Thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật trước đây cũng như việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo Luật hiện hành đang đặt ra nhiều vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT ––––––
DƯƠNG THỊ BÍCH HẠNH
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP
XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thanh Bình
Hà Nội - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia
Hà Nội
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Dương Thị Bích Hạnh
Trang 3MỤC LỤC Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH 8
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI 8
1.1.1 Khái niệm về quyền con người 8
1.1.2 Đặc trưng của quyền con người 20
1.2 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH 22
1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính 22
1.2.2 Vai trò và các yêu cầu của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm quyền con người 25
Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜITRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH 30
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TRƯỚC KHI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 2012 CÓ HIỆU LỰC 30
2.1.1 Thực trạng pháp luật bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính 30
2.1.2 Những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính 39
2.1.3 Định hướng chung cho việc sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật về các biện pháp xử lý khác 48
Trang 42.2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH
CHÍNH KỂ TỪ KHI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM
2012 CÓ HIỆU LỰC 51 2.2.1 Bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý
hành chính bằng phương thức xem xét và quyết định của Tòa án 52 2.2.2 Bảo đảm bằng việc điều chỉnh của pháp luật về trình tự thủ tục xem
xét và quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính 53 2.2.3 Bảo đảm bằng việc quy định về khiếu nại, kiến nghị, giải quyết khiếu
nại, kiến nghị đối với các quyết định của Tòa án, hành vi của người có thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện
pháp xử lý hành chính 57 2.2.4 Về nội dung biện pháp xử lý hành chính do tòa án xem xét, quyết định 58 Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC
BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH 72 3.1 CÁC QUAN ĐIỂM ĐỊNH HƯỚNG CHUNG CỦA ĐẢNG VÀ
NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ HƯỚNG HOÀN THIỆN BIỆN
PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 72 3.2 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH 80 3.3 NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM THỰC
HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG
BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH 81 3.3.1 Nhóm giải pháp chung bảo đảm thực hiện quyền con người trong
quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính 81 3.3.2 Nhóm giải pháp cụ thể bảo đảm quyền con người trong quá trình
áp dụng biện pháp xử lý hành chính 87 KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BPXLHC Biện pháp xử lý hành chính ICCPR Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966
ICCPR Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966 TAND Tòa án nhân dân UBND Ủy ban nhân dân VPHC Vi phạm hành chính
XLVPHC Xử lý vi phạm hành chính
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Luật xử lý vi phạm hành chính đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua năm 2012 và có hiệu lực từ 01/7/2013 Luật này quy định hai nội dung chủ yếu là xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính Theo luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành có bốn biện pháp xử lý hành chính gồm: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng; biện pháp đưa vào cơ
sở giáo dục bắt buộc; và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Để áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, Luật cũng quy định cụ thể
về đối tượng áp dụng của từng biện pháp; thủ tục lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; thẩm quyền, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính và các quy định khác có liên quan đến việc
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Có thể thấy các biện pháp nêu trên là những biện pháp cưỡng chế nhà nước, nếu áp dụng sẽ làm hạn chế quyền tự do của đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đặc biệt là biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Thực tiễn áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật trước đây cũng như việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính theo Luật hiện hành đang đặt ra nhiều vấn đề cấp bách liên qua đến việc bảo vệ quyền,
tự do của đối tượng bị áp dụng biện pháp hành chính; vấn đề công khai minh bạch trong quá trình xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Từ trước đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, dưới những góc
độ khác nhau, phục vụ cho những mục đích khác nhau đã đề cập đến các vấn
Trang 7đề liên quan đến các biện pháp hành chính Tuy nhiên chưa có một công trình nào tập trung và chuyên sâu nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính Mặt khác thực tiễn cũng cho thấy nhiều vướng mắc trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đặc biệt là những vướng mắc liên quan đến việc bảo đảm quyền con người vẫn còn một số vấn đề chưa được nghiên cứu và giải quyết một cách đầy đủ và thấu đáo
Xuất phát từ những vấn đề như vậy, tác giả lựa chọn đề tài: “ Bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính” làm
đề tài luận văn thạc sĩ, là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc
2 Tình hình nghiên cứu
Bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp nói riêng là vấn đề đã được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu, nhất là trong thời kỳ đổi mới Bên cạnh việc thành lập Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, hiện nay các công trình khoa học
nghiên cứu liên quan đến đề tài: “ Bảo đảm quyền con người trong quá trình
áp dụng các biện pháp xử lý hành chính” chưa được công bố nhiều Có thể
chia các công trình thành hai nhóm chính sau đây:
- Nhóm thứ nhất: Những công trình đề cập đến vấn đề quyền con người
nói chung có một số công trình khoa học tiêu biểu sau: Trung tâm Nghiên cứu
Quyền con người biên tập hai tập chuyên khảo: “Quyền con người, quyền công dân” của nhiều tác giả, xuất bản năm 1995; Báo cáo tổng thuật Đề tài KX.07- 16 nghiên cứu về “Các điều kiện đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước” do GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ biên; "Quyền con người trong thế giới hiện đại" do PGS Phạm Khiêm Ích và
Trang 8GS.TS Hoàng Văn Hảo chủ biên, Viện Thông tin Khoa học Xã hội xuất bản
năm 1995; “Tìm hiểu vấn đề nhân quyền trong thế giới hiện đại” do TS.Chu
Hồng Thanh chủ biên, Nxb Lao động, Hà Nội, 1996… Đặc biệt, đáng chú ý
là cuốn sách: “Giáo trình lý luận và pháp luật về quyền con người” của tập
thể tác giả do GS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS Vũ Công Giao, ThS Lã Khánh Tùng (đồng chủ biên) Trong các công trình này, các tác giả đã nghiên cứu khái niệm và các đặc điểm Nhà nước pháp quyền nói chung, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng; nghiên cứu vấn đề bảo đảm quyền con người trong Nhà nước pháp quyền; nghiên cứu về mối quan hệ giữa quyền con người và quyền công dân
- Nhóm thứ hai: Các công trình nghiên cứu là các sách chuyên khảo, các
đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án… các bài viết liên quan đến bảo
đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
