nhưng tựu trung lại đạo đức đều xây dựng những chuẩn mực trong ứng xử giữa con người với con người, con người với xã hội thông qua việc giải quyết hài hòa lợi ích và sự nỗ lực của
cá nhân nhằm vươn lên trong cuộc sống
C Mác coi đạo đức và hạnh phúc phải là quá trình đấu tranh không ngừng để cải tạo tự nhiên và xã hội Đạo đức phản ánh mối quan hệ bắt nguồn từ chính bản thân con người, trong cuộc sống đòi hỏi mỗi con người phải ý thức được hành động của chính bản thân mình trong quá khứ, hiện tại
và tương lai, quan hệ giữa cá nhân và cá nhân, cá nhân và xã hội trong vòng trật tự chung của cộng đồng dân tộc Xuật phát từ tư tưởng của C Mác có rất nhiều quan điểm đạo đức được nhiều người thừa nhận rộng rãi như:
Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực của xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành
vi của mình cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc của con người và tiến bộ xã hội, trong quan hệ giữa con người với con người, con người với cộng đồng
xã hội
Đạo đức là toàn bộ những quy tắc, chuẩn mực, nhằm điều chỉnh đánh giá cách ứng xử của con người với nhau, trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên
Trang 26Ở nước ta tư tưởng đạo đức lớn được hình thành phát triển thịnh hành trong xã hội hiện nay là tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Bác Hồ rất tôn trọng sự giản dị, khiêm tốn vĩ đại, coi khinh sự xa hoa,
có tinh thần yêu lao động trong sáng cao đẹp của Mác - Ăngghen và Lê Nin
Kế thừa phát triển những quan điểm quý báu đó và một số quan điểm tiến bộ của nho giáo Bác Hồ đã đưa ra những nội dung về đạo đức như trung, hiếu, cần kiệm, liêm chính, trí công vô tư… và kế thừa những tư tưởng từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại Bác Hồ đưa ra những khái niệm như bình đẳng, bác ái… đồng thời bổ sung thêm những giá trị xã hội nhân văn của truyền thống dân tộc yêu nước thương nòi nâng quan niệm đạo đức lên một tầm cao mới
Kết hợp đạo đức truyền thống với hiện đại đã được đông đảo những người nước ngoài chấp nhận tìm thấy một Việt Nam trong nhân loại cũng như nhân loại trong Việt nam đó là một đặc trưng nổi bật của đạo đức Hồ Chí Minh [28, tr 336]
Hồ chí Minh đã xây dưng nên phẩm chất đạo đức cách mạng cao quý Người coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng cũng như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, suối Đặc biệt là Đảng viên phải có đạo đức cách mạng "Đảng là đạo đức là văn minh" mới hoàn thành sứ mệnh lịch sử vẻ vang của mình Đạo đức Hồ chí minh bao trùm rất rộng đối với mọi đối tượng như công nhân, nông dân, trí thức, các cụ phụ lão, các cháu nhi đồng đồng bào tôn giáo dân tộc, cán bộ… bao trùm trên mọi lĩnh vực hoạt động, học tập lao động, chiến đấu, đời tư, công tác quản lý lãnh đạo, trên mọi phạm vi cá nhân, gia đình, cộng đồng, trong nước và quốc tế trong cả ba mối quan hệ đối với mình, với người, với việc Tại bài báo nhân dịp kỷ niệm lần thứ 39 ngày thành lập Đảng (03-02 -1969) Hồ Chí Minh tập trung vào vấn đề đạo đức của cán bộ, đảng viên với tiêu đề là "Nâng cao đạo đức cách
Trang 27mạng, quyét sạch chủ nghĩa cá nhân" Người đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, trí công
vô tư Đảng phải là đạo đức là văn minh thật sự mới có thể lãnh đạo được dân tộc Qua phân tích ở trên có thể hiểu đạo đức như sau:
Đạo đức là hệ thống những quy tắc chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng
xã hội và tự nhiên và với cả bản thân mình [2, tr 4]
Việc xác định hành vi đạo đức phải thông qua việc xác định hành vi ứng xử cụ thể của cá nhân biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, xã hội và cộng đồng chứ không chỉ nằm trong lĩnh vực tư tưởng
