Đóng góp khoa học của luận văn Là một công trình nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn làm rõ những khái niệm, địa vị pháp lý, các
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ THỊ PHƯỢNG
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Hoàng Thị Hồng Chiêm
Trang 3MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ 7
1.1 Khái niệm và đặc điểm về người bị tạm giữ 7
1.1.1 Khái niệm người bị tạm giữ 7
1.1.2 Đặc điểm về người bị tạm giữ 10
1.2 Quy định của pháp luật TTHS một số nước về người bị tạm giữ 18
1.2.1 Người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự Liên bang Nga 18
1.2.2 Người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự cộng hòa Pháp 20
1.2.3 Người bị tạm giữ trong Luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 22
1.3 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2003 về người bị tạm giữ 24
1.3.1 Giai đoạn 1945 - 1954 24
1.3.2 Giai đoạn từ 1954 – 1976 25
1.3.3 Giai đoạn từ 1976-1989 27
1.3.4 Giai đoạn từ 1989 đến trước năm 2003 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 30
2.1 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về người bị tạm giữ 30
Trang 42.1.1 Quyền của người bị tạm giữ 30
2.1.2 Nghĩa vụ của người bị tạm giữ 43
2.1.3 Một số quy định chung liên quan đến người bị tạm giữ 45
2.2 Thực trạng áp dụng quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về người bị tạm giữ trên địa bàn Thành phố Hà Nội 51
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 51
2.2.2 Những hạn chế và nguyên nhân 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ 73
3.1 Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự 73
3.2 Một số giải pháp khác 86
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 96
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS Bộ luật hình sự
BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự ĐTV Điều tra viên
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng thống kê tình hình bắt giữ và phân loại từ năm
2009-2013 53 Bảng 2.2: Bảng thống kê tình hình giải quyết người bị tạm giữ từ
năm 2009-2013 54
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cải cách tư pháp đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm coi là nhân tố quan trọng thúc đẩy quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Nhằm tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, ngày 02 tháng 01 năm 2002 Bộ Chính trị
đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TƯ về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49-NQ/TƯ ngày 02/06/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Các Nghị quyết trên đã chỉ rõ nhiều vấn
đề cụ thể của tố tụng hình sự cần phải được nghiên cứu một cách toàn diện để thể chế hóa vào quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạo cơ sở pháp lý nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân nên quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được luật pháp trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam quy định rõ ràng, nhằm bảo vệ quyền lợi của mọi công dân được công bằng Để đạt được mục đích đó, trước hết trong công tác xử lý tin báo tố giác tội phạm và phân loại việc bắt, giữ người vi phạm pháp luật cần phải được chú trọng và tăng cường, nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử bảo đảm tính trung thực, công minh, đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội và không
bỏ lọt kẻ phạm tội Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã xảy ra rất nhiều vụ việc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng vi phạm nghiêm trọng thủ tục bắt giữ người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, gây lên những hậu quả nghiêm trọng đối với người bị tạm giữ Hệ lụy kéo theo đó là tình trạng bắt oan người vô tội, vi phạm các quyền con người, xâm phạm
Trang 8quyền tự do thân thể…không đảm bảo đúng quyền của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật
Mặc dù đã bị dư luận và xã hội lên án xong vấn đề bảo đảm các quyền
và lợi ích chính đáng cho người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam cần được nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện hơn nữa Có thể thấy
từ trước tới nay chưa có một nghiên cứu nào, nghiên cứu một cách toàn diện
và sâu sắc về người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam với quy mô là một đề tài độc lập, chuyên biệt Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu và từng bước hoàn thiện các quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua những nghiên cứu và tìm hiểu về người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam, nhận thấy các nghiên cứu chuyên sâu về đối tượng là người bị tạm giữ trong TTHS là rất hạn chế Mặc dù vậy thì có khá nhiều các nghiên cứu khoa học, các bài viết của các nhà khoa học về người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong TTHS Việt Nam Có thể thống kê một số nghiên cứu
và bài viết của các nhà khoa học để thấy rõ hơn tình hình nghiên cứu:
1 Nguyễn Văn Điệp: Các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam trong TTHS Việt Nam, thực trạng, nguyên nhân và giải pháp, Luận án tiến sỹ
án tiến sỹ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010;
4 PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn: Bảo đảm quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong TTHS Việt Nam, Tạp chí Luật học
số 3/2011;
Trang 95 Ths Đoàn Tạ Cửu Long và Ths Nguyễn Tấn Hảo: Một số ý kiến
hoàn thiện Bộ luật TTHS về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo, Tạp chí kiểm sát số 21/2012;
6 Ths Đinh Thế Hưng: Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng Hình
sự, Tham luận tại Hội thảo: Các điều kiện đảm bảo quyền con người ở Việt Nam do Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Viện nhà nước và Pháp luật tổ chức ngày
9 ĐHQG Hà Nội, khoa luật (2001), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam,
NXB Đại học Quốc Gia, Hà Nội;
10 Trường đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Luật TTHS Việt Nam, NXB Công an nhân dân
Trên cơ sở những nghiên cứu và những bài viết của các nhà khoa học cùng với hệ thống các sách giáo trình, sách chuyên khảo sẽ là những cơ sở khoa học để chúng ta tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa về người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu những lý luận chung
và tình hình thực tiễn về người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu chuyên sâu về các
quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam và một số nước khác trên thế giới Thực trạng về tình hình người bị tạm giữ trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong năm năm trở lại đây Đồng thời đưa
ra những giải pháp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm
Trang 10giữ trong TTHS, khắc phục những hạn chế, vướng mắc đối với quy định của pháp luật Việt Nam về người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam
4 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về người bị tạm giữ
trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn đề xuất những giải pháp khắc phục những hạn chế, vướng mắc và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với người bị tạm giữ Đặc biệt là đảm bảo cho việc phân loại đối tượng bị tạm giữ sau chuyển khởi tố đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội trong hoạt động TTHS
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, trong quá trình
nghiên cứu luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
+ Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về người bị tạm giữ mà nhất
là về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam
+ Làm rõ những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam
+ Đánh giá thực tiễn, tình trạng người bị tạm giữ trên địa bàn Thành phố