như: “Một số vấn đề hoàn thiện pháp luật về các biện pháp cưỡng chế hành chính và trách nhiệm hành chính theo yêu cầu tôn trọng quyền con người, quyền công dân” của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt; “Một vài suy nghĩ về bảo vệ quyền con người trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính” của TS Phạm Thị Ngọc Huyên; Biện pháp “Đưa vào trường giáo dưỡng” với việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân do tác giả Phạm Thị Phương (chủ biên); Nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ “Các biện pháp xử lý hành chính khác và việc bảo đảm quyền con người” do Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ
Tư pháp thực hiện năm 2008; Nghiên cứu đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính” do Vụ Pháp luật Hình sự - Hành chính, Bộ Tư pháp thực hiện năm 2012; “Báo cáo đánh giá về các biện pháp xử lý hành chính khác và khuyến nghị hoàn thiện trong Luật xử lý vi phạm hành chính” do Dự án tăng cường tiếp cận quyền và bảo vệ công lý tại Việt Nam thực hiện năm 2010; “Báo cáo hoàn thiện các biện pháp xử lý hành
Trang 9chính khác trong Luật xử lý vi phạm hành chính” do Dự án tăng cường tiếp
cận quyền và bảo vệ công lý tại Việt Nam thực hiện năm 2011…v.v
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác đã được đăng trong các tập san, tạp chí chuyên ngành như: Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Toà án nhân dân, Tạp chí quyền con người…
Cho dù đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về lĩnh vực quyền con người, nhưng nhìn chung, những công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu
đề cập đến những vấn đề lý luận chung về quyền con người, từng lĩnh vực hoạt động cụ thể về quyền con người, về tổ chức và hoạt động của các bộ máy Nhà nước, về việc xây dựng pháp luật về bảo đảm quyền con người nói chung Trong đó, chỉ có một vài khía cạnh đề cập cụ thể về quyền con người trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính Vấn đề bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính chưa được nghiên cứu một cách toàn diện và trực tiếp về cả lý luận và thực tiễn Tuy vậy, các công trình nêu trên vẫn là những tài liệu tham khảo quan trọng đối với tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Làm rõ những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng, làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những phương hướng và giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người
trong quá trình áp dụng BPXLHC
3.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
Trang 10- Phân tích các quy định của Luật xử lý VPHC năm 2012 liên quan đến bảo vệ quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC; tìm ra những hạn chế và nguyên nhân của bất cập trong thực tiễn thi hành
- Đưa ra những phương hướng và giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu vấn đề lý luận quyền con người và việc bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn
áp dụng để đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được giới hạn trên những phạm vi sau đây:
- Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Thực trạng bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-LêNin (duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và Pháp luật, về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về bảo vệ quyền con người
Việc nghiên cứu được thực hiện từ góc độ lý luận về quyền con người nói chung và từ góc độ xử lý hành chính nói riêng
Trang 115.2 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê, khảo sát…Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả
đã nghiên cứu hồ sơ, báo cáo cụ thể của các trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh để có cơ sở thực tiễn
6 Những điểm mới về mặt khoa học của luận văn
Đề tài là một trong những công trình nghiên cứu có tính hệ thống về lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện
pháp xử lý hành chính và có những điểm nổi bật như sau:
- Hệ thống các quan điểm, quan niệm lý luận, các tri thức về đảm bảo quyền con người trong phạm vi áp dụng BPXLHC
- Lần đầu tiên xây dựng khái niệm bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Tập hợp một cách chung nhất thực tiễn các bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Đặc biêt lần đầu tiên đưa ra được các giải pháp nhằm bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
7 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Đề tài là một đóng góp khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là bảo vệ quyền con người Luận văn sẽ đóng góp một phần lý luận và kinh nghiệm thực tiễn cho việc thực hiện có hiệu quả việc bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC Kết quả của luận văn có giá trị tham khảo cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục từ ngữ viết tắt, danh mục tài
Trang 12liệu tham khảo Nội dung của luận văn kết cấu gồm 3 chương, như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện các biện pháp bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC
Trang 13CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
1.1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI
1.1.1 Khái niệm về quyền con người
1.1.1.1 Lịch sử phát triển quyền con người trên thế giới
Vấn đề quyền con người đã có sự phát triển lâu dài đầy những thăng trầm trên thế giới, gắn liền với sự đấu tranh của nhân dân vì tự do, dân chủ, chống lại sự áp bức bóc lột của những kẻ thống trị Lịch sử phát triển quyền con người trên thế giới trải qua các thời kỳ sau:
* Thời cổ đại
Trong thời kỳ chiếm hữu nô lệ, mặc dù quyền lợi của giai cấp chủ nô luôn được coi trọng nhưng đã có những văn kiện pháp lý ghi nhận và bảo vệ quyền con người của nhân dân Năm 1780 trước Công nguyên, Bộ luật Hammurabi được ban hành ở xứ Babylon Ở nhiều khía cạnh, bộ luật đã quan tâm bảo vệ người dân trước những khó khăn của cuộc sống và sự hà hiếp của
kẻ mạnh, đồng thời thể hiện một số tư tưởng khá tiến bộ trong thời kỳ bấy giờ
và được coi là sự ghi nhận đầu tiên về quyền con người trong lịch sử nhân loại Một sự kiện khác, năm 539 trước Công nguyên, vua Cyrus của đế quốc
Ba tư đã cho trạm khắc một tuyên bố nổi tiếng trên một cột trụ (trụ Cyrus) trong đó ghi nhận các quyền con người cơ bản như: tự do về tôn giáo, bình đẳng về chủng tộc, thả tự do cho các nô lệ Tài liệu cổ này được nhiều học giả coi như là Hiến chương về nhân quyền đầu tiên của thế giới
* Thời phong kiến
Thời kỳ phong kiến, ở châu Âu, quyền con người bị bóp nghẹt trong sự cai trị của vương quyền phong kiến và giáo hội Nhưng sự xuất hiện của
Trang 14phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã tạo tiền đề để tư tưởng về quyền con người được phát triển Năm 1215, dưới sức ép của nhân dân, vua Anh, John, đã phải ký bản Hiến chương Magna Carta Đây được coi là văn kiện pháp lý nổi tiếng, tạo bước ngoặt trong lịch sử của nhân quyền và tự do Hiến chương đã ghi nhận một số quyền con người như: quyền sở hữu, thừa kế, quyền tự do buôn bán, quyền không bị đánh thuế quá mức, quyền được xét xử đúng đắn và bình đẳng trước pháp luật… Ngoài ra, hiến chương còn quy định
về việc kiểm soát quyền lực nhà nước, ngăn chặn không cho các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền hợp pháp của công dân
Trong thời kỳ phục hưng ở châu Âu, chủ nghĩa nhân đạo được hình thành Chủ nghĩa nhân đạo tuyên bố tự do cá nhân con người, phản đối khổ hạnh tôn giáo, tán thành quyền được hưởng lạc và hạnh phúc trần gian Trong bối cảnh đó, học thuyết Nhân quyền tự nhiên đã phát triển mạnh mẽ, có ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình chính trị pháp lý trên thế giới Học thuyết Nhân quyền tự nhiên cho rằng, con người có những quyền cố hữu do tạo hóa ban tặng như quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu; quyền con người là thiêng liêng, cao quý và phải được xếp cao hơn pháp luật của nhà nước; nhân dân trao quyền cho nhà nước vì vậy quyền lực nhà nước là có giới hạn và nhà nước có nghĩa vụ đối với người dân Một trong những nhà tư tưởng tiêu biểu thời kỳ này là John Locke (1632 - 1704) Tư tưởng của ông có ảnh hưởng lớn đến Hiến Pháp Hoa Kỳ sau này
