Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" 78 Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ BIỆ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƯỢNG
BIỆN PHÁP TƯ PHÁP: TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Quốc Toản
HÀ NỘI - 2014
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Vũ Thị Ph-ợng
Trang 4Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
"TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
7
1.1 cơ sở lý luận về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại"
7
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của biện pháp tư pháp "Trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
12
1.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại" với hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản
và với biện pháp tư pháp tịch thu tiền, vật trực tiếp liên quan
đến tội phạm trong luật hình sự Việt Nam
17
1.2.1 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại" với hình phạt tiền
17
1.2.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
20
1.2.3 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại" với biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm"
22
Trang 51.3 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam quy định biện
pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
25
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
25
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến
trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
27
1.4 Nghiên cứu so sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sự Việt
Nam với biện pháp cưỡng chế hình sự tương đương trong luật
hình sự của Liên bang Nga và Cộng hòa dân chủ nhân dân
Trung Hoa
29
1.4.2 Luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa 32
Chương 2: NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ BIỆN PHÁP TƢ PHÁP "TRẢ
LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI BÌNH
36
2.1 Những quy định về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại" trong Bộ luật hình sự năm 1999
36
2.2 Thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại" trên địa bàn tỉnh Thái Bình
65
2.2.2 Một số tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản,
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trên địa bàn tỉnh Thái Bình
69
Trang 62.3 Những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế trong áp dụng biện pháp
tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
78
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ
BIỆN PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
81
3.1 Nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự và nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại"
81
3.2 Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về
biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
82
3.2.1 Hoàn thiện quy định tại Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 82 3.2.2 Hoàn thiện một số quy định pháp luật hình sự có liên quan
đến áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại"
86
3.3 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp "Trả lại
tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong thực tiễn
91
3.3.1 Nâng cao năng lực, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ tư pháp 91
3.3.2 Tăng cường hoạt động hướng dẫn bảo đảm thực hiện áp dụng
biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thường thiệt hại" đạt hiệu quả
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự BLHS : Bộ luật hình sự BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự TNHS : Trách nhiệm hình sự
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
1.1 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
18
1.2 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
21
1.3 So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc
bồi thường thiệt hại" với biện pháp tịch thu vật, tiền trực
tiếp liên quan đến tội phạm
24
2.1 Thống kê xét xử các loại tội phạm của ngành Tòa án Thái
Bình từ năm 2009 đến năm 2013
66
2.2 Thống kê xét xử 3 nhóm tội phạm có khả năng áp dụng
cao biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại
68
3.1 Đề nghị sửa đổi khoản 2 Điều 41 BLHS và khoản 1 Điều 42 84
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tình hình tội phạm ở nước ta thời gian qua ngày càng gia tăng không chỉ về số lượng mà cả về các loại tội phạm, đặc biệt là các loại tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm quyền sở hữu; các tội phạm về chức vụ cũng như các tội phạm kinh tế Để
xử lý các tội phạm này các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng nhiều biện pháp xử lý khác nhau, trong đó có việc áp dụng biện pháp tư pháp Theo báo cáo của Bộ Tư pháp năm 2012 "Thực tiễn 11 năm thi hành Bộ luật hình sự cho thấy, các biện pháp tư pháp thường được áp dụng nhiều nhất là tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 41); trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại (Điều 42)" [1]
Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" không có ý nghĩa quyết định như hình phạt nhưng trong giới hạn tác động của nó đã phát huy được vai trò tích cực, là một bộ phận cấu thành không thể thiếu trong hệ thống các biện pháp tác động của Nhà nước và xã hội đến tội phạm Vai trò nổi bật của biện pháp
tư pháp này khi áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội trong tương lai và khi áp dụng cùng hình phạt nó có vai trò hỗ trợ cho hình phạt
Tuy nhiên, việc nhận thức cũng như áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" một cách chính xác, trên cơ sở đó đưa ra phán quyết công bằng và thống nhất chung cho mọi trường hợp không phải là việc dễ dàng, đơn giản đối với những người tiến hành tố tụng Vì thế có nhiều trường hợp đã dẫn đến tình trạng cơ quan tiến hành tố tụng lúng túng trong áp dụng các điều luật có nội dung liên quan đến vấn đề xử lý tài sản là đối tượng chiếm đoạt hoặc bị sử dụng trái phép, còn tồn tại việc xác định thiệt hại cũng
Trang 10như đánh giá các chứng cứ liên quan đến vấn đề bồi thường thiệt hại chưa triệt
để dẫn đến Tòa án đưa ra quyết định về việc bồi thường thiệt hại chưa thỏa đáng,
có trường hợp bồi thường thấp có trường hợp bồi thường cao;… Đây cũng là một trong những lý do dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất
và tình trạng kháng cáo, kháng nghị, kéo dài thời gian giải quyết vụ án, ảnh hưởng lợi ích của những người bị hại thậm chí của cả người phạm tội
Bản chất của biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" mang tính dân sự và giải quyết trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự là một trong những nguyên tắc quan trọng đã được quy định tại Điều 28 Bộ luật
tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 Trong thời gian qua, các quy định của pháp luật hình sự về biện pháp tư pháp này đã có những sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Tuy nhiên trong quá trình áp dụng cũng như nghiên cứu vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, cách hiểu
và áp dụng khác nhau
Việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định đó không chỉ
có ý nghĩa lý luận, thực tiễn và pháp lý quan trọng mà còn là lý do luận chứng
cho việc lựa chọn đề tài: Biện pháp tư pháp: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại theo Bộ luật hình sự năm 1999 làm luận văn thạc sĩ luật
học Đây là một đề tài khá mới và phức tạp, tuy nhiên với phạm vi luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến biện pháp tư pháp này trên cơ sở nghiên cứu số liệu thực tiễn xét xử 5 năm (2009 - 2013) địa bàn tỉnh Thái Bình
2 Tình hình nghiên cứu
Từ khi Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 có hiệu lực, các biện pháp