Hà Nội trong năm năm gần đây để có cái nhìn bao quát về người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam
+ Đưa ra những phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về người bị tạm giữ và những giải pháp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận:
+ Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê
Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Đường lối quan điểm của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta về công cuộc đấu tranh
Trang 11phòng và chống tội phạm nói chung và giải quyết vụ án hình sự nói riêng
+ Cơ sở thực tiễn của luận văn là dựa trên cơ sở nghiên cứu luật TTHS
thực định và hoạt động giải quyết vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các văn bản hướng dẫn về hoạt động TTHS
- Phương pháp nghiên cứu: Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử Kết hợp với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu: so sánh, phân tích, tổng hợp, khảo sát thực
tế để chọn lọc tri thức khoa học, kinh nghiệm thực tiễn liên quan đến người bị tạm giữ trong TTHS, từ đó làm sáng tỏ nội dung của luận văn
6 Đóng góp khoa học của luận văn
Là một công trình nghiên cứu độc lập và chuyên sâu về người bị tạm giữ trong pháp luật TTHS Việt Nam, luận văn làm rõ những khái niệm, địa vị pháp
lý, các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ để giúp cho việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ được đúng người, đúng tội, không bỏ lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội Từ đó mở đầu cho một giai đoạn TTHS được chính xác, kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, luận văn đưa ra một số kiến nghị, giải pháp khắc phục những vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật hiện hành đối với người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận văn, góp phần giải đáp về mặt lý luận và thực tiễn những vấn đề liên quan đến người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam Đồng thời, giúp cho người bị tạm giữ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm giữ và các cơ quan THTT hình sự áp dụng các quy định pháp luật về người bị tạm giữ một cách đúng đắn, hiệu quả và chính xác
Luận văn có thể dùng làm tài liệu cho việc nghiên cứu, tham khảo và hoàn thiện pháp luật đối với những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 127 Bố cục của Luận văn
Ngoµi phÇn më ®Çu, kÕt luËn, môc lôc vµ danh môc tµi liÖu tham kh¶o, néi dung LuËn v¨n gåm 3 ch-¬ng
Chương 1: Một số vấn đề chung về người bị tạm giữ
Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành
về người bị tạm giữ và thực trạng áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Một số giải pháp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
của người bị tạm giữ
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
1.1 Khái niệm và đặc điểm về người bị tạm giữ
1.1.1 Khái niệm người bị tạm giữ
Theo Từ điển luật học, địa vị pháp lý là vị trí của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ với những chủ thể pháp luật khác trên cơ sở các quy định của pháp luật Địa vị pháp lý của chủ thể pháp luật thể hiện thành tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể, qua đó xác lập cũng như giới hạn khả năng của chủ thể trong các hoạt động của mình Thông qua địa vị pháp lý, ta
có thể phân biệt được chủ thể pháp luật này với chủ thể pháp luật khác, đồng thời cũng có thể xem xét vị trí, tầm quan trọng của chủ thể pháp luật trong mối quan hệ pháp lý [27, tr.244]
Do vậy, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ pháp luật có vai trò vô cùng quan trọng đối với mọi chủ thể Đối với chủ thể
có địa vị pháp lý, sẽ giúp họ thực hiện tốt hơn các quyền và nghĩa vụ của mình Còn đối với các chủ thể khác, việc nắm vững địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật sẽ giúp họ không xâm phạm đến quyền và nghĩa vụ của người khác
Trong tố tụng hình sự, việc nắm vững địa vị pháp lý của các chủ thể càng có vai trò quan trọng hơn hết Bởi vì, khi giải quyết một vụ án hình sự phải trải qua rất nhiều giai đoạn khác nhau Và tại mỗi giai đoạn, địa vị pháp
lý của các chủ thể tham gia tố tụng cũng không giống nhau Việc xác định một người bị coi là tạm giữ từ khi nào rất quan trọng, khi đó xác định vị trí của người đó là người tham gia vào quá trình THTT, xác lập quyền và nghĩa
vụ của người bị tạm giữ Tuy nhiên, việc xác định thời điểm một người bị coi
là người bị tạm giữ là rất khó, bởi vì, đối tượng của người bị tạm giữ trong đó
Trang 14bao gồm cả người chưa bị khởi tố hình sự và cả những người đã bị khởi tố hình sự Tư cách tố tụng của người bị tạm giữ bắt đầu từ khi có quyết định tạm giữ và chấm dứt chuyển sang vai trò của một chủ thể khác khi hết thời hạn tạm giữ hoặc hết thời hạn gia hạn tạm giữ Có thể xảy ra một số trường hợp khi chấm dứt tư cách tố tụng của người bị tạm giữ như sau:
- Bị khởi tố bị can và có quyết định tạm giam thay thế
- Bị khởi tố và có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ, thay thế biện pháp ngăn chặn khác
- Có quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ chuyển xử lý hành chính
- Có quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, không xử lý hành chính
- Viện kiểm sát trả tự do theo khoản 1 Điều 28 Luật tổ chức VNSND Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam cho đến nay chưa có một khái niệm pháp lý nào về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ Từ những phân tích trên theo chúng tôi có thể hiểu: Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của một người khi có quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng có quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án BLTTHS năm
2003 đưa ra khái niệm về người bị tạm giữ như sau: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ” Người bị tạm giữ có thể là người chưa bị khởi tố về hình
sự, đó là những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, trường hợp phạm tội tự thú trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố,
và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Mặc dù, họ chưa bị khởi tố về hình sự nhưng trên thực tế họ vẫn phải chịu sự cưỡng chế của cơ quan đã tạm giữ họ
Họ bị hạn chế một số quyền tự do, bị buộc phải khai báo hoặc trả lời các câu hỏi của cán bộ điều tra
Trang 15Người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm: bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành
án bỏ trốn nhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội ra đầu thú và đã có quyết định tạm giữ đối với họ Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng hình sự, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật
Hay nói cách khác, người bị tạm giữ là người bị nghi đã thực hiện tội phạm và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền Để trở thành người bị tạm giữ cần có đủ hai điều kiện:
+ Điều kiện về nội dung: khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; người mà bị người khác có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy
và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm và thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn; người mà thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc nơi ở nên cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ; người bị phát hiện đang thực hiện tội phạm; người có lệnh truy nã hoặc người
tự thú, đầu thú sau khi thực hiện tội phạm
Đối với trường hợp bắt khẩn cấp, bị bắt do phạm tội quả tang, người tự thú, đầu thú, người bị tạm giữ bị nghi thực hiện tội phạm, nhưng chưa bị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, để kịp thời ngăn chặn tội phạm, không để người đó tiếp tục phạm tội hay phạm tội mới,
để người đó không có điều kiện cản trở việc tiến hành điều tra, xác minh…của cơ quan điều tra thì BLTTHS quy định cần phải cách ly họ trong thời hạn nhất định Đối với trường hợp người bị tạm giữ bị bắt theo lệnh truy
nã, tuy người bị tạm giữ đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nhưng việc truy cứu trách nhiệm hình sự đó không phải do người có thẩm quyền quyết định tạm giữ thực hiện Vì thế cho nên đối với người đó chỉ được (và cũng chỉ cần)
Trang 16tạm giữ trong một thời hạn ngắn để chuyển giao cho người có trách nhiệm truy cứu trách nhiệm hình sự xử lý vụ án theo quy định của pháp luật
+ Điều kiện về hình thức: đối với người đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS Theo quy định của Điều
86 và Điều 81 BLTTHS năm 2003 thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp, người chỉ huy Quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng hoặc Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển là những người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ [13, tr.32-33]
Từ những phân tích ở trên, theo quan điểm của tôi có thể đưa ra khái
niệm khoa học về người bị tạm giữ như sau: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ của người có thẩm quyền tố tụng; có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật
1.1.2 Đặc điểm về người bị tạm giữ
Thứ nhất, là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp:
Là khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hay sau khi người đó thực hiện tội phạm rồi bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm Người bị tạm giữ trong trường hợp này là người chưa bị khởi tố về hình sự Việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp nhằm ngăn chặn kịp thời tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, tiêu hủy chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra của người thực hiện tội phạm và được áp dụng trong những trường hợp cấp bách Từ đó, tạo điều kiện cho cơ quan điều tra có thẩm quyền có đủ thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, bước đầu xác định tính chất, mức độ của hành vi, nhân thân của người
Trang 17bị tạm giữ Đồng thời để đảm bảo các quyền tự do cá nhân của con người, Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định một cách rõ ràng, cụ thể các trường hợp bắt khẩn cấp như sau:
Trường hợp khẩn cấp thứ nhất: Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Đây là trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã có quá trình theo dõi hoặc kiểm tra xác minh các nguồn tin biết người đó (một người hoặc nhiều người) đang bí mật tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải bắt ngay trước khi tội phạm
được thực hiện Việc bắt người này cần phải đảm bảo hai điều kiện: Một là,
có căn cứ khẳng định một người (hoặc nhiều người) đang chuẩn bị thực hiện
tội phạm Hai là, tội phạm đang chuẩn bị được thực hiện là tội phạm rất
nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng Chuẩn bị thực hiện tội phạm, còn một khoảng thời gian nhất định với việc thực hiện tội phạm, nên không phải mọi hành vi chuẩn bị thực hiện tội phạm đều cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 17 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định chỉ người nào chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mới phải chịu trách nhiệm hình sự) Người bị bắt trong trường hợp này, thường phải bị tạm giữ vì khi quyết định bắt khẩn cấp cơ quan điều tra đã có căn cứ để xác định rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng
Trường hợp khẩn cấp thứ hai: Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Đây là trường hợp tội phạm đã xảy ra, nhưng người thực hiện tội phạm không bị bắt ngay Sau một thời gian, người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội
Trang 18phạm chính mắt trông thấy đã xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Nếu cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn thì ra lệnh bắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần phải đảm bảo hai
điều kiện: Một là, phải có người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt
trông thấy và trực tiếp xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm Việc xác nhận phải mang tính chất khẳng định, chứ không thể “hình như”, hoặc
“nhìn giống như” người đã thực hiện tội phạm Hai là, xét thấy cần ngăn chặn
ngay việc người đó trốn
Đối với người bị bắt trong trường hợp này thì việc ra quyết định tạm giữ là cấp bách và cần thiết Khi đối tượng đã thực hiện hành vi phạm tội và
cơ quan điều tra xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó bỏ trốn Cho nên ngay sau khi bắt khẩn cấp cần phải tạm giữ họ nhằm ngăn chặn việc họ bỏ trốn, gây cản trở cho việc điều tra Đồng thời cũng tạo điều kiện để cơ quan điều tra có thời gian thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác, phục vụ cho việc củng cố hồ sơ để đưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn cho phù hợp với hành vi phạm tội
Trường hợp khẩn cấp thứ ba: Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Đây là trường hợp cơ quan
có thẩm quyền chưa có đủ tài liệu, chứng cứ để xác định người đó thực hiện tội phạm, nhưng qua việc phát hiện thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người mà người đó bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn việc người này bỏ trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì người đó bị bắt khẩn cấp Việc bắt người trong trường hợp này cần đảm bảo hai điều kiện sau:
Một là, khi thấy dấu vết tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi
thực hiện tội phạm Việc tìm thấy dấu vết của một tội phạm chỉ được coi là
một điều kiện để bắt khẩn cấp Hai là, cần ngăn chặn ngay việc người bị nghi
Trang 19thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ Khi có căn cứ cho rằng người
bị nghi thực hiện tội phạm trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ thì cơ quan có thẩm quyền ra lệnh bắt khẩn cấp
Trong thực tiễn thi hành pháp luật, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp thường sẽ bị tạm giữ vì khi có đủ căn cứ để quyết định bắt khẩn cấp, cơ quan điều tra đã xác định cần phải ngăn chặn hành vi phạm tội và hành vi cản trở việc điều tra, việc khám phá tội phạm của người thực hiện hành vi phạm tội (việc người đó trốn hoặc tiêu hủy chứng cứ …) Do đó khả năng người bị tạm giữ trong trường hợp bắt khẩn cấp là rất lớn
Thực tế, có trường hợp dù bị bắt khẩn cấp nhưng người bị bắt không bị tạm giữ đó là khi Viện kiểm sát không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp hay người
bị bắt khẩn cấp bị bệnh hiểm nghèo mà không thể tạm giữ được hoặc có thể xuất hiện những tình tiết mới loại trừ căn cứ bắt khẩn cấp và phải trả tự do cho người bị bắt
Thứ hai, là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang:
Khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc bị đuổi bắt Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành
vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần thiết phải điều tra, xác minh Điều 82
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định những trường hợp phạm tội quả tang bao gồm:
Trường hợp thứ nhất: Người đang thực hiện tội phạm thì bị phát hiện Đây là trường hợp tội phạm đã bắt đầu được thực hiện, đang diễn ra và chưa kết thúc trên thực tế, đang gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ Việc người đang thực hiện tội phạm bị phát hiện hay không, tùy thuộc vào đặc điểm của cấu thành tội phạm, bối cảnh xảy ra tội phạm; khả năng, kiến thức, vị trí công tác của người phát giác sự kiện phạm tội
Trường hợp hợp thứ hai: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị
Trang 20phát hiện Đây là trường hợp người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn, chưa kịp cất giấu tang vật hoặc đang cất giấu tang vật, đang xóa những dấu vết của tội phạm trước khi chạy trốn thì bị người khác phát hiện Vì vậy, khi bắt người phạm tội vừa thực hiện hành vi phạm tội xong, chưa kịp chạy trốn và sự phát hiện, bắt giữ người phạm tội phải xảy ra không gián đoạn về mặt thời gian