* Thời cận đại và trước chiến tranh thế giới thứ hai
Tư tưởng của các nhà khai sáng phương Tây có tác động mạnh mẽ đến các cuộc cách mạng tư sản Cách mạng Hoa Kỳ thành công; bản Tuyên ngôn
độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 long trọng tuyên bố: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và
Trang 15quyền mưu cầu hạnh phúc" [31, tr.555] Đặc biệt, 10 tu chánh án đầu tiên của
Hiến pháp Hoa Kỳ - gọi chung là Tuyên ngôn Nhân quyền Hoa Kỳ - có hiệu lực vào năm 1791 đã quy định một cách đầy đủ về quyền con người, đặt ra các biện pháp nhằm bảo vệ và thực thi quyền con người, đồng thời đặt ra các giới hạn của quyền lực nhà nước để tránh xâm phạm đến quyền con người Cùng thời điểm đó ở phía bên kia đại dương, cách mạng tư sản Pháp nổ ra năm 1789, đánh dấu một bước ngoặt lớn trong tiến trình dân chủ của thế giới Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền được Quốc hội thông qua, có tất
cả 17 điều khoản Trong đó nổi tiếng là Điều 1 - Điều 2 và được trích dẫn
nhiều nhất: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi Sự khác biệt xã hội chỉ có thể được thiết lập trên cơ sở lợi ích chung” [31, tr.561] Và mục đích của mọi tổ chức chính trị là “việc bảo toàn các nguồn lợi thiên nhiên và bảo toàn các quyền con người không thể bị tước bỏ Các quyền đó là tự do, tài sản, sự an toàn, và quyền được chống lại mọi sự áp bức” [29, tr.562] Những tư tưởng từ
cuộc cách mạng Hoa Kỳ và Pháp đã châm ngòi cho nhiều cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu, gây ra nhiều biến động to lớn ở khu vực này Trong vòng 35 năm, từ năm 1795 đến năm 1830, hơn 70 bản Hiến pháp mang dấu ấn của Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền được ra đời
Trong thế kỷ XIX, quyền con người trở thành một vấn đề có sức lan tỏa lớn trên thế giới Cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ chế độ nô lệ và buôn bán nô lệ diễn ra mạnh mẽ Chiến thắng của Liên bang miền Bắc trong nội chiến Hoa
Kỳ (1861 - 1865) đã xóa bỏ chế độ nô lệ; đồng thời giải phóng hàng triệu nô
lệ trên đất nước này Bên cạnh đó, phong trào đấu tranh đòi cải thiện điều kiện lao động cho người lao động và bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang trên thế giới cũng phát triển mạnh mẽ Năm 1919, Hội Quốc Liên và Tổ chức Lao động thế giới (ILO) được thành lập; hai tổ chức này đã có nhiều
đóng góp nhằm thúc đẩy vấn đề nhân quyền trên thế giới
Trang 16* Sau chiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh thế giới thứ hai là cú hích quyết định đối với sự ra đời của luật nhân quyền quốc tế Sự tàn khốc của chiến tranh đã khiến nhân dân thế giới nhận thức được sự cần thiết phải thành lập một tổ chức quốc tế nhằm bảo đảm cho nhân dân thế giới không phải chịu những thảm họa về nhân quyền
mà phát xít đã gây ra Tổ chức này phải có những cơ chế pháp lý mạnh mẽ để thực hiện một cách hiệu quả sự bảo vệ quốc tế với các quyền con người Ngày 25/4/1945, đại diện của 50 quốc gia trên thế giới đã tập hợp tại San fransisco, Hoa Kỳ để thành lập một tổ chức quốc tế có tên là Liên hợp quốc Ngày 26/6/1945, Bản Hiến chương Liên hợp quốc được ký kết và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 24/10/1945, đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với sự phát triển của luật nhân quyền quốc tế
Theo Điều 1 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, 1945 thì một trong bốn
mục đích hoạt động cơ bản của Liên hợp quốc là: “Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo, và trong việc khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của con người và các quyền tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ hoặc tôn giáo” [42, tr.17] Một số điều khoản khác của Hiến chương cũng
đề cập đến việc thúc đẩy nhân quyền Thông qua Hiến chương, lần đầu tiên quyền con người được thừa nhận như một giá trị phổ biến của nhân loại trên phạm vi toàn thế giới và việc tôn trọng quyền con người là trách nhiệm chung của cộng đồng các quốc gia
Trên cơ sở các hoạt động của Liên hợp quốc, Bộ luật Nhân quyền quốc
tế đã ra đời Bộ luật Nhân quyền quốc tế là tên gọi chung cho bộ ba văn kiện
nhân quyền quốc tế do Liên hợp quốc soạn bao gồm Tuyên ngôn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966 (ICCPR) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa
Trang 171966 (ICESCR) Hai công ước chính đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua năm 1966 và được nhiều nước tham gia Đây là văn kiện đề cập một cách toàn diện, cơ bản về quyền con người Bộ luật Nhân quyền quốc tế có vị trí
vô cùng quan trọng, là nền tảng của luật pháp quốc tế về quyền con người
(1) Tuyên ngôn Toàn thế giới về quyền con người (UDHR)
UDHR là tuyên ngôn về các quyền cơ bản của con người được Đại Hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm 1948 Trong lời nói đầu, tuyên ngôn đã thực sự đề cao tầm quan trọng của nhân quyền đối với sự
sống còn của loài người: “việc thừa nhận phẩm giá bẩm sinh và những quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng của tất cả các phần tử trong đại gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hoà bình thế giới” [42, tr.48]
Tuyên ngôn bao gồm 30 điều, lần đầu tiên liệt kê một cách toàn diện những quyền của con người trong tất cả các phương diện chính trị, dân sự, kinh tế,
xã hội và văn hóa Văn bản được trình bày với ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu để mọi người trên thế giới đều có thể đọc và hiểu.Tuyên ngôn thực chất không
phải là một điều ước quốc tế có hiệu lực, nhưng nó có một sức mạnh “luân lý” to lớn đối với các quốc gia trên thế giới Tập hợp các quyền con người
trong tuyên ngôn trở thành một tiêu chuẩn chung được hầu hết các quốc gia quy định vào luật pháp của đất nước mình Tuyên ngôn nhân quyền có tác động to lớn đối với thế giới và được đánh giá là một trong những văn kiện có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Nó đã thôi thúc sự phát triển nhân quyền ở rất nhiều quốc gia, các địa phương và các vùng lãnh thổ
(2) Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966 (ICCPR) ICCPR là một công ước quốc tế do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966 và có hiệu lực từ ngày 23 tháng 3 năm 1976, nêu tổng quan các quyền dân sự và chính trị cơ bản của con người ICESCR
là một phần của hệ thống bộ luật nhân quyền quốc tế Một trong những quyền
Trang 18quan trọng khác được công ước long trọng ghi nhận ở Chương I là quyền dân
tộc tự quyết Công ước khẳng định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và
tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá“ [42, tr.78] Sau đó, các quyền dân
sự, chính trị được trình bày một cách có hệ thống trong công ước Các điều khoản đều hướng tới sự bảo đảm tốt nhất đối với quyền sống, sự tự do, quyền được đối xử bình đẳng và sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị quốc gia Là một dạng cam kết quốc tế có hiệu lực, công ước ràng buộc nghĩa
vụ của các quốc gia thành viên trong việc xây dựng pháp luật quốc gia để thực hiện công ước Việt Nam đã gia nhập công ước vào ngày 24/9/1982 (3) Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 (ICESCR)
ICESCR là một công ước quốc tế được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16 tháng 12 năm 1966, có hiệu lực từ ngày 03 tháng 01 năm
1976 Việt Nam phê chuẩn công ước ngày 24 tháng 9 năm 1982 Theo nội dung của công ước, mọi người dân đều có quyền làm việc và được làm việc trong những điều kiện an toàn nhất, quyền tham gia công đoàn, quyền được hưởng an sinh và xã hội, quyền được học tập và thụ hưởng cuộc sống ở mức phù hợp, không ngừng nâng cao điều kiện cuộc sống Song song với việc quy định về quyền của con người, công ước nêu cụ thể trách nhiệm của các quốc gia thành viên, bằng các biện pháp lập pháp hoặc phát triển kinh tế - xã hội phải tạo điều kiện để cá nhân phát triển đầy đủ và sung túc nhất
Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, và sau đó là hai Công ước trong Bộ luật Nhân quyền Quốc tế đã thúc đẩy sự ra đời của hàng loạt các Điều ước Quốc tế quy định về một khía cạnh cụ thể của quyền con người Sau đây là một số Điều ước cốt lõi về quyền con người trong Luật pháp Quốc tế:
- Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, 1965;
Trang 19- Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ, 1979;
- Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt hay đối xử tàn ác,
vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm, 1984;
- Công ước về quyền trẻ em, 1989;
- Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ, 1990;
- Công ước về bảo vệ tất cả mọi người khỏi bị cưỡng bức mất tích, 2006;
- Công ước về quyền của người khuyết tật, 2007;
Và rất nhiều tuyên bố, nghị định thư và các Điều ước Quốc tế khác
1.1.1.2 Lịch sử phát triển quyền con người ở Việt Nam
* Thời phong kiến
Yêu thương con người, khoan dung, nhân đạo là giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Từ cổ xưa, người Việt với nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, sống hòa mình với thiên nhiên nên bản tính hiền hòa, nhân hậu, chất phác Rồi trải qua hàng ngàn năm chống chọi với thiên tai, bão lụt và những tai ách ngoại xâm khiến cho con người phải gắn bó chặt chẽ, cố kết với nhau hơn Vì vậy, trong truyền thống văn hóa của con người Việt, lối sống trọng tình nghĩa và nếp nghĩ coi trọng con người, khoan dung, độ lượng đã trở thành một điều cốt lõi Từ lâu, dân gian vẫn lưu truyền những câu ca dao, tục
ngữ: “thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”…
Tinh thần nhân đạo của dân tộc Việt còn bị ảnh hưởng sâu sắc bởi tư tưởng của Phật giáo Với tinh thần từ, bi, hỷ, xả, đạo Phật hướng tới mục đích cứu vớt chúng sinh, cứu khổ, cứu nạn; ở đâu có đạo Phật, ở đó có sự đề cao con người và yêu thương con người Mặt khác, theo giáo lý đạo Phật, không có tiểu nhân, không có quân tử, không có sự phân chia giai cấp, tất cả mọi người đều bình đẳng và đều có thể được giải thoát Trải qua hàng trăm năm phát triển, đạo đức
Trang 20Phật giáo đã thực sự ăn sâu vào truyền thống văn hóa của dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lý, lối sống, phong tục, tập quán của con người
Tư tưởng khoan dung, nhân đạo của dân tộc có ảnh hưởng rất lớn đến chính sách cai trị của các triều đại phong kiến Việt Nam Trong lịch sử, các
triều đại thường rất gần gũi với dân chúng và thi hành chính sách “thân dân”
Một trong những tư tưởng trị quốc lớn của thời kỳ phong kiến là “lấy dân làm
gốc” Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt để yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo” [41] Trần Hưng Đạo trước khi lâm chung còn căn dặn vua rằng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc,
đó là thượng sách giữ nước” [49] Vua và quan lại trong chế độ phong kiến
phần lớn đều sống rất giản dị, không cách biệt quá lớn với nhân dân Nhà nước phong kiến thường lấy sự an cư, lạc nghiệp của người dân làm cơ sở cho
sự thịnh suy của triều đại Không những thế, tinh thần nhân đạo còn được thể hiện trong các chính sách đối ngoại của các vương triều phong kiến Sử sách chép lại rằng sau khi chiến thắng quân Minh, nghĩa quân Lam Sơn không những không giết hàng quân mà còn cung cấp ngựa, xe, thuyền bè để 10 vạn quân Minh được yên ổn rút về nước Tư tưởng nhân đạo ấy được Nguyễn Trãi khái quát trong hai câu thơ ngắn gọn trong tác phẩm Bình Ngô Đại Cáo:
“Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chí nhân để thay cường bạo” [41]
Tư tưởng đề cao con người thể hiện rõ trong những bộ luật thời phong kiến Thời nhà Lý, các nhà vua thường lấy sự an cư lạc nghiệp của nhân dân làm trọng Điểm nổi bật nhất của thời kỳ này là nhà nước ban hành bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử dân tộc - Bộ luật Hình thư Mặc dù đã bị thất truyền, nhưng qua ghi chép của các nhà sử học, bộ luật này thể hiện tính nhân
đạo rất cao Tuy nhiên, nổi tiếng hơn cả là Bộ “Quốc triều Hình luật” hay còn
được gọi là Bộ luật Hồng Đức được ban hành dưới thời Lê Bộ luật đã kế thừa nhiều tinh hoa về tư tưởng nhân đạo trong lịch sử dân tộc, được đánh giá là bộ
Trang 21luật có nhiều nét tiến bộ nhất trong lịch sử phong kiến.Trước hết, bộ luật có nhiều quy định để bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân, hạn chế sự nhũng nhiễu, áp bức bóc lột của quan lại, quý tộc Những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu nhân dân đều bị trừng trị nghiêm khắc Điểm nổi bật nhất của bộ luật là quy định về bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi của người phụ nữ Người phụ nữ được bênh vực và hưởng nhiều quyền lợi, trong nhiều trường hợp, họ còn có sự bình đẳng với nam giới Ngoài ra, Bộ luật Hồng Đức có nhiều quy định bảo vệ và đối xử nhân đạo đối với những đối tượng yếu thế trong xã hội và những bị can, bị cáo, người có tội Đến thời nhà
Nguyễn, triều đình ban hành bộ “Hoàng Việt luật lệ” Mặc dù bị đánh giá là
khắc nghiệt và mang nặng tính giai cấp, bộ luật cũng chứa nhiều quy định mang tính nhân đạo cao như các quy định về tha tội và ân xá, quy định trừng phạt quan lại vô cớ bắt, tra khảo dân, quy định về bảo vệ người phụ nữ…
* Thời Pháp thuộc
Thời kỳ này, các quyền con người ở Việt Nam bị chà đạp dưới sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp và chính quyền phong kiến Tuy nhiên, đây cũng là
thời kỳ mà các tư tưởng dân chủ, tự do ở phương Tây, tư tưởng “tam dân”
của Tôn Trung Sơn và chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam
Hoạt động đấu tranh về quyền con người được các nhân sĩ và trí thức yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… thúc đẩy từ khá sớm Nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra nhằm mục tiêu đánh đổ ách áp bức, bóc lột, giành lại
tự do cho dân tộc
Tuy nhiên, nổi bật nhất trong thời kỳ này là sự đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc vì quyền con người Người viết tác phẩm Đường công lý của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương để vạch trần bộ mặt thật của những kẻ xâm
lược: “chưa có bao giờ ở một thời đại nào, ở một nước nào, người ta bị vi
Trang 22phạm mọi quyền làm người một cách độc ác và trơ tráo đến thế” [29, tr.23] Trong tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” được xuất bản bằng tiếng
Pháp tại Pari, người lên án chế độ cai trị thuộc địa tàn bạo, vô nhân đạo của thực dân Pháp và đòi các quyền độc lập, tự quyết cho dân tộc Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã thay mặt nhóm những người Việt Nam yêu nước tại Pháp
gửi đến những nước tham gia hội nghị Vecsxai bản “yêu sách của nhân dân Việt Nam” gồm 8 Điều, trong đó có 4 Điều trực tiếp về quyền con người (tự
do báo chí, tự do ngôn luận; tự do lập hội và hội họp; tự do cư trú ở nước ngoài và tự do xuất dương; Tự do học tập, thành lập các trường kĩ thuật tại tất
cả các tỉnh cho người bản xứ)
* Thời kỳ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công đã đưa dân tộc Việt Nam từ vị thế những người nô lệ trở thành những người chủ thật sự của đất nước Mỗi người dân từ đây được hưởng các quyền con người, quyền công dân; dân tộc
từ đây được tự quyết con đường phát triển của mình
Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường
Ba Đình ngày 2/9/1945 không những đã kế thừa tinh hoa trong tư tưởng về quyền con người trên thế giới mà còn phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới, bằng việc nhắc lại những luận điểm bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của
Pháp, người khẳng định về quyền dân tộc tự quyết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” [29, tr.19] Đây là một đóng góp vĩ đại của Chủ tịch Hồ
Chí Minh không chỉ với dân tộc Việt Nam mà còn với nhân dân thế giới, đặc biệt là các nước thuộc địa Điều này cho thấy, Người không chỉ là một nhà hoạt động cách mạng mà còn là một nhà tư tưởng xuất sắc về quyền con người