tư pháp cũng đã được một số tài liệu, bài viết tạp chí đề cập đến và cũng đã được các nhà nghiên cứu chọn làm đề tài luận văn, luận án
Trang 11Trước tiên, phải kể đến là Giáo trình của một số cơ sở đào tạo Luật trong nước, như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần chung) của Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công
an nhân dân, 2010; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Học viện Tư pháp,
PGS.TS Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2011
Thứ hai, ở cấp độ luận văn thạc sĩ thực hiện ở Trường Đại học Luật
Hà Nội có đề tài của Lê Thị Bích Lan, "Một số vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm"; cấp độ đề tài luận
án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Hồng, "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
vụ án tai nạn giao thông đường bộ"
Thứ ba, một số sách chuyên khảo như: Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), của GS.TSKH Lê Văn Cảm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005; "Những vấn đề
lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam", PGS.TS Trịnh Quốc Toản, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2011;"Cơ sở lý luận và thực tiễn nâng cao hiệu quả của các biện pháp tư pháp và các hình phạt không phải là tù và tử hình", Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; "Tìm hiểu hình phạt và các biện pháp tư pháp trong luật hình sự Việt Nam: những văn bản hướng dẫn thi hành hình phạt trong bộ luật hình sự 1999", Trần Minh Hưởng, Nxb Lao động, Hà Nội, 2007; "Hoàn thiện các quy định chung của phần chung Bộ luật hình sự trong yêu cầu mới của đất nước", TS Trịnh
Tiến Việt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012
Thứ tư, một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành cũng đã đề cập đến đối tượng nghiên cứu của luận văn này, như: "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi xâm hại tính mạng, sức khỏe con người" của ThS Đinh Văn Quế (Tạp chí Tòa án, số 10/2004); "Quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự về việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu và thực tiễn áp
Trang 12dụng" của ThS Nguyễn Văn Trượng (Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12/2005);
"Thực trạng quy định của pháp luật hình sự về các biện pháp tư pháp" của
TS Trương Quang Vinh (Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 02/2010)
Tình hình nghiên cứu cho thấy, trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận về vấn đề này, các nhà nghiên cứu luật học đã đề cập đến một mức độ nào đó về biện pháp tư pháp Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu riêng về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" mà chỉ đơn
lẻ nghiên cứu đề cập về vấn đề bồi thường thiệt hại
Để việc đưa biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" áp dụng vào thực tiễn được chính xác, cụ thể hơn đòi hỏi vấn đề lý luận về loại biện pháp tư pháp này phải được nghiên cứu sâu hơn, toàn diện, có hệ thống và chính thống hơn Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn Xây dựng và hoàn thiện biện pháp tư pháp này nói riêng và BLHS, BLTTHS nói chung là đáp ứng một trong những yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận
về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" cũng như thực tiễn pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về biện pháp này trên địa bàn tỉnh Thái Bình trong 5 năm từ năm 2009 đến năm 2013, luận văn
đề xuất những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự về biện pháp tư pháp này và nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của biện pháp tư pháp
"Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"như: khái niệm, đặc điểm,
Trang 13vai trò của biện pháp tư pháp này; phân biệt biện pháp này với biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" và với một số hình phạt mang tính kinh tế
- Nghiên cứu so sánh với pháp luật hình sự Liên bang Nga và Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
- Phân tích làm sáng tỏ những quy định biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong luật hình sự Việt Nam từ năm
1945 đến nay;
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp này trên địa bàn tỉnh Thái Bình từ năm 2009 đến năm 2013 để chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó
- Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, luận văn đề xuất một
số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện chế định biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sự Việt Nam
và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được trình bày trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, logic học, triết học, tội phạm học, luật hình sự, tố tụng hình sự
Luận văn được hình thành dựa trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các tài liệu đã được công bố, dựa trên cơ sở nghiên cứu các văn bản pháp luật của Nhà nước, các văn bản áp dụng pháp luật, bản
án, quyết định của Tòa án nhân dân, phân tích thực tiễn trên địa bàn tỉnh Thái Bình đồng thời sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp logic lịch sử, phân tích, thống kê và phương pháp tổng hợp để chọn lọc, trình bày nội dung luận văn
Trang 145 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan đến loại biện pháp tư pháp thường xuyên được áp dụng trong thực tiễn của luật hình sự Việt Nam
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn có đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định để nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp tư pháp này trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
và cải cách tư pháp hiện nay
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, đào tạo, các cơ quan bảo vệ pháp luật có thể dùng để rút kinh nghiệm trong công tác điều tra, truy tố, xét xử
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, nội dụng của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản,
sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" theo luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Những quy định về biện pháp tư pháp: "Trả lại tài sản, sửa
chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong Bộ luật hình sự năm 1999 và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn tỉnh Thái Bình
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về biện pháp
"Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong pháp luật hình sự Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
Trang 15Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
"TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP TƯ PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
1.1.1 Quan niệm chung về các biện pháp tư pháp
Nhà nước quản lý xã hội bằng nhiều phương tiện khác nhau trong đó phương tiện hữu hiệu nhất là pháp luật, với mỗi loại vi phạm pháp luật có những chế tài riêng để xử lý và đưa các quan hệ xã hội trở về trật tự cần phải
có Khi cá nhân thực hiện tội phạm thì sẽ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi thông qua các chế tài hình sự được quy định trong BLHS hay nói cách khác người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự (TNHS) do hành vi phạm tội của mình Hệ thống các dạng của TNHS gồm:
- Hệ thống hình phạt gồm:
+ Các hình phạt chính: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo không giam giữ; Trục xuất; Tù có thời hạn; Tù chung thân; Tử hình
+ Các hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm những công việc nhất định; Cấm cư trú; Quản chế; Tước một số quyền công dân; Tịch thu tài sản; Phạt tiền là hình phạt bổ sung; Trục xuất là hình phạt bổ sung
- Hệ thống các biện pháp tư pháp gồm:
+ Các biện pháp tư pháp chung như: Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; Trả lại tài sản, sửa chữa, bồi thường thiệt hại; Buộc công khai xin lỗi; Bắt buộc chữa bệnh
Trang 16+ Các biện pháp tư pháp quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội: Giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Đưa vào trường giáo dưỡng
Nghiên cứu luật hình sự nước ngoài cho thấy, ít có nước nào chỉ thiết lập riêng hoặc là hệ thống các hình phạt hoặc là hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự khác trong luật hình sự, mà phần lớn các nước chấp nhận sự song song tồn tại hai hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự: Hình phạt và biện pháp cưỡng chế hình sự khác Tuy nhiên, biện pháp cưỡng chế hình sự khác ở mỗi nước khác nhau có tên gọi khác nhau, chẳng hạn, BLHS của Cộng hòa Liên bang Đức quy định từ Điều 61 đến Điều 72 về các biện pháp cải biến và
an toàn; luật hình sự của Cộng hòa Pháp và BLHS năm 1995 của Tây Ban Nha đều gọi các biện pháp này với tên gọi là biện pháp an ninh Chính quyền Sài Gòn cũ đưa các biện pháp này vào Chương II BLHS năm 1972 với tên gọi
là các biện pháp phòng vệ Còn BLHS năm 1999 của Việt Nam đặt tên các biện pháp cưỡng chế hình sự này là các biện pháp tư pháp
Trong luật hình sự Việt Nam, chế định hình phạt được BLHS năm
1999 ghi nhận đầy đủ từ khái niệm, mục đích đến các loại hình phạt cụ thể Trong khi đó, Pháp luật hình sự nước ta từ năm 1945 đến nay chưa có ghi nhận khái niệm pháp lý cũng như mục đích của biện pháp tư pháp Định nghĩa biện pháp tư pháp đã được một số nhà hình sự học đề cập đến trong một số công trình khoa học luật hình sự như các sách chuyên khảo và giáo trình của các trường đại học chuyên ngành Luật Chẳng hạn như:
Biện pháp tư pháp là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, được Viện kiểm sát hoặc Tòa án áp dụng với người phạm tội cũng như người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình [46, tr 186];
"Các biện pháp tư pháp là các biện pháp hình sự được Bộ luật hình sự quy định, do các cơ quan tư pháp áp dụng đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, có tác dụng hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt" [47, tr 249];
Trang 17Biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt do pháp luật hình sự quy định và được cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể áp dụng đối với người phạm tội nhằm hạn chế quyền, tự do của người đó hoặc hỗ trợ hay thay thế cho hình phạt [7, tr 679]
Trong khoa học luật hình sự nước ngoài, biện pháp cưỡng chế hình sự khác được hiểu là "Biện pháp tước hoặc hạn chế tự do hoặc quyền, hoặc là biện pháp về tài sản, chủ yếu có mục đích ngăn ngừa việc thực hiện tội phạm mới" hoặc là "những biện pháp cưỡng chế không có màu sắc luân lý, áp dụng với các cá nhân nguy hiểm cho trật tự xã hội để phòng ngừa các tội phạm mà tình trạng của họ có thể gây ra" Trong các định nghĩa khoa học về các biện pháp cưỡng chế hình sự khác nêu trên, các học giả đã dựa trên bản chất, đặc điểm và chức năng của các biện pháp này tuy nhiên chưa khái quát hết các đặc điểm chủ yếu của loại biện pháp này như về chủ thể áp dụng, hiệu lực pháp luật và hiệu lực thi hành của nó [40, tr 87]
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích, so sánh, tổng hợp các định nghĩa của các nhà khoa học trong và ngoài nước, có thể chỉ ra năm đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp như sau:
Thứ nhất, biện pháp tư pháp là biện pháp cưỡng chế về hình sự của
Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt
"Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội" [27, Điều 26]
do Tòa án quyết định, chính vì vậy khi bị áp dụng hình phạt sẽ để lại án tích đối với người bị tuyên phạt trong khi đó hậu quả pháp lý đối với người bị áp dụng biện pháp tư pháp không bị coi là có án tích Mặt khác, tính ít nghiêm khắc hơn hình phạt của biện pháp tư pháp còn thể hiện ở mục đích của hai loại biện pháp cưỡng chế hình sự này Nếu như hình phạt nhằm trừng trị
Trang 18người phạm tội, có thể tước đoạt quyền, tự do thậm chí là tính mạng của người bị kết án thì các biện pháp tư pháp chỉ có thể hạn chế một số quyền nhân thân của người phạm tội thậm chí một số biện pháp tư pháp xét về mặt
xã hội còn mang lại lợi ích cho người phạm tội Ví dụ: trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng điều khiển hành vi của mình; hoặc người phạm tội trước khi bị kết án hoặc đang trong thời gian chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình thì biện pháp tư pháp có ý nghĩa nhân đạo giúp người này trở lại trạng thái của người bình thường
Thứ hai, biện pháp tư pháp được áp dụng cho chính cá nhân cụ thể
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội Trong những trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa đến mức phải truy cứu TNHS hoặc được miễn truy cứu TNHS thì người đó vẫn có thể phải bị áp dụng biện pháp tư pháp Ví dụ: Giá trị tài sản trộm cắp dưới 2 triệu đồng và người thực hiện chưa có tiền án, tiền sự thì người đó không bị truy cứu TNHS theo khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999 nhưng tài sản thu giữ được sẽ được áp dụng biện pháp tư pháp trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu có hư hỏng có thể sẽ phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại
Thứ ba, biện pháp tư pháp nhằm hạn chế quyền, tự do của người thực
hiện tội phạm, nhằm hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt và nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa chủ thể bị áp dụng phạm tội trong tương lai
Xét về bản chất, các biện pháp tư pháp hình sự không phải là hình phạt nhưng cũng là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước nhằm tăng hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Vì vậy, các biện pháp tư pháp khi
áp dụng cùng với hình phạt thì chúng có khả năng tác động hỗ trợ cho việc áp
dụng và thi hành hình phạt đạt hiệu quả cao hơn hoặc có thể thay thế cho hình
phạt đối với những trường hợp không áp dụng hình phạt (như miễn hình phạt, miễn TNHS)
Trang 19Ngoài ra, do tính chất được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụng nên ngay cả trước khi Tòa án áp dụng hình phạt thì những điều kiện phạm tội cũng sẽ được biện pháp tư pháp loại bỏ cùng với đó sẽ phòng ngừa chủ thể bị
áp dụng phạm tội trong tương lai (ví dụ: việc áp dụng biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm đối với tiền, tài sản và các công cụ phạm tội trong vụ án bắt quả tang nhiều đối tượng đánh bạc sẽ làm chấm dứt các điều kiện phạm tội đang tồn tại và có giá trị phòng ngừa các đối tượng phạm tội tiếp)
Thứ tư, biện pháp tư pháp được áp dụng đối với tất cả các giai đoạn tố
tụng vì vậy chủ thể áp dụng biện pháp tư pháp rộng hơn chủ thể áp dụng hình phạt Với tính chất đặc biệt của mình, hình phạt chỉ có thể do Tòa án áp dụng thông qua bản án Trong khi đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp khi có căn cứ đối với người phạm tội nói chung (người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và cả người bị kết án),
riêng đối với biện pháp tư pháp thay thế cho hình phạt chỉ có thể do Tòa án áp
dụng đối với người bị kết án
Thứ năm, biện pháp tư pháp được quy định trong BLHS, phải được cơ
quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự thủ tục chặt chẽ do luật
tố tụng hình sự quy định và phải tuân theo nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người
Quy định về việc áp dụng các biện pháp tư pháp hình sự trong luật hình sự Việt Nam bảo đảm thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước ta là mọi hành vi phạm tội đều bị xử lý Đồng thời góp phần giúp cho các cơ quan
tư pháp có thẩm quyền vận dụng linh hoạt, mềm dẻo và đúng đắn chính sách hình sự của Nhà nước; đồng thời khẳng định việc áp dụng hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc nhất không phải là phương tiện duy nhất trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm
Trang 201.1.2 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
* Khái niệm, đặc điểm của biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Khi điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm có liên quan đến việc chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép tài sản hoặc những tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm… Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thường phải áp dụng các quy định của BLHS và BLTTHS để giải quyết những vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại Một trong những biện pháp giải quyết vấn đề tài sản và trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự
mà cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng hiệu quả là biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" được quy định tại Điều 42 BLHS năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 quy định biện pháp này tại Điều 34 và được giữ nguyên tên gọi tại Điều 42 BLHS năm 1999 "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" là biện pháp tư pháp chung áp dụng đối với người
đã thành niên và người chưa thành niên phạm tội Biện pháp này tuy được quy định thành một điều luật riêng trong BLHS nhưng mới chỉ dừng lại ở việc nêu nội dung của biện pháp Cũng như biện pháp tư pháp, trong luật hình sự của nước ta từ BLHS năm 1985 đến BLHS năm 1999 chưa có khái niệm pháp
lý nào về biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" tuy nhiên nó được đề cập đến trong giáo trình của một số cơ sở đào tạo Luật
Trong giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1 của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2010 có đưa ra khái niệm về biện pháp tư pháp này như sau: "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là biện pháp tư pháp được BLHS quy định, do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội khi họ đã gây ra thiệt hại vật chất hoặc tinh thần cho người bị hại" [43, tr 259]
Trang 21Như phần trên đã xác định, một trong những đặc điểm của biện pháp
tư pháp chung là được áp dụng trong tất cả các giai đoạn tố tụng khác nhau từ điều tra, truy tố đến xét xử vì vậy chủ thể có thẩm quyền áp dụng biện pháp này không chỉ có Tòa án mà còn cả Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát
Mặt khác, theo quy định của biện pháp này không chỉ rõ chủ thể bị thiệt hại là "người bị hại" Theo quy định về người tham gia tố tụng của BLTTHS năm 2003, khi người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức thì cơ quan, đơn vị, tổ chức tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự và họ hoàn toàn có quyền được nhận lại tài sản của mình cũng như được sửa chữa tài sản do tội phạm làm hư hỏng hoặc có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với các thiệt hại do tội phạm gây ra Như vậy, có thể thấy khái niệm này chưa khái quát hết được nội dung của điều luật
Từ phân tích trên đây, tác giả mạnh dạn đưa ra một khái niệm về biện
pháp tư pháp này như sau: Biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy định và được
cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng buộc người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
Về đặc điểm của biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại", đây là biện pháp tư pháp nên nó có đủ năm đặc điểm của biện pháp
tư pháp nói chung Đó là:
Thứ nhất, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp cưỡng chế về hình sự của Nhà nước ít nghiêm khắc hơn hình phạt và hậu quả của việc áp dụng biện pháp tư pháp này là người bị áp dụng không bị coi là có án tích nếu như biện pháp này được áp dụng độc lập với hình phạt
Thứ hai, biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường
thiệt hại" được áp dụng cho chính cá nhân cụ thể thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
Trang 22Thứ ba, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
nhằm hỗ trợ hoặc thay thế cho hình phạt, nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa chủ thể bị áp dụng phạm tội trong tương lai
Thứ tư, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
được áp dụng đối với tất cả các giai đoạn tố tụng vì vậy Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án đều có thẩm quyền áp dụng biện pháp tư pháp này khi có căn cứ đối với người phạm tội nói chung (người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo và cả người bị kết án)
Thứ năm, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp cưỡng chế hình sự được quy định trong BLHS, phải được cơ quan tư pháp có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do luật tố tụng hình sự quy định và phải tuân theo nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc công bằng, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con người
Ngoài năm đặc điểm cơ bản của biện pháp tư pháp nói chung, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" còn có những đặc điểm riêng sau:
Thứ nhất, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" trong trường hợp được Tòa án áp dụng cùng với hình phạt không chỉ nhằm hỗ trợ cho hình phạt mà còn để xử lý vật chứng trong vụ án hình sự
Thứ hai, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại" là biện pháp tư pháp hình sự đồng thời mang tính chất dân sự
* Vai trò của biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" là bộ phận cấu thành của hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự trong luật hình sự Việt Nam Mặc dù là biện pháp tư pháp này là biện pháp hỗ trợ cho hình phạt nhưng không vì thế mà làm nó mất đi vai trò quan trọng trong việc thực hiện chính sách hình sự và đấu tranh phòng, chống tội phạm
Trang 23Ở phương diện thực hiện chính sách hình sự, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có vai trò quan trọng trong lĩnh vực xây dựng và áp dụng pháp luật
Trong lĩnh vực xây dựng pháp luật, cùng với việc quy định tội phạm
luật hình sự quy định một hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự đa dạng để
xử lý các hành vi nguy hiểm cho xã hội là một việc quan trọng để cụ thể hóa chính sách hình sự của Nhà nước Việc đa dạng hóa các biện pháp cưỡng chế hình sự là một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn áp dụng pháp luật
Mỗi loại biện pháp cưỡng chế hình sự khác nhau được quy định với nhiều cấp độ và khả năng tác động khác nhau thì việc xử lý hình sự càng chuẩn mực, độ chính xác, công bằng càng cao nghĩa là khả năng phân hóa TNHS càng được bảo đảm tốt hơn Chính vì thế việc quy định biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" nói riêng làm cho hệ thống các biện pháp cưỡng chế hình sự đa dạng hơn
về thể loại, cân đối hơn về số lượng, tương xứng hơn về tính chất và hoàn thiện hơn cho cả hệ thống Để chứng minh cho nhận định này chúng ta có thể đặt vấn đề ngược lại, nếu hệ thống biện pháp cưỡng chế hình sự không tồn tại biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" thì sẽ như thế nào? Rõ ràng sẽ là một chỗ trống lớn của pháp luật khi thực tiễn xảy ra những
sự kiện pháp lý hình sự như: hành vi chiếm đoạt tài sản (trộm cắp, cướp, cướp giật tài sản…) hoặc hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả chết người… Lúc này người phạm tội phải chịu một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi trên cơ sở các quy định về quyết định hình phạt trong BLHS là đương nhiên, nhưng còn các vấn đề về xử lý vật chứng, trách nhiệm bồi thường các tổn thất
về vật chất và tinh thần cho người bị hại và một số người tham gia tố tụng khác do tội phạm gây ra sẽ phải căn cứ vào đâu để giải quyết và giải quyết như thế nào?
Trang 24Như vậy, có thể thấy bằng việc ghi nhận biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" pháp luật đã dự liệu trước những tình huống pháp lý xảy ra trên thực tế để mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội đều được giải quyết một cách triệt để, đem lại công bằng cho xã hội và niềm tin cho người dân
Trong lĩnh vực áp dụng pháp luật, việc quy định biện pháp "Trả lại tài
sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong BLHS là căn cứ pháp lý giúp cho cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật một cách chủ động, linh hoạt và chính xác hơn Việc áp dụng biện pháp này sẽ củng cố, hỗ trợ và tăng cường cho hiệu quả áp dụng hình phạt điều này thể hiện rõ nhất trong trường hợp người phạm tội bị tuyên phạt các hình phạt chính không tước tự do như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và còn bị áp dụng kèm theo biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại"
Có thể nói, hình phạt là biện pháp cưỡng chế hình sự tác động trực tiếp đến quyền, tự do thân thể của người phạm tội còn biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" tác động trực tiếp đến lợi ích kinh tế của người này, cùng một lúc người phạm tội phải chịu sự tác động của các biện pháp hình sự khác nhau đến các lợi ích khác nhau sẽ có giá trị trừng trị, cải tạo và giáo dục hơn Mặt khác, điều đó cũng làm cho chủ thể bị thiệt hại nhận được sự công bằng, góp phần khắc phục giảm bớt những thiệt hại của họ
do tội phạm gây ra
Ngoài ra, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" còn có vai trò quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Từ việc
áp dụng biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" đối với chính người phạm tội không chỉ có tác dụng tích cực đến người phạm tội mà còn hướng đến cộng đồng xã hội, có tính chất răn đe và phòng ngừa - cộng đồng xã hội nhìn vào hậu quả pháp lý bất lợi mà người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội phải gánh chịu để có những sự lựa chọn cách xử sự
Trang 25đúng đắn, tôn trọng pháp luật nếu không muốn phải gánh chịu những hậu quả pháp lý hình sự như người phạm tội đã phải chịu
Mặc dù biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" không có mục đích trừng trị cao như hình phạt nhưng nó thể hiện sự lên án mạnh mẽ của Nhà nước đồng thời chủ động loại trừ điều kiện tái phạm của người phạm tội, làm tăng hiệu quả của hình phạt Do đó, sự phối hợp nhịp nhàng giữa hình phạt với các biện pháp tư pháp nói chung và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" nói riêng có giá trị và tầm quan trọng cao trong việc thực hiện chính sách hình sự và công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm của quốc gia
1.2 PHÂN BIỆT BIỆN PHÁP TƯ PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" VỚI HÌNH PHẠT TIỀN, HÌNH PHẠT TỊCH THU TÀI SẢN VÀ VỚI BIỆN PHÁP TƯ PHÁP TỊCH THU TIỀN, VẬT TRỰC TIẾP LIÊN QUAN ĐẾN TỘI PHẠM TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
"Phạt tiền được hiểu là một trong những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được Tòa án quyết định trong bản án kết tội đối với người bị kết án về những tội phạm do luật hình sự quy định với nội dung là tước một khoản tiền nhất định của họ sung vào công quỹ của nhà nước" [40, tr 170]
Hình phạt tiền trong luật hình sự của nước ta đã tồn tại từ rất lâu và luôn chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống hình phạt Cùng với trục xuất, phạt tiền là loại hình phạt lưỡng tính vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt
bổ sung Việc áp dụng hình phạt tiền phải thỏa mãn các điều kiện nhất định và chúng ta so sánh với biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" thấy được giữa hai loại biện pháp hình sự này có những điểm giống nhau và khác nhau như sau:
Trang 26Thứ nhất, chúng đều là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy
định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân cụ thể có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
Thứ hai, chúng đều là những biện pháp tác động vào tài sản, kinh tế
của đối tượng bị áp dụng
Thứ ba, chúng đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với
người bị áp dụng (đó là quyền sở hữu đối với tài sản)
Thứ tư, chúng đều là các dạng, các hình thức thực hiện TNHS, do cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặc biệt được quy định trong luật tố tụng hình sự
Thứ năm, theo pháp luật hình sự Việt Nam, chúng đều chỉ mang tính
chất cá nhân và chỉ áp dụng đối với thể nhân phạm tội
Sự khác nhau của hình phạt tiền và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
Bảng 1.1: So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa
hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tiền
Việc áp dụng biện pháp này sẽ không để lại án tích cho người bị
áp dụng
Là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc hơn biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" Việc áp dụng hình phạt tiền sẽ để lại án tích cho người bị áp dụng
Trang 27Rộng hơn, là người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm hoặc không phải là tội phạm (do không
đủ yếu tố cấu thành tội phạm) Xét
về tư cách tố tụng, đối tượng bị áp dụng có thể là người không bị khởi tố về hình sự hoặc là người bị khởi tố về hình sự (bị can, bị cáo) thông qua quyết định xử lý vật chứng hoặc bản án
Hẹp hơn, là người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm Xét
về tư cách tố tụng, đối tượng bị áp dụng chỉ là bị cáo thông qua quyết định trong bản án
Hẹp hơn, chỉ một số loại tội phạm nhất định mới được áp dụng hình phạt tiền Cụ thể:
- Là hình phạt chính: Chỉ áp dụng đối với tội phạm ít nghiêm trọng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trật tự công cộng, trật tự quản lý hành chính hoặc một số tội phạm khác do BLHS năm 1999 quy định
- Là hình phạt bổ sung: Chỉ áp dụng đối với người phạm các tội về tham nhũng, ma túy, hoặc những tội phạm khác do BLHS năm 1999 quy định
7 Mục đích
áp dụng
Áp dụng biện pháp tư pháp nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội trong tương lai
Hình phạt nhằm trừng trị, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới;
Hình phạt nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
khi người đó được miễn hình phạt)
Người bị áp dụng phải chịu án tích
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Trang 281.2.2 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
Hình phạt tịch thu tài sản "là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự do Tòa án tuyên bố trong bản án kết tội đối với người bị kết án về một trong các tội được luật hình sự quy định với nội dung là tước của họ một phần hoặc toàn bộ tài sản sung công quỹ nhà nước" [40, tr 191]
Cũng giống như với hình phạt tiền, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" và hình phạt tịch thu tài sản có những đặc điểm giống nhau sau đây:
Thứ nhất, chúng đều là biện pháp cưỡng chế hình sự do BLHS quy
định, chỉ xuất hiện khi có sự việc phạm tội của cá nhân cụ thể có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS và có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm
Thứ hai, chúng đều là những biện pháp tác động vào tài sản, kinh tế
của đối tượng bị áp dụng
Thứ ba, chúng đều dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi nhất định đối với
người bị áp dụng (đó là chấm dứt quyền sở hữu đối với tài sản của người phạm tội)
Thứ tư, chúng đều là các dạng, các hình thức thực hiện TNHS, do cơ
quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng theo một trình tự, thủ tục đặc biệt được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự
Thứ năm, theo pháp luật hình sự Việt Nam, chúng đều chỉ mang tính
chất cá nhân và chỉ áp dụng đối với thể nhân phạm tội
Thứ sáu, tài sản mà người phạm tội phải "trả" hoặc bị "tịch thu" đều là
những tài sản do người phạm tội vi phạm pháp luật mà có
Sự khác nhau của hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
Trang 29Bảng 1.2: So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với hình phạt tịch thu tài sản
sẽ không để lại án tích cho người bị
áp dụng
Là biện pháp cưỡng chế hình sự nghiêm khắc hơn biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" Việc áp dụng hình phạt này sẽ để lại án tích cho người bị áp dụng
2 Cách thức
áp dụng
Là biện pháp hỗ trợ cho hình phạt, có thể được áp dụng độc lập hoặc áp dụng bên cạnh hình phạt
Là hình phạt bổ sung được áp dụng bên cạnh hình phạt khác
Hẹp hơn, chỉ Tòa án mới có thẩm quyền áp dụng trong giai đoạn xét xử
tố tụng, đối tượng bị áp dụng có thể
là người không bị khởi tố về hình sự hoặc là người bị khởi tố về hình sự (bị can, bị cáo) thông qua quyết định
xử lý vật chứng hoặc bản án
Hẹp hơn
à người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy định là tội phạm Xét về tư cách tố tụng, đối tượng bị áp dụng chỉ là bị cáo thông qua quyết định trong bản án
Hẹp hơn, chỉ một số loại tội phạm nhất định mới được áp dụng hình phạt tịch thu tài sản Cụ thể: Chỉ được áp dụng đối với người bị kết
án về tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trong trường hợp BLHS quy định (Ví dụ tội tham ô tài sản Điều 278, tội nhận hối lộ Điều 279 BLHS năm 1999)
Trang 30lý hợp pháp tài sản căn cứ vào thiệt hại thực tế (trừ trường hợp các bên tự thỏa thuận được)
Có giới hạn tài sản bị tịch thu: Trong trường hợp tịch thu toàn bộ tài sản vẫn để cho người bị kết án
và gia đình họ có điều kiện sinh sống
8 Mục đích
áp dụng
Áp dụng biện pháp tư pháp nhằm loại bỏ những điều kiện phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội trong tương lai
Hình phạt nhằm trừng trị, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới;
Hình phạt nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm
khi người đó được miễn hình phạt)
Người bị áp dụng phải chịu án tích
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
1.2.3 Phân biệt biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với biện pháp tư pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm"
Biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" được quy định tại Điều 41 BLHS năm 1999 như sau:
1 Việc tịch thu, sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với: a) Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
b) Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có;
c) Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành
Trang 312 Đối với vật, tiền bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép, thì không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp
3 Vật, tiền thuộc tài sản của người khác, nếu người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào việc thực hiện tội phạm, thì có thể bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước [27]
Chúng ta có thể hiểu hai biện pháp này là hai trình tự ngược nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự: đối với vụ án hình sự cụ thể, nếu như
biện pháp "Tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm" nhằm thu hồi
vật chứng thì biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" nhằm xử lý vật chứng đã thu hồi Vì vậy hai biện pháp này có quan hệ chặt chẽ với nhau trong quá trình xử lý vật chứng một vụ án hình sự
Sự giống nhau của hình phạt tịch thu tài sản và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua một số điểm sau:
Thứ nhất, chúng đều là các biện pháp tư pháp được quy định trong
BLHS năm 1999 Vì vậy, chúng đều mang đặc điểm chung của biện pháp tư pháp như đã trình bày ở trên
Thứ hai, chúng đều là các biện pháp tác động đến tài sản, quyền kinh
tế của người phạm tội
Thứ ba, việc áp dụng chúng đều giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải
quyết vấn đề xử lý vật chứng, xử lý tài sản có liên quan và giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự
Sự khác nhau của biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm và biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" có thể nhận thấy qua bảng so sánh sau:
Trang 32Bảng 1.3: So sánh biện pháp tư pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" với biện pháp tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm
có thể là tài sản của người phạm tội Nói đến "tài sản" đây là khái niệm rộng hơn "vật, tiền" (ngoài vật, tiền còn có các quyền nhân thân gắn liền với tài sản như quyền
sở hữu trí tuệ, quyền tác giả….)
Chỉ là vật, tiền có thể là của người bị hại, người quản lý hợp pháp (ví dụ: đối tượng tịch thu là tài sản do phạm tội mà có…), cũng có thể là của người phạm tội (ví dụ: tiền thu được trên chiếu bạc của các đối tượng tham gia đánh bạc…), có thể là của người khác có lỗi trong việc để người phạm tội sử dụng vào việc phạm tội (ví dụ:
A cho B mượn xe ô tô trong khi biết
B chưa có giấy phép lái xe ô tô dẫn đến B gây tai nạn giao thông….) và
có thể là những vật Nhà nước cấm lưu hành (ví dụ: pháo nổ, ma túy…)
dự, nhân phẩm của con người
Là biện pháp nhằm thu hồi và xử lý vật chứng trong vụ án hình sự: Điều 42 quy định phương thức xử
lý đối với tài sản (bao gồm: trả lại, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại) thì Điều 41 quy định trường hợp nào "không tịch thu mà trả lại cho chủ sở hữu", trường hợp nào thì tịch thu sung công quỹ Nhà nước
Nguồn: Tác giả luận văn tổng hợp từ Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009
Trang 331.3 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM QUY ĐỊNH BIỆN PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI"
1.3.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, luật hình sự nước ta đã quy định về hình phạt và phân chia hình phạt thành ba loại: chính hình, phụ hình
và bổ túc hình Trong đó, chính hình là hình phạt tuyên độc lập cho mỗi tội phạm, phụ hình là hình phạt thêm vào hình phạt chính, không cần Tòa án tuyên án Phụ hình là hậu quả tất yếu của chính hình nên Tòa án không cần tuyên phụ hình mà nó vẫn được thi hành theo luật pháp Bổ túc hình theo tên gọi cũng là thêm vào hình phạt chính, không có bổ túc hình khi không có hình phạt chính Tuy nhiên, khác với phụ hình, bổ túc hình chỉ được áp dụng cho tội nhân khi Tòa án có tuyên phạt rõ ràng Bổ túc hình hay còn gọi là hình phạt bổ sung trong luật hình sự thời kỳ này gồm: tịch thu tài sản, buộc phải bồi thường chi phí hay tổn hại, tước quyền công dân, lưu xứ, quản thúc, câu thúc thân thể, niêm yết tên tuổi phạm nhân nơi công cộng Thời kỳ này luật hình sự nước ta chưa có quy định về biện pháp tư pháp
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước khi ban hành BLHS năm 1985 nước ta đã trải qua một thời kỳ lịch sử đầy biến động, xã hội còn nhiều khó khăn nên công tác xây dựng pháp luật nói chung, luật hình sự nói riêng đặc biệt là các quy phạm pháp luật quy định về biện pháp tư pháp chưa thực sự được chú trọng quan tâm, nên pháp luật lúc này còn rất nhiều hạn chế Mặc dù các biện pháp tư pháp trong thời kỳ này chưa được quy định thành một chương riêng với tên gọi là các biện pháp tư pháp như hiện nay nhưng trong thời kỳ này một số biện pháp tư pháp đã được quy định rải rác trong các Sắc lệnh như: Sắc lệnh số 01/SL ngày 19/4/1957 trừng trị tội đánh bạc tại Điều 2 quy định về biện pháp tịch thu tang vật; Sắc lệnh 267/SL ngày 15/6/1956 quy định về biện pháp bồi thường thiệt hại
Trang 34Khi người phạm tội chiếm đoạt, sử dụng trái phép tài sản thuộc sở hữu
xã hội chủ nghĩa hay sở hữu của người khác hoặc người phạm tội gây ra thiệt hại vật chất cho người khác thì ngoài TNHS họ đồng thời phải chịu trách nhiệm về dân sự Bắt buộc người phạm tội phải trả lại những vật, tiền đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây
ra có ý nghĩa như là biện pháp bảo vệ tài sản của công dân cũng như tài sản thuộc sở hữu xã hội chủ nghĩa Biện pháp tư pháp này thông thường được áp dụng đối với những người phạm các tội xâm phạm sở hữu và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân Trước đây, trong Sắc lệnh 150/SL ngày 15/4/1953 về việc thành lập các tòa án nhân dân đặc biệt ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất, Sắc lệnh số 267/SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch nhà nước thì việc bồi thường thiệt hại được xem như hình phạt bổ sung
do Tòa án đặc biệt áp dụng với người phạm tội Quan điểm cho rằng việc bồi thường thiệt hại và trả lại tài sản đã bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là hình phạt bổ sung đã hạn chế các cơ quan bảo vệ pháp luật vì nó chỉ được áp dụng theo quyết định của Tòa án mà thôi Thế nhưng trong thực tế, biện pháp này cần được áp dụng với người phạm tội thậm chí trước giai đoạn xét xử nếu Tòa án có đầy đủ các căn cứ để miễn tố hoặc miễn TNHS cho họ Trong các văn bản hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao sau này, bồi thường thiệt hại không được xem là hình phạt mà được coi là biện pháp dân sự trong vụ án hình sự
Tuy nhiên, chỉ tới khi Nhà nước ban hành hai pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 thì việc bồi thường thiệt hại và trả lại tài sản bị chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp được chính thức khẳng định là biện pháp tư pháp chứ không phải là hình phạt Điều 21 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ
Trang 35nghĩa ngày 21/10/1970 với tên gọi "Trả lại và bồi thường tài sản xã hội chủ nghĩa bị xâm phạm" đã quy định: "Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa phải trả lại tài sản đó cho Nhà nước hoặc cho tập thể Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường"
và Điều 17 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân ngày 21/10/1970 với tên gọi "Trả lại và bồi thường tài sản riêng của công dân
bị xâm phạm" quy định: "Kẻ phạm tội xâm phạm tài sản riêng của công dân phải trả lại tài sản cho người có tài sản đó Nếu tài sản bị xâm phạm không còn nữa hoặc bị hư hỏng thì kẻ phạm tội phải bồi thường"
Như vậy có thể nói biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong thời kỳ này được đề cập chủ yếu trong thực tiễn xét xử
1.3.2 Giai đoạn từ sau khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Bộ luật hình sự năm 1985 là BLHS đầu tiên kể từ khi thống nhất đất nước đã được kỳ họp thứ IX - Quốc hội khóa VII thông qua ngày 27/6/1985,
có hiệu lực từ ngày 01/01/1986 Sự ra đời của BLHS năm 1985 đánh dấu một bước tiến vượt bậc trong hoạt động lập pháp, thể hiện tập trung chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước, các quy phạm pháp luật hình sự được pháp điển hóa Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp của nước ta các biện pháp tư pháp được quy định thành một chương riêng, hoàn chỉnh - Chương V với tên gọi "Các biện pháp tư pháp"
Trong BLHS năm 1985, biện pháp "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" được quy định tại khoản 1 Điều 34
Điều 34: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi
1 Người phạm tội phải trả lại những vật, tiền bạc đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa
Trang 36hoặc bồi thường các thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra [25]
Theo quy định này có hai vấn đề chưa phù hợp:
Thứ nhất, chưa thống nhất giữa tên gọi và nội dung của điều luật: tên gọi của điều luật là "Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" nhưng trong nội dung điều luật lại quy định "Người phạm tội phải trả lại những vật, tiền bạc đã chiếm đoạt…." như vậy vô hình chung đã xác định "Tài sản" bằng
"vật, tiền bạc" rõ ràng đã hạn chế khái niệm "tài sản" bằng việc liệt kê thành hai loại là vật và tiền Vậy nếu các loại tài sản khác như quyền sở hữu trí tuệ
và các quyền tài sản khác mà bị chiếm đoạt thì sẽ phải xử lý như thế nào khi không được xác định là "tài sản" Quy định này cũng mâu thuẫn với khái niệm "tài sản" trong luật dân sự
Thứ hai, việc xác định đối tượng được trả lại tài sản bị chiếm đoạt
Theo quy định của điều luật, người phạm tội phải trả lại vật, tiền bạc bị chiếm
đoạt cho "người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp" Nếu chỉ quy định là
"người sở hữu" như trong BLHS năm 1985 thì mới chỉ dừng lại ở chủ thể là
cá nhân sở hữu, còn những chủ thể khác như pháp nhân có tài sản là đối tượng của tội phạm thì sẽ không phải là đối tượng điều chỉnh của biện pháp này Như vậy, rõ ràng là không phù hợp
Ví dụ: Ngày 20/5/2012 tám đối tượng rủ nhau trộm ngao của Công ty Minh Phú, thu giữ hơn 500kg ngao thành phẩm Trong vụ án này, các đối tượng bị bắt quả tang và tang vật là số ngao được trả lại ngay cho Công ty Minh Phú Như vậy, nếu chỉ quy định trả lại tài sản cho "người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp" là chưa đầy đủ và bao quát hết được các chủ thể có quyền sở hữu đối với tài sản trong trường hợp chủ sở hữu là pháp nhân
Chính những bất cập đó đã dẫn đến nhu cầu phải sửa đồi, bổ sung quy định tại BLHS năm 1999
Trang 371.4 NGHIÊN CỨU SO SÁNH BIỆN PHÁP TƯ PHÁP "TRẢ LẠI TÀI SẢN, SỬA CHỮA HOẶC BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI" TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ HÌNH SỰ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG LUẬT HÌNH SỰ CỦA LIÊN BANG NGA VÀ CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN TRUNG HOA
1.4.1 Luật hình sự Liên bang Nga
Nếu như trong BLHS Việt Nam quy định hai loại biện pháp tư pháp: biện pháp tư pháp chung và biện pháp tư pháp riêng (như đã giới thiệu ở mục của luận văn) thì BLHS Liên bang Nga không có chương điều nào quy định là
"biện pháp tư pháp" mà chỉ có quy định hai loại biện pháp:
- Biện pháp giáo dục bắt buộc được quy định tại Điều 91 BLHS liên bang Nga: theo đó biện pháp này được áp dụng đối với người chưa thành niên lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng nếu thấy rằng có thể cải tạo được họ bằng các biện pháp giáo dục bắt buộc và bắt buộc chữa bệnh
Hệ thống các biện pháp giáo dục bắt buộc bao gồm: cảnh cáo; giao cho cha
mẹ hoặc người thay cha mẹ hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền giám sát giáo dục; buộc bồi thường thiệt hại gây ra; hạn chế sự nhàn rỗi và đặt ra những yêu cầu đặc biệt trong xử sự của người chưa thành niên
- Biện pháp bắt buộc chữa bệnh được quy định thành một phần, chương riêng trong BLHS Liên bang Nga - Phần VI, Chương 15 gồm 8 điều (từ Điều 98 đến Điều 105) quy định khá đầy đủ và chi tiết từ căn cứ, mục đích, thời hạn áp dụng, các loại biện pháp bắt buộc chữa bệnh, giám sát thời gian bắt buộc chữa bệnh và áp dụng đồng thời giữa bắt buộc chữa bệnh và thi hành án
Như vậy, luật hình sự Liên bang Nga không quy định về biện pháp
"Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại" trong luật nội dung Tuy nhiên BLTTHS của Liên bang Nga có quy định về nội dung này trong các quy định về vật chứng và giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại Theo đó,
Trang 38cũng như luật hình sự Việt Nam, đối tượng của tội phạm cũng được xác định
là một trong các loại vật chứng của vụ án hình sự (khoản 2 Điều 81 BLTTHS Liên bang Nga)
Vấn đề trả lại tài sản cho chủ sở hữu được quy định tại điểm 3, 4, 6 khoản 3 và khoản 4 Điều 81 BLTTHS Liên bang Nga:
3 Khi ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án phải giải quyết vấn đề vật chứng, theo đó:
3) Vật chứng là vật không có giá trị và không được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp yêu cầu trả lại thì bị tiêu hủy, trong trường hợp họ yêu cầu thì có thể trả lại cho họ
4) Tiền bạc, vật có giá trị và các tài sản khác có được do phạm tội mà có và các lợi ích phát sinh từ các tài sản đó thì trả lại cho chủ sở hữu
……
6) Những vật chứng khác được chuyển cho người quản lý hợp pháp, trong trường hợp không xác định được người quản lý hợp pháp thì chuyển thành sở hữu của Nhà nước Mọi tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng được giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự
4 Những vật bị thu giữ trong giai đoạn tố tụng trước khi xét
xử nhưng không được coi là vật chứng thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý vật đó Như vậy, khi xét xử hoặc quyết định đình chỉ vụ án phải đồng thời xử lý vật chứng, một trong các quy định về xử lý vật chứng là trả lại tài sản cho chủ sở hữu Theo đó, thì ngoài tài sản có được do phạm tội mà có thì các lợi ích phát sinh
từ các tài sản đó cũng là đối tượng được trả lại cho chủ sở hữu Quy
Trang 39định này khác với luật hình sự của Việt Nam, theo luật hình sự Việt Nam thì các lợi ích phát sinh từ tài sản do phạm tội mà có là một trong những nội dung người bị thiệt hại được bồi thường Dù vậy, thực chất các lợi ích phát sinh từ tài sản do phạm tội mà có hoàn toàn không thể tịch thu sung công quỹ Nhà nước, lại càng không thể thuộc về chủ thể đã chiếm đoạt nên việc quy định phải trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp [44]
Ngoài ra khoản 2 Điều 82 BLTTHS Liên bang Nga quy định trả lại tài sản cho chủ sở hữu trong các trường hợp:
1) Đối với vật chứng là vật cồng kềnh hoặc do những nguyên nhân khác mà không thể đưa vào hồ sơ vụ án, kể cả vật chứng có số lượng lớn, việc bảo quản chúng gặp khó khăn hoặc chi phí để bảo quản chúng trong điều kiện đặc biệt tương đương với giá trị của vật chứng thì:
… b) Trả lại cho người quản lý hợp pháp, nếu không ảnh hưởng đến việc chứng minh;
2) Đối với vật chứng là hàng hóa hoặc thực phẩm mau hỏng, cũng như những tài sản chóng bị lỗi thời một cách vô hình, việc bảo quản chúng gặp khó khăn hoặc chi phí để bảo quản chúng trong những điều kiện đặc biệt tương đương với giá trị của vật chứng thì có thể:
a) Trả lại cho chủ sở hữu;
b) Trong trường hợp không có khả năng để trả lại thì tổ chức bán theo quy định của Chính phủ Liên bang Nga Số tiền bán vật chứng được đưa vào tài khoản ký quỹ hoặc của cơ quan thu giữ
Trang 40vật chứng hoặc đưa vào ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác thuộc danh mục do Chính phủ Liên bang Nga quy định [44]
Về bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự được quy định trong BLTTHS Liên bang Nga như sau:
Tại khoản 3 Điều 42: "Người bị hại được bảo đảm được bồi thường thiệt hại về tài sản do tội phạm gây ra và cả những chi phí trong việc họ tham gia vào quá trình điều tra và xét xử vụ án, bao gồm cả chi phí cho người đại diện…" [44] và mức bồi thường do Tòa án quyết định hoặc giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự Từ quy định này chúng ta có thể hiểu rằng việc giải quyết phần bồi thường thiệt hại được tiến hành đồng thời với vụ án hình sự hoặc có thể được tách ra và giải quyết bằng một vụ án khác theo thủ tục tố tụng dân sự
Điều 44 quy định: Nguyên đơn dân sự là thể nhân hoặc pháp nhân có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và về tinh thần khi có căn cứ cho rằng thiệt hại do tội phạm gây ra Để tham gia tố tụng với tư cách nguyên đơn dân sự, họ phải có quyết định công nhận là nguyên đơn dân sự của Tòa án Chủ thể này có quyền rút đơn yêu cầu vào bất kỳ thời điểm nào nhưng phải trước khi nghị án, việc rút đơn yêu cầu sẽ dẫn đến đình chỉ việc giải quyết bồi thường dân sự
Các quy định trên khá tương đồng với luật hình sự Việt Nam Tuy nhiên trong luật hình sự Liên bang Nga việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, bồi thường thiệt hại không được gọi là biện pháp tư pháp và không được quy định thành chương riêng trong BLHS như nước ta mà chỉ quy định trong một số nội dung đã nêu ở trên trong BLTTHS
1.4.2 Luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa
Bộ luật hình sự nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa được Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa V, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 01