Trường hợp thứ ba: Người ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị đuổi bắt Trong trường hợp phạm tội quả tang này, người phạm tội đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã chạy trốn và bị đuổi bắt Trong trường hợp này, việc đuổi bắt phải liền ngay sau khi chạy trốn thì mới có cơ sở xác định đúng người phạm tội, tránh bắt nhầm người không thực hiện tội phạm Nếu việc đuổi bắt bị gián đoạn về mặt thời gian so với hành vi chạy trốn thì không được xem là bắt quả tang mà có thể bắt theo trường hợp khẩn cấp
Với người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang như đã nêu trên thì có thể bị tạm giữ Tuy nhiên, khác với trường hợp người bị bắt khẩn cấp thường bị tạm giữ, các trường hợp phạm tội quả tang thì không phải mọi trường hợp bị bắt đều phải tạm giữ Qua thực tiễn áp dụng và căn cứ vào quy định của pháp luật về người bị tạm giữ có thể thấy: Người phạm tội quả tang
mà hành vi phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội có nơi
cư trú rõ ràng, sự việc phạm tội đơn giản và người phạm tội không có dấu hiệu bỏ trốn hay cản trở hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra thì không cần phải tạm giữ họ
Chẳng hạn: Nguyễn Văn A đang thực hiện hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản (lấy trộm xe đạp điện của Nguyễn Thị B) được quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS thì bị phát hiện và bị bắt quả tang Bản thân A chưa có tiền
án, tiền sự, hành vi phạm tội này thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng,
Trang 21A có nơi cư trú rõ ràng, có người bảo lãnh cụ thể Trong trường hợp này, không cần thiết phải ra quyết định tạm giữ đối với A
Bởi như đã nêu, việc ra quyết định tạm giữ đối với người phạm tội nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn ngừa người bị tạm giữ tiếp tục phạm tội hoặc lẩn tránh, cản trở cho công tác điều tra của cơ quan điều tra, đồng thời cũng tạo điều kiện cho cơ quan điều tra xác minh chính xác hành vi phạm tội, lý lịch nhân thân của người bị tạm giữ Ở đây hành vi phạm tội đã xảy ra, người phạm tội có nơi cư trú rõ ràng, không có dấu hiệu gây cản trở hoạt động điều tra, tình tiết phạm tội đơn giản, tính chất ít nghiêm trọng thì việc tạm giữ hoặc gia hạn tạm giữ sẽ là không cần thiết
Thứ ba, là người bị bắt theo quyết định bị truy nã:
Trước đây, Sắc luật số 002-SLt ngày 18/6/1957 quy định, người đang
bị truy nã là một trường hợp phạm pháp quả tang mà người công dân nào cũng có quyền bắt và giải ngay đến cơ quan có thẩm quyền nơi gần nhất vì có quan niệm không chính xác khi cho rằng: người đang bị truy nã là người phạm tội quả tang Trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 (Điều 64), cũng như trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 82), người phạm tội quả tang và bắt người đang bị truy nã được phân biệt rõ ràng Bởi vì, người đang
bị truy nã là người đã thực hiện hành vi phạm tội, đã bị cơ quan Công an ra quyết định (hoặc lệnh) truy nã Theo quy định tại quy chế về công tác truy nã của Bộ Công an thì những người thuộc diện cơ quan Công an phải ra lệnh truy nã gồm: Bị can (người đã bị khởi tố về hình sự) bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Bị cáo (người đã bị tòa án quyết định đưa ra xét xử) bỏ trốn hoặc không biết đang ở đâu; Phạm nhân (người đang thi hành án phạt tù trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ) trốn trại
Trong thực tế, người đang bị truy nã là người đã bị khởi tố về hình sự, đã
có tư cách tố tụng là bị can, bị cáo hay người bị kết án về hình sự chưa thi hành
Trang 22án hoặc đang thi hành án thì bỏ trốn Hành vi của người đang bị truy nã không phải là hành vi đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện phạm tội thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt nên người đang bị truy nã không phải là người phạm tội quả tang Tuy vậy, trong thực tế việc ngăn chặn ngay người đang bị truy nã trốn tránh pháp luật cũng mang tính chất cấp bách như đối với người phạm tội quả tang nên Bộ luật tố tụng hình sự quy định thẩm quyền, thủ tục bắt người đang bị truy nã cũng được áp dụng như bắt người phạm tội quả tang
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, chỉ có cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định truy nã Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan có liên quan khi cần truy nã người phạm tội, thì có văn bản đề nghị gửi
cơ quan điều tra ra quyết định truy nã Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự 2003
quy định về truy nã bị can quy định: “Quyết định truy nã phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm ra quyết định truy nã; họ tên, chức vụ người ra quyết định; họ tên, tuổi, nơi cư trú của bị can, đặc điểm để nhận dạng bị can, dán ảnh kèm theo, nếu có; tội phạm mà bị can đã bị khởi tố” Đối với người
bị bắt theo lệnh truy nã, ngay sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra nhận người
bị bắt phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã để cơ quan có thời gian cho cơ quan đã ra quyết định truy nã đến nhận người bị bắt, lấy lời khai, xác minh nhân thân, lai lịch của người bị bắt (xem có đúng đối tượng truy nã hay không) và các thủ tục tố tụng cần thiết khác
Thứ tư, là người phạm tội tự thú, đầu thú:
Tự thú là việc một người sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng hành vi đó vẫn chưa bị phát hiện, hoặc người thực hiện hành vi đó vẫn chưa
bị phát hiện Nhưng sau một thời gian, có thể do bị lương tâm cắn rứt, do hối hận về hành vi của mình người đó đã tự ra trước cơ quan chức năng trình diện và khai nhận về hành vi phạm tội của mình hoặc hành vi phạm tội của mình và đồng bọn
Trang 23Còn đầu thú là việc một người đã thực hiện hành vi phạm tội, hành vi
đó đã bị phát hiện, vụ án đó đã được khởi tố, có thể đã hoặc đang được tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử Cá nhân người đó đã bị khởi tố bị can, có thể chưa hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị xử phạt nhưng trốn tránh nay đang bị truy nã, sau một thời gian trốn tránh người đó đã ra trước các cơ quan chức năng để trình diện, khai nhận về các hành vi phạm tội của mình
Người phạm tội tự thú, đầu thú không phải là người phạm tội bị bắt mà
họ tự nguyện ra trình diện, khai báo hành vi phạm tội Do đó người phạm tội tự thú, đầu thú có thể bị tạm giữ nhưng cũng có thể không cần thiết phải tạm giữ
Thứ năm là, đối với họ phải có quyết định tạm giữ:
Bên cạnh điều kiện cần là một người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp,
bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở thành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ Nếu một người bị bắt trong các trường hợp nêu trên hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú mà không có quyết định tạm giữ thì cũng không phải là người bị tạm giữ Do đó điều kiện đủ này điều kiện quan trọng và quyết định một người có phải là người bị tạm giữ hay không trong quá trình tham gia tố tụng hình sự Khi họ đã có quyết định tạm giữ và tham gia vào quá trình tố tụng hình sự thì người bị tạm giữ có quyền và nghĩa vụ nhất định theo quy định của pháp luật
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, khi bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, hoặc bị bắt theo quyết định truy nã, hoặc khi người phạm tội ra đầu thú, tự thú thì họ không thể bị tạm giữ trong các trường hợp sau đây:
- Các cơ quan có thẩm quyền xác định được ngay việc bắt giữ đối với
họ là không có căn cứ, do đó cơ quan bắt giữ người phải trả tự do ngay cho người bị bắt
Trang 24- Ngay sau khi bắt người khẩn cấp hoặc bắt người phạm tội quả tang, bắt theo quyết định truy nã, hoặc ngay sau khi có người ra tự thú, đầu thú, các