Ngay khi đất nước được tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu
Trang 23cầu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm càng tốt để nhân dân được thực
hiện quyền dân chủ Về việc ban hành Hiến pháp, Người cho rằng: “Nước ta
đã bị chế độ quân chủ cai trị rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế nên nước ta không có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự
do dân chủ Chúng ta phải có hiến pháp dân chủ” [29, tr.356] Bản Hiến pháp
năm 1946 mặc dù được soạn thảo trong bối cảnh đất nước còn nhiều khó khăn nhưng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho vấn đề quyền con người, trong 70 Điều, có 18 Điều quy định tập trung về quyền lợi và nghĩa vụ của công dân Ngày 18/12/1959, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp mới - Hiến pháp năm 1959 Bản Hiến pháp này có 21 Điều quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân Lúc bấy giờ, miền Bắc đã giành được độc lập, cơ sở kinh tế của chế độ mới đang bắt đầu hình thành, cuộc kháng chiến ở miền Nam đang bắt đầu Hoàn cảnh kinh tế - xã hội cho phép Hiến pháp năm 1959 quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân một cách đầy đủ hơn, bổ sung thêm các quyền về kinh tế, văn hóa
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001) tại Điều 50 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân
sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân
và được quy định trong Hiến pháp và luật” [34, tr.18] Thì Điều 14 Hiến pháp
năm 2013 đã sửa đổi, bổ sung:
Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền
con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa,
xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khỏe của cộng đồng [40, tr.6]
Trang 24Đây là sự kế thừa có chọn lọc những giá trị bất biến về quyền con người được nghi nhận trong các Tuyên ngôn về Nhân quyền Quốc tế và các bản Hiến pháp của Nhà nước Việt Nam, lần đầu tiên Quyền con người được Hiến pháp đề cập một cách trực tiếp
Quyền con người là một nội dung, một phạm trù chính trị pháp lý vô cùng quan trọng, được nhiều ngành khoa học xã hội - nhân văn nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau và được xem như là một đối tượng nghiên cứu
cơ bản, quan trọng nhất Có thể nói, đây là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa- xã hội, đạo đức… liên quan đến cả quá trình tổ chức thực thi quyền lực nhà nước cũng như các thiết chế
xã hội khác Và cũng chính vì vậy mà có nhiều quan niệm, khái niệm khác nhau về quyền con người Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo những góc độ khác nhau Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo
học thuyết quyền tự nhiên cho rằng: “Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người” [22]
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng cao ủy Liên Hợp
Quốc thường xuyên được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [22, tr.37]
Ở Việt Nam, đã có nhiều tác phẩm phân tích về vấn đề quyền con người Trong đó có tác phẩm Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người
Các tác giả đã định nghĩa quyền con người là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [22, tr.38]
Trang 25Tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng theo quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người được xác định dựa trên hai bình diện chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật Dưới bình diện đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có (những đặc quyền) của con người như nhân phẩm, bình đẳng xã hội, tự do ;dưới bình diện pháp lý, để trở thành quyền, những đặc quyền phải được thể chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuẩn mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người 1.1.2 Đặc trưng của quyền con người
Theo nhận thức chung của cộng đồng thế giới, quyền con người có những đặc trưng cơ bản sau đây:
* Tính phổ biến
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được
áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận
là con người và được hưởng những quyền và sự tự do cơ bản
* Tính đặc thù
Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức
độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội
ở khu vực đó Ví dụ: ở các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác Ngược lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế còn chậm phát triển nên mức độ thụ
Trang 26hưởng an sinh xã hội thấp hơn
* Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền
Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác Ví dụ: nếu một người không được làm việc, không có một mức sống đảm bảo cho sự sống còn của cá nhân thì người đó sẽ ít chú ý đến các quyền dân chủ như: Quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội
Hiện nay có hai trường phái cơ bản nghiên cứu về quyền con người là trường phái quyền con người tự nhiên và trường phái quyền con người pháp lý Những đại diện tiêu biểu cho học thuyết quyền con người tự nhiên gồm Thomas Hobes (1588 - 1679), John Locke (1632 - 1704), Thomas Paine (1731 - 1809) Họ cho rằng, quyền con người là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà tạo hóa ban tặng cho họ Con người phải được hưởng những quyền này không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của nhà nước Vì vậy, không một ai, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền bẩm sinh, cố hữu của con người
Ngược lại, học thuyết về quyền pháp lý cho rằng quyền con người không phải là do tự nhiên ban tặng mà phải do nhà nước xác định và pháp điển hóa thành các điều luật Do đó, quyền con người bị ảnh hưởng bởi tập quán văn
Trang 27hóa và truyền thống chính trị Các học giả tiêu biểu của trường phái quyền pháp lý gồm có Edmun Burke (1729 - 1797) và Jeremy Bentham (1748 - 1832)
1.2 BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
1.2.1 Khái niệm bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng biện pháp xử lý hành chính
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định quan điểm “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người” [49] Như vậy, ở đây Nhà nước nhận về mình
trách nhiệm, nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền con người; bảo đảm các quyền con người; đồng thời chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người Các quyền của con người là những giá trị xã hội được con người nhận thức, thừa nhận và dần được thể chế hóa trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, được các quốc gia thừa nhận, cam kết thực hiện Từ góc nhìn của khoa học luật học, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân ở nước ta, các bảo đảm pháp lý có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng và mang tính quyết định, là cốt lõi, là sự thể chế hóa các bảo đảm chính trị, kinh tế, xã hội, tổ chức thành các chuẩn mực có tính bắt buộc mà nhà nước, các cơ quan nhà nước và xã hội phải thực hiện để bảo đảm các quyền con người Các bảo đảm pháp lý rất đa dạng, phong phú,trước hết là sự ghi nhận các quyền con người, đến việc tạo các điều kiện pháp lý, các điều kiện tổ chức, việc thiết lập cơ chế, bộ máy chuyên trách bảo đảm các quyền con người Bảo đảm quyền con người, là việc xác định các biện pháp pháp lý, các biện pháp tổ chức, cơ chế để bảo vệ các quyền con người, khi bị xâm phạm từ phía cơ quan công quyền, hay từ các chủ thể khác nhằm khôi phục các quyền đã bị xâm phạm Các quyền con người rất đa dạng, được bảo đảm bằng cả hệ thống pháp luật: Từ luật công đến luật tư; từ Luật
Trang 28Hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự đến Luật dân sự, Luật lao động, Luật hôn nhân gia đình Mỗi lĩnh vực pháp luật bảo đảm, bảo vệ quyền con người bằng những phương thức, cách thức chuyên biệt riêng có của mình Pháp luật hành chính là một lĩnh vực rất rộng lớn, luôn gắn với con người từ khi sinh ra đến khi mất đi, không có một lĩnh vực pháp luật nào lại có ý nghĩa sát thực, sâu rộng như lĩnh vực pháp luật hành chính trong việc bảo đảm quyền con người
Trong rất nhiều chế định của Luật hành chính Việt Nam, có một chế định pháp lý mang tính cưỡng chế nhà nước mà khi áp dụng nó đòi hỏi phải có các biện pháp bảo đảm hết sức chặt chẽ, khách quan, khoa học… để bảo đảm, bảo
vệ tốt nhất quyền con người Đó là BPXLHC Theo khoản 2 Điều 3 Luật xử
lý VPHC năm 2012 thì BPXLHC:
“Là biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ
sở cai nghiện bắt buộc” [39, tr.32]
Theo quy định của pháp luật hiện hành, ở nước ta hiện nay có 4
BPXLHC bao gồm:
1- Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Đây là BPXLHC được áp dụng đối với một số đối tượng do pháp luật quy định (Điều 90 Luật xử lý VPHC năm 2012) để giáo dục, quản lý họ tại nơi cư trú trong trường hợp nhận thấy không cần thiết phải cách li họ khỏi cộng đồng
2 - Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng Đây là BPXLHC áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật (quy định tại Điều 92 Luật xử lý VPHC năm 2012) nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường
3 - Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc Là BPXLHC áp dụng đối
Trang 29với người có hành vi vi phạm pháp luật ( được quy định tại Điều 94 Luật xử
lý VPHC năm 2012) để lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở giáo dục bắt buộc
4 - Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là BPXLHC áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật được quy định tại (Điều 96 Luật
xử lý VPHC năm 2012 ) để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới
sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc
Cả 4 biện pháp trên tuy được áp dụng cho những đối tượng cụ thể do pháp luật quy định nhưng có một điểm chung là chúng mang tính cưỡng bức dưới hình thức các biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan nhà nước
có thẩm quyền áp dụng Những biện pháp này, dưới những mức độ khác nhau, hình thức tác động khác nhau… nhưng đều tác động và ảnh hưởng nhất định đến quyền con người
Chính vì lẽ đó, việc bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các BPXLHC là một vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý mà còn có ý nghĩa về chính trị, về văn hóa và đạo đức xã hội
Quá trình áp dụng BPXLHC trên được hiểu là các sự kiện, hoạt động diễn ra theo một trật tự thời gian nhất định kể từ khi phát hiện, lập hồ sơ, xem xét, đề nghị Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng BPXLHC cho đến quá trình thực hiện các quyết định áp dụng BPXLHC của UBND xã, phường, thị trấn (biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn) và của TAND có thẩm quyền
Để bảo đảm quyền con người trong quá trình này đòi hỏi phải quy định và
áp dụng nhiều biện pháp pháp lý khác nhau như hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc áp dụng các BPXLHC; việc xác định thẩm quyền xem xét, áp dụng và đến việc khiếu nại, tố cáo những vi phạm pháp luật của cơ quan, cán bộ công chức nhà nước trong quá trình thực thi công vụ của việc áp dụng các BPXLHC Trong các biện pháp nêu trên, có thể nói biện pháp xem xét, quyết định
áp dụng BPXLHC bằng con đường tư pháp, thông qua vai trò của Tòa án là
Trang 30có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Vì Tòa án là công cụ quan trọng, khách quan
và có hiệu quả nhất trong việc thực thi công lý và bảo vệ quyền con người Chính vì vậy, việc xây dựng khái niệm bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng BPXLHC liên quan và bao hàm một số nội dung, yếu tố sau:
Thứ nhất, các trường hợp, các đối tượng chịu sự tác động của BPXLHC
Đây phải là những đối tượng được pháp luật quy định một cách cụ thể rõ ràng Cụ thể tức là phải được Quốc hội quy định bằng một văn bản luật: Luật
xử lý VPHC
Thứ hai, tùy vào đối tượng cụ thể, việc áp dụng các BPXLHC được thực
hiện theo những trình tự, thủ tục nghiêm ngặt do pháp luật quy định Các trình
tự thủ tục đó bao gồm thủ tục hành chính và trình tự, thủ tục tư pháp
Thứ ba, các biện pháp có nguy cơ phương hại nhất đến quyền con người
cần được Tòa án xem xét và quyết định
Thứ tư, khái niệm cần bao quát các biện pháp bảo đảm quyền con người
từ các biện pháp pháp lý đến các biện pháp đạo đức xã hội
Với ý nghĩa như đã phân tích như trên, theo ý kiến của tác giả thì dưới góc độ khoa học việc bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các
BPXLHC có thể được định nghĩa như sau: Bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các BPXLHC là việc tạo ra các tiền đề, thiết lập các thiết chế pháp lý, các chuẩn mực văn hóa - xã hội, tổ chức… nhằm thi hành
và bảo vệ các quyền con người cho những cá nhân (đối tượng) bị áp dụng các BPXLHC
1.2.2 Vai trò và các yêu cầu của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm quyền con người
1.2.2.1 Vai trò của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm quyền con người
Nghiên cứu về vai trò của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm các quyền con người cũng là gián tiếp nghiên cứu vai trò của hệ thống bộ máy
Trang 31hành chính trong việc bảo đảm quyền con người Vì mọi hoạt động hành chính của bộ máy hành chính nhà nước đều gắn liền với pháp luật hành chính, gắn với thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước Trên cơ sở những tri thức chung về pháp luật hành chính có thể nhận thấy vai trò của pháp luật hành chính trong bảo đảm quyền con người thể hiện ở những điểm căn bản sau đây:
Một là, pháp luật hành chính là phương tiện cụ thể hóa một cách chính
thống phần lớn các quyền, tự do của con người vốn được ghi nhận trong Hiến pháp, trên mọi lĩnh vực của đời sống nhà nước và xã hội: từ lĩnh vực chính trị, hành chính đến lĩnh vực dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân gia đình, lĩnh vực các quyền, tự do của cá nhân của công dân, con người Nhiều quyền cơ bản của con người chỉ có thể được bảo đảm, khi được cụ thể hóa thành các quy phạm pháp luật hành chính, nhờ có các quy phạm pháp luật hành chính mà các quy phạm hiến pháp về quyền con người được thực hiện trên thực tế Như vậy, các quy phạm pháp luật hành chính là phương tiện để đưa các quy phạm hiến pháp về quyền con người đi vào đời sống xã hội, nói cách khác nhờ có quy phạm pháp luật hành chính mà nhiều quy phạm Hiến pháp về quyền con người được thực hiện trên thực tế
Hai là, pháp luật hành chính là phương tiện để giới hạn quyền lực của hệ
thống hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân, tổ chức của công dân Trong bộ máy nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước có đội ngũ cán bộ, công chức rất đông đảo, hoạt động của họ luôn gắn với công vụ nhà nước, gắn với việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đồng thời được bảo đảm bởi bộ máy công lực - bộ máy cưỡng chế (quân đội, cảnh sát, nhà tù), vì vậy, mọi hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, của cán bộ, công chức đều phải được giới hạn bởi pháp luật, trước hết là pháp luật hành chính để tránh sự tuỳ tiện trong việc giải quyết các công việc của cá nhân, tổ chức, đặc
Trang 32biệt là giới hạn việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính
Ba là, pháp luật hành chính xác định giới hạn quyền lực hành chính công
với quyền lực xã hội dân sự trong quản lý hành chính nhà nước.Hành chính công dù trong điều kiện nào cũng luôn có xu hướng lạm quyền, can thiệp vào đời sống dân sự của cá nhân Vì vậy, pháp luật nói chung hay pháp luật hành chính nói riêng cần phải tạo ra giới hạn sự can thiệp của hành chính công vào đời sống dân sự của cá nhân, tổ chức, đồng thời tạo ra một khoảng tự do của
xã hội dân sự, của con người trong đời sống dân sự Thông qua đó mà pháp luật hành chính đã bảo đảm quyền của con người
Bốn là, pháp luật hành chính là phương tiện để công dân có thể kiểm
soát được các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, từ hoạt động
tổ chức có tính nội bộ cơ quan hành chính nhà nước đến hoạt động quản lý của các cơ quan hành chính trên mọi lĩnh vực, từ hoạt động điều hành hành chính đến hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, các hoạt động tổ chức mọi mặt đời sống dân cư trên toàn lãnh thổ quốc gia, vùng lãnh thổ Kiểm soát hoạt động của hành chính công một mặt để tăng cường pháp chế trong quản lý, mặt khác nhằm phòng ngừa, ngăn chặn những hành vi
vi phạm của hệ thống hành chính tới các quyền con người
Năm là, pháp luật hành chính là phương tiện pháp lý, bằng các phương
thức, cách thức, biện pháp khác nhau để bảo vệ các quyền con người khi bị xâm hại trong hầu hết các lĩnh vực quan hệ xã hội Trong thực tiễn đời sống nhà nước và xã hội, quyền con người có thể bị xâm hại từ phía công quyền, hay từ các chủ thể khác, được bảo vệ, khôi phục trước hết bởi bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các quy phạm pháp luật hành chính và các loại quy phạm pháp luật khác mà cơ quan hành chính nhà nước có thể sử dụng, áp dụng Có thể nói không một trường hợp vi phạm pháp luật nào xâm phạm tới quyền của con người mà trước hết lại không được bảo vệ bởi hệ thống hành
Trang 33chính nhà nước Đây là một thực tiễn trong đời sống nhà nước và xã hội cần được nhận thức và thừa nhận.Từ đó mà có nhận thức đầy đủ và khách quan về vai trò của bộ máy hành chính, của pháp luật hành chính
1.2.2.2 Các yêu cầu của pháp luật hành chính trong việc bảo đảm quyền con người
Như vậy, nghiên cứu về bảo đảm quyền con người phải được nghiên cứu
ở tất cả mọi sự điều chỉnh của pháp luật hành chính và ở mọi sự biểu hiện của việc thực hiện trên thực tế các quy định của pháp luật hành chính trực tiếp hay gián tiếp liên quan tới cá nhân, tổ chức Pháp luật hành chính theo nghĩa rộng bao gồm: Pháp luật vật chất (pháp luật nội dung); pháp luật thủ tục (pháp luật hình thức - pháp luật thủ tục hành chính) và pháp luật tố tụng hành chính - một lĩnh vực pháp luật mới hình thành ở Việt Nam từ khi Tòa án có chức năng xét xử hành chính Vì vậy, việc nghiên cứu quyền con người được bảo đảm trong pháp luật hành chính cần được xem xét ở tất cả các bộ phận tạo nên lĩnh vực pháp luật này
Trong đó, bảo đảm quyền con người thông qua vai trò pháp luật tố tụng hành chính được chú trọng hơn Pháp luật tố tụng hành chính - một lĩnh vực, hay một ngành luật mới hình thành ở nước ta từ khi TAND có chức năng xét
xử hành chính - xét xử đối với những tranh chấp hành chính giữa công dân, tổ chức với chính quyền hành chính Tòa án nhân danh công lý, nhân danh nhà nước để phán xét về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị công dân, tổ chức khiếu kiện, thông qua đó mà bảo đảm, quyền tự do của công dân, tổ chức đã bị xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính quyền hành chính Bảo đảm quyền con người trong tố tụng hành chính trước hết phải tạo được điều kiện, tiền đề để công dân, tổ chức dễ dàng tiếp cận tới Tòa án để bảo đảm các quyền của mình, mà họ cho rằng đã
bị quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm tới Mặt khác phải
Trang 34tạo ra được điều kiện thuận lợi để công dân có thể cùng trao đổi, thỏa thuận với cơ quan, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, có hành vi hành chính bị khiếu kiện Có nghĩa phải tạo được sự bình đẳng trong quan hệ tố tụng hành chính giữa công dân với cơ quan, người bị công dân khiếu kiện và với cả Tòa án trong xét xử hành chính Phù hợp với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay phạm vi, đối tượng các quyết định hành chính, hành vi hành chính có thể bị cá nhân, tổ chức khởi kiện tới Tòa án ngày càng được mở rộng Điều này cũng đồng nghĩa là công dân, tổ chức càng có nhiều điều kiện, cơ hội để bảo vệ các quyền của mình khi bị quyết định hành chính, hành vi hành chính của hệ thống hành chính nhà nước và các cơ quan khác của nhà nước xâm phạm tới Tuy vậy, cũng phải nhận thấy một thực tế là về mặt pháp lý không phải mọi quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân đều có thể hướng tới Tòa án để được bảo vệ Pháp luật mới chỉ dừng lại ở những quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước và một số cơ quan khác của nhà nước khi thực hiện hoạt động hành chính bị khiếu kiện
Bên cạnh việc ban hành các quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, cơ quan hành chính nhà nước còn ban hành những chính sách, những văn bản quy phạm pháp luật, không ít những trường hợp xâm phạm tới lợi ích của những đối tượng xã hội nhất định, nhưng các đối tượng đó lại không có quyền khiếu nại, khiếu kiện về chính sách, văn bản quy phạm pháp luật để bảo vệ các quyền, lợi ích của mình Thực tiễn này dẫn đến tình trạng là quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức bị tước đoạt bởi chính công quyền, nhưng
không có cơ chế để bảo vệ Đây là một “khoảng trống” của pháp luật nước ta
trong việc bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân khi bị xâm phạm bởi hệ thống hành chính, cần được bổ sung
Trang 35CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
2.1 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH TRƯỚC KHI LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH NĂM 2012 CÓ HIỆU LỰC
2.1.1 Thực trạng pháp luật bảo đảm quyền con người trong quá trình áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
Trước 01/7/2013, các biện pháp xử lý hành chính gọi là các biện pháp xử
lý hành chính khác Các biện pháp xử lý hành chính khác là những biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt, chỉ áp dụng đối với chủ thể vi phạm là cá nhân, căn cứ vào nhân thân và quá trình vi phạm pháp luật của đối tượng Hình thức này được áp dụng không qua cơ quan xét xử mà được áp dụng bởi
cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền bằng quyết định hành chính, có tính cưỡng chế nghiêm khắc, ít nhiều có liên quan đến sự hạn chế quyền tự do cá nhân trong một thời gian nhất định Theo Pháp lệnh Xử lý VPHC 1995 các biện pháp cưỡng chế hành chính này được xếp vào nhóm biện pháp xử lý VPHC khác Pháp lệnh Xử lý VPHC 2002 đã được sửa đổi,
bổ sung theo hướng nhân đạo hơn nhằm tạo điều kiện cho người vi phạm sớm hoà nhập cộng đồng Theo Pháp lệnh Xử lý VPHC 2002 có các BPXLHC khác sau đây:
- Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
- Đưa vào trường giáo dưỡng;
- Đưa vào cơ sở giáo dục;
- Đưa vào cơ sở chữa bệnh
Các BPXLHC khác chỉ được áp dụng đối với cá nhân là người Việt
Trang 36Nam, có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Ngoài Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 1995, được sửa đổi, bổ sung tại Pháp lệnh Xử lý VPHC năm 2002, các quy định về các BPXLHC khác còn được quy định tại rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác
Về ưu điểm, nhìn chung, hệ thống các văn bản bao quát hầu hết các lĩnh vực liên quan đến việc áp dụng các BPXLHC khác Các văn bản quy định tương đối chi tiết về trình tự thủ tục từ việc quyết định áp dụng đến tổ chức thực hiện các BPXLHC khác Một điều cần nhấn mạnh là tính thích ứng với những thay đổi của thực tiễn, của các văn bản pháp luật luôn được đảm bảo
do đó đã có đóng góp tích cực vào việc giáo dục, cảm hóa và đấu tranh, phòng chống những vi phạm pháp luật trong cuộc sống
* Nhận xét một số hạn chế, bất cập chủ yếu của pháp luật quy định về các BPXLHC khác
- Về số lượng: hiện chúng ta đang có một hệ thống các văn bản rất đồ sộ
có chứa đựng các BPXLHC khác, kể từ pháp lệnh của Ủy ban thường vụ quốc hội cho đến các văn bản của Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ Hệ thống các văn bản được ban hành khá đồ sộ nhưng chồng chéo, nhiều mâu
thuẫn, nhiều vấn đề chưa rõ ràng, minh bạch "Có thể coi việc giao cho quá nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các quy định có liên quan đến các BPXLHC khác là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chồng chéo, phức tạp và khó khăn cho việc hiểu, vận dụng các quy định này trong thực tiễn [6]
Một trong những hạn chế, bất cập chủ yếu trong các quy định hiện hành
về các BPXLHC khác là sự chưa phù hợp giữa một số quy định của văn bản hướng dẫn Pháp lệnh với các quy định của bản thân Pháp lệnh Đây là một trong những nguyên nhân của sự chậm trễ trong việc ban hành các văn bản
Trang 37pháp luật về BPXLHC khác Và cũng là nguyên nhân của hiệu quả thấp trong việc áp dụng, tổ chức thực hiện các BPXLHC khác trên thực tế Các nghị định của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh đều được ban hành sau gần một năm hoặc hơn một năm kể từ ngày Pháp lệnh có hiệu lực thi hành Thậm chí có những nghị định phải sau hai năm mới được ban hành kể từ ngày Pháp lệnh có hiệu lực thi hành
Cùng với việc chậm trễ ban hành các nghị định của Chính phủ là việc chậm trễ ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành của các Bộ, ngành chức năng do phải chờ văn bản cấp trên, v.v… Mặc dù các Nghị định quy định về chế độ áp dụng các BPXLHC khác đã được ban hành nhưng nhiều địa phương vẫn trông chờ văn bản hướng dẫn của các Bộ nên chậm trễ áp dụng quy định của các văn bản mới; thậm chí có địa phương vẫn áp dụng quy định
Hội đồng tư vấn cấp tỉnh với lý do “làm như vậy cho bảo đảm hơn, chính xác hơn” Đồng thời với sự mâu thuẫn, chồng chéo là sự thiếu hụt, tạo lên nhiều
khoảng trống trong hệ thống các quy định về các BPXLHC khác, ví dụ về biện pháp cưỡng chế trong áp dụng các BPXLHC khác, quy định về quản lý tang vật, phương tiện VPHC
- Về đối tượng áp dụng biện pháp hành chính khác: Lượng văn bản lớn
nhưng có một số vấn đề vẫn chưa được bao quát Do vậy, trên thực tế đã dẫn đến tình trạng một số bộ đã ban hành văn bản pháp luật mở rộng phạm vi đối tượng bị
áp dụng các BPXLHC khác so với Pháp lệnh (cụ thể: Nghị định số
163/2003/NĐ-CP ngày 19/12/2013 “Quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo
dục tại xã, phường, thị trấn” Thông tư số 22/2004/TT-BCA ngày 15/12/2004 hướng dẫn thi hành một số quyết định của nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày 19/1/2003 quy định chi tiết thi hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn Việc làm này được xem như một giải pháp tình thế để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Tuy vậy, xét về phương diện pháp lý thì đây lại là biểu hiện của sự không
Trang 38tuân thủ trật tự thứ bậc về hiệu lực pháp lý của hệ thống các văn bản pháp luật
- Về đảm bảo nguyên tắc tính tối cao của luật và quản lý xã hội bằng pháp luật: Các nguyên tắc trên chưa được thể hiện rõ trong các quy định pháp luật
và trong thực tiễn áp dụng Xét về bản chất, các BPXLHC khác thực chất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân, quyền con người mà đáng lẽ phải được quy định ở văn bản luật Trong khi đó, không chỉ có pháp lệnh quy định mà trên thực tế lại còn rất nhiều cơ quan hành chính cũng có thẩm quyền quy định về các BPXLHC Một trong những lý do đưa đến tình trạng trên là xuất phát từ nhận thức cho rằng đây là các biện pháp ít nghiêm khắc, biện pháp xử lý nhẹ, là bước đệm để áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, cho nên chưa coi trọng việc xây dựng văn bản luật
về các BPXLHC khác Nhận thức này cũng được biểu hiện rõ nét trong khâu
sự lẫn lộn giữa trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội Việc không có cơ quan chịu trách nhiệm chính chỉ đạo, điều hành dẫn đến hiện tượng cha chung không ai khóc, công việc trì trệ do các cơ quan ỉ lại nhau góp phần gây cho việc tổ chức thực hiện không hiệu quả Cùng với việc chưa quy định cơ quan chịu trách nhiệm đầu mối, việc không quy định rõ ràng về cơ chế thưởng, phạt cho thành tích và những sai lầm, vi phạm của các
cơ quan, đoàn thể cũng là một nhược điểm dẫn đến việc tổ chức thực hiện nhiều khi trở nên hình thức
Trang 39- Về trình tự, thủ tục quyết định và áp dụng các BPXLHC khác: Quy định
của pháp luật nhìn chung là rất phức tạp, rườm rà, chưa đảm bảo tính kịp thời, linh hoạt, tiết kiệm và hiệu quả Ví dụ như, sau khi Trưởng Công an xã lập biên bản về việc đưa một đối tượng nào đó vào trường giáo dưỡng thì cần phải có sự xét duyệt của hội đồng tư vấn với sự tham gia của nhiều cơ quan đoàn thể, hoặc việc giao cho tổ chức xã được giao trách nhiệm giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải đứng ra chủ trì cuộc họp trên cơ sở kêu gọi sự phối hợp với cơ quan công an và một số tổ chức xã hội khác… Nói cách khác đây chính là biểu hiện của việc chưa xác định rõ ràng, minh bạch giữa trách nhiệm pháp lý của chính quyền và sự tham gia của các tổ chức xã hội Thực trạng này có căn nguyên là: bất kỳ việc gì cũng phải có nhiều loại chủ thể là cá nhân, tổ chức cùng tham gia vào hầu hết mọi công đoạn theo nguyên tắc của
Cơ chế phối hợp Phối hợp nhưng không xác định rõ một đầu mối chịu trách nhiệm về toàn bộ
Tại các cơ sở giáo dục, chương trình, kế hoạch cho việc thực hiện các biện pháp cũng chưa thực sự rõ ràng, hiệu quả Thời gian áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ngắn, cộng với tâm lý phân biệt của chính quyền cũng như cộng đồng, nên khi hết thời hạn chấp hành biện pháp việc hoà nhập của đối tượng đã bị áp dụng các BPXLHC khác là rất khó khăn và dẫn đến ngựa quen đường cũ Tình hình tương tự cũng xẩy ra trong việc áp dụng các biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, theo đó tính hiệu quả của biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào quy định về sự phối hợp với các cơ quan y
tế xác định bệnh án Ngoài ra còn có hiện tượng lạm dụng việc áp dụng biện pháp này dẫn đến nhiều trường hợp áp dụng chưa đúng đối tượng (chưa xác định rõ là người nghiện ma túy hay do quậy phá, đã có tiền án, tiền sự hay chưa…), tức là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế kể cả khi không cần thiết Hiện tượng này có thể xuất phát từ nhiều lý do trong đó có lý do “bệnh
Trang 40thành tích”, lý do do sức ép của các gia đình muốn đưa tất cả các đối tượng nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh…
* Thực trạng công tác thi hành pháp luật về áp dụng các BPXLHC ở nước ta trong thời gian qua được thể hiện cụ thể như sau
- Về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
Theo số liệu thống kê tại báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về áp dụng BPXLHC đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở
giáo dục và đưa vào cơ sở chữa bệnh từ năm 2003 đến 2013 của Tòa án nhân dân tối cao.Từ năm 2003 đến tháng 6 năm 2013 các cơ sở giáo dục đã tiếp
nhận 43.793 người (nam chiếm 98,82%, nữ chiếm 1,18%) Ở nước ta Bộ Công an đang quản lý 06 cơ sở giáo dục với 5.496 trại viên (trong đó có 40 nữ) Trong số này, số lượng trại viên có từ 1 - 6 tiền án chiếm 31,25% (có cả án chung thân) Đa phần các đối tượng này thuộc loại lưu manh, côn đồ, hung hãn, nhiều tiền án, tiền sự, nghiện hút, trình độ văn hóa thấp Hành vi vi phạm chủ yếu là gây rối trật tự công cộng chiếm 44,12% (các cơ sở giáo dục phía Nam có tỷ lệ cao: Cồn Cát 66,88%, Bến Giá 52,86%, Phú Hòa 52,12%); trộm cắp tài sản chiếm 38,25% (các cơ sở giáo dục phía Bắc có tỷ lệ cao như Thanh Hà 75,34%, Hoàn Cát 57,68%); cố ý gây thương tích chiếm 11,03% Trong giai đoạn từ năm 2008-2012, các cơ sở giáo dục Thanh Hà, Hoàn Cát
số trại viên nghiện ma túy chiếm 70%, nhiễm HIV chiếm 50% Đối tượng bị
áp dụng biện pháp chủ yếu trong độ tuổi từ 18 đến 28 tuổi chiếm 58,33%; từ
29 đến 40 tuổi chiếm 29,76% Trình độ học vấn của trại viên rất thấp, tiểu học 32,34%, trung học cơ sở 40,55% Thời hạn chấp hành 24 tháng chiếm 77,22%; từ 18 đến 24 tháng chiếm 11,51%; từ 12 đến 18 tháng chiếm 8,95%;
từ 6 đến 12 tháng chiếm 2,37%
Vấn đề xếp loại, đề nghị giảm thời hạn, tạm đình chỉ, miễn chấp hành, tổ chức thăm gặp thực hiện chặt chẽ, đúng pháp luật, tỷ lệ trại viên xếp loại