Như đã phân tích ở trên đạo đức được hình thành phát triển cùng với
sự hình thành và phát triển của nhân loại thông qua quá trình đấu tranh gạn lọc kế thừa hình thành giá trị mới làm cho đạo đức ngày càng phong phú, hoàn thiện hơn
1.2.2 Bản chất, chức năng, nhiệm vụ đạo đức:
Bản chất đạo đức:
Đạo đức vốn là một hiện tượng xã hội phản ánh hiện thực bắt nguồn
từ chính bản thân cuộc sống con người, từ quan hệ giữa cá nhân với cá nhân,
cá nhân với cộng đồng trong việc lựa chọn hành vi ứng xử sao cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người, lợi ích của cộng đồng xã hội Nếu hành vi ứng xử của cá nhân được mọi người trong tập thể, cộng đồng tán thành hưởng ứng thì hành vi đó được coi là hành vi có đạo đức Ngược lại nếu hành vi của cá nhân chỉ nghĩ đến lợi ích riêng tư, làm phương hại tới lợi ích của người khác hoặc lợi ích của cộng đồng thì sẽ bị tập thể, xã hội chê trách, phê phán thì cá nhân đó đương nhiên bị coi là người thiếu đạo đức
Như vậy xét về bản chất, đạo đức quy định các quy tắc xử sự tốt để giải quyết các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng,
Trang 28dân tộc nhằm bảo vệ lợi ích cho tất cả các thành viên trong xã hội, vì sự phát triển chung của mọi người trong xã hội Bản chất hành vi đạo đức là hành vi tốt, tự nguyện xuất phát từ nội tâm, động cơ bên trong mang tính tích cực của mỗi con người, không mang tính bắt buộc cưỡng chế từ lực lượng bên ngoài như pháp luật
Đạo đức tuy không có chế tài bắt buộc phải thực hiện, nhưng bằng dư luận xã hội, khen, chê, bằng phong tục tập quán, truyền thống để điều chỉnh hành vi con người nên đạo đức có vai trò to lớn trong giúp cho con người gìn giữ, phát triển các mối quan hệ xã hội và bảo vệ cuộc sống tốt đẹp hơn, nhân văn hơn
Chức năng của đạo đức:
Chức năng định hướng giáo dục: Đạo đức của các nước phương Đông chịu ảnh hưởng nặng nề các quan niệm Phật giáo, Nho giáo, nhân sinh
về đạo đức các quan niệm đó có nhiều yếu tố tích cực đặc biệt là giáo dục nhân dân lòng thương người "từ bi hỉ xả" định hướng cho con người làm việc thiện Tuy nhiên trong xã hội hiện nay một số quan điểm đã không còn phù hợp nữa mà tùy theo từng thời kỳ việc thực hiện chức năng giáo dục các quan niệm về việc đạo đức có những điều chỉnh, thay đổi nhất định, ví dụ thời kỳ phong kiến có quan điểm trung vua yêu nước, còn hiếu chỉ được quan niệm trong phạm vi hẹp là hiếu với gia đình, cha, mẹ thì ngày nay ngoài việc kế thừa những giá trị truyền thống đó còn mở rộng thêm tạo nên quan điểm trung với nước, hiếu với dân, đạo đức còn giáo dục lòng yêu thương con người, yêu thương đồng loại giúp giáo dục đồng loại phát triển lên tầm cao mới Người có đạo đức cần thực hiện những việc như làm từ thiện, thương người, thương yêu đồng loại và phải có hành động cụ thể thiết thực giúp họ phát triển kinh tế xã hội, nâng cao điều kiện kinh tế, văn hóa và khả năng tự cạnh tranh phát triển giữ lại những gì tốt đẹp đồng thời loại bỏ
Trang 29những yếu tố lạc hậu để xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn, tốt đẹp hơn, văn minh hơn Thực tế cho thấy tư tưởng đạo đức có tác dụng giáo dục
ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng rất lớn, bản thân con người nếu sinh ra
và lớn lên ở các môi trường xã hội khác nhau cũng có tư tưởng khác nhau trong việc ứng xử trước những tình huống nhất định, cách ứng xử của mỗi con người phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, phong tục, tập quán, lối sống và nhiều yếu tố khác
Muốn hành vi của bản thân mình được mọi người chấp nhận không bị
dư luận xã hội lên án thì họ phải nắn được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, từ đó mới có khả năng lựa chọn cho mình hành vi phù hợp và đánh giá đúng các hiện tượng xã hội thì đòi hỏi phải có kiến thức đạo đức nói chung quá trình hình thành trí thức đạo đức ở mỗi con người thông qua giáo dục ở nhiều môi trường khác nhau, gia đình, nhà trường và xã hội Quá trình đó được hình thành dần dần trong suốt cuộc đời, giáo dục và tự ý thức việc giáo dục đóng vai trò quan trọng để hình thành nhân cách đạo đức và tài năng Vì vậy việc thuờng xuyên giáo dục đạo đức cách mạng xây dưng nếp sống lành mạnh là rất quan trọng
Chức năng điều chỉnh hành vi: Đạo đức là công cụ hữu hiệu để điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với nhau, quan hệ con người với cộng đồng và môi trường tự nhiên Tuy đạo đức không có chế tài bắt buộc mọi người phải tuân thủ như pháp luật, nhưng đạo đức điều chỉnh hành vi con người bằng phong tục, tập quán, lối sống, dư luận xã hội đã đi sâu và trong tiềm thức của mọi người dân và điều chỉnh hành vi của họ và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của họ
Nhiệm vụ của đạo đức:
Đạo đức có nhiệm vụ vạch ra những yêu cầu, chuẩn mực tốt đẹp trong hành vi ứng xử của con người đối với nhau và con người đối với xã hội
Trang 30Các quan hệ xã hội rất phong phú và đa dạng, nhưng bất kì quan hệ xã hội nào cũng ít nhiều bị yếu tố đạo đức chi phối, điều chỉnh vì phẩm chất đạo đức đều tồn tại trong mỗi con người cụ thể dù ít hay nhiều, quan hệ xã hội cũng do con người xây dựng nên, thành tố đạo đức trong mối quan hệ đặc thù được xác định rất rõ nét chẳng hạn người ta nói đạo đức trong y tế (y đức), đạo đức trong giáo dục, đạo đức trong văn hóa, nghệ thuật, đạo đức trong kinh doanh… mỗi lĩnh vực, mối ngành nghề đều có tiêu chí đạo đức của riêng mình Trong nền kinh tế thị trường, còn tồn tại việc xem nhẹ đạo đức ở nơi này, nơi khác do ảnh hưởng kinh tế và lối sống thực dụng là khó tránh khỏi, bởi vậy việc tăng cường giáo dục đạo đức là vô cùng cần thiết và cấp bách để xây dựng xã hội mới
Đạo đức phê phán chống lại các thói hư tật xấu, tiêu cực lạc hậu, bằng dư luận xã hội, khen, chê, phong tục tập quán, lối sống tình cảm, sự xa lánh hoặc gần gũi của cộng đồng, làng xã, dư luận xấu, tốt… đạo đức đã góp phần chống lại những hành vi tiêu cực đi ngược lại với lợi ích của con người, lợi ích của cộng đồng và lợi ích của xã hội
Đạo đức góp phần định hướng hình thành nhân cách Đạo đức là hình thái ý thức xã hội chi phối mạnh mẽ việc hình thành nhâm cách, có thể nói đạo đức là khoa học về triết lý nhân sinh có rất nhiều những khái niệm phạm trù nghiên cứu riêng phong phú, sâu sắc, các chuẩn mực đạo đức tốt đẹp góp phần tích cực vào việc hình thành, giáo dục nhân cách con người ở mọi nơi, mọi lúc
Đạo đức góp phần cải tạo xã hội cũ xây dựng xã hội mới, cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ đạo đức đưa con người vươn tới những giá trị văn minh, nhân loại Nếu xã hội chỉ tồn tại hoa học kỹ thuật, công nghệ mà không có đạo đức thì con người sẽ trở nên tàn bạo, nếu xã hội chỉ tồn tại đạo đức mà thiếu đi khoa học, kỹ thuật, công nghệ thì con người sẽ
Trang 31trở nên ngu muội Như vậy phát triển đạo đức phải gắn liền với phát triển khoa học kỹ thuật, công nghệ để phát triển kinh tế xã hội, đạo đức phải là yếu tố tích cực thúc đẩy sự tìm tòi ra chân lý khoa học định hướng cho con người sử dụng chân lý khoa học mang lại lợi ích cho con người
1.2.3 Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội Các quy tắc, chuẩn mực đạo đức phản ánh quan hệ hành vi cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng thông qua việc điều hòa lợi ích nhất định, song về bản chất hành vi đạo đức không nhằm mục đích lợi ích mà là hành vi tự nguyện, tương thân, tương ái vì các cá nhân trong cộng đồng, vì sự phát triển chung của cộng đồng, dân tộc, bởi vậy thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức chính
là thực hiện trách nhiệm của cá nhân đối với chính cộng đồng dân tộc và giúp con người tự hoàn thiện nhân cách của chính mình
Đạo đức góp phần tạo ra con người có được hành động xuất phát từ động cơ trong sáng, xuất phát từ tấm lòng nhân ái, biết mình, biết người ứng
xử công bằng, bình đẳng, khách quan, trung thực, tế nhị, văn minh, giúp cho
xã hội ngày càng tốt đẹp hơn
Đạo đức giúp cho con người sống có lý tưởng cao đẹp, tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lý, kiên nhẫn vì mọi người có thể bản thân sẽ bị thiệt hại mất mát nhưng mang lại lợi ích cho người khác, bảo vệ lợi ích chung, bảo vệ chân lý thì cần bền chí, kiên định thực hiện mục tiêu cao cả, chính vì thế nên đạo đức có sức mạnh giúp cho con người nỗ lực vượt qua khó khăn trở ngại vươn tới cái thiện, cái chính nghĩa và chân lý
Tư tưởng đạo đức có ảnh hưởng mạnh mẽ tới mọi hình thái ý thức xã hội khác nhau và có tầm quan trọng đặc biệt, thể hiện ở chỗ:
Đạo đức tác động mạnh mẽ tới chính trị, những chính sách, nghị quyết, đường lối, chủ trương của đảng và nhà nước phải dựa trên cơ sở căn
Trang 32cứ vào cái thiện của thực tế xã hội đó là cơ sở đưa ra chuẩn mực hành vi của
lý luận và hành động Ở góc độ nhất định tư tưởng chính trị cần điều chỉnh thay đổi cho phù hợp với nhu cầu đạo đức tiến bộ, phù hợp với tâm lý, truyền thống của cộng đồng dân tộc Hệ tư tưởng chính trị và nhà nước thay đổi nhanh chóng theo từng giai đoạn lịch sử, mà đạo đức thì tồn tại bền bỉ, lâu dài thậm chí khi phương thức sản xuất đã thay đổi nên việc đạo đức tác động tới chính trị là điều không thể tránh khỏi
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tư tưởng chính trị và nội dung đạo đức
có mối liên hệ thống nhất chặt chẽ vì lợi ích chung của cả dân tộc Song giữa
cá nhân có thể xảy ra sự khhông hòa hợp giữa giá trị đạo đức và giá trị chính trị [2, tr 13]
Đạo đức có tầm quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật
vì đạo đức và pháp luật đều có nhiệm vụ điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người, đều nhằm mục đích chung, điều chỉnh hành vi ứng xử của cá nhân trong xã hội trong vòng trật tự, tuy nhiên, việc điều chỉnh được tiến hành bằng con đường khác nhau, nhưng như đã nói ở trên, xét về bản chất đạo đức đã có sức mạnh rất lớn trong đời sống của nhân dân nên pháp luật cần căn cứ trên nền tảng đạo đức xã hội thì mới dễ dàng đi vào cuộc sống một cách thuận lợi Đúng câu nói: " Pháp luật là đạo đức tối thiểu, đạo đức
là pháp luật tối đa" yêu cầu tối thiểu của pháp luật chung quy lại là không được làm hại ai cả, phải tránh điều ác Yêu cầu tối đa của đạo đức cũng chung quy lại là phải giúp đỡ mọi người làm điều thiện Các quan điểm đạo đức đã tồn tại qua nhiều thế hệ, được đông đảo mọi người thừa nhận là cơ sở
để nhà nước xem xét thừa nhận, hoặc mặc nhiên được thừa nhận trong xã hội
Đạo đức có vai trò quan trọng trong việc phát triển khoa học, thúc đẩy việc tìm tòi chân lý khoa học để phục vụ thực tiễn cuộc sống xã hội, mặc dù
Trang 33khoa học là khách quan nhưng con người sử dụng các phát minh khoa học theo động cơ nào lại là vấn đề của đạo đức Đúng như quan điểm của Rabơle Nếu khoa học mà không có lương tâm chỉ là sự phá hoại tâm hồn
Trong thời đại ngày nay đạo đức vẫn có vai trò quan trọng trong nhiều mặt của đời sống xã hội ở tất cả các quốc gia, các dân tộc, tuy nhiên cần nghiên cứu kỹ quan niệm đạo đức của mỗi quốc gia, dân tộc để tiếp thu những yếu tố tích cực trong ứng xử đạo đức của nhân loại đặc biệt là mối quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức trong ứng xử, quan hệ kinh tế tránh bị lợi dụng trong quan hệ đối ngoại và giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ tốt hơn
1.3 So sánh những điển giống nhau và khác nhau giữa pháp luật
và đạo đức
1.3.1 Điểm giống nhau giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật và đạo đức có mối quan hệ khăng khít với nhau, trước hết đều nhằm điều chỉnh hành vi của con người giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội và với môi trường sống, hướng tới sự ổn định, hài hòa các quan hệ xã hội
Muốn làm việc có ích cho bản thân, cho xã hội, trước tiên phải có đạo đức tốt đồng thời phải hiểu biết và làm theo những quy định của pháp luật và phải có trí tuệ trong hành động Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão càng không thể chấp nhận những hành vi thiếu đạo đức, thiếu trí tuệ, mà đòi hỏi mỗi con người phải nỗ lực trong lao động học tập theo khả năng, năng lực của mình để tự lo cho chính bản thân, gia đình mình, và đóng góp cho xã hội, cho cộng đồng tổ quốc
Pháp luật và đạo đức đều chống lại cái ác, bảo vệ điều thiện đem lại cuộc sống thanh bình cho cá nhân và xã hội Trong một xã hội nhất định cả đạo đức và pháp luật đều cùng tác động lên các hoạt động của cộng đồng cùng điều chỉnh hành vi ứng xử của các cá nhân trong cộng đồng, cùng xác
Trang 34định mối quan hệ về lợi ích của các cá nhân trong quan hệ với cộng đồng và
xã hội Ở một chừng mực nhất định đạo đức và pháp luật thâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau cùng tồn tại trong một xã hội và tạo ra tiền đề cho hành vi ứng xử của các chủ thể trong các quan hệ xã hội cơ bản nhất
Pháp luật tiến bộ và đạo đức đều hướng tới sự phát triển của xã hội, những phong tục, tập quán tiến bộ, truyền thống tốt đẹp phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và phù hợp với lợi ích của giai cấp cầm quyền thì thường được nâng lên thành luật những quy định như vậy sẽ rất phù hợp với quyền lợi của đại bộ phận quyền lợi của dân chúng và sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của xã hội theo chiều hướng đi lên
1.3.2 Điểm khác nhau cơ bản giữa pháp luật và đạo đức
Cách xác định, đánh giá điều chỉnh hành vi của con người của pháp luật mang tính bắt buộc bằng các chế tài của nhà nước Cách điều chỉnh của hành vi đạo đức mang tính tự nguyện, động cơ bên trong, chủ yếu được điều chỉnh thông qua dư luận xã hội, phong tục, tập quán, truyền thống, cơ chế điều chỉnh của đạo đức chủ yếu là tự mình lựa chọn hành vi, cách ứng xử đúng đắn, hợp lẽ phải, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức trong xã hội Pháp luật điều chỉnh hành vi cá nhân bằng những quy định cụ thể, bằng chế tài trong các quy phạm đó và được bảo đảm thực hiện thông qua bộ máy của nhà nước thực thi pháp luật, có tổ chức chặt chẽ từ trung ương đến địa phương như tòa án, cảnh sát, trại giam Nếu như pháp luật sử dụng phương pháp điều chỉnh bằng quyền uy, phục tùng là chủ yếu, thỏa thuận phải trong sự giám sát bằng các quy định của nhà nước thì đạo đức điều chỉnh hành vi cá nhân bằng nghĩa vụ, tình cảm, phong tục, tập quán, lối sống, dư luận xã hội và sự điều chỉnh này mang tính tự nguyện, dựa vào lòng tin, thói quen, phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp Cách thức điều chỉnh này rất có hiệu quả, nên trong các xã hội phương Đông chủ yếu sử
Trang 35dụng đức trị kết hợp với pháp trị để quản lý điều hành xã hội đưa xã hội phát triển theo hướng coi trọng các bộ môn khoa học về chính trị xã hội, coi trọng đạo đức… trong xã hội phương Tây ngược lại họ chủ yếu thiên về pháp trị
và kỹ trị đưa xã hội phát triển theo hướng thiên về lý và coi trọng các môn khoa học tự nhiên, khoa học ứng dụng bởi vậy xét về tổng thể xã hội ở các nước phương Tây phát triển hơn ở các nước phương Đông điều này chúng ta cần suy nghĩ, nghiên cứu một cách nghiêm túc về cơ cấu tổ chức nhà nước,
xã hội, pháp luật, đạo đức của họ để học tập những gì tiến bộ hữu ích cho cuộc sống thực tế để đi tắt, đón đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Nhận thức và thực hiện pháp luật chủ yếu được thực hiện thông qua việc tuyên truyền phổ biến giáo dục của nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước, việc tuyên truyền giáo dục mang tính khuôn phép, cứng nhắc vì những quy định của pháp luật ở một thời điểm nhất định không thể nhận thức một cách sinh động, uyển chuyển, hơn nữa khi nghe tuyên truyền pháp luật người dân thường quan tâm mình được lợi cái gì trong quy định đó chứ không quan tâm nhiều đến việc mình phải chịu ràng buộc gì hoặc làm gì cho nhà nước, cho xã hội Việc nhận thức các chuẩn mực đạo đức khác hẳn với việc tuyên truyền giáo dục pháp luật, các chuẩn mực đạo đức đi vào lòng dân mang tính tự nguyện, bằng lòng tin vào lẽ phải, lẽ công bằng xuất phát
từ nội tâm bên trong, từ môi trường sống hàng ngày, từ niềm tin, kỳ vọng, lẽ sống, lý tưởng ở đời làm người… mà hình thành các hành vi đạo đức Chính
vì vậy, các hành vi đạo đức vì vậy len lỏi được vào mọi ngõ ngách của cuộc sống, thâm nhập vào mọi giai tầng trong xã hội
Các nguyên tắc của pháp luật thường thay đổi trong quá trình điều hành quản lý của nhà nước, vì xã hội luôn luôn vận động phát triển hàng ngày, đòi hỏi pháp luật phải điều chỉnh các quan hệ xã hội kịp thời và định
Trang 36hướng cho các quan hệ xã hội phát triển Thực tế đã chứng minh điều này, ngay cả những bộ luật được coi là tiến bộ nhất trong những thời kỳ lịch sử nhất định cũng chỉ bao quát quan hệ xã hội cơ bản nhất thời kỳ đó và dự kiến được những biến đổi trong tương lai gần, chứ không thể lường trước hết được các sự kiện diễn ra trong tương lai xa nên đòi hỏi trong quá trình vận động đi lên của xã hội pháp luật cũng phải chuyển đổi phù hợp để quản lý, điều chỉnh theo các biến động xã hội trong cuộc sống Các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức ít thay đổi hơn vì các quan niệm về cái thiện, cái ác, lương tâm, danh dự đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người trong xã hội tạo thành động cơ bên trong thôi thúc họ hành động, tạo thành niềm tin khó lay chuyển trong mỗi bản thân con người họ Trong trường hợp cơ sở kinh tế, xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ thì sẽ dần dần kéo theo sự thay đổi một số quan niệm đạo đức, nhưng sẽ hoàn toàn sai lầm khi cho rằng đạo đức chỉ chạy theo sau phản ánh các quan hệ kinh tế, xã hội, mà cần thấy rõ những quan niệm đạo đức tiến bộ góp phần ổn định xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho xã hội phát triển bền vững giải quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân với xã hội và cộng đồng và một số quan điểm đạo đức tiến bộ là một trong những cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật
Vi phạm pháp luật sẽ bị nhà nước trừng phạt bằng các chế tài tương ứng quy định rất cụ thể trong từng trường hợp, trong từng điều kiện, hoàn cảnh riêng biệt được áp dụng thống nhất bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua các hoạt động thực thi pháp luật, tác động trự tiếp đến đối tượng vi phạm nhằm bắt buộc họ có trách nhiệm với chính hành vi của mình, khi cần thiết cơ quan xét xử có thể áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất
kể cả tước đi mạng sống của người phạm tội
Vi phạm đạo đức bị xã hội lên án, tự bản thân có thể bị "búa rìu" dư luận xã hội làm cho lương tâm dằn vặt, cắn dứt một số trường hợp vi phạm
Trang 37đạo đức nghiêm trọng bị cộng đồng, xã hội oán trách, ruồng bỏ, khinh miệt
Đạo đức không có chế tài nghiêm khắc giống như pháp luật nhưng tác dụng của nó rất lớn bởi vì mọi hành động đều xuất phát từ chính sự lựa chọn của con người chịu ảnh hưởng tới lối sống và thói quen ứng xử, nếu họ được giáo dục ở một môi trường có đạo đức tốt thói quen ứng xử của họ sẽ trở nên lịch lãm và có cân nhắc trước mọi tình huống trong hành động của mình và
từ đó góp phầm tạo nên lối sống văn hóa, văn minh cho xã hội
1.4 Mối quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức
1.4.1 Pháp luật và đạo đức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cùng tồn tại và phát triển, cùng phản ánh đời sống kinh tế - xã hội đương thời,
và định hướng cho sự phát triển của xã hội
Mối hình thái kinh tế xã hội khác nhau có những kiểu pháp luật và đạo đức khác nhau cùng tồn tại trong lòng một xã hội bất cứ kiểu pháp luật
và đạo đức nào đều được hình thành, xây dựng trên cơ sở kinh tế (cơ sở hạ tầng) nhất định VD pháp luật chiếm hữu nô lệ, cơ sở kinh tế cơ bản do chủ
nô nắm giữ vì vậy pháp luật thời kỳ này bảo vệ giai cấp chủ nô, nô lệ chỉ là những công cụ biết nói, việc phục tùng tuyệt đối của nô lệ đối với chủ nô được coi là đạo đức Pháp luật phong kiến, cơ sở kinh tế của thời kỳ này do giai cấp địa chủ và giai cấp phông kiến nắm giữ vì vậy pháp luật bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ và phong kiến, nông dân có nghĩa vụ làm việc
để phục vụ cho giai cấp địa chủ, phong kiến hành vi như vậy được coi là đạo đức Các chuẩn mực đạo đức tồn tại trong thời kỳ này như trung vua, tam tòng tứ đức nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp địa chủ, phong kiến… Pháp luật tư sản, mặc dù trong thời kỳ này kinh tế phát triển cao, có nhiều quy định mang tính dân chủ song vẫn không tránh khỏi quy luật chung đó là bảo
vệ cơ sở kinh tế tư sản, bảo vệ quyền tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, pháp luật thời kỳ này bảo vệ quyền sở hữu tư nhân, chủ yếu là của giai cấp
Trang 38tư sản, các chuẩn mực đạo đức tồn tại trong xã hội tư sản mang nặng tính lợi
Điều kiện kinh tế là một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng
hệ thống pháp luật và hình thành các chuẩn mực ứng xử đạo đức, lợi ích kinh tế là mục tiêu quan trọng mà pháp luật của mỗi quốc gia hướng tới xây dựng và bảo vệ Sự thống nhất giữa pháp luật và đạo đức được quy định bởi
sự thống nhất về cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, tư tưởng, bản chất xã hội
và mục đích điều chỉnh
Với tư cách là những hình thức phản ánh tồn tại xã hội, pháp luật và
đạo đức suy cho cùng bị quy định bởi tồn tại xã hội [27, tr.174]
Như vậy pháp luật và đạo đức xuất phát từ nguyên nhân khách qua và
ý thức chủ quan của con người Trong đó thực tế cuộc sống xã hội được phản ánh trong đạo đức, pháp luật rất đa dạng mối quan hệ lợi ích khác nhau trong xã hội đều được phản ánh trong đó
Khi cơ chế kinh tế thay đổi thì pháp luật và đạo đức đều thay đổi theo
để thích ứng với cơ chế kinh tế Ví dụ trong thời đại phong kiến quyền lực kinh tế tập trung vào tay giai cấp địa chủ, phong kiến người dân chỉ biết phục tùng mệnh lệnh thụ động và lệ thuộc vào ruộng đất của địa chủ và được
Trang 39quyền lực về kinh tế nên giai cấp thống trị thời kỳ này là địa chủ, các lãnh chúa phong kiến, do nắm phong kiến đã nắm quyền lực chính trị và cho xây dựng hệ thống pháp luật hà khắc bảo vệ lợi ích của các lãnh chúa phong kiến
và địa chủ Các quan niệm đạo đức được thừa nhận mang đậm màu sắc phong kiến, hướng tới bảo vệ quyền lợi của địa chủ, phong kiến ví dụ quan niệm về tam cương, ngũ thường đã mang lại những chuẩn mực nhất định về nhân văn, đạo đức nhưng về bản chất các quan niện này là sợi dây vô hình trói buộc nhân dân lao động của chế độ phong kiến Việc quá nhấn mạnh các quan niệm về lễ nghĩa đạo đức là nguyên nhân chính dẫn tới kém phát triển
về nhận thức khoa Trong hôn nhân gia đình thời kỳ phong kiến quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em chưa được coi trọng đúng mức, các chuẩn mực ràng buộc họ rất nhiều nhà nước tạo điều kiện cho giai cấp địa chủ và phong kiến thực hiện chế độ đa thê "Trai tài năm bẩy vợ, gái chính chuyên chỉ một chồng", người phụ nữ khi xuất giá phải tuân theo các chuẩn mực như "Tam tòng, tứ đức" nhằm trói chặt người phụ nữ, làm cho người phụ nữ lệ thuộc hoàn toàn vào lãnh chúa phong kiến và địa chủ
Sau cách mạng tháng tám thành công địa vị của nhân dân lao động và người phụ nữ nói riêng đã thay đổi rất lớn, sự thay đổi này mang tính bước ngoặt, với quan niệm "Nam nữ bình quyền" đã thật sự thổi vào xã hội một luồng gió mới khuyến khích nhân dân sản xuất phát triển kinh tế, làm chủ cuộc sống bản thân, cùng đóng góp vào việc xây dựng xã hội từng bước đưa đất nước phát triển đi lên Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội các quan niệm về đạo đức của giai cấp phong kiến bị loại bỏ, quan niệm trung quân,
ái quốc đổi thành "trung với đảng, hiếu với dân", các quan niệm tam tòng tứ đức bị loại bỏ hoàn toàn thay vào đó là quan niệm một vợ một chồng hôn nhân bình đẳng tự nguyện tiến bộ, các quyền lợi của phụ nữ và trẻ em được bảo đảm thực hiện bằng pháp luật Như vậy pháp luật tạo ra những bảo đảm
Trang 40về mặt pháp lý cũng như về xã hội cho các quan niệm đạo đức tiến bộ có môi trường tồn tại và phát triển đồng thời được thực hiện trong thực tế cuộc sống
Trong thời đại ngày nay cùng với việc tạo môi trường pháp lý để xây dựng các quan hệ đạo đức mới xã hội chủ nghĩa cần khuyến khích xây dựng
xã hội dân sự, mở rộng dân chủ, nhân quyền, khuyến khích lao động sản xuất theo năng lực, xây dựng nền kinh tế thị trường để phát huy mọi tiềm năng đất nước loại bỏ những tập tục, văn hóa lạc hậu cản đường cho sự phát triển
Pháp luật và đạo đức tác động trở lại đối với kinh tế theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Bất cứ thời đại nào pháp luật cũng tác động trở lại với kinh tế Giai đoạn đầu với nền kinh tế tập quán truyền thống khép kín tồn tại dưới thời công xã nguyên thủy nền kinh tế nhỏ bé phụ thuộc vào tập quán truyền thống được truyền qua nhiều thế hệ, các tập quán, truyền thống được
sử dụng như một công cụ pháp luật sơ khai Nền kinh tế chỉ huy (hay kế hoạch hóa tập trung) chính phủ quyết định về sản xuất phân phối, sản xuất phụ thuộc theo kế hoạch tập trung thống nhất của nhà nước thời kỳ này pháp luật tác động trực tiếp mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế Đối với nền kinh tế thị trường việc điều hành nền kinh tế chủ yếu thông qua cơ chế thị trường, trong đó cá nhân người tiêu dùng, doanh nghiệp tác động lẫn nhau trong thị trường hình thành hệ thống giá cả, giá trị lợi nhuận, thu nhập nhưng đi cùng với bàn tay vô hình của cơ chế thị trường là hệ thống pháp luật và các quan
hệ đạo đức, phong tục tập quán trong xã hội
Pháp luật và đạo đức được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế xã hội nhất định, vạch ra hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế, nhưng trên thực tế kinh tế luôn luôn vận động biến đổi từng ngày đòi hỏi pháp luật phải năng động biến đổi theo để điều chỉnh quản lý nền kinh tế Hệ thống pháp