cơ quan có thẩm quyền đã xác định được đầy đủ căn cứ để có thể khởi tố đối với người bị bắt, người tự thú, đầu thú nên đã ra các quyết định khởi tố cần thiết và cũng đã xác định được ngay căn cứ để có thể tạm giam đối với họ nên
đã ra lệnh tạm giam với bị can mà không cần tạm giữ Hoặc ngay sau khi bắt khẩn cấp, bắt quả tang, bắt theo quyết định truy nã, hoặc ngay sau khi có người ra tự thú, đầu thú đã xác định đầy đủ căn cứ để khởi tố vụ án và khởi tố
bị can nên cơ quan có thẩm quyền không ra quyết định tạm giữ mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác như Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú thì cũng không cần thiết phải ra quyết định tạm giữ
- Ngoài các trường hợp nêu trên, nếu sau khi bắt khẩn cấp hoặc bắt quả tang, cơ quan có thẩm quyền đã gửi lệnh bắt cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát kiểm sát việc bắt và Viện kiểm sát đã không phê chuẩn lệnh bắt khẩn cấp
đó thì cũng không được ra quyết định tạm giữ đối với người bị bắt và cơ quan
có thẩm quyền phải trả tự do ngay cho người bị bắt
1.2 Quy định của pháp luật TTHS một số nước về người bị tạm giữ
1.2.1 Người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự Liên bang Nga
Theo BLTTHS Liên bang Nga được DUMA quốc gia thông qua ngày 22/11/2001 (đã qua nhiều lần sửa đổi từ năm 2002 đến năm 2006) thì chủ thể tham gia TTHS gồm: Tòa án, các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên buộc tội, các chủ thể tham gia tố tụng thuộc bên bào chữa và những chủ thể khác tham gia TTHS Trong đó: người bị tình nghi, bị can, người đại diện hợp pháp của người bị tình nghi và của bị can là người chưa thành niên, người bào chữa, bị đơn dân sự thì thuộc nhóm các chủ thể tham gia TTHS thuộc bên bào chữa Tùy theo từng loại người có những vai trò khác nhau trong TTHS mà pháp luật Liên bang Nga có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của
Trang 25họ tham gia giải quyết vụ án Trên cơ sở nghiên cứu những quy định của BLTTHS Liên bang Nga, không có quy định cụ thể về khái niệm cũng như địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Liên bang Nga mà chỉ có khái niệm về người bị tình nghi - một chủ thể tham gia tố tụng Mặc dù vậy thì thuật ngữ “người bị tạm giữ ” vẫn được sử dụng trong các quy định của BLTTHS Liên bang Nga (khoản 2, khoản 3 Điều 10 BLTTHS Liên bang
Nga) Theo quy định tại khoản 1 Điều 46: “Người bị tình nghi là người: 1) Đối với họ đã khởi tố vụ án hình sự theo những căn cứ và theo thủ tục quy định tại Mục 20 Bộ luật này; 2) Bị bắt giữ theo quy định tại Điều 91 và 92 Bộ luật này; 3) Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trước khi khởi tố bị can theo quy định tại Điều 100 Bộ luật này” [7, tr.26]
Tại khoản 11 Điều 5, BLTTHS Liên bang Nga đưa ra khái niệm về việc tạm giữ người bị tình nghi: Tạm giữ người bị tình nghi là biện pháp cưỡng chế tố tụng do Cơ quan điều tra ban đầu, Điều tra viên, Dự thẩm viên hoặc Kiểm sát viên áp dụng trong thời hạn không quá 48 giờ kể từ thời điểm người
bị tình nghi thực hiện tội phạm thực tế bị tạm giữ [7, tr.6] Bên cạnh đó, tại khoản 15 Điều 5 đưa ra khái niệm cụ thể về thời điểm thực tế bị tạm giữ: Là thời điểm thực tế tước tự do người bị tình nghi thực hiện tội phạm được tiến hành theo thủ tục quy định của BLTTHS Liên bang Nga [7, tr.7]
Từ những quy định trên có thể thấy, người bị tạm giữ trong tố tụng hình
sự Liên bang Nga là người bị tình nghi bị bắt theo quy định tại Điều 91, 92 BLTTHS Liên bang Nga, bị tạm giữ không quá 48 giờ kể từ thời điểm người bị tình nghi thực hiện tội phạm thực tế bị tạm giữ và đối với họ phải có quyết định của Tòa án Người bị tạm giữ trong BLTTHS Liên bang Nga có quyền của người bị tình nghi theo quy định tại khoản 4 Điều 46 bao gồm các quyền: 1) Được biết họ bị tình nghi về việc gì và nhận bản sao quyết định khởi tố vụ án chống lại họ hoặc bản sao biên bản bắt giữ hoặc bản sao quyết định áp dụng
Trang 26biện pháp ngăn chặn đối với họ; 2) Đưa ra những lời giải thích và khai báo về việc họ bị tình nghi hoặc từ chối đưa ra những lời giải thích và khai báo Khi người bị tình nghi đồng ý khai báo thì phải thông báo cho họ về việc lời khai
đó có thể được sử dụng làm chứng cứ của vụ án, kể cả việc sau này họ phản bác lại lời khai đó, trừ trường hợp quy định tại điểm 1 khoản 2 Điều 75 Bộ luật này; 3) Được sự giúp đỡ của người bào chữa từ thời điểm quy định tại điểm 2
và 3 khoản 3 Điều 49 Bộ luật này và được gặp gỡ riêng và bí mật với người bào chữa trước khi lấy lời khai của họ; 4) Đưa ra những chứng cứ; 5) Đưa ra những yêu cầu và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; 6) Đưa ra những lời khai và giải thích bằng tiếng mẹ đẻ hoặc bằng ngôn ngữ mà họ sử dụng thành thạo; 7) Được sự giúp đỡ miễn phí của người phiên dịch; 8) Xem các biên bản hoạt động tố tụng mà họ tham gia và đưa ra những nhận xét; 9) Tham gia vào các hoạt động điều tra được tiến hành theo yêu cầu của họ, của người bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ, nếu được Dự thẩm viên hoặc Điều tra viên đồng ý; 10) Khiếu nại đối với hoạt động và quyết định của Toà án, Kiểm sát viên, Dự thẩm viên và Điều tra viên; 11) Được bảo vệ bằng những biện pháp và phương pháp khác không bị Bộ luật này cấm [7, tr.26-27] Bên cạnh những quy định về quyền của người bị tình nghi là người bị tạm giữ như trên, BLTTHS Liên bang Nga đã dành riêng một mục 12, chương 4 để quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến người bị tạm giữ như: căn cứ để tạm giữ, thủ tục tạm giữ, những căn cứ để trả tự do [7, tr.45-46]
Trên cơ sở những phân tích trên, có thể khẳng định người bị tạm giữ là một chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự của Liên bang Nga có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Liên bang Nga
1.2.2 Người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự cộng hòa Pháp
BLTTHS cộng hòa Pháp không có quy định về chủ thể tham gia tố tụng hình sự Tuy nhiên, qua nghiên cứu nội dung BLTTHS cộng hòa Pháp có thể
Trang 27thấy người bị tạm giữ là một chủ thể tham gia vào quá trình tố tụng hình sự của cộng hòa Pháp và có những quy định cụ thể về người bị tạm giữ trong BLTTHS cộng hòa Pháp như sau:
Quy định tại Điều 63 BLTTHS cộng hòa Pháp: Sỹ quan cảnh sát
tư pháp, khi cần thiết cho việc điều tra, có thể bắt và tạm giữ bất
kì ai có một hoặc nhiều lý do xác đáng để nghi ngờ là họ đã thực hiện hoặc tìm cách thực hiện một tội phạm Khi bắt đầu tiến hành việc bắt và tạm giữ người này thông báo cho công tố viên trưởng cấp quận
Không được tạm giữ quá 24 giờ trong trường hợp này Tuy nhiên, có thể gia hạn tạm giữ thêm một thời hạn nữa không quá 24 giờ nếu được công tố viên trưởng cấp quận phê chuẩn bằng văn bản Công
tố viên trưởng cấp quận có thể phê chuẩn với điều kiện là trước đó phải đưa người bị tạm giữ ra trình diện trước người này
Căn cứ vào các chỉ thị của công tố viên trưởng cấp quận, bất
kì ai mà chứng cứ thu thập được làm phát sinh việc truy tố họ, khi kết thúc việc tạm giữ, có thể được trả tự do hoặc chuyển đến công
tố viên trưởng cấp quận
Như vậy có thể thấy, trong trường hợp có lý do xác đáng để nghi ngờ là một người đã thực hiện hoặc tìm cách thực hiện một tội phạm thì người đó sẽ
bị bắt và tạm giữ Việc tạm giữ người này cũng phải thông báo ngay cho công
tố viên như trong tố tụng hình sự Việt Nam là việc tạm giữ người phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát BLTTHS cộng hòa Pháp quy định thời hạn tạm giữ đối với người bị tạm giữ là 24 giờ, có thể gia hạn thêm một thời hạn nữa không quá 24 giờ nếu được công tố viên trưởng cấp quận phê chuẩn bằng văn bản Bên cạnh đó, BLTTHS cộng hòa Pháp còn quy định một số quyền của người bị tạm giữ và biện pháp cụ thể để đảm bảo việc thực hiện quyền của
Trang 28người bị tạm giữ như: Quyền được thông báo ngay về bản chất của tội phạm
đang bị điều tra về các quyền được đề cập tại các điều 63-2, 63-3 và 63-4 cũng như các quy định điều chỉnh thời hạn tạm giữ tại Điều 63 Quyền này phải được đảm bảo thực hiện trong báo cáo chính thức có chữ ký của người bị tạm giữ, nếu người bị tạm giữ từ chối ký thì phải ghi chú điều này trong báo cáo chính thức, đồng thời việc thông báo này phải được truyền đạt đến người
bị tạm giữ bằng ngôn ngữ người bị tạm giữ có thể hiểu được, nếu thấy phù hợp thì dưới hình thức văn bản (Điều 63-1) Quyền thông báo bằng điện thoại
về biện pháp họ đang bị áp dụng cho người cùng sinh sống, một trong những người họ hàng trực hệ, một trong những anh, chị em, hoặc chủ sử dụng lao động (Điều 63-2) Quyền được yêu cầu khám bệnh trong trường hợp bị bệnh, nếu người bị tạm giữ trong thời hạn gia hạn tạm giữ có thể xin được khám bệnh lần thứ hai Khi không có yêu cầu của người bị tạm giữ, nhưng lại có yêu cầu của một người trong gia đình người bị tạm giữ đương nhiên được khám bệnh thì người bị tạm giữ cũng được thầy thuốc khám bệnh ngay cho Trong giấy chứng nhận sức khỏe, thầy thuốc cho biết sức khỏe của đương sự
có cho phép tiếp tục tạm giữ hay không và giấy này được lưu trong hồ sơ (Điều 63-3) Người bị tạm giữ có quyền được nói chuyện với luật sư trong ngay khi bắt đầu bị tạm giữ và trong thời gian gia hạn tạm giữ (Điều 63-4) Đồng thời với việc quy định quyền của người bị tạm giữ thì BLTTHS cộng hòa Pháp còn quy định cụ thể nội dung, hình thức để bảo đảm các quyền của người bị tạm giữ Đây là những quy định rất tiến bộ về quyền và biện pháp bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ trong BLTTHS cộng hòa Pháp đối với người bị tạm giữ
1.2.3 Người bị tạm giữ trong Luật tố tụng hình sự Cộng hòa nhân dân Trung Hoa
Trong TTHS của nước Cộng hòa nhân dân (CHND) Trung Hoa, các đối
Trang 29tượng tham gia vào quan hệ tố tụng hình sự đều là chủ thể tham gia tố tụng Theo quy định tại Điều 82 Luật TTHS nước CHND Trung Hoa thì người tham gia tố tụng là các bên đương sự bao gồm: người bị hại, tư tố viên, nghi can, bị cáo, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự Mặc dù, luật không quy định khái niệm người bị tạm giữ hay cụ thể hóa người bị tạm giữ là một chủ thể tham gia tố tụng như trong BLTTHS Việt Nam Nhưng trên cơ sở những quy định của Luật TTHS nước CHND Trung Hoa, trong chương IV về các biện pháp ngăn chặn có thể khẳng định: người bị tạm giữ cũng là một chủ thể tham gia tố tụng hình sự nước CHND Trung Hoa Tại Điều 64, 65 Luật TTHS nước CHND Trung Hoa quy định:
Điều 64: Khi tạm giữ người, cơ quan công an phải có lệnh tạm giữ Trong vòng 24 giờ sau khi tạm giữ người, phải thông báo nguyên nhân tạm giữ và nơi giam giữ cho gia đình hoặc cơ quan nơi làm việc của người bị tạm giữ biết, trừ trường hợp việc thông báo gây trở ngại cho hoạt động điều tra hoặc không có cách nào để thông báo cho những người này
Điều 65 Cơ quan công an phải tiến hành thẩm vấn người bị
tạm giữ trong vòng 24 giờ sau khi tạm giữ Khi xét thấy không cần tạm giữ thì phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ và ra lệnh trả tự
do Nếu cơ quan công an thấy cần bắt người bị tạm giữ khi chưa có
đủ chứng cứ thì có thể cho phép người bị tạm giữ có người bảo lĩnh trong giai đoạn chờ xét xử hoặc giám sát nơi cư trú của người này Theo đó, người bị tạm giữ trong TTHS nước CHND Trung Hoa bắt buộc phải có lệnh tạm giữ Đồng thời, Luật TTHS Trung Hoa cũng quy định một số quyền của người bị tạm giữ như: Quyền được thông báo cho người thân về lý do bị tạm giữ và nơi bị tạm giữ, được quyền bảo lĩnh trong giai đoạn chờ xét xử
Trang 30Điều 61 Luật TTHS nước CHND Trung Hoa quy định: Cơ quan công
an có thể bắt giữ ngay từ đầu một tội phạm quả tang hoặc nghi can chính trong bất kỳ trường hợp nào sau đây: (1) khi đang chuẩn bị phạm tội, đang thực hiện hành vi phạm tội hoặc bị phát hiện ngay sau khi phạm tội; (2) người
bị hại hoặc nhân chứng chính mắt trông thấy xác nhận là đã thực hiện tội phạm; (3) nếu chứng cứ phạm tội được phát hiện có trên thân thể hoặc tại nơi
cư trú của người này; (4) nếu tìm cách tự tử hoặc chạy trốn sau khi phạm tội, hoặc là một kẻ đào tẩu; (5) nếu có khả năng sẽ tiêu huỷ chứng cứ, làm sai lệch chứng cứ hoặc thông cung; (6) nếu không chịu nói tên và địa chỉ thật và không rõ lai lịch; (7) nếu bị nghi ngờ là đã thực hiện tội phạm ở nhiều nơi, nhiều lần, hoặc ở trong một băng nhóm
Điều 63 Luật TTHS nước CHND Trung Hoa quy định: Bất cứ người nào nêu dưới đây cũng có thể bị bắt giữ ngay lập tức bởi bất kỳ công dân nào và giao cho cơ quan công an, Viện kiểm sát nhân dân hoặc Toà án nhân dân xử lý: (1) bất kỳ ai đang phạm tội hoặc bị phát hiện ngay sau khi có hành vi phạm tội; (2) người đang bị truy nã; (3) người trốn khỏi nơi giam; (4) đang bị truy bắt
Trên cơ sở những quy định như đã nêu trên, có thể thấy đây là những điều kiện cần để bắt giữ một người và điều kiện đủ để người bị bắt trở thành người bị tạm giữ trong luật TTHS nước CHND Trung Hoa là khi có lệnh tạm
giữ đối với họ
1.3 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 2003 về người bị tạm giữ
1.3.1 Giai đoạn 1945 - 1954
Ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành các văn bản pháp luật để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, trong đó cũng
có quy định về tạm giữ Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả chủ quan lẫn
Trang 31khách quan mà đặc biệt là do phải tập trung mọi tinh thần, của cải, vật chất để phục vụ cho việc chống thù trong giặc ngoài, cho nên trong giai đoạn này, chúng ta chưa có những quy định riêng về người bị tạm giữ Trong Sắc lệnh
số 13/SL ngày 24-01-1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán tại Điều 4, Điều 5 có quy định về việc người bị bắt trong hai trường hợp: Khi có trát nã của một thẩm phán hay khi thấy người phạm tội quả tang
Ngày 29-3-1946, Chính phủ lâm thời ra Sắc lệnh số 46 về việc bảo đảm
tự do cá nhân Sắc lệnh quy định: ngoài trường hợp phạm pháp quả tang về khinh tội hay trọng tội, việc bắt người phải có lệnh bằng văn bản của Thẩm phán viên Đồng thời, Sắc lệnh cũng quy định trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân bắt, giam, giữ người trái pháp luật (Điều thứ 1) Sắc lệnh cũng quy định
cụ thể thế nào là phạm pháp quả tang Trong trường hợp phạm pháp quả tang thì người bắt không cần phải có lệnh của Thẩm phán viên Bất kỳ vào trường hợp nào trong hạn 24 giờ kể từ lúc bắt, người bị bắt cũng phải được đem ra trước mặt Thẩm phán viên để lấy cung (Điều thứ 2)
Ngày 09-11-1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được Quốc hội thông qua Những tư tưởng cơ bản về bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân trong vụ án hình sự đã được quy định Hiến pháp khẳng định tất cả công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 7); công dân không bị bắt giam khi chưa có quyết định của Tòa án (Điều 11)
Ngoài những quy định trên thì không có quy định nào về khái niệm hay địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong giai đoạn này
1.3.2 Giai đoạn từ 1954 – 1976
Sau ngày miền Bắc giải phóng, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam tiến lên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, các quyền tự do dân chủ được mở rộng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Luật số 103- SL/L.005 ngày 20-05-
Trang 321957, quy định về việc bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân Theo đó, tại các Điều 3, 4, 5, 6 của Luật này đều có những quy định về việc bắt người để tạm giữ và việc tạm giữ người bị bắt:
- Người bị bắt có hai trường hợp là người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp
- Người phạm pháp bị bắt phải được giải lên cơ quan tư pháp hoặc cơ quan công an cấp huyện trở lên trong thời hạn 24 giờ kể từ lúc bị bắt Cơ quan
tư pháp huyện hoặc công an huyện được tạm giữ can phạm trong thời gian 3 ngày kể từ lúc nhận can phạm để xét và hỏi cung rồi phải quyết định tha hẳn, tạm tha, hoặc giải lên Tòa án nhân dân hoặc công an cấp trên…
Để cụ thể hóa Luật số 103- SL/L.005, Chính phủ trình Ban thường trực Quốc hội một dự thảo Sắc luật được Ban thường trực Quốc hội biểu quyết thông qua và được ban hành ngày 18-6-1957 (thường gọi là Sắc luật số 002/SLT) Trong văn bản này quy định cụ thể về những trường hợp phạm pháp quả tang và những trường hợp khẩn cấp mà cơ quan Công an có thể bắt giữ trước khi có lệnh
Nghị định số 301-TTg ngày 10-07-1957 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật số 103-SL/L.005 ngày 20-05-1957 về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, tại Điều 4 đã quy định cụ thể hơn về việc tạm giữ: “Lệnh tạm giữ người phạm pháp phải ghi rõ lý do, ngày hết hạn tạm giữ và phải đọc cho can phạm nghe Trong hạn 24 giờ kể từ lúc tạm giữ can phạm, thẩm phán Tòa
án nhân dân huyện, châu, Công an huyện, châu hoặc đồn công an trở lên, cán
bộ quân đội có trách nhiệm điều tra vụ phạm pháp, phải hỏi cung can phạm”
Mặc dù là văn bản pháp lý đầu tiên có những quy định về việc tạm giữ người phạm pháp nhưng xác định được ý nghĩa quan trọng trong việc bảo
Trang 33đảm quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ nên đã có những quy định khá đầy đủ về việc tạm giữ người
Sự ra đời của Hiến pháp 1959, Luật tổ chức Tòa án 1960, Luật tổ chức
Viện kiểm sát nhân dân 1960 một lần nữa khẳng định: “Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được bảo đảm Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Toà án nhân dân hoặc sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân.” ( Điều 27 Hiếp pháp 1959)
“Việc bắt giam bất cứ một công dân nào phải được Viện kiểm sát nhân dân phê chuẩn trừ trường hợp Toà án nhân dân quyết định bắt giam.” (Điều
14 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1960)
Như vậy, trong thời kỳ này các văn bản pháp luật quy định về người bị tạm giữ đã bước đầu được hình thành và dần dần được hoàn thiện, thể hiện được tính độc lập, chủ quyền của nhà nước ta và tính chất cương quyết trong đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, khái niệm về người bị tạm giữ cũng như quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ giai đoạn này cũng chưa được đề cập một cách vụ thể, rõ ràng
1.3.3 Giai đoạn từ 1976-1989
Sau khi thống nhất đất nước, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội Hiến
pháp năm 1980 ghi nhận: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hay phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật” (Điều 69)
Trong thời kỳ này không có văn bản pháp luật mới nào quy định về việc tạm giữ hình sự, vẫn áp dụng các quy định trước đó
1.3.4 Giai đoạn từ 1989 đến trước năm 2003
Bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 18-06-1988, có hiệu lực ngày 01-01-1989 đánh dấu bước phát triển mới trong quá trình pháp điển hóa Luật tố
Trang 34tụng hình sự ở nước ta Qua 3 lần sửa đổi (năm 1990, 1992 và 2000), các quy định về người bị tạm giữ đã từng bước được hoàn thiện
Lần đầu tiên, khái niệm về người bị tạm giữ cùng quy định về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ được đề cập trong luật Tại Điều 38 BLTTHS năm 1988 quy định: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và những quyết định khác có liên quan Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ
Bên cạnh đó, các văn bản dưới luật như: Thông tư liên ngành 02/TTLN ngày 06/9/1989 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ nội vụ; Thông tư số 01/TTLN ngày 20-03-1993 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ nội vụ Chế độ tạm giữ, tạm giam cũng ban thành kèm theo Nghị định số 149/HĐBT ngày 05-05-1982, được thay thế bằng chế
độ tạm giữ, tạm giam ban hành kèm theo Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ, quy định chi tiết, cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự
Hơn nữa với sự ra đời của Hiến pháp 1992, đã xác định tầm quan trọng của việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân
Điều 71 Hiến pháp 1992 quy định: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp luật Nghiêm cấm mọi hành
vi truy bức, nhục hình xúc phạm danh dự, nhân phẩm của công dân
Điều 72 Hiến pháp 1992 cũng nhấn mạnh: Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và
Trang 35phục hồi danh dự Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh
Những quy định trên của Hiến pháp nhằm ngăn ngừa sự vi phạm quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự của công dân từ phía các cơ quan, cán bộ nhà nước Các quy định tại Điều 71 và Điều 72 cũng là cơ sở để xây dựng các quy định của Luật
Tố tụng hình sự về người bị tạm giữ
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ những phân tích trên, chúng tôi đã đưa ra được khái niệm về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, khái niệm khoa học về người bị tạm giữ, xác định được tư cách tố tụng của người bị tạm giữ Đồng thời, phân tích cụ thể những đặc điểm chung nhất về người bị tạm giữ Từ đó, giúp cho việc áp dụng các quy định về người bị tạm giữ trong từng trường hợp cụ thể được chính xác, không để người bị tạm giữ bị tạm giữ oan sai, không để lọt tội phạm Trên cơ sở những quy định về người bị tạm giữ trong TTHS của một
số nước trên thế giới, thấy được những quy định pháp luật về người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam đã được quy định một cách cụ thể và rõ ràng hơn
Trước khi BLTTHS năm 1988 ra đời, pháp luật Việt Nam chưa có một quy định tổng hợp nào về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ mà chỉ đơn thuần là những quy định gián tiếp, riêng lẻ nằm tản mạn trong các văn bản pháp luật khác nhau Qua mỗi giai đoạn, các quy định về người bị tạm giữ ngày càng được quan tâm và xây dựng một cách hoàn thiện hơn Khi BLTTHS năm 1988 ra đời, pháp luật TTHS Việt Nam đã thực sự có được những quy định cụ thể và cơ bản về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ Tuy nhiên, một số quyền quan trọng của người bị tạm giữ vẫn chưa được đề cập mà phải đến khi Bộ luật TTHS năm 2003 ra đời thì chế định quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ mới được quy định một cách toàn diện hơn
Trang 36Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về người bị tạm giữ
2.1.1 Quyền của người bị tạm giữ
Quyền con người là một giá trị nhân loại, đồng thời có tính lịch sử hình thành trong cuộc đấu tranh giai cấp và được bổ sung mới qua các thời kỳ khác
nhau Theo Từ điển tiếng Việt: “Quyền là điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [12, tr.1051] Như vậy, có thể
hiểu quyền con người là những điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho họ
được hưởng Tuy nhiên, cũng có khái niệm cho rằng: “Quyền là thế, sức mạnh, lợi lộc được hưởng do pháp luật công nhận hoặc do địa vị đem lại” [4, tr.1383]
Theo từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý - Bộ tư pháp thì:
“Quyền là một khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật hoặc công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để theo
đó cá nhân được hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế” [27, tr.648] Theo đó, quyền có hai dấu hiệu đặc trưng:
Thứ nhất, quyền phải có sự ghi nhận về mặt pháp lý và được đảm bảo thực hiện bởi các quy định của pháp luật
Thứ hai, quyền phải có sự thừa nhận về mặt xã hội, gắn liền với các chủ thể cá nhân, được thể hiện cụ thể trong thực tế đời sống, thông qua các quan
hệ xã hội cụ thể của cá nhân trong một cộng đồng nhất định
Quyền của một cá nhân được phát sinh, tăng hay giảm tùy theo từng thời điểm của quá trình tồn tại và phát triển của xã hội Các quyền cơ bản của
Trang 37cá nhân phát sinh khi cá nhân sinh ra và có những quyền cụ thể khác phát sinh
và ghi nhận khi cá nhân phát triển đến một giai đoạn nhất định, tham gia những quan hệ xã hội, những lĩnh vực hoạt động nhất định Ngoài ra, quyền của cá nhân có thể được phát sinh do người khác ủy quyền Tuy nhiên, quyền của cá nhân cũng phải chịu sự chi phối của phạm vi quyền, gắn với các nghĩa
vụ của cá nhân, cũng như chịu sự tác động trong phạm vi giới hạn của pháp luật quốc gia cũng như trên vùng lãnh thổ nhất định Quyền của cá nhân cũng chỉ có thể bị tước bỏ bởi pháp luật hoặc chấm dứt khi người đó chết đi Trong thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật cũng như trong đời sống xã hội, quyền của cá nhân luôn là vấn đề trung tâm Theo sự phát triển ngày càng tiến bộ của xã hội, phạm vi các quyền của cá nhân ngày càng được phát triển, mở rộng đáp ứng theo yêu cầu của xã hội
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm về quyền của người bị tạm giữ như sau:
Quyền của người bị tạm giữ là những điều mà pháp luật TTHS quy định và đảm bảo thực hiện đối với người có quyết định tạm giữ hình sự mà theo đó họ được hưởng, được làm, được đòi hỏi khi tham gia vào các hoạt động tố tụng hình sự mà không ai được ngăn cản, hạn chế
Bộ luật tố tụng hình sự ra đời ngày 26/11/2003 đã đáp ứng được yêu cầu bảo vệ XHCN, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, xử lý kiên quyết mọi hành vi phạm tội Các hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm dân chủ, công bằng xã hội Trong số những người tham gia tố tụng thì người bị tạm giữ đóng vai trò quan trọng Vì các hoạt động và các hành vi tố tụng của các cơ quan và người tham gia tố tụng hình sự đối với người bị tạm giữ có nhiệm vụ là xác định xem hành vi vi phạm của người bị tạm giữ có phải là hành vi phạm tội hay
Trang 38không, để từ đó có biện pháp ngăn chặn kịp thời đối với hành vi phạm tội và
có đường lối xử lý phù hợp đối với người bị tạm giữ không có hành vi phạm tội Đồng thời, đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình tham gia tố tụng Mặt khác, xuất phát từ yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW năm 2002 của Bộ chính trị xác định rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, tạo điều kiện để người bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng, nhằm bảo đảm thực hiện đầy
đủ hơn các quyền của người tham gia tố tụng trong TTHS, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan THTT, BLTTHS 2003 đã bổ sung đầy đủ và thể hiện một cách rõ ràng, cụ thể những quy định về người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam
Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ được quy định xuất phát từ bản chất của việc tạm giữ là cách ly người bị nghi thực hiện tội phạm một cách cấp thiết trong một thời gian ngắn Quyền của người bị tạm giữ được quy định liên quan đến hai yếu tố cấu thành của tạm giữ: tính có căn cứ của việc tạm giữ và tính hợp pháp của thủ tục tạm giữ
Trước tiên, người bị tạm giữ phải được quy định về các quyền để bảo
vệ mình khỏi việc tạm giữ thiếu căn cứ Người bị tạm giữ phải biết lý do mình
bị tạm giữ Đồng thời với quyền được biết lý do tạm giữ, người bị tạm giữ có quyền thực hiện các hành vi tố tụng mà pháp luật quy định để bác bỏ các căn
cứ tạm giữ mà người có thẩm quyền đã xác định để ra quyết định tạm giữ Người bị tạm giữ có quyền chứng minh, khai báo, đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu xác minh… để bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội đối với mình Hay nói cách khác, BLTTHS cần quy định quyền của người bị tạm giữ bác bỏ căn cứ bắt khẩn cấp, bắt quả tang hoặc truy nã đối với họ
Người bị tạm giữ có quyền bảo vệ mình khỏi việc tạm giữ bất hợp pháp Việc tạm giữ đối với người bị tạm giữ, ngoài việc phải có căn cứ, cần
Trang 39phải được thực hiện đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn Vì thế, người bị tạm giữ có quyền khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi của
cơ quan, người tiến hành tố tụng liên quan đến việc đảm bảo thực hiện các quyền tố tụng được quy định trong luật
Theo quy định tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 thì các quyền của người bị tạm giữ bao gồm: a) được biết lý do mình bị tạm giữ; b) được giải thích quyền và nghĩa vụ; c) trình bày lời khai; d) tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; đ) đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; e) khiếu nại
về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
a Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ
Đây là quyền đầu tiên của người bị tạm giữ được pháp luật quy định Quyền này thể hiện tính chất quan trọng của việc một người bị nghi ngờ phạm tội cần phải biết mình bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ về hành vi gì, điều luật tội phạm nào của BLHS Bởi vì, mục đích của việc tiến hành các trình tự
tố tụng là nhằm xác định một người có phạm tội hay không và nếu phạm tội thì phải chịu hình phạt như thế nào Do vậy, người bị nghi ngờ phạm tội cần phải biết rằng mình bị tạm giữ về hành vi gì để họ có thể tự bào chữa, để gỡ tội cho mình Nếu không biết mình bị tạm giữ về hành vi gì thì họ khó có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ Vì việc tạm giữ là hậu quả tố tụng của việc bắt quả tang, bắt khẩn cấp, truy nã, đầu thú hoặc tự thú; cho nên, người bị tạm giữ có quyền được biết tại sao họ bị bắt quả tang, bị bắt khẩn cấp, quyết định truy nã hoặc việc tự thú, đầu thú của họ Đối với người bị tạm giữ trong những trường hợp bắt nêu trên có quyền được đọc biên bản bắt
Trang 40người và có quyền ghi ý kiến không đồng ý của mình vào biên bản và ký xác nhận Sau khi nhận người bị bắt khẩn cấp, bắt quả tang, theo quyết định truy
nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì cơ quan có thẩm quyền phải ra ngay quyết định tạm giữ Quyết định tạm giữ phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người bị tạm giữ, lý do tạm giữ, ngày hết hạn tạm giữ và phải giao cho người
bị tạm giữ một bản Trên cơ sở pháp luật quy định việc người bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ là hiện thực hóa quyền được biết lý do mình
bị tạm giữ của người bị tạm giữ Đây là một quyền rất quan trọng và cũng là quyền ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các quyền khác của người bị tạm giữ; đồng thời cũng thể hiện sự công bằng, bình đẳng và tiến bộ của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng Bởi lẽ các cơ quan THTT là những người nhân danh Nhà nước, sử dụng quyền lực của Nhà nước để tiến hành các hoạt động tố tụng đối với người bị tạm giữ, cho nên việc người bị tạm giữ được biết lý do mình bị tạm giữ căn cứ theo điều, khoản nào của BLTTHS một cách công khai, minh bạch thì mới có thể tiến hành tự bào chữa cho mình hoặc nhờ người bào chữa
Quyền được biết lý do mình bị tạm giữ của người bị tạm giữ trên thực
tế có được đảm bảo hay không phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của cơ quan THTT và người THTT thông qua việc giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ và giải thích quyền và nghĩa vụ cho họ Pháp luật quy định việc người
bị tạm giữ được giao một bản quyết định tạm giữ với mục đích để người bị tạm giữ được đọc và biết lý do mình bị tạm giữ Tuy nhiên, trên thực tế việc được giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ thường chỉ được tiến hành một cách rất hình thức là giao quyết định tạm giữ cho người bị tạm giữ để người bị tạm giữ ký vào quyết định tạm giữ, phục vụ cho việc hợp thức hóa đầy đủ thủ tục là đã giao quyết định cho người bị tạm giữ và làm căn cứ pháp
lý lưu trong hồ sơ của cơ quan điều tra Pháp luật TTHS đã có những qui định