84 4.2.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò phát triển DNNVV, vai trò của đội ngũ doanh nhân; tăng c
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu từ những quan điểm của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Văn Chiến Các số liệu và kết quả có được trong luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn này tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Quý Thầy Cô, gia đình, bạn bè và các nhà quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tỉnh Vĩnh Phúc
Xin trân trọng cảm ơn TS Lê Văn Chiến, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em về mọi mặt để hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Quý thầy, cô trong Hội đồng Chấm Luận văn đã có những góp ý những thiếu sót của luận văn này để luận văn ngày càng hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn các nhà quản lý các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Tỉnh Vĩnh Phúc, bạn bè và đồng nghiệp đã dành chút thời gian để thực hiện phiếu điều tra trong doanh nghiệp giúp tôi có số liệu để phân tích và đánh giá; sẵn sàng cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện luận văn
Cuối cùng cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Kinh Tế - Đại Học Quốc Gia Hà Nội trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ii
DANH MỤC HÌNH iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.2.1 Mục đích của luận văn 3
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng: 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu: 3
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.4 Bố cục luận văn 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DNNVV 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan ở Việt Nam về phát triển DNNVV 5
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về phát triển DNNVV 10
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 13
2.2.1 DNNVV và vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế 13
2.2.2 Hội nhập kinh tế quốc tế: cơ hội và thách thức đối với việc phát triển DNNVV. 32
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40
2.1 Phương pháp luận 40
2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu. 40
2.3 Phương pháp nghiên cứu khảo sát bằng bảng hỏi 41
2.3.1 Đối tượng, cỡ mẫu và kỹ thuật lấy mẫu 41
Trang 62.3.2 Các tiêu chí để đánh giá phân tích thực trạng phát triển doanh nghiệp nhỏ và
vừa 42
2.3.3 Quy trình khảo sát 42
2.3.4 Xử lý và phân tích dữ liệu 43
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DNNVV TỈNH VĨNH PHÚC 44
3.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội để phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 44
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 44
3.1.2 Kinh tế - xã hội 44
3.2 Thực trạng doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Vĩnh Phúc 47
3.2.1 Số lượng và loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Vĩnh Phúc 47
3.2.2 Quy mô của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Vĩnh Phúc 53
3.2.3 Về lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn kinh doanh (đến 31/12/ 2013) 54
3.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa tỉnh Vĩnh Phúc 57
3.3 Thực trạng chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 65
3.3.1 Về thông tin, tư vấn doanh nghiệp và cải cách thủ tục hành chính 65
3.3.2 Đào tạo trợ giúp nguồn nhân lực 67
3.3.3 Tạo điều kiện thuận lợi về mặt bằng sản xuất 68
3.3.4 Hỗ trợ, trợ giúp xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường 70
3.3.5 Hỗ trợ DNNVV tiếp cận các nguồn vốn 70
3.3.6 Hỗ trợ đổi mới và nâng cao năng lực khoa học công nghệ sản xuất 72
3.4 Kết quả, tồn tại hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của chính sách phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 74
3.4.1 Kết quả chủ yếu trong phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 74
3.4.2 Tồn tại hạn chế và nguyên nhân chủ yếu trong phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 76
Chương 4 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN DNNVV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC 81
4.1 Quan điểm phát triển ở DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 81
Trang 74.1.1 Không phân biệt đối xử, tạo môi trường cạnh tranh hoàn toàn bình đẳng 81
4.1.2 Tìm mọi biện pháp để huy động nguồn nội lực tiềm ẩn của đất nước, tiếp tục xóa bỏ những rào cản kìm hãm 82
4.1.3 Nhà nước không làm thay doanh nghiệp mà chỉ hỗ trợ những gì doanh nghiệp không thể làm được 82
4.1.4 Chính sách phát triển DNNVV đặt trong quan hệ với các chính sách khác 83
4.2 Giải pháp phát triển ở DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc 84
4.2.1 Nâng cao nhận thức và tăng cường hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò phát triển DNNVV, vai trò của đội ngũ doanh nhân; tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với DNNVV 84
4.2.2 Xây dựng đội ngũ doanh nhân, củng cố, mở rộng và phát triển hệ thống doanh nghiệp nhỏ và vừa theo cơ cấu hợp lý, phù hợp với cơ cấu nền kinh tế tỉnh. 85
4.2.3 Giải pháp về cơ chế chính sách 85
4.2.4 Giải pháp trợ giúp DNNVV phát huy nội lực 91
4.3 Kết luận và kiến nghị 94
4.3.1 Kết luận 94
4.3.2 Kiến nghị 96
4.3.2.1 Kiến nghị UBND tỉnh Vĩnh Phúc 96
4.3.2.2 Kiến nghị sở ban, ngành và các cơ quan liên quan tỉnh Vĩnh Phúc 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Ký Hiệu Nguyên nghĩa
1 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
3 CTY CP Công ty Cổ phần
4 CTY TNHH Công ty trách nhiệm hữu hạn
5 DN FDI Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
6 DNTN Doanh nghiệp tư nhân
7 DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
8 UBND Ủy ban nhân dân
9 HĐND Hội đồng nhân dân
10 CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 9ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1 Bảng 1.1 Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một
44
8 Bảng 3.4 Quy mô các DNNVV đang hoạt động trên địa bàn tỉnh
Trang 10iii
Lao động, thu nhập bình quân trong các DNNVV theo loại hình doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động và quy mô trên địa bàn tỉnh năm 2013
55
16 Bảng 3.12a Đáng giá của doanh nghiệp về thông tin, tƣ vấn doanh
17 Bảng 3.12b Doanh nghiệp đang gặp khó khăn về thông tin, tƣ vấn
18 Bảng 3.13a Đáng giá của doanh nghiệp về đào tạo trợ giúp nguồn
25 Bảng 3.17a Đáng giá của doanh nghiệp về hỗ trợ đổi mới và nâng
26 Bảng 3.17b Doanh nghiệp đang gặp khó khăn về hỗ trợ đổi mới và
nâng cao năng lực khoa học công nghệ sản xuất 65
Trang 11iv
DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Cơ cấu theo loại hình DNNVV đang hoạt động tính
2 Hình 3.2 So sánh số doanh nghiệp trên 1.000 dân của Vĩnh
Phúc với các tỉnh trong Vùng đồng bằng sông Hồng 43
3 Hình 3.3 Cơ cấu DNNVV theo ngành, nghề chính đăng ký
Trang 121
LỜI MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là sau trên 15 năm tái lập tỉnh, trong điều kiện còn nhiều khó khăn,Vĩnh Phúc đã tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, vượt qua khó khăn, thách thức và giành được nhiều thành tựu quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực Nền kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc
độ cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; thu ngân sách trên địa bàn tăng nhanh, trong đó thu nội địa chiếm
tỷ trọng cao; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư, nâng cấp theo hướng đồng
bộ, hiện đại; các lĩnh vực văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ; chính trị, xã hội ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện, nâng cao Đạt được kết quả trên có sự đóng góp quan trọng của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có gần 5.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97% tổng số doanh nghiệp của tỉnh Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng góp 10% GDP của tỉnh, 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; nộp ngân sách nhà nước hàng năm chiếm gần 4% tổng thu ngân sách; giá trị xuất khẩu chiếm 13% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong việc thu hút, tạo việc làm cho lao động là người địa phương, lao động nông thôn, giải quyết việc làm cho trên 70 ngàn lao động, chiếm 60% lao động trong khu vực doanh nghiệp, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ khu vực nông nghiệp, nông thôn sang khu vực công nghiệp, dịch vụ tạo bước đột phá trong giải quyết việc làm, xóa đói và giảm nghèo, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân Doanh nghiệp nhỏ và vừa góp phần thay đổi phương thức kinh doanh vùng nông thôn và là một trong những thành phần chủ yếu trong việc xây dựng nông thôn mới, là nòng cốt để xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò to lớn trong phát triển các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ và phân phối các sản phẩm đến thị trường miền núi, vùng sâu, vùng xa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và an sinh xã hội
Trang 132
Đội ngũ doanh nhân của tỉnh đã từng bước phát triển cả về số lượng và chất lượng Nhiều doanh nhân trưởng thành từ thực tiễn, có trình độ học vấn khá, có ý thức và ngày càng chủ động nâng cao kiến thức, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng những yêu cầu về kinh tế thị trường trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Tuy nhiên, so với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian qua còn nhiều hạn chế, yếu kém Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa trên người dân so với Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước còn thấp Quy mô của các doanh nghiệp còn nhỏ bé; vốn đầu tư ít, chủ yếu là vốn vay
Cơ cấu ngành nghề kinh doanh còn chưa hợp lý Hầu hết công nghệ sản xuất ở mức trung bình; hệ thống máy móc, trang thiết bị còn thiếu và lạc hậu; năng suất lao động thấp Mẫu mã sản phẩm chưa đa dạng, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh còn thấp Các doanh nghiệp chưa chú trọng việc xây dựng thương hiệu, chưa vươn xa và đảm bảo khả năng đứng vững trên thị trường Mối quan hệ hợp tác, liên doanh liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa các doanh nghiệp còn hạn chế Đội ngũ quản lý doanh nghiệp còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm và năng lực quản lý Một số doanh nhân còn thiếu năng động, nhạy bén Lao động trong các doanh nghiệp phần lớn có tay nghề thấp; ít lao động
kỹ thuật có trình độ cao
Để có thể phát huy tối đa tiềm năng sẵn có của địa phương và của loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa phục vụ phát triển kinh tế xã hội của Tỉnh rất cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, sự nỗ lực cố gắng từ phía các doanh nghiệp và chính sách
hỗ trợ hợp lý của Chính phủ, tỉnh Vĩnh Phúc
Xuất phát từ suy nghĩ đó nên tôi đã chọn đề tài "Phát triển DNNVV tại Tỉnh
Vĩnh Phúc" nhằm phân tích, luận giải về DNNVV trước những đòi hỏi của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế; quan điểm, cách đánh giá thực trạng chính sách phát triển DNNVV Việt Nam hiện nay; đưa ra những khuyến nghị, giải pháp về mặt cơ chế, chính sách góp phần vào thúc đẩy sự phát triển DNNVV tỉnh Vĩnh Phúc trong
Trang 143
xu thế toàn cầu hóa kinh tế, trước yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế
1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
1.2.1 Mục đích của luận văn
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế về sự phát triển của DNNVV
ở tỉnh Vĩnh Phúc, phân tích một số chính sách ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNVV, trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển DN NVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc thời gian qua, luận văn đề xuất một số giải pháp, nhằm hoàn thiện các chính sách đối với DNNVV, góp phần thúc đẩy sự phát triển của DNNVV ở tỉnh Vĩnh Phúc
1.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan tình hình nghiên cứu về phát triển DNNVV;
- Hệ thống hóa lý luận về phát triển DNNVV
- Làm rõ những tác động của các chính sách của Chính phủ, tỉnh Vĩnh Phúc đối với các DNNVV trong thời gian qua
- Phân tích thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các chính sách phát triển DNNVV ở tỉnh Vĩnh Phúc
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: Luận văn lấy số liệu phân tích được lấy từ năm 2007 đến năm 2013 để nghiên cứu và phân tích thực trạng môi trường kinh doanh phát triển DNNVV ở Vĩnh Phúc cũng như đánh giá thực trạng các DNNVV trong thời gian
Trang 154
này Từ đó, luận văn đã đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm tiếp tục đẩy mạnh phát triển DNNVV ở Vĩnh Phúc trong thời gian tới
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu:
- Tình hình nghiên cứu đến nay về phát triển DNNVV?
- Thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc ra sao?
- Các chính sách đã phát huy như thế nào đến các DNNVV trong thời gian qua?
- Những giải pháp cần thiết nhằm hoàn thiện các chính sách phát triển DNNVV ở tỉnh Vĩnh Phúc?
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TỈNH VĨNH PHÚC
Chương 4 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN DNNVV TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
Trang 16- Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Việt Nam (PGS TS Nguyễn Cúc),
Giải pháp phát triển DNNVV ở Việt Nam (của GS TS Nguyễn Đình Hương) Đề
tài đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về các chính sách vốn, đất đai mặt bằng, thuế trong những năm đổi mới đến nay Đồng thời tác gải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các chính sách đó để tạo môi trường phát triển cho doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Báo cáo định hướng chiến lược và chính sách phát triển DNNVV ở Việt Nam đến năm 2010 ( của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - MPI) Thực hiện dự án hỗ trợ
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bộ Kế hoạch và Đầu tư - MPI đã tiến hành khảo sát, đánh giá nhằm xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ phát triển Qua kết quả bản báo cáo cho thấy tình hình khái quá về thực trạng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở việt nam từ 2005 đến 2010 Ngoài ra báo cáo cũng định ra các phương hướng
và các giải pháp để hoàn thiện thể chế cho hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Phát triển DNNVV: Kinh nghiệm nước ngoài và phát triển DNNVV ở Việt
Nam (của Vũ Quốc Tuấn, Hoàng Thu Hòa),… Công trình nghiên cứu kinh nghiệm
của Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Thái lan và một số quốc gia khác về xây dựng chính sách phát triển DNNVV Đồng thời rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về các vấn đề như: Cơ chế, chính sách, luật pháp; các chương trình hỗ trợ phát triển kinh nghiệm phát triển, biện pháp thực hiện chương trình hỗ trợ phát triển DNNVV
Trang 176
- GS.TS Hồ Văn Vĩnh (2001) Kinh tế tư nhân và quản lý nhà nước đối với
kinh tế tư nhân nước ta hiện nay, Đề tài cấp Bộ, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội Đề tài đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về các chính sách nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh cho Kinh tế tư nhân ở Việt Nam Đồng thời tác giải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển Kinh tế
tư nhân;
- GS TS Tô Xuân Dân, T.S Nghiêm Xuân Đạt, TS Vũ Trọng Lâm (2002),
Phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, Nxb Khoa học và kỹ
thuật, Hà Nội Công trình đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam Đồng thời tác gải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển và quản lý các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;
- TS Nguyễn Thị Như Hà (2004) Các thành phần kinh tế trong lĩnh vực
thương mại ở nước ta hiện nay Luận án Tiến sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội Luận án đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay Đồng thời tác giải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển các thành phần kinh tế trong lĩnh vực thương mại ở nước ta hiện nay;
- PGS.TS Trịnh Thị Hoa Mai (2005), Kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến
trình hội nhập, Nxb Thế giới, Hà Nội Công trình đi sâu nghiên thực trạng về phát
triển kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập Ngoài ra công trình chỉ ra
cơ hội, thách thức, thời cơ trong quá trình hội nhập với kinh tế tư nhân tại Việt Nam Đồng thời tác giải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển kinh tế tư nhân Việt Nam trong tiến trình hội nhập;
- CN Trần Văn Năm (2000), Kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng, thực
trạng và giải pháp Luận án Thạc sĩ kinh tế, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, Hà Nội Đề tài đi sâu nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng về kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng Đồng thời tác giải cũng đã đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở thành phố Đà Nẵng
Trang 187
- CN Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (2004), Hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm
phát triển kinh tế tư nhân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Đề tài tập trung nghiên
cứu thực trạng chính sách, nhằm cải thiện môi trường đầu tư tại Thành Phố Đà Nẵng
- Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn do PGS TS
Đỗ Minh Cương - TS Mặc Văn Tiến đồng chủ biên (2004) Bên cạnh việc đi sâu nghiên cứu tìm ra các giải pháp phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam, các tác giả
đã đưa ra các khái niệm nguồn nhân lực ở phạm vi vĩ mô và vi mô, kinh nghiệm đào tạo và phát triển lao động kỹ thuật ở một số nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Nhật,
Mỹ
- Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty Nhật Bản hiện nay do TS Trần Thị Nhung và PGS TS Nguyễn Duy Dũng đồng chủ biên (2005) Các tác giả đã phân tích hiện trạng phát triển nguồn nhân lực, các phương thức đào tạo lao động chủ yếu trong các công ty Nhật Bản từ những năm 1990 đến nay Tác giả đã nêu ra một số gợi ý và kiến nghị về sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và trong các công ty nói riêng trong thời gian tới
- Tác phẩm “Sử dụng công cụ tài chính - tiền tệ để huy động vốn cho đầu tư
phát triển” của PTS Nguyễn Đình Tài do Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, xuất bản
năm 1997 Tác phẩm đã khái quát chính sách công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) ở nước ta, khả năng nguồn vốn trong nước và tình hình huy động vốn nước ngoài vào Việt Nam; thực trạng và giải pháp phối hợp có hiệu quả các công cụ kinh
tế vĩ mô như: Chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá và chính sách thuế nhằm thúc đẩy quá trình huy động vốn cho CNH, HĐH; tác phẩm cũng giới thiệu kinh nghiệm
sử dụng có hiệu quả công cụ tài chính - tiền tệ của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia về huy động và sử dụng nguồn lực tài chính công góp phần phát triển kinh
Trang 198
những vấn đề rất cơ bản, có tính chất quan điểm, lý luận, định hướng và những giải pháp chủ yếu có ý nghĩa phương pháp luận về hoàn thiện chính sách tài khóa nhằm tăng cường vai trò, hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước đối với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta
- “Thuế - công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế”, sách tham khảo của PTS
Quách Đức Pháp do Nhà xuất bản Xây dựng, Hà Nội, xuất bản năm 1999 Nét đặc biệt của tác phẩm này là nghiên cứu và hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về thuế; giới thiệu một số hệ thống thuế của nước ngoài để làm cơ sở tham khảo khi nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế ở nước ta; đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới nhằm phát huy vai trò công cụ thuế trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế
- Tác phẩm “Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập
kinh tế” do PGS TS Vũ Thu Giang làm chủ biên, nhà xuất bản Chính trị quốc gia
xuất bản năm 2000 Nội dung cơ bản của tác phẩm này đề cập tới những thuận lợi
và thách thức đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; thực trạng chính sách tài chính của nýớc ta trong quá trình hội nhập, bao gồm: chính sách thuế, chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài, chính sách tỷ giá hối đoái và chính sách lãi suất trong tiến trình hội nhập, mặt tích cực và những hạn chế của chính sách; những yêu cầu đặt ra với chính sách tài chính trong quá trình hội nhập; những kiến nghị và những giải pháp chính cải cách chính sách tài chính ở Việt Nam tham gia hội nhập thành công, đồng thời, đặt ra những điều kiện chủ yếu để hội nhập thành công
- Tác phẩm “Đổi mới chính sách tài khóa đáp ứng yêu cầu chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội năm 2001 - 2010”, của tác giả Bùi Đường Nghiêu ở Viện
nghiên cứu Tài chính do Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, xuất bản năm 2000 Nội dung cơ bản của tác phẩm khẳng định chính sách tài khóa là một trong các công cụ
cơ bản của Nhà nước khẳng định chính sách tài khóa là một trong các công cụ cơ bản của Nhà nước để quản lý và điều hành vĩ mô, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong phát triển kinh tế thị trường thông qua chính sách thu – chi của
Trang 209
chính sách tài khóa để tác động mạnh mẽ đến các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đến mọi người dân với tư cách người tiêu dùng và người nộp thuế Chính vì thế, tác phẩm đã khẳng định: chính sách tài khóa liên quan chặt chẽ tới công bằng xã hội, góp phần tạo lập môi trường bình đẳng về tài chính trong kinh doanh; thông qua chi đầu tư hàng năm, chính sách đầu tư vốn từ NSNN đóng vai trò dẫn dắt, tạo tiền đề cho nền kinh tế cất cánh; tác phẩm này cũng đề xuất định hướng chiến lược đổi mới chính sách tài khóa giai đoạn 2001 - 2010
- “Sử dụng tổng hợp chính sách tài chính - tiền tệ trong điều tiết nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay”, Luận án Tiến sĩ kinh tế của tác giả Phạm Quốc
Trung, năm 2001 Điểm mới của luận án này là nghiên cứu tác dụng hai mặt của chính sách tài chính – tiền tệ trong điều tiết nền kinh tế thị trường ở nước ta; đề xuất
mô hình và những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tổng hợp chính sách tài chính - tiền tệ trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH và xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta
- Tác phẩm “Chính sách thuế của Nhà nước trong tiến trình hội nhập” của
PGS TS Lê Văn Ái, TS Đỗ Đức Minh, Nguyễn Mai Phương thuộc Viện Khoa học Tài chính, do Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội, xuất bản năm 2001 Nội dung cơ bản của tác phẩm đề cập xu thế khách quan trong tiến trình phát triển kinh tế thế giới, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi
và những khó khăn, thách thức trong vấn đề xóa bỏ hàng rào thuế quan Đặc biệt, tác phẩm đã đưa ra những cơ sở khoa học và thực tiễn của lộ trình cắt giảm thuế quan, chỉ ra một số bất hợp lý của lộ trình cắt giảm thuế quan ở nước ta Đồng thời, khuyến nghị những giải pháp hoàn thiện chính sách thuế ở nước ta trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới
- “Hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luật án Tiến sĩ kinh tế, bảo vệ năm 2002 của tác giả Đoàn
Ngọc Xuân Luận án này nghiên cứu chuyên về thuế nhập khẩu của Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; mối liên hệ giữa chính sách thuế nhập khẩu và chính sách phi thuế quan; luận án nghiên cứu thực trạng thuế nhập khẩu của nước ta
Trang 2110
và chỉ ra những điều chưa thích ứng với các điều ước và thông lệ quốc tế Đồng thời, luận án cũng nghiên cứu kinh nghiệm của các nước như Trung Quốc, các nước ASEAN và Hoa Kỳ Từ đó đã rút ra những kinh nghiệm có thể vận dụng có chọn lọc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam; luận án nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện chính sách thuế nhập khẩu mang tính khả thi trong tiến trình hội nhập vào nền kinh
tế khu vực và thế giới
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Điều chỉnh chính sách động viên thông qua
thuế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2001 - 2010”, nghiệm thu năm
2002 do Tiến sĩ Đỗ Đức Minh, Viện Khoa học Tài chính làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu đã làm rõ: Thuế có tác động trực tiếp điều chỉnh sản lượng cung cấp cho
xã hội, nhưng cũng có tác động gián tiếp làm phân bổ lại nguồn lực của xã hội và trở thành công cụ kích thích tăng trưởng kinh tế; để đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 8% năm thì mức động viên GDP vào NSNN thông qua thuế khoảng 19,5 - 20,5% là hợp lý
- Đề tài nghiên cứu khoa học: “Phân tích tính bền vững của ngân sách nhà
nước trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Việt Nam”
Đây là công trình nghiên cứu của TS Vũ Đình Ánh và các cộng sự ở Viện Khoa học Tài chính, nghiệm thu năm 2003 Nội dung cơ bản của công trình này đã phân tích tính bền vững tổng thể và các yếu tố tác động tới tính bền vững của NSNN; công trình đã căn cứ vào dự báo của IMG và tổng hợp ý kiến chuyên gia trong và ngoài nước để đưa ra 10 khuyến cáo có giá trị thực tiễn cao liên quan đến nhiều lĩnh vực nhằm đảm bảo tính bền vững của NSNN; đồng thời các tác giả cũng cảnh báo những tiềm ẩn rủi ro ảnh hưởng tới tính bền vững của NSNN
1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về phát triển DNNVV
- Đề tài này không chỉ nhận được sự quan tâm nghiên cứu của Chính phủ, các Bộ, Ngành, Viện nghiên cứu, các nhà khoa học trong nước ngoài như các tổ chức phi chính phủ (NGOs), các tổ chức quốc tế như: DNNVV Việt Nam: Trên đường đi đến phồn vinh ( Leila Webster, MPDF 1999), Báo cáo nghiên cứu hoàn
Trang 2211
thiện chính sách kinh tế vĩ mô và đổi mới các thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV tại Việt Nam (Dự án US/VIE/95/004), DNNVV
- Hiện trạng và những kiến nghị giải pháp (Viện Friedrich Ebert, 2000),…
những nghiên cứu đó đã góp phần rất quan trọng trong công việc nhận thức đầy đủ
rõ ràng hơn về DNNVV Nhiều kiến nghị và giải pháp đã được trình cho chính phủ làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách kinh tế quan trọng khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp này
- Phát triền nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ - nghiên cứu và
thực tiễn do Jim Steart và Graham Beaver chủ biên (2004) Cuốn sách gồm có 3
phần: Phần 1 gồm các nghiên cứu về đặc điểm của các tổ chức quy mô nhỏ và những gợi ý trong việc thiết kế và thực hiện nghiên cứu PTNNL Phần 2 gồm những bài trình bày kết quả nghiên cứu về các cách tiếp cận để phát triển nguồn nhân lực trong các tổ chức quy mô nhỏ Phần 3 đề cập đến các phương pháp PTNNL mà các tổ chức quy mô nhỏ thường áp dụng và thực hành
- Ngoài ra, Có nhiều nghiên cứu khác liên quan đến phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV như:
+ Nghiên cứu về đào tạo và phát triển cho chú doanh nghiệp ( Douglas D.Durand), Học qua làm việc của chủdoanh nghiệp( Jason Cope năm 2000), Hiểu cách học của chủ doanh nghiệp ( David Rae năm 2000) đã đưa ra những kết luận về cách học của chủ doanh nghiệp từ đó có biện pháp đào tạo thích hợp cho đối tượng này ở Anhu về người quản lý trong DNNVV – họ chính là người thực hiện đào tạo trong các doanh nghiệp nhỏ ( Alan Cpetzer năm 2006) và hiệu quả quản lý ảnh hưởng lớn đến PTNNL trong các doanh nghiệp nhỏ ( Juliet MacMahon năm 1999)
+ Nghiên cứu về đào tạo và phát triển và sự phát triển doanh nghiệp trong các doanh nghiệp sản xuất nhỏ và vừa ở Úc (Janice Jones năm 2004), Hoạt động đào tạo và phát triển trong DNNVV ở Anh (David Devins và Steven Johnson năm 2003), phát triển con người của các doanh nghiẹp nhỏ (Annette và Marilyn
Medougall năm 1999) đưa ra các kết luận về đào tạo và phát triển trong DNNVV
Trang 2312
Kết luận: Mặc dù đã có những chuyển biến về nhận thức đối với các
DNNVV nhưng các chính sách của chính phủ vẫn còn tồn tại nhiều bất cập đòi hỏi cần phải tiếp tục sủă đổi bổ sung cho phù hợp Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạng mẽ và có những tác động rất lớn tới tất cả các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là về kinh tế, đòi hỏi Việt Nam cần phải nhanh chóng điều chỉnh về mặt chính sách kinh tế theo xu thế chung của thời đại, phù hợp với thông lệ quốc tế Do vậy cũng đã có một số công trình chỉ tập trung nghiên cứu về chính sách phát triển của Chính phủ đối với các DNNVV Nhiều công trình đuợc biên soạn khá công phu và đã đưa ra được nhiều giải pháp hay, chẳng hạn như: Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Việt Nam (PGS TS Nguyễn Cúc), Giải pháp phát triển DNNVV ở Việt Nam (của GS TS Nguyễn Đình Hương),… Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trên chưa thể coi là kết luận cuối cùng, đặc biệt trong giai đoạn nền kinh tế nước ta đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vực và thế giới
Do đó, việc nghiên cứu các chính sách phát triển DNNVV Việt Nam cần được tiếp tục nhằm bổ sung những cơ sở khoa học giúp Chính phủ trong việc hoạch định chính sách kinh tế trong tình hình mới Luận văn này cũng chỉ hy vọng và mong muốn sẽ góp một phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước và tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 2413
2.2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
2.2.1 DNNVV và vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế
2.2.1.1 Khái niệm, tiêu thức xác định DNNVV
- Khái niệm DNNVV của một số nước trên thế giới
DNNVV thường dựa vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp Nhìn chung, các nước trên thế giới sử dụng hai nhóm tiêu thức phổ biến là định tính và định lượng để định nghĩa DNNVV
Tiêu chí định tính dựa trên đặc trưng cơ bản của các DNNVV như chuyên môn hóa thấp, số đầu mối quản lý ít, mức độ phức tạp của quản lý thấp và các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng thực chất nguồn lực DNNVV nhưng thường khó xác định trên thực tế Do đó, nhóm tiêu thức này thường chỉ được dùng tham khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng làm cơ sở để xác định quy mô doanh nghiệp
Tiêu chí định lượng bao gồm các nhóm tiêu chí về: số lao động, tổng giá trị sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận Trong đó vốn và số lao động được áp dụng nhiều nhất làm tiêu chí xác định DNNVV
Tại một số nước có quan niệm khác nhau về quy mô số lao động và vốn cho DNNVV Về số lao động thì thường dưới 100 người hoặc dưới 200 người Có nước còn quy định số lao động cho ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp Tham khảo tiêu thức định nghĩa DNNVV ở một số nước theo bảng sau:
Trang 2514
Bảng 1.1: Tiêu thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa tại một số nước
Số lao động Vốn Doanh số
- Khái niệm DNNVV của Việt Nam
Ở Việt Nam những năm trước đây đã xuất hiện nhiều cách hiểu khác nhau về DNNVV Tuy nhiên, từ khi có Nghị định số 90/2001/NĐ- CP ngày 2/11/2001 về trợ giúp phát triển DNNVV thì định nghĩa DNNVV đã được hiểu thống nhất: DNNVV
là các cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động trung bình hàng năm không quá 300 lao động
Có thể tóm tắt tiêu chí để xác định DNNVV là:
Có số vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (khoảng 650.000 USD) hoặc có số lượng lao động dưới 300 người Theo Điều 4: Nghị định này áp dụng đối với các DNNVV bao gồm: Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước; Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã; Các hộ kinh doanh cá thể đăng
Trang 26Doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ là các cơ sở sản xuất kinh doanh có số lao động
ít hơn 50 người, các doanh nghiệp có số lượng từ 10 đến 49 lao động là doanh nghiệp nhỏ, các doanh nghiệp có số lượng từ 1 đến 9 lao động được coi là doanh nghiệp cực nhỏ
Như vậy thì doanh nghiệp vừa là số còn lại theo khái niệm ghi tại nghị định
90 tức là doanh nghiệp có lao động từ 50 đến 299 người Tuy nhiên qua 7 năm thực hiện, khái niệm DNVV của Nghị định 90, đã bộc lộ những điểm chưa hợp lý, cụ thể
là “một số doanh nghiệp có số lao động vượt xa con số 300 (có trường hợp 500 -
600 lao động), nhưng vì vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng nên vẫn được coi DNNVV Ngược lại, có doanh nghiệp mức vốn đăng ký hàng trăm tỷ đồng, nhưng số lao động thường xuyên thấp hơn 300 cũng được xếp vào “đội ngũ” DNNVV Mặt khác, khái niệm DNNVV không phân theo lĩnh vực sản xuất nên cũng có hạn chế, vì lĩnh vực sản xuất thì 10 tỷ đồng là thấp, nhưng trong một số kinh doanh dịch vụ thì ngược lại Hơn nữa, tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo vốn đăng ký do doanh nghiệp tự khai thường mang tính chủ quan, không chính xác và khó kiểm soát Điều này sẽ làm cho việc vận dụng chính sách hỗ trợ cụ thể đối với DNNVV gặp nhiều khó khăn
Vì vậy, ngày 30/6/2009 Chính phủ đã ban hành nghị định mới về DNNVV trong Nghị định số 56/2009/NĐ- CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo Nghị định này, DNNVV đã được phân theo khu vực kinh doanh và định
rõ doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa
DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp hoặc
số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiêu), đứng dưới giác độ
Trang 27Số lao động nguồn vốn Tổng Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động
1 Nông, lâm
nghiệp và
thủy sản
10 người trở xuống 20 tỷ đồng trở xuống Từ trên 10 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ đồng đến 100
tỷ đồng
Từ trên 200 người đến
50 người
Từ trên 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng
Từ trên 50 người đến
100 người
Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP2.1.1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, các DNNVV hoạt động trong môi trường chính sách và pháp lý phù hợp sẽ đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Vai trò của các DNNVV và tiềm năng phát triển của các DNNVV được thể hiện ở các điểm sau:
+ Cung cấp cho xã hội khối lượng đáng kể hàng hoá và dịch vụ: Các DNNVV có thể sản xuất nhiều loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước
và các loại máy móc, thiết bị, công cụ và linh kiện cần thiết cho các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp
+ Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp: Nhiều DNNVV có thể tạo ra công
ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động ở những nước khác, DNNVV là một trong những khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, giải quyết cơ bản một trong những vấn đề phức tạp mà các quốc gia phải đương đầu với nạn thất nhiệp trong quá trình phát triển
Trang 2817
+ Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn: Các DNNVV có thể phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính được huy động trong nước và các nguồn nguyên liệu vật liệu hoặc các sản phẩm trung gian có sẵn trong nước
+ Các DNNVV có thể đóng góp vào nỗ lực phân bổ các ngành công nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau, nhờ đó giảm bớt được khoảng cách phát triển giữa các khu vực khác nhau và tạo ra được sự phát triển cân đối giữa các vùng khác nhau trên toàn quốc
+ Các DNNVV có thể hỗ trợ cho các ngành công nghiệp lớn cung cấp đầu vào cho các ngành này và tạo sự cạnh tranh cần thiết để đẩy mạnh quá trình phát triển và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường
+ Các DNNVV có thể đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát triển các ngành nghề thủ công truyền thống nhằm sản xuất các loại hàng hoá mang bản sắc dân tộc
Nói tóm lại, vai trò của các DNNVV thể hiện ở mức độ đóng góp vào sự phát triển kinh tế của quốc gia, thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá trị gia tăng, góp phần tăng trưởng kinh tế là tầng cơ sở trong cấu trúc của nền sản xuất xã hội Số liệu thống kê của các nước cho thấy, tỷ trọng thu hút lao động, tạo ra giá trị gia tăng của khu vực các DNNVV ở một số nước khu vực châu Á là rất đáng kể
Từ số liệu thống kê ở bảng ta có thể thấy các DNNVV chiếm từ 81 đến 98%
số doanh nghiệp, thu hút 30 - 60% lao động và tạo ra 20 - 40% giá trị gia tăng trong nền kinh tế ở các nước này Như vậy, dù ở trình độ phát triển kinh tế cao hay thấp,
DNNVV vẫn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của các nước
Trang 29Nguồn: Báo cáo nghiên cứu hoàn thiện chính sách kinh tế vĩ mô và đổi mới
các thủ tục hành chính nhằm thúc đẩy sự phát triển của các DNNVV tại Việt Nam
(Dự án US / VIE/ 95/2004), DNNVV
- Khái niệm phát triển DNNVV
Phát triển là sự vận động theo hướng đi lên, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện của sự vật Khái niệm “phát triển” và khái niệm “vận động” có sự khác nhau: Vận động là mọi biến đổi nói chung, chưa nói lên khuynh hướng cụ thể: đi lên hay đi xuống, tiến bộ hay lạc hậu, còn phát triển
là sự biến đổi về chất theo hướng hoàn thiện của sự vật Phát triển là quá trình phát sinh và giải quyết mâu thuẫn khách quan vốn có của sự vật; là quá trình thống nhất giữa phủ định những nhân tố tiêu cực và kế thừa, nâng cao nhân tố tích cực từ sự vật cũ trong hình thái mới của sự vật
Như vậy, phát triển DNNVV là sự vận động theo hướng gia tăng số lượng,
quy mô của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, từ năng lực cạnh tranh thấp đến năng lực cạnh tranh cao ở thị trường trong nước đến thị trường khu vực và trên thế giới (sự gia tăng các nguồn lực: Quản lý, thông tin, nhân lực, tài chính )
Chính vì đó, các biện pháp và công cụ quản lý kinh tế xã hội đối với các DNNVV phải nhận biết được các quy luật của sự phát triển của DNNVV để có những chính sách và công cụ điều chỉnh và tác động đến việc hình thành, sử dụng các nguồn lực cho sự phát triển doanh nghiệp
Trang 3019
2.2.1.2 Đặc điểm của DNNVV
- Nhu cầu vốn không lớn, phù hợp với khả năng đầu tư của một người, một
hộ gia đình hoặc một nhóm người, không cần có sự đầu tư của Nhà nước Vốn của các DNNVV thường có vòng quay nhanh hơn các doanh nghiệp lớn
- Sử dụng được đông đảo lao động xã hội và sử dụng được đa dạng các loại thiết bị với trình độ và công nghệ khác nhau Hoạt động với chi phí thấp nhưng dễ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, nhanh chóng góp phần hạn chế được nạn thất nghiệp Nước ta có nguồn lao động dồi dào, DNNVV lại có ưu thế trong việc tạo việc làm, bên cạnh đó, vốn đầu tư cho mỗi chỗ làm việc thấp hơn, tạo ra việc làm mới nhanh chóng hơn so với doanh nghiệp lớn; tổng đầu tư không quá lớn nên tính khả thi cao, có thể phát triển ở mọi nơi để thu hút lao động, yêu cầu đối với người lao động và trình độ tay nghề không cao
- Doanh nghiệp nhỏ có thể phát triển gắn với nguồn nguyên liệu và cung ứng hàng hoá, do đó rất thích hợp với lĩnh vực sản xuất, chế biến nông lâm sản, chế biến thuỷ hải sản và lĩnh vực bán lẻ
- Tổ chức quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp rất gọn nhẹ; cơ chế tổ chức không có bộ máy gián tiếp cồng kềnh dẫn đến chi phí kinh doanh hoặc giá sản phẩm quá cao
Với quy mô nhỏ và vừa các doanh nghiệp loại hình này còn rất linh hoạt, ứng biến nhanh nhạy với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường Do đó, phát triển DNNVV là rất thích hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay
Từ những đặc điểm trên, có thể thấy DNNVV có những lợi thế sau:
DNNVV có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao động với trình độ khoa học kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm mại và nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu thay đổi của kinh tế thị trường, do vậy nó có nhiều lợi thế:
+ Dễ dàng khởi sự và năng động nhạy bén với thị trường
Trang 3120
Thành lập DNNVV rất dễ dàng vì đòi hỏi ít vốn, diện tích mặt bằng kinh doanh không nhiều, các điều kiện sản xuất đơn giản; có thể thay đổi nhanh chóng với những thay đổi nhu cầu của thị trường; sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao
DNNVV chỉ cần một số vốn hạn chế, một mặt bằng nhỏ hẹp đã có thể khởi
sự doanh nghiệp, vòng quay sản phẩm nhanh, do đó có thể sử dụng vốn tự có hoặc vay bạn bè, người thân dễ dàng; tổ chức quản lý gọn nhẹ, dễ quyết định khi nhu cầu thị trường thay đổi Khi doanh nghiệp gặp khó khăn có thể dễ dàng thay đổi tình thế, nội bộ dễ thống nhất
+ Dễ phát huy bản chất hợp tác:
DNNVV chỉ tiến hành một hoặc một vài công đoạn trong quá trình sản xuất một sản phẩm hoàn chỉnh, mà các công đoạn sản xuất phải kết hợp với nhau để hoàn thành một sản phẩm hoàn chỉnh đưa ra tiêu thụ trên thị trường Do đó các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện bản thân mình và tiến hành hợp tác sản xuất nếu không sẽ bị đào thải
+ Thu hút nhiều lao động, hoạt động có hiệu quả với chi phí cố định thấp
Các DNNVV do nguồn vốn ít vì vậy đầu tư vào tài sản cố định cũng ít và số lao động không nhiều nhưng vẫn có thể đem lại những dịch vụ về sản phẩm mới một cách có hiệu quả Việc đào tạo đội ngũ thợ lành nghề và lực lượng lao động cũng ít tốn kém và cần ít thời gian hơn doanh nghiệp lớn nên có thể khai thác triệt
để được nguồn lực sẵn có Họ thường tận dụng lao động thay thế cho vốn, đặc biệt
là các nước có lực lượng lao động dồi dào và giá lao động thấp như nước ta để tiến hành sản xuất - kinh doanh phục vụ dân sinh, và thường họ đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao
+ Không có hoặc ít có xung đột giữa người sử dụng lao động và người lao động
Do quy mô vừa và nhỏ, sự ngăn cách giữa người sử dụng lao động và người lao động không lớn và bản thân người chủ, người sử dụng lao động luôn sát với công việc của người lao động, do vậy nếu có xung đột, mâu thuẫn cũng dễ dàng giải quyết
Trang 3221
+ Có thể duy trì sự tự do cạnh tranh
Các DNNVV thường không có tình trạng độc quyền, dễ dàng và sẵn sàng chấp nhận tự do cạnh tranh Tự do cạnh tranh là con đường tốt nhất để phát huy mọi tiềm lực
+ Có thể phát huy tiềm lực thị trường trong nước
Sự phát triển DNNVV ở giai đoạn ban đầu là phương thức tốt để sản xuất thay thế nhập khẩu Các nước đang phát triển như nước ta, chỉ cần lựa chọn một số mặt hàng để sản xuất thay thế nhập khẩu với mức chi phí và vốn đầu tư thấp, kỹ thuật không phức tạp, sản phẩm phù hợp với sức mua của dân, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và sức mua của thị trường
+ Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng
DNNVV có thể phát triển ở khắp mọi nơi, mọi vùng của đất nước như vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi,… lấp vào khoảng trống và thiếu vắng của doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng góp phần ổn định kinh tế trong cả nước, đây là một chiến lược kinh tế xã hội quan trọng của đất nước
+ DNNVV là một trong những nơi đào tạo huấn luyện các nhà doanh nghiệp
và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển thành doanh nghiệp lớn
Qua thực tế hoạt động sản xuất - kinh doanh, một mạng lưới DNNVV trên khắp mọi miền của đất nước đã đào tạo, sàng lọc các nhà doanh nghiệp Có thể nói đây là một trong những nơi đào tạo hữu hiệu nhất Mặt khác, quá trình phát triển DNNVV cũng là quá trình tích tụ vốn, tìm kiếm mở mang thị trường… để phát triển thành doanh nghiệp lớn Nhìn lại lịch sử, hầu hết các doanh nghiệp ở các nước phát triển đều trải qua mô hình vừa và nhỏ, trừ một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước Riêng ở Việt Nam, DNNVV còn có một lợi thế là mới phát triển, quy mô nhỏ bé, tồn tại ở mọi thành phần kinh tế và đang trong quá trình vận động chuyển hoá, có khả năng chuyển hoá dễ dàng nhanh chóng các công nghệ mới thành cơ hội làm ăn,
có điều kiện đi vào ngành nghề truyền thống, đạt hiệu quả cao, do đó có nhiều thuận lợi để phát triển, nó chưa chịu ảnh hưởng lớn của độc quyền và cạnh tranh quyết liệt với nhau
Trang 3322
Tuy nhiên, xuất phát từ những đặc điểm của nó, DNNVV cũng có những
hạn chế và khó khăn về nhiều mặt, trong đó tập trung vào các mặt sau đây:
- Thứ nhất, DNNVV gặp nhiều khó khăn về vốn để sản xuất và mở rộng sản xuất
Thị trường cung ứng vốn cho DNNVV chủ yếu là thị trường tài chính không chính thức Chủ doanh nghiệp thường phải vay với lãi suất cao, vay của thân nhân, bạn bè, ít được tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính thức của hệ thống ngân hàng
Tình trạng thiếu vốn của DNNVV có nhiều nguyên nhân, trong đó đáng chú
ý là: Hệ thống tín dụng ngân hàng chưa tiếp cận với cầu tín dụng của các loại doanh nghiệp này vì nguồn vốn bị phân tán, chi phí cho vay lớn, khó đòi nợ và độ rủi ro cao; nhiều DNNVV không có khả năng đáp ứng đòi hỏi của ngân hàng về thủ tục lập dự án, thủ tục thế chấp và điều kiện lãi suất; một số chủ DNNVV không muốn vay ngân hàng mà thường vay của tư nhân; trình độ kinh doanh yếu, rủi ro lớn nên khó tích tụ vốn và khó trả nợ ngân hàng
Thứ hai, trình độ trang bị kỹ thuật và công nghệ yếu
Trình độ trang thiết bị, máy móc và công nghệ của DNNVV nói chung là yếu kém và lạc hậu Nhiều DNNVV sử dụng thiết bị thải loại của DNNN, thiết bị chế tạo trong nước hoặc tự thiết kế, chế tạo với trình độ thiết kế và gia công thấp Đáng chú ý là trang thiết bị và công nghệ của DNNVV phổ biến thiếu trang bị xử lý môi trường như tiếng ồn, chất thải rắn, chất thải lỏng, khí độc nên thường gây ô nhiễm môi trường xung quanh rất nặng, có hại tới sức khoẻ người lao động và người dân sống xung quanh
Thứ ba, trình độ tay nghề của lao động và đội ngũ quản lý thấp
Lao động trong các DNNVV chủ yếu là lao động phổ thông, ít được đào tạo cơ bản, thiếu kỹ năng, trình độ văn hoá thấp, đặc biệt đối với các doanh nghiệp quy mô nhỏ Khó khăn nhất đối với đội ngũ quản lý DNNVV là trình độ và kỹ năng quản trị kinh doanh yếu, thiếu cơ bản và rất lúng túng trước sự biến động của thị trường
Thứ tư, với dân số khoảng trên 90 triệu dân, trong đó có khoảng 75% dân số
sống ở nông thôn là điều kiện thuận lợi về mặt thị trường cho DNNVV Tuy nhiên thị trường rộng lớn của DNNVV đang bị thu hẹp lại do sức mua của người nông
Trang 3423
dân quá thấp; do hàng hoá nhập lậu qua biên giới không thể nào kiểm soát đã làm giảm đáng kể thị phần của DNNVV; do khả năng cạnh tranh của hàng hóa của loại hình doanh nghiệp này lại rất yếu, do công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động và trình độ quản trị kinh doanh yếu Khả năng tiêu thụ hàng trong nước đã khó, xuất khẩu lại càng khó hơn
2.2.1.3 Nhân tố ảnh hưởng đến DNNVV
Mức độ đáp ứng các yêu cầu đối với sự phát triển DNNVV là tổng hòa các năng lực hoạt động của doanh nghiệp Việc phát triển DNNVV nói chung và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm:
- Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế bao gồm các yếu tố như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm
phát, dân số có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhân lực cả về chất lượng và số lượng, tác động đến thu nhập, đời sống của người lao động (nhân lực) Điều này sẽ tạo cơ hội hoặc áp lực cho công tác phát triển nhân lực của doanh nghiệp Môi trường kinh tế quyết định thu nhập và đời sống cho người lao động Do đó sẽ ảnh hưởng đến sự an tâm thực hiện công việc và hoàn thiện trình độ kỹ năng của nhân lực Ngoài ra do môi trường kinh tế tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh do đó nhu cầu nhân lực cũng biến động theo, thông thường môi trường kinh
tế ảnh hưởng tiêu cực sẽ làm giảm tăng trưởng của ngành công nghiệp vì đó sẽ làm nhu cầu nhân lực giảm và ngