1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự việt nam luận văn ths luật

91 712 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về mặt lý luận, dưới góc độ khoa học luật hình sự các nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm này như sau: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BẢO TÂM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ BẢO TÂM

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VÀ THỰC TIỄN VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN

THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật hình sự

Mã số : 60 38 40

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH Lê Văn Cảm

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bảo Tâm

Trang 4

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU

8

1.1 Một số vấn đề về chế định đa tội phạm 8 1.2 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần 10 1.2.1 Khái niệm của tình tiết phạm tội nhiều lần 10 1.2.2 Đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần 12 1.3 Phân biệt phạm tội nhiều lần với một số tình tiết khác có liên

quan (gần) trong pháp luật hình sự

15

1.3.1 Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội 15 1.3.2 Phạm tội nhiều lần và tội liên tục 18 1.3.3 Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp 20 1.3.4 Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm 23 1.4 Ý nghĩa của việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm tội

nhiều lần

25

Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT

NAM VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN VÀ THỰC TIỄN

27

2.1 Những quy định của pháp luật hình sự việt nam về phạm tội

nhiều lần từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến trước

khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

27

Trang 5

2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước

khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985

27

2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 cho đến

trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

2.3 Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự Việt

Nam về phạm tội nhiều lần

43

Chương 3: NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG CƠ BẢN CỦA VIỆC TIẾP TỤC

HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH

57

3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện các quy định của pháp luật

hình sự Việt Nam về phạm tội nhiều lần

57

3.2 Nội dung hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự Việt

Nam về phạm tội nhiều lần

72

Trang 6

Danh môc c¸c b¶ng

Số hiệu

bảng

2.1 Thống kê số liệu một số tội danh các đối tượng phạm tội

thường bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần

từ năm 2007 đến năm 2011

44

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Phạm tội nhiều lần là một tình tiết thuộc chế định đa tội phạm Tuy nhiên tình tiết này vẫn chưa được quy định một cách cụ thể trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 1999 Trong Bộ luật nó được coi là một tình tiết "tăng nặng trách nhiệm hình sự" hay có thể là một tình tiết "định khung tăng nặng" Trong các vụ án hình sự đối tượng phạm tội nhiều lần chiếm tỉ lệ rất lớn

Về mặt pháp lý, phạm tội nhiều lần chưa được các nhà làm luật định nghĩa một cách chính thức mà ở mỗi một tội danh cụ thể lại có một quy định riêng Ví dụ: tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BNV ngày 2-01-1998 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự thì:

Tình tiết "Phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 2 Điều 133, khoản 2 Điều 134a (đối với một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tội phạm liên quan đến tình dục) được hiểu là đã có tất cả

từ hai lần phạm tội đó trở lên (hai lần phạm tội tham ô trở lên, hai lần phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản

xã hội chủ nghĩa trở lên ) mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [22]

Về mặt lý luận, dưới góc độ khoa học luật hình sự các nhà nghiên cứu

đã đưa ra khái niệm này như sau: Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử Đối với những trường hợp phạm từ hai tội trở lên mà

Trang 8

những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau của Bộ luật này, chỉ khi nào

do các điều tương ứng trong phần các tội phạm Bộ luật này quy định riêng mới bị coi hoặc có thể bị coi là phạm tội nhiều lần Hay có thể được hiểu là:

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án ; Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố, xét xử [26]

Qua khái niệm trên, chúng ta có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần bao gồm năm nội dung sau: (1) Phạm tội nhiều lần là người phạm tội đã thực hiện từ hai hành vi phạm tội trở lên, tác động đến cùng một đối tượng hoặc nhiều đối tượng khác nhau (ví dụ: phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối đối với nhiều người - điểm c khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, nhiều lần trộm cắp, nhiều lần hiếp dâm ) (2) Nếu tách ra từng hành vi phạm tội riêng lẻ thì mỗi hành vi ấy đã đủ các yếu tố cấu thành một tội phạm độc lập (3) Tất cả các hành vi phạm tội đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng Bộ luật Hình sự (cùng là tội trộm cắp, hiếp dâm ), có thể cùng một khoản, có thể phạm tội ở các khoản khác nhau của cùng một điều luật (4) Các hành vi phạm tội đó chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật (như đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án ) và cùng bị đưa ra xét xử một lần trong cùng một vụ án (được tuyên trong một bản án) (5) Nếu điều luật có quy định về giá trị tài sản hoặc thiệt hại về tài sản thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng giá trị tài sản của các lần phạm tội cộng lại [22]

Như vậy, có thể thấy việc hiểu về tình tiết phạm tội nhiều lần khá phức tạp Mặt khác để hiểu đúng về tình tiết phạm tội nhiều lần chúng ta cần

Trang 9

phải phân biệt nó với các tình tiết khác thuộc chế định đa tội phạm: phạm nhiều tội, tội liên tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm Đây là những tình tiết có nhiều dấu hiệu giống nhau, nếu không phân biệt được sẽ dẫn đến việc hiểu sai và áp dụng sai

Từ những lý do trên đây chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình

sự 1999 Vấn đề này cũng được đề cập trong một số giáo trình, sách tham

khảo do các tác giả khác nhau biên soạn như: 1) Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam (Phần chung) Tập thể tác giả do TSKH.PGS Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003 (tái bản); 2) Giáo trình Luật hình sự Việt

Nam, Tập I, Tập thể tác giả do GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên, Nxb Công

an nhân dân, Hà Nội, 2007; 3) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập thể tác

giả do GS.TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

2005; 4) Giáo trình Luật hình sự Việt Nam - Phần chung, Trường Đại học Cảnh sát nhân dân, Hà Nội, 1995; 5) Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự (Phần

chung), Tác giả Đinh Văn Quế, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; 6) Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tác giả TS Lê Văn

Đệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 v.v

Một số nhà khoa học - luật gia hình sự Việt Nam đã dành không ít công sức cho việc nghiên cứu về đề tài này, đáng chú ý là các công trình

nghiên cứu của TSKH.PGS Lê Cảm: 1) Chế định đa tội phạm trong Sách

chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự

Trang 10

(Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; 2) Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam, Tạp chí Dân

chủ và pháp luật, số 6/2001; 3) Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản, Định tội danh: lý

luận hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,

2004; 4) Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV,

Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002

Ngoài ra, còn có một số bài đăng trên tạp chí khoa học pháp lý như: 1)

Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhiều lần" quy định trong Luật Hình sự Việt Nam, của ThS Lê Văn Luật (Tạp chí Khoa học pháp

lý, số 4/2006; 2) Thực tiễn áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong

giải quyết hình phạt - tồn tại và giải pháp, của Vũ Hồng Thiêm (Tạp chí Tòa án

nhân dân, số 10, tháng 5/2008); 3) Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều

lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999, của Nguyễn Hải Dũng (Tạp chí Kiểm sát, số 2/2005; 4) Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết tăng nặng phạm tội có

tổ chức và phạm tội nhiều lần, của Vũ Thành Long (Tạp chí Kiểm sát, số

21/2006); 5) Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần, của Đỗ Thanh Huyền (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/2007); 6) Các tình tiết giảm nhẹ, tăng

nặng trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 1999, của Dương Tuyết

Miên (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2003); 7) Cần hiểu chính xác về tình tiết

tăng nặng chung và tình tiết tăng nặng định khung trong Bộ luật Hình sự, của

Trinh Đình Thể (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 8/1998); 8) Một số vấn đề cần

chú ý khi áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, của

Đinh Văn Quế (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 4/2010); 9) Những hạn chế trong

các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hướng khắc phục, của Hồ Sĩ Sơn (Tạp chí Tòa

án nhân dân, số 16/2008); 10) Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng, của Mai

Bộ (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/1999) v.v

Trang 11

Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến vấn đề phạm tội nhiều lần nhưng chỉ dừng lại ở một khía cạnh nào đó hoặc chừng mực xem xét qua các trường hợp phạm tội cụ thể hay kiến nghị sửa đổi, bổ sung Bộ luật Hình sự Tuy nhiên, về phương diện nghiên cứu lý luận chuyên sâu và có hệ thống vấn đề phạm tội nhiều lần vẫn chưa được quan tâm một cách đúng mức

Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần cần phải được tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn

3 Phạm vi nghiên cứu

Phạm tội nhiều lần là một vấn đề tương đối hẹp và phức tạp Nghiên cứu về vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu chung mà ít có nghiên cứu chuyên sâu Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn sẽ xem xét và giải quyết một số vấn đề cơ bản xung quanh vấn đề phạm tội nhiều lần như: 1) Khái niệm và đặc điểm của phạm tội nhiều lần; 2) Phân biệt phạm tội nhiều lần và một số tình tiết khác thuộc chế định đa tội phạm như phạm nhiều tội, phạm tội liên tục, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm, tái phạm nguy hiểm; 3) Những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về "Phạm tội nhiều lần" Trên cơ sở nghiên cứu những nội dung cơ bản của phạm tội nhiều lần, luận văn đi sâu nghiên cứu tình tiết này trên phương diện lập pháp và việc áp dụng

chế định này trong thực tiễn xét xử để từ đó đưa ra các kiến nghị

4 Đối tƣợng và mục đích nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu đúng như tên gọi của nó là vấn đề phạm tội nhiều lần trong luật hình sự Việt Nam

Trên cơ sở này, mục đính nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu những vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam Đồng thời luận văn còn phân tích và đánh giá những vướng mắc trong thực tiễn áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần để từ đó, đưa ra những kiến nghị để việc áp dụng được thống nhất, tránh tình trạng hiểu sai về tình tiết này

Trang 12

5 Các phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để hoàn thành khóa luận, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, nghiên cứu bản án điển hình để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề đã được nêu ra trong luận văn Cụ thể đó là:

- Phương pháp phân tích: Luận văn đã phân tích chi tiết các vấn đề có liên quan đến vấn đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể đánh giá được thực tiễn

áp dụng Các nội dung cần phân tích bao gồm: Phân tích các vấn đề lý luận về phạm tội nhiều lần, phân tích các thông số về tình hình phạm tội, người phạm tội, phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về phạm tội nhiều lần

- Phương pháp so sánh: Là việc so sánh các vấn đề có liên quan đến vấn đề phạm tội nhiều lần, từ đó có thể rút ra các kết luận mang tính đánh giá Các nội dung so sánh bao gồm: so sánh giữa phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội; phạm tội liên tục; phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, tái phạm; tái phạm nguy hiểm

- Phương pháp tổng hợp: Đó là việc khái quát hóa toàn bộ các nhận định độc lập sau khi phân tích, so sánh từng nội dung, từng tiêu chí cụ thể Phương pháp tổng hợp giúp cho quá trình đánh giá tránh khỏi sự phân tán, rời rạc và thiếu trọng tâm Các nội dung tổng hợp được đặt trong một hệ thống cấu trúc có mối liên hệ qua lại, trong đó xác định những nội dung cơ bản chi phối nhận định chung

- Nghiên cứu các vụ án điển hình: Đây là một phương pháp nghiên cứu quan trọng của luận văn Đó là những thực tiễn để chứng minh và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận mà tác giả đã đưa ra

6 Cơ sở khoa học và thực tiễn của luận văn

Cơ sở khoa học của luận văn là các quy định của Bộ luật Hình sự năm

1999 về phạm tội nhiều lần và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự

Trang 13

năm 1999, cũng như các công trình khoa học, sách báo pháp lý của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề này

Bên cạnh đó, cơ sở thực tiễn của luận văn là thực tiễn áp dụng các quy

định về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự Việt Nam và qua nghiên cứu các bản án của Tòa án nhân dân các cấp, những vụ án hình sự do cơ quan công an điều tra, khởi tố để rút ra những nhận xét, đánh giá

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng của luận văn là ở chỗ tác giả

đã làm rõ khái niệm, đặc điểm của vấn đề phạm tội nhiều lần, bản chất pháp

lý của nó Đồng thời trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn áp dụng để đưa ra các kiến nghị phù hợp

Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa làm tài liệu tham khảo lý luận cần thiết cho các nhà khoa học - luật gia, cán bộ thực tiễn và các sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành tư pháp hình sự, cũng như phục vụ cho công tác lập pháp và hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, cũng như công tác giáo dục, cải tạo người phạm tội hiện nay ở nước ta

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về "Phạm tội nhiều lần" trong pháp

luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm

tội nhiều lần" và thực tiễn áp dụng

Chương 3: Những phương hướng cơ bản của việc tiếp tục hoàn thiện

các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về "Phạm tội nhiều lần"

Trang 14

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN"

TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỊNH ĐA TỘI PHẠM

Phạm tội nhiều lần là một trong các dạng của chế định đa tội phạm

Do đó trước khi tìm hiểu về chế định này, chúng ta cần hiểu về chế định đa tội phạm Trong khoa học luật hình sự Việt Nam khi nghiên cứu về chế định đa tội phạm giữa các nhà nghiên cứu tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Có thể

kể đến một số quan điểm khác nhau như sau:

Quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh: Chế định đa tội phạm là một chế định của luật hình sự cần bao hàm tất cả những trường hợp khi một người thực hiện một số tội phạm với điều kiện nếu như đối với các tội này người đó vẫn chưa hết án tích hoặc thời hiệu truy tố về hình sự

Quan điểm khác với quan điểm của PGS.TS Võ Khánh Vinh là quan điểm của PGS.TS Lê Văn Đệ: "Nhiều tội phạm là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên, không phụ thuộc vào việc người đó đã bị xét xử về các tội đã phạm hay chưa; các tội này chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và không có những trở ngại về mặt tố tụng hình sự để khởi tố vụ án hình sự" [14]

Theo quan điểm của GS.TSKH Lê Văn Cảm:

Nhiều (đa) tội phạm là một chế định độc lập của luật hình sự Việt Nam bao gồm bốn dạng (trường hợp): (1) phạm tội nhiều lần; (2) phạm nhiều tội; (3) tái phạm; (4) phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, mà trong những điều kiện như nhau nếu so sánh với tội đơn nhất thì các dạng này thường cho thấy tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của tội phạm được thực hiện, cũng như của nhân thân người phạm tội [7, tr 388-389]

Trang 15

Như vậy, theo định nghĩa nói trên thì GS.TSKH Lê Văn Cảm đã nêu

rõ các dạng của chế định nhiều (đa) tội phạm Theo đó, nhiều tội phạm không chỉ là trường hợp một người phạm từ hai tội trở lên và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử (phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội) mà còn bao gồm cả trường hợp phạm từ hai tội trở lên và có thể đã bị đưa ra xét xử (tái phạm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp) Nếu so sánh đặc điểm của bốn dạng tội phạm nói trên thì có thể thấy chúng có một đặc điểm chung là người phạm tội phạm từ hai tội trở lên và vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên ở mỗi dạng lại nổi bật lên một điểm khác biệt để phân biệt giữa các dạng tội phạm khác nhau

Ở dạng phạm tội nhiều lần đặc điểm nổi bật là: phạm từ hai tội trở lên

và những tội ấy được quy định tại cùng một điều và người phạm tội vẫn chưa

bị xét xử

Ở dạng phạm nhiều tội thì người phạm tội cũng phạm từ hai tội trở lên, những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau và người phạm tội cũng chưa bị đưa ra xét xử về tội nào trong số những tội ấy

Ở dạng phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì người phạm tội phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục, có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập, nguồn sống chủ yếu của người phạm tội, người phạm tội có thể bị đưa ra xét

xử ở các lần khác nhau

Ở dạng tái phạm đặc điểm khác biệt của nó là ở chỗ người phạm tội trước đó đã bị kết án về bất kỳ tội phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội

do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý

Có thể nói khi nghiên cứu về chế định nhiều (đa) tội phạm ta có thể thấy được tính phức tạp cũng như tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và những thiệt hại do hành vi này gây ra thường là nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng Phạm tội nhiều lần chính là một trong các dạng tội phạm có tính chất như vậy

Trang 16

1.2 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TÌNH TIẾT PHẠM TỘI NHIỀU LẦN

1.2.1 Khái niệm của tình tiết phạm tội nhiều lần

Về mặt lập pháp: phạm tội nhiều lần với tính chất là một dạng của chế định đa tội phạm từ trước đến nay vẫn chưa nhận được sự điều chỉnh chính thức bằng một quy phạm riêng biệt nào mà mới chỉ được quy định với tính chất là tình tiết định khung tăng nặng của một số tội phạm cụ thể và là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999

Về mặt thực tiễn, lần đầu tiên bằng giải thích thống nhất có tính chất chỉ đạo trong Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật sửa đổi bổ sung một

số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần đối với riêng một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tình dục được đề cập trong Luật đã nêu mà theo đó, khái niệm phạm tội nhiều lần đối với một tội nào đó trong số các tội phạm có tính chất tham nhũng được thực tiễn xét xử của nước ta hiểu là: Bị cáo đã phạm tội ấy từ hai lần trở lên mà mỗi lần phạm tội có đầy đủ các yếu tố của cấu thành tội phạm cơ bản (khoản 1) trong điều luật tương ứng và người phạm tội chưa bị truy cứu trách nhiệm hình dự và tội

ấy cũng chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự [7, tr 391] Cụ thể như sau:

Đối với tội phạm về ma túy: Tại điểm b khoản 3 Phần II quy định: Tình tiết "phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 2 Điều 185b, khoản 2 Điều 185c, khoản 2 điều 185d, khoản 2 Điều 185e, khoản 2 Điều 185g, khoản 2 Điều 185h, khoản 2 Điều 185i, khoản 2 Điều 185k, khoản 2 Điều 185m, khoản 2 Điều 185n được hiểu là đã có tất cả từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần sản xuất trái phép chất ma túy trở lên, hai lần tàng trữ trái phép chất ma túy trở lên…) mà mỗi

Trang 17

lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 Điều luật tương ứng; đồng thời trong số các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự Trong trường hợp này người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số lượng chất ma túy của các lần cộng lại, nếu Điều luật có quy định về số lượng chất ma túy được định khung hình phạt

Người nào tổ chức, cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy

từ hai lần trở lên dù chỉ đối với một người cũng được coi là phạm tội nhiều lần

Đối với tội phạm hiếp dâm, cưỡng dâm: Tại điểm c khoản 1 Phần III: Tình tiết "phạm tội nhiều lần" quy định tại khoản 3 Điều 112a, khoản 3 Điều 113a, khoản 2 Điều 114, khoản 2 Điều 201, khoản 2 Điều 137 được hiểu

là đã có tất cả từ hai lần phạm tội trở lên (hai lần hiếp dâm trở lên, hai lần cưỡng dâm trở lên…) và mỗi lần phạm tội có đầy đủ yếu tố cấu thành quy định tại khoản 1 Điều luật tương ứng, đồng thời trong các lần phạm tội đó chưa có lần nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Cũng được coi là phạm tội nhiều lần người nào hiếp dâm, cưỡng dâm giao cấu… từ hai lần trở lên đối với một người

Về mặt lý luận: Dưới góc độ khoa học luật hình sự chúng ta thấy có hai quan điểm về khái niệm phạm tội nhiều lần Một là:

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và

người phạm tội vẫn chưa bị xét xử [7]

Hai là:

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên như hai lần trộm cắp, hai lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ba lần chứa mại dâm, bốn lần tham ô… và mỗi lần thực hiện hành vi đã cấu thành một tội

Trang 18

phạm độc lập nhưng tất cả các tội phạm đó đều bị xét xử trong cùng một bản án Phạm tội nhiều lần là người phạm tội có nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi đó chỉ cấu thành một tội, xâm phạm đến cùng một khách thể trực tiếp và chưa đưa ra truy tố, xét xử…[26]

1.2.2 Đặc điểm cơ bản của tình tiết phạm tội nhiều lần

Từ khái niệm nói trên tình tiết phạm tội nhiều lần có những đặc điểm

cơ bản như sau:

Đặc điểm thứ nhất: Người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi nguy

hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Có thể hiểu hành vi nguy hiểm cho xã hội là hành vi đe dọa xâm phạm hoặc xâm phạm đến những quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ

Đặc điểm thứ hai: Hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mỗi lần thực

hiện bao giờ cũng phải có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập

Các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm bao gồm bốn yếu tố: khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan Đây là một đặc điểm quan trọng để xác định có phải người phạm tội đã thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm hay không Nếu hành vi không có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập thì không thể xác định được

đó là tình tiết phạm tội nhiều lần

Đặc điểm thứ ba: Tội phạm do một điều hoặc một khoản của điều

tương ứng trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự quy định

Đây là một đặc điểm đặc trưng của tình tiết phạm tội nhiều lần và dùng

để phân biệt với tình tiết phạm nhiều tội Người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, mỗi lần thực hiện hành vi phải có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập và tội phạm

đó do cùng một điều hoặc một khoản tương ứng quy định tại Bộ luật Hình sự

Trang 19

Đặc điểm thứ tư: Tội phạm này vẫn phải còn thời hiệu truy cứu trách

nhiệm hình sự và người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 23 Bộ luật Hình sự năm 1999 Nếu hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa Do đó, hành vi nói trên không bị tính là một lần phạm tội

Đặc điểm "người phạm tội phải bị đưa ra xét xử cùng một lần" có nghĩa là các hành vi phạm tội trước đó chưa bị đưa ra xét xử lần nào Đây là một đặc điểm để phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần và tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm

Như vậy, đây là bốn đặc điểm cần và đủ để có thể đánh giá thế nào là phạm tội nhiều lần Nếu thiếu một trong bốn đặc điểm hay còn gọi là dấu hiệu nói trên thì khó có thể coi đó là tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần Để phân tích rõ hơn bốn đặc điểm nêu trên của tình tiết phạm tội nhiều lần, chúng

ta cùng nghiên cứu một ví dụ thực tế như sau:

Ngày 28/09/2010 Nguyễn Văn Thêm (chưa có tiền án, tiền sự) sang nhà cháu Trần Thị H sinh ngày 04/08/1996, trú quán: Thôn Cựu, xã Vân Từ, Phú Xuyên, Hà Nội (gọi Thêm là ông trẻ ở gần nhà), Nguyễn Văn Thêm có hành vi sờ ngực, bộ phận sinh dục của cháu Trần Thị H sau đó định giao cấu với cháu H thì bị anh Trần Thế Hưng (bố cháu H) trên gác chạy xuống cầm đòn gánh đuổi đánh và hô hoán mọi người đến bắt quả tang Nguyễn Văn Thêm

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Văn Thêm khai nhận: Khoảng tháng 05/2009 nhà cháu H đang sửa chữa công trình phụ nên H thường mang bát đĩa sang nhà Thêm rửa nhờ Thêm thấy cháu H phát triển sớm nên Thêm đã nhiều lần

có hành vi dùng tay sờ ngực cháu H và nảy sinh ý muốn giao cấu với cháu H Một hôm cháu H sang nhà Thêm chơi thấy không có ai ở nhà nên cháu đã lấy chiếc điện thoại di động Trung Quốc màu đen của Thêm mang về nhà Sau đó Thêm phát hiện ra cháu H lấy chiếc điện thoại nên đã nhắn cháu H phải đem

Trang 20

điện thoại sang trả nếu không sẽ nói cho bố mẹ biết Ngày hôm sau cháu H sang nhà Thêm để nói chuyện với Thêm về chiếc điện thoại H đã lấy của Thêm, lúc này không có ai ở nhà Thêm bảo cho cháu H chiếc điện thoại đó rồi Thêm ôm cháu H, sờ bộ phận sinh dục của cháu H, cháu H không đồng ý, Thêm dọa sẽ mách bố mẹ cháu về việc cháu H lấy chiếc điện thoại, sau đó Thêm Thêm cởi quần của cháu H và thực hiện hành vi giao cấu

Thêm còn khai từ tháng 05/2009 đến đầu năm 2010 Thêm đã nhiều lần giao cấu với cháu H ở tại nhà Thêm và có lần ở nhà cháu H, cứ khoảng một tuần, 1 đến 2 lần thêm lại giao cấu với cháu H nhưng không cho vào sâu

vì cháu H kêu đau và xuất tinh ra ngoài Trong suốt thời gian quan hệ với cháu H, Thêm đã mua chuộc cháu H bằng cách thỉnh thoảng cho tiền và mua điện thoại di động cho cháu H, khi cháu H không muốn tiếp tục giao cấu thì Thêm dọa sẽ nhắn tin cho các bạn của H biết Vì vậy cháu H sợ buộc phải cho Thêm tiếp tục hành vi giao cấu Vào ngày 28/09/2010 Thêm thấy cháu H chỉ

có một mình ở nhà liền đi vào ôm lấy cháu H và định thực hiện hành vi giao cấu thì bất ngờ bố cháu H ở trên gác chạy xuống cầm đòn gánh đuổi đánh và

hô mọi người đến bắt quả tang

Tại bản giám định số 2480 ngày 26/10/2010 của Viện khoa học hình

sự, Bộ Công an kết luận: Trên cơ thể của cháu H không có dấu vết thương tích, màng trinh không bị rách Sức khỏe của cháu H hiện bình thường

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã xử Nguyễn Văn Thêm phạm tội

"Hiếp dâm trẻ em" Áp dụng khoản 4 Điều 112, điểm g khoản 1 Điều 48 (phạm tội nhiều lần) của Bộ luật Hình sự năm 1999 xử phạt Nguyễn Văn Thêm 15 năm tù

Phân tích vụ án nói trên ta thấy được rõ bốn đặc điểm của tình tiết phạm tội nhiều lần là:

- Nguyễn Văn Thêm đã thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm đó là hành vi xâm hại đến quyền tự do và bất

Trang 21

khả xâm phạm về tình dục trẻ em (cháu H chưa đủ 13 tuổi), xâm phạm đến quá trình phát triển bình thường, sức khỏe và tinh thần của trẻ em

- Hành vi nói trên của Thêm được thực hiện nhiều lần và mỗi lần đều

có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập bao gồm 04 yếu tố

là khách thể, chủ thể, mặt khách quan và mặt chủ quan) Thêm đã xâm hại đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là quyền tự do và bất khả xâm phạm về tình dục trẻ em, sức khỏe và tinh thần của trẻ em (khách thể) Nguyễn Văn Thêm đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình

sự (chủ thể) Hành vi của Thêm đã gây ra hậu quả là ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của cháu H cả về sức khỏe lẫn tinh thần (mặt khách quan) Thêm thực hiện hành vi hoàn toàn với lỗi cố ý trực tiếp Tức là Thêm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra (mặt chủ quan)

- Những lần phạm tội nói trên của Nguyễn Văn Thêm do Điều 112 Bộ luật Hình sự (Tội hiếp dâm trẻ em) quy định

- Và Nguyễn Văn Thêm chưa bị đưa ra xét xử lần nào

Tóm lại, nghiên cứu về những đặc điểm nói trên là để giúp chúng ta phân biệt giữa tình tiết phạm tội nhiều lần với các tình tiết tương đồng khác

để tránh nhầm lẫn khi áp dụng trên thực tiễn

1.3 PHÂN BIỆT PHẠM TỘI NHIỀU LẦN VỚI MỘT SỐ TÌNH TIẾT KHÁC CÓ LIÊN QUAN (GẦN) TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ

1.3.1 Phạm tội nhiều lần và phạm nhiều tội

Cũng như tình tiết phạm tội nhiều lần, tình tiết phạm nhiều tội chưa nhận được sự điều chỉnh chính thức bằng một quy phạm riêng biệt nào trong pháp luật hình sự Việt Nam Thuật ngữ "phạm nhiều tội" chỉ được đề cập đến trong tên gọi của một điều luật "Quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội" (Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1985 trước đây và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 1999 hiện hành)

Trang 22

Vì vậy, để phân biệt hai tình tiết này chúng ta có thể dựa vào các khái niệm, các đặc điểm của nó dưới góc độ khoa học luật hình sự

Phạm tội nhiều lần là phạm tội từ hai lần trở lên mà những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc tại cùng một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời đối với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

và người phạm tội vẫn chưa bị xét xử

Phạm nhiều tội là phạm tội từ hai lần trở lên hoặc khi hành

vi của người phạm tội có dấu hiệu của từ hai tội trở lên mà những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và người phạm tội

chưa bị xét xử về tội nào trong số những tội ấy [7, tr 396]

Từ hai khái niệm nói trên, có thể thấy đặc điểm duy nhất để phân biệt hai tình tiết này là: số lần phạm tội từ hai lần trở lên nhưng ở tình tiết phạm tội nhiều lần thì những tội ấy được quy định tại cùng một điều (hoặc một khoản của điều) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, còn ở tình tiết phạm nhiều tội thì những tội ấy được quy định tại các điều khác nhau (hoặc tại các khoản khác nhau của cùng một điều nếu các đối tượng của tội phạm khác nhau) trong Phần riêng của Bộ luật Hình sự

Ví dụ: Khoảng 11 giờ ngày 27/10/2010, Nguyễn Quang Huy (không

có tiền án, tiền sự) đi xe máy Nouvo màu đen, không đeo biển kiểm soát trên đường Thái Hà - Huỳnh Thúc Kháng tìm người có tài sản để cướp giật Khoảng

12 giờ, Huy phát hiện chị Trần Thu Hoài, sinh năm 1970, trú tại Phòng 401 nhà 24T1 Trung Hòa, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội ngồi sau xe máy ôm theo một túi xách để trước bụng Huy liền bám theo để giật túi xách của chị Hoài Khi chị Hoài đi đến ngã tư Huỳnh Thúc Kháng với đường Nguyên Hồng thì Huy áp sát bên phải xe của chị Hoài, dùng tay trái giật lấy

Trang 23

chiếc túi xách của chị Hoài rồi nhanh chóng tẩu thoát Sau đó, Huy lục túi xách thấy có 12 triệu đồng, một số giấy tờ mang tên chị Hoài và một điện thoại di động Nokia 6500 màu đen Quá trình bắt giữ Huy cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc máy điện thoại di động tang vật nêu trên và thu giữ trong người Huy một gói nilon đựng chất bột màu trắng Huy khai là chất heroin (đã được cơ quan giám định xác định đó là chất ma túy: hêroin, trọng lượng 0,416g)

Huy khai nhận về nguồn gốc chất ma túy như sau: khoảng 10 giờ ngày 3/11/2010, Huy mua một gói nhỏ heroin từ Trần Anh Tuấn trên phố Lò Đúc -

Hà Nội với giá 400.000 (bốn trăm nghìn đồng) Huy đã sử dụng một ít hêroin,

số còn lại cất trong người cho đến khi bị bắt giữ Huy đã mua của Tuấn 04 lần vào các thời điểm khác nhau với số lượng như trên

Có thể thấy rằng: Huy đã thực hiện hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm là hành vi cướp giật tài sản (Huy không dùng vũ lực

mà chỉ nhanh chóng cướp tài sản rồi tẩu thoát nên hành vi của Huy cấu thành tội cướp giật tài sản) và hành vi mua bán trái phép chất ma túy Hai hành vi nói trên của Huy cấu thành hai tội là tội cướp giật tài sản theo Điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 và tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 194 Bộ luật Hình sự Như vậy, trường hợp phạm tội của đối tượng Huy chính là

trường hợp phạm nhiều tội tức là Huy đã phạm hai tội mà những tội ấy được

quy định tại các điều khác nhau (Điều 136 và Điều 194) trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và Huy chưa bị xét xử về tội nào trong số những tội ấy.

Bên cạnh đó, do nhiều lần Huy thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nên Huy sẽ bị truy tố theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình

sự năm 1999 với tình tiết tăng nặng định khung phạm tội nhiều lần Bởi vì

Huy đã bốn lần phạm tội mua bán trái phép chất ma túy mà những tội ấy

được quy định tại cùng một điều (Điều 194) tương ứng trong Phần riêng Bộ luật Hình sự, đồng thời với những tội ấy vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và Huy vẫn chưa bị xét xử.

Trang 24

1.3.2 Phạm tội nhiều lần và tội liên tục

Hai tình tiết phạm tội nhiều lần và tội liên tục nếu xét về thuật ngữ

"nhiều lần" và thuật ngữ "liên tục" ta thấy chúng dường như là tương đồng nhưng thực ra về bản chất là rất khác nhau Có thể hiểu tội liên tục là khi tội phạm được hình thành từ một loạt hành vi nguy hiểm cho xã hội giống nhau,

mà các hành vi đó có cùng một mục đích chung, được thực hiện với một ý định phạm tội thống nhất, cùng xâm hại đến một khách thể và trong sự tổng hợp của những hành vi đó thì cấu thành một tội độc lập [7, tr 389]

Như vậy, tội liên tục cũng là tội được hình thành từ nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm, nhưng khác với phạm tội nhiều lần một loạt hành vi nguy hiểm của tội liên tục mới cấu thành nên một tội vì mỗi hành

vi chưa đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập, còn với tình tiết phạm tội nhiều lần thì hành vi nguy hiểm cho xã hội trong mỗi lần thực hiện bao giờ cũng có đầy đủ các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập Mặt khác, xét về hậu quả cũng như thiệt hại cho xã hội do hành vi gây ra thì phạm tội nhiều lần gây ra thiệt hại lớn hơn rất nhiều so với tội liên tục Về mức độ trách nhiệm hình sự, phạm tội nhiều lần là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự còn phạm tội liên tục chỉ để chỉ tội đó do một loạt hành vi cấu thành nên nó chỉ là tình tiết định tội mà thôi

Ví dụ: Chị Nguyễn Thị Lưu sinh 1976 kết hôn với Nguyễn Văn Doanh sinh 1975, trú tại thôn Đạo Thượng, Tân Hưng, Sóc Sơn, Hà Nội Cuộc hôn nhân kéo dài 15 năm, hai người đã có hai mặt con Thế nhưng chị Lưu thường xuyên bị chồng đánh đập, hành hạ dã man Từ cán cuốc, đòn gánh, mũ cối, dây

cu roa đến tuýp nước, tất cả những vật dụng Doanh vớ được đều trở thành hung khí hành hạ vợ Nhiều lần, chị Lưu phải đi cấp cứu tại trạm xá do những trận đòn của chồng Người phụ nữ lam lũ sống ở làng quê vẫn cắn răng chịu đựng cảnh bị chồng hành hạ nhiều năm mà không dám giải thoát cho mình

Ngày 31/5/2009, chị gái của Doanh bị ốm có nhờ chị Lưu đến gặt lúa

hộ Chị Lưu đến làm và còn biếu chị gái của Doanh 200 ngàn đồng để bồi

Trang 25

dưỡng, thuốc men Khi về nhà, chị thật thà kể cho chồng nghe thì liền bị Doanh chửi mắng vì đã đi gặt hộ lại còn cho những 200 nghìn đồng

Sau khi dùng dây cu roa trói vợ và mặc sức đánh đập tàn nhẫn, được người hàng xóm can ngăn thì Doanh mới chịu thả vợ ra Người chồng vũ phu này bắt vợ phải cùng lên nhà bố mẹ vợ để kể tội Trước mặt mọi người trong gia đình nhà vợ, Doanh ra sức thóa mạ vợ mình Sau đó, hai vợ chồng lại dắt nhau về nhà

Khoảng 23h cùng ngày, gia đình chị Lưu chưa hết tâm trạng lo lắng chị sẽ tiếp tục bị Doanh hành hạ khi về tới nhà thì nhận tin dữ chị Lưu chết vì

tự tử bằng bả chó

Trước khi chết, lá thư của chị Nguyễn Thị Lưu (thôn Đạo Thượng, xã Tân Hưng, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) gửi đến các cơ quan chức năng ngày 7/6/2007 với những lời lẽ thống thiết: "Tôi không hiểu tại sao gần đây chồng tôi lại hay đánh đập, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, thể xác của tôi bằng những hành động quá tàn bạo"

Chị Lưu tố cáo anh Nguyễn Văn Doanh, chồng chị, đã có những hành

vi bạo hành tàn bạo như sau:

Lần 1, khi đi chăn vịt, anh Doanh đã ném mũ cối vào mặt chị Lưu rồi đấm đá túi bụi

Lần 2, anh Doanh cầm chuôi cuốc thúc mạnh vào cổ chị Lưu khiến chị phải đi viện Lần thứ 3, chỉ vì thời tiết mưa bão nhiều khiến lúa bị bọ dầy phá hoại, anh Doanh đổ lỗi cho chị Lưu làm hỏng lúa và đã đi mua xăng về đốt lúa rồi lấy dây cô loa đánh túi bụi vào người chị Lưu ở bờ ruộng

Vào khoảng tháng 4/2004, do ghen tuông, Doanh đã chửi mắng chị Lưu vì khi chị Lưu đi bán hoa quả ở chợ đã có một thanh niên đến mua hoa quả và bắt tay chị "Những lời nhiếc móc, những trận đòn phũ phàng, những

sự tra tấn tàn bạo có thể ập đến với tôi bất cứ lúc nào khiến tôi luôn sống trong tâm trạng sợ hãi giữa sự sống và cái chết Nửa đêm, anh ta bắt tôi ngồi

Trang 26

dậy và ký vào đơn ly dị Anh ta chửi mắng tôi là ngu như chó, "mày có chết đi thì tao cũng chỉ mất với mày một cỗ ván với mấy triệu là xong, nửa tháng sau

là tao lại có vợ mới"…

Sau khi xem xét vụ án, Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn tuyên Nguyễn Văn Doanh phạm tội Hành hạ người khác theo Điều 151 Bộ luật Hình sự năm

1999 và phạt Doanh mức án 24 tháng tù treo, bồi thường gần 20 triệu đồng

Vụ án trên cho thấy Doanh đã thực hiện rất nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm như hành vi đánh, nhiếc móc vợ xâm phạm đến sức khỏe và tinh thần của người phụ nữ Tuy nhiên mỗi một hành vi của Doanh chưa đủ dấu hiệu của một cấu thành tội phạm độc lập mà tổng hợp các hành vi nguy hiểm cho xã hội nói trên của Doanh mới cấu thành nên một tội

là tội Hành hạ người khác Đây chính là một trong những tội điển hình của loại tội liên tục nói trên

1.3.3 Phạm tội nhiều lần và phạm tội có tính chất chuyên nghiệp

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hiểu là phạm tội nhiều lần, có tính chất liên tục và nhằm mục đích vụ lợi hay làm giàu bất chính mà hoạt động phạm tội đã trở thành hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 12/05/2006 hướng dẫn áp dụng một

số quy định của Bộ luật Hình sự thì tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp được hướng dẫn như sau:

5.1 Chỉ áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

a Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy

Trang 27

cứu trách nhiệm hình sự, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích;

b Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính

Ví dụ: A là một người không nghề nghiệp, chuyên sống bằng nguồn thu thập từ việc phạm tội Trong một thời gian, A liên tiếp thực hiện năm vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị từ năm trăm ngàn đồng trở lên) Trong trường hợp này, A bị truy cứu trách nhiệm hình sự và phải bị áp dụng tình tiết định khung hình phạt "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"

5.2 Khi áp dụng tình tiết "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp", cần phân biệt:

a Đối với trường hợp phạm tội từ năm lần trở lên mà trong

đó có lần phạm tội đã bị kết án, chưa được xóa án tích thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội có thể bị áp dụng cả ba tình tiết là "phạm tội nhiều lần", "tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy hiểm")

và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"

Ví dụ: B đã bị kết án về tội "trộm cắp tài sản", nhưng chưa chấp hành hình phạt hoặc sau khi chấp hành xong hình phạt, trong một thời gian, B lại liên tiếp thực hiện bốn vụ trộm cắp tài sản (tài sản chiếm đoạt được trong mỗi vụ có giá trị từ năm trăm ngàn đồng trở lên) Trong trường hợp này, B phải bị truy cứu trách nhiệm hình

sự và phải bị áp dụng ba tình tiết tăng nặng là "phạm tội nhiều lần",

"tái phạm" (hoặc "tái phạm nguy hiểm") và "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp"

b Đối với tội phạm mà trong điều luật có quy định tình tiết

"phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" là tình tiết định khung hình phạt thì không được áp dụng tình tiết đó là tình tiết tăng nặng tương

Trang 28

ứng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự Trường hợp điều luật không có quy định tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt thì phải áp dụng là tình tiết tăng nặng tương ứng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Hình sự [37]

Như vậy, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thể hiện tính nguy hiểm

và mang cấp độ cao hơn so với tình tiết phạm tội nhiều lần Phạm tội nhiều lần chỉ để chỉ người phạm tội thực hiện từ hai lần hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Còn đối với phạm tội có tính chất chuyên nghiệp thì các hành vi phạm tội có tính chất liên tục nghĩa là người phạm tội liên tiếp thực hiện loại tội phạm cùng nhóm trong khoảng thời gian nhất định và ít nhất phải từ năm lần trở lên Các hành vi phạm tội đã trở thành hoạt động phạm tội

có hệ thống và tạo nên nguồn thu nhập cơ bản hoặc nguồn sống chủ yếu của người phạm tội

Mặt khác, nếu ở tình tiết phạm tội nhiều lần các lần người tội phạm thực hiện hành vi phạm tội chưa bị đưa ra xét xử lần nào thì ở tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp người phạm tội có thể bị đưa ra xét xử ở các lần khác nhau Bởi vì có thể ngay sau khi được xóa án tích người phạm tội lại tiếp tục thực hiện một loạt tội phạm cùng nhóm

Điểm khác nhau cuối cùng là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn ở phạm tội nhiều lần thì các lần phạm tội phải chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Ví dụ: Nguyễn Vi Vương là đối tượng không có công ăn việc làm Do cần tiền để ăn tiêu nên trong khoảng thời gian từ giữa năm 2008 đến tháng 9/2009 Nguyễn Vi Vương đã một mình dùng xe máy Yamaha Exciter - biển kiểm soát 29Z7-4382 đi trên các đường phố Hà Nội, khi thấy có các chị phụ

nữ đi xe máy, có đeo túi xách thì ép sát xe vào phía bên phải và tay phải giữ tay ga, tay trái giật túi của họ, sau đó phóng xe chạy vào chỗ vắng lục túi lấy

Trang 29

các tài sản có giá trị, còn túi, giấy tờ không có giá trị Vương vứt đi Tại cơ quan điều tra Vương đã khai nhận gây ra 19 vụ cướp giật tài sản với tổng giá trị tài sản và tiền Nguyễn Vi Vương cướp giật được trong 19 vụ án nói trên ước tính khoảng gần 500.000.000 (năm trăm triệu đồng)

Nhìn chung hành vi của Vương bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tính chất chuyên nghiệp Bởi vì lý do Vương phạm tội là để có tiền tiêu xài, là nguồn sống chính vì Vương không có công ăn việc làm Số vụ cướp giật Vương gây ra là 19 vụ và tổng trị giá tài sản mà Vương cướp giật được là rất lớn Nên có thể khẳng định đây chính là nguồn sống chính của Vương

1.3.4 Phạm tội nhiều lần và tái phạm, tái phạm nguy hiểm

So với tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm được quy định bằng một chế định độc lập tại Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999 Theo đó tái phạm, tái phạm nguy hiểm được quy định như sau: "Tái phạm là trường hợp đã bị kết

án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý" [30]

Tái phạm nguy hiểm bao gồm các trường hợp:

a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;

b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do

cố ý [30]

Cũng giống như tình tiết phạm tội nhiều lần, tái phạm cũng là thực hiện từ hai lần trở lên hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm Nhưng tái phạm, tái phạm nguy hiểm là trường hợp người phạm tội đã bị kết

án và chưa được xóa án tích còn phạm tội nhiều lần thì người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần nhưng chưa lần nào bị đưa ra xét xử nên chưa

bị kết án và chưa có án tích

Trang 30

Ở tình tiết tái phạm, tái phạm nguy hiểm tội phạm trước và tội phạm mới không cần thiết phải cùng là một tội được quy định trong cùng một điều luật còn ở tình tiết phạm tội nhiều lần thì bắt buộc tất cả các hành vi phạm tội

đó đều được quy định tại một điều luật cụ thể trong phần riêng Bộ luật Hình sự

Theo quy định của Bộ luật Hình sự tình tiết tái phạm và tái phạm nguy hiểm có những dấu hiệu đặc trưng đó là dấu hiệu về hình thức lỗi và tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội còn tình tiết phạm tội nhiều lần không đặt

ra dấu hiệu này

Ví dụ: Hồi 14h30’ ngày 29/03/2009, Đội 8 - Phòng cảnh sát điều tra tội phạm trật tự xã hội bắt quả tang 02 đối tượng Nguyễn Bá Long (có 3 tiền án) và Phạm Tuấn Anh (có 01 tiền án, 01 tiền sự) đi xe máy Repson, không biển kiểm soát dừng ở đầu xe ô tô Honda Accord, biển kiểm soát 30N-9601 đang đỗ trước số nhà 29 Hàng Bài Đối tượng Long ngồi sau xe máy đang dùng tay cậy mặt gương chiếu hậu của xe ô tô còn Phạm Tuấn Anh là người lái xe Tại cơ quan điều tra, đối tượng Long và Tuấn Anh đã khai nhận toàn

bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai nhận trong ngày 29/03/2009 Long cùng Tuấn Anh còn gây ra 2 vụ trộm cắp mặt gương xe ô tô như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12h Long rủ Tuấn Anh đi trộm cắp mặt gương

xe ô tô để đem bán lấy tiền ăn tiêu Bọn chúng đi đến đường Kim Liên mới phát hiện 1 chiếc xe Azuza để bên lề đường, không có người trông giữ Tuấn Anh điều khiển xe máy áp sát và đỗ ngay trước đầu xe ô tô, Long ngồi sau đưa tay cậy mặt gương chiếu hậu bên lái của xe ô tô rồi cả hai tiếp tục đi về hướng Tây Sơn để trộm cắp tiếp

Vụ thứ hai: Sau khi thực hiện vụ trộm cắp tài sản nêu trên, Tuấn Anh chở Long đi đến đường Yên Hòa phát hiện 1 chiếc xe Accord không có người trông giữ để ven đường Tuấn Anh liền áp sát đầu xe ô tô và dừng lại để Long cậy mặt gương xe Sau đó cả hai đi về ngõ Đê Tô Hoàng Tại đây Long bán 2 chiếc gương

xe ô tô vừa trộm cắp được cho 1 đối tượng tên là Tùng lấy 1.000.000 đồng

Trang 31

Hành vi trên của Long và Tuấn Anh đã cấu thành tội trộm cắp tài sản theo Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 Long và Tuấn Anh đều là những đối tượng đã có tiền án, tiền sự chưa được xóa án tích mà lại phạm phải tội mới do cố ý là tội trộm cắp tài sản Bên cạnh đó Long và Tuấn Anh đã có 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, lần nào cũng đủ dấu hiệu cấu thành tội trộm cắp tài sản và chưa lần nào bị đưa ra xét xử Vì vậy Long và Tuấn Anh

bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là tái phạm và phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 Như vậy, cùng là tội trộm cắp tài sản nhưng Long và Tuấn Anh bị áp dụng hai tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm và phạm tội nhiều lần Tái phạm vì phạm tội mới mà chưa được xóa án tích Phạm tội nhiều lần là vì có nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp và chưa lần nào bị đưa ra xét xử mặc dù mỗi lần thực hiện hành vi đã đủ để cấu thành tội trộm cắp tài sản

1.4 Ý NGHĨA CỦA VIỆC ĐIỀU CHỈNH VỀ MẶT LẬP PHÁP TÌNH TIẾT PHẠM TỘI NHIỀU LẦN

Phạm tội nhiều lần là một tình tiết cần phải được điều chỉnh về mặt lập pháp bằng các quy phạm trong một chương độc lập của Bộ luật Hình sự Đây là điều cần thiết và quan trọng trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay

Thực tiễn đấu tranh chống tội phạm ở nước ta trong những năm qua đã cho thấy một cách xác đáng và đảm bảo sức thuyết phục là nếu như trong pháp luật hình sự không có sự ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng định nghĩa pháp lý của khái niệm "phạm tội nhiều lân" thì các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử khó đạt được sự thống nhất và đồng bộ trong việc nhận thức khoa học

và áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tình tiết này

Việc ghi nhận những dấu hiệu đặc trưng cơ bản, điển hình và riêng biệt trong định nghĩa pháp lý của khái niệm phạm tội nhiều lần sẽ thể hiện rõ

Trang 32

được tính nguy hiểm cho xã hội của nó và giúp chúng ta hiểu đúng, phân biệt được bản chất pháp lý của dạng nhiều tội phạm trên

Bên cạnh đó việc được ghi nhận chính thức với tính chất là các căn cứ pháp lý cho Tòa án áp dụng có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án, đến quyền và lợi ích thiết thân của chính bản thân người phạm tội Theo cấu trúc xây dựng điều luật thì bất kỳ điều luật cụ thể nào trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự, nhà làm luật nước ta đều quy định mức hình phạt tối thiểu và mức hình phạt tối đa tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tương ứng Đường lối xử lý chung trong pháp luật nước ta là tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với những trường hợp phạm tội nhiều lần

Tóm lại việc điều chỉnh về mặt lập pháp tình tiết phạm tội nhiều lần

có ý nghĩa quan trọng đối với thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, góp phần đồng bộ hóa các quy định của pháp luật về tình tiết này

Trang 33

Chương 2

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

VỀ "PHẠM TỘI NHIỀU LẦN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG 8 NĂM 1945 CHO ĐẾN TRƯỚC KHI BAN HÀNH BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999

2.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 cho đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985

Năm 1945, Cách mạng Tháng 8 thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời với chính quyền non trẻ Chúng ta phải thực hiện ba nhiệm vụ lớn là tiêu diệt giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm Vì vậy, sau ngày Hồ Chủ tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, Nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản pháp luật hình sự để tạo cơ sở cho việc trấn áp tội phạm Tuy vậy, trong thời kỳ đầu của chính quyền cho đến những năm 1950 với muôn vàn khó khăn, thử thách, kinh nghiệm lập pháp chưa có nhiều nên những quy định của pháp luật hình sự chưa hoàn chỉnh Thời kỳ này, các chế định của luật hình sự được thể hiện dưới dạng các Sắc lệnh Mỗi tội phạm cụ thể lại được điều chỉnh bằng một Sắc lệnh mà không quy định chung trong một Sắc lệnh Nghiên cứu các văn bản quy định trong thời kỳ này có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần chưa được đề cập đến

Tiếp theo, từ những năm 1960 đến năm 1975, Nhà nước ta phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược, đó là: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Những quy định chung trong luật hình sự cũng đã có những bước phát triển để bảo vệ

sự nghiệp xây dựng kinh tế và văn hóa, chống lại những âm mưu, hành động phá hoại, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, tập thể và công dân, trấn áp kẻ thù của chủ nghĩa xã hội Đồng thời bảo vệ cơ sở vật chất và kỹ thuật, bảo vệ

Trang 34

nên kinh tế kế hoạch, chống mọi âm mưu và hành động phản cách mạng, lật

đổ chính quyền nhân dân Trong thời kỳ này các quy định của pháp luật hình

sự cũng chưa có được sự thống nhất, tập trung mà vẫn quy định ở nhiều văn bản khác nhau Nghiên cứu các văn bản quy định trong thời kỳ này, có thể thấy tình tiết phạm tội nhiều lần cũng chưa được đề cập đến mà pháp luật chỉ quy định về các tình tiết tăng nặng khác như tái phạm, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp hoặc phạm tội có tổ chức

Với đại thắng mùa xuân năm 1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống

Mỹ cứu nước, đất nước hoàn toàn thống nhất, non sông thu về một mối Tuy vậy, ngay sau khi giải phóng, tạm thời hai miền Nam, Bắc vẫn tồn tại hai hệ thống pháp luật khác nhau Ngày 25/04/1976, nhân dân ta tiến hành tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung trong cả nước Ngày 02/07/1976, Quốc Hội chính thức đổi tên nước ta thành nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật được áp dụng chung cho cả nước Những năm đầu đất nước thống nhất, pháp luật hình sự đã bắt đầu đề cập đến tình tiết phạm tội nhiều lần với ý nghĩa là một trong những trường hợp cần xử lý nghiêm khắc

Ví dụ: Tại Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ ngày 20/05/1981 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quy định: Tội hối lộ bao gồm nhận hối lộ, đưa hối lộ

và môi giới hối lộ Người nào nhận hối lộ thì bị phạt tù từ 1 năm đến 10 năm Người nào đưa hối lộ, môi giới hối lộ thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm Phạm tội trong trường hợp phạm tội nhiều lần thì bị phạt tù đến 15 năm:

Điều 5: Những trường hợp cần xử nặng

Người nhận hối lộ, đưa hối lộ hoặc môi giới hối lộ trong những trường hợp sau đây thì bị phạt tù đến 15 năm:

a) Phạm tội hối lộ có tổ chức, b) Phạm tội hối lộ nhiều lần, c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt để thực hành hối lộ, d) Của hối lộ có giá trị lớn,

Trang 35

đ) Lợi dụng chức vụ cao để nhận hối lộ, e) Phạm tội hối lộ gây hậu quả nghiêm trọng [43]

Tóm lại, những quy định của pháp luật hình sự về tình tiết phạm tội nhiều lần trong giai đoạn này chưa được đề cập nhiều và nó chỉ mang tính chất là một tình tiết tăng nặng hình phạt

2.1.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985 cho đến trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1999

Đáp ứng yêu cầu tăng cường kỷ cương, pháp luật và thực hiện đầy đủ, toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, ngày 27/06/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa VII, Quốc hội đã thông qua toàn văn Bộ luật Hình sự,

có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986 (gọi là Bộ luật Hình sự 1985) Bộ luật Hình

sự năm 1985 ra đời dựa trên cơ sở sự kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật hình sự Việt Nam, đặc biệt từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 Đây là bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật nước ta Các quy định

về hình sự đã được tập trung lại thành một bộ luật hoàn chỉnh Bộ luật Hình

sự năm 1985 được chia làm hai phần: phần chung và phần riêng Tại phần chung của Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu tiên tình tiết phạm tội nhiều lần chính thức được quy định là một tình tiết tăng nặng chung Cụ thể như sau:

Điều 39 Những tình tiết tăng nặng

1- Những tình tiết sau đây mới được coi là tình tiết tăng nặng: a) Phạm tội có tổ chức; xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

b) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

c) Phạm tội trong thời gian đang chấp hành hình phạt;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

Trang 36

đ) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người

ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về vật chất, công tác hay các mặt khác;

e) Phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng;

h) Phạm tội nhiều lần; tái phạm; tái phạm nguy hiểm;

i) Sau khi phạm tội, đã có những hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm [28]

Tại Phần riêng của Bộ luật tình tiết phạm tội nhiều lần được xét đến như là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong một số tội phạm khác nhau được quy định tại các điều tương ứng trong bộ luật Cụ thể:

1) Khoản 2 Điều 88: Tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép

2) Điểm đ khoản 2 Điều 97: Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới

3) Khoản 2 Điều 170: Tội lừa dối khách hàng

4) Điểm đ khoản 2 Điều 226: Tội nhận hối lộ

5) Điểm đ khoản 2 Điều 227: Tội đưa hối lộ, tội làm môi giới hối lộ

6) Điểm c khoản 2 Điều 272: Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm

Trong khoảng 15 năm tồn tại, Bộ luật Hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 Qua bốn lần sửa đổi,

bổ sung có trên 100 lượt điều luật được sửa đổi hoặc bổ sung Với những sửa đổi, bổ sung này luật hình sự đã có sự phát triển đáp ứng được phần nào đòi hỏi của cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong điều kiện đổi mới Tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 1985 ngày 10/05/1997,

Trang 37

quy định phạm tội nhiều lần là tình tiết định khung hình phạt cao ở các tội phạm cụ thể đã được tăng lên rất nhiều so với Bộ luật Hình sự năm 1985 (từ 6 tội lên đến 28 tội) Cụ thể các tội nói sau được bổ sung thêm tình tiết tăng nặng định khung phạm tội nhiều lần:

1) Tội Tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa

2) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa

3) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

4) Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân 5) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

6) Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ

7) Tội giả mạo trong công tác

8) Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi

9) Tội sản xuất trái phép chất ma túy

10) Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

11) Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

12) Tội mua bán trái phép chất ma túy

13) Tội chiếm đoạt chất ma túy

14) Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

15) Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng

cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

16) Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

Trang 38

17) Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

18) Tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy 19) Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác

20) Tội hiếp dâm trẻ em

21) Tội cưỡng dâm người chưa thành niên

22) Tội giao cấu với trẻ em

23) Tội chứa mãi dâm, tội môi giới mãi dâm

24) Tội mua dâm người chưa thành niên

25) Tội sử dụng trái phép tài sản xã hội chủ nghĩa

26) Tội hiếp dâm

27) Tội cưỡng dâm

28) Tội dâm ô đối với trẻ em

Bên cạnh đó về mặt thực tiễn, lần đầu tiên tình tiết phạm tội nhiều lần

đã được các cơ quan chức năng hướng dẫn áp dụng tại Thông tư liên tịch số 01/1998/TTLT ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) hướng dẫn áp dụng một

số quy định của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm

1985 Thông tư đã đưa ra khái niệm phạm tội nhiều lần đối với riêng một số tội phạm có tính chất tham nhũng và tình dục được đề cập trong Bộ luật Hình sự

Như vậy, tình tiết phạm tội nhiều lần đã được chính thức ghi nhận là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung hoặc là một tình tiết định khung hình phạt tăng nặng trong phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự Việc ghi nhận nói trên đồng thời cũng là một căn cứ pháp lý quan trọng cho việc tòa án xem xét trong vấn đề quyết định khung và mức hình phạt

Trang 39

2.2 NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ PHẠM TỘI NHIỀU LẦN

2.2.1 Những quy định của Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999

về phạm tội nhiều lần

Kế thừa những quy định của Bộ luật Hình sự năm 1985, Bộ luật Hình

sự năm 1999 quy định tình tiết phạm tội nhiều lần là một trong các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (điểm g khoản 1 Điều 48):

1 Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

a) Phạm tội có tổ chức;

b) Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội;

d) Phạm tội có tính chất côn đồ;

đ) Phạm tội vì động cơ đê hèn;

e) Cố tình thực hiện tội phạm đến cùng;

g) Phạm tội nhiều lần, tái phạm, tái phạm nguy hiểm;

h) Phạm tội đối với trẻ em, phụ nữ có thai, người già, người

ở trong tình trạng không thể tự vệ được hoặc đối với người lệ thuộc mình về mặt vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác;

i) Xâm phạm tài sản của Nhà nước;

k) Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

l) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội;

Trang 40

m) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác phạm tội hoặc thủ đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

n) Xúi giục người chưa thành niên phạm tội;

o) Có hành động xảo quyệt, hung hãn nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm

2 Những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng [30]

Tình tiết phạm tội nhiều lần dưới góc độ là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ để Tòa án cá thể hóa trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này Một mức hình phạt cụ thể là ba năm, bảy năm, mười lăm năm, hai mươi năm, thậm chí là sự lựa chọn giữa hình phạt tù chung thân và hình phạt tử hình một phần phụ thuộc vào việc người phạm tội có hay không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có một hay nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự,

để từ đó Tòa án quyết định quyền sống hay chết của người phạm tội Do đó, tình tiết phạm tội nhiều lần nhìn từ góc độ này có ý nghĩa và ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định của Tòa án, đến quyền và lợi ích thiết thân của chính bản thân người phạm tội

Tuy nhiên, trong một vụ án hình sự có thể có một tội phạm hoặc nhiều tội phạm, một người phạm tội hoặc nhiều người phạm tội, nên việc xác định tình tiết định tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chỉ trong phạm vi một tội phạm cụ thể mà không được sử dụng tình tiết định tội của tội phạm này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm khác cũng như tình tiết tăng nặng của người phạm tội này làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho người phạm tội khác vì "những tình tiết đã là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng"

Ngày đăng: 19/10/2015, 15:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Bộ (1999), "Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng", Tòa án nhân dân, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng
Tác giả: Mai Bộ
Năm: 1999
3. Lê Cảm (2000), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự, Tập III, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung Luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2000
4. Lê Cảm (Chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
5. Lê Cảm (2001), "Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam", Dân chủ và pháp luật, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định đa (nhiều) tội phạm và mô hình lý luận của nó trong luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2001
6. Lê Cảm (2002), Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự, Tập IV, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nghiên cứu chuyên khảo về Phần chung luật hình sự
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2002
7. Lê Cảm (2005), Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách chuyên khảo Sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung)
Tác giả: Lê Cảm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
8. Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh: lý luận hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định tội danh: lý luận hướng dẫn mẫu và 350 bài thực hành
Tác giả: Lê Cảm, Trịnh Quốc Toản
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
9. Nguyễn Hải Dũng (2005), "Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999", Kiểm sát, (Số Tết) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về việc áp dụng tình tiết phạm tội nhiều lần, phạm tội đối với nhiều người trong một số tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999
Tác giả: Nguyễn Hải Dũng
Năm: 2005
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/ của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/ của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIi, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIi
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Lê Văn Đệ (2003), Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chế định nhiều tội phạm - những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Lê Văn Đệ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
15. Nguyễn Hữu Hậu (2004), "Phân biệt các khái niệm "Phạm nhiều tội, Phạm tội nhiều lần, Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm" trong chế định nhiều tội phạm", Kiểm sát, (7) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt các khái niệm "Phạm nhiều tội, Phạm tội nhiều lần, Tái phạm, Tái phạm nguy hiểm" trong chế định nhiều tội phạm
Tác giả: Nguyễn Hữu Hậu
Năm: 2004
16. Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự (1994), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự
Tác giả: Hệ thống hóa các văn bản pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1994
17. Đinh Xuân Hiền (2002), "Bàn về tình tiết phạm tội nhiều lần", Kiểm sát, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tình tiết phạm tội nhiều lần
Tác giả: Đinh Xuân Hiền
Nhà XB: Kiểm sát
Năm: 2002
18. Đỗ Thanh Huyền (2007), "Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần", Tòa án nhân dân, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về phạm tội có tổ chức, phạm tội nhiều lần
Tác giả: Đỗ Thanh Huyền
Nhà XB: Tòa án nhân dân
Năm: 2007
19. Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn (2006), Từ điển Pháp luật hình sự, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Pháp luật hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Thị Sơn
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2006
20. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (1998), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung)
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
21. Vũ Thành Long (2006), "Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết tăng nặng "Phạm tội có tổ chức" và "Phạm tội nhiều lần"", Kiểm sát, (21) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 về tình tiết tăng nặng "Phạm tội có tổ chức" và "Phạm tội nhiều lần
Tác giả: Vũ Thành Long
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Thống kê số liệu một số tội danh các đối tượng phạm tội thường bị - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phạm tội nhiều lần theo luật hình sự việt nam  luận văn ths  luật
Bảng 2.1 Thống kê số liệu một số tội danh các đối tượng phạm tội thường bị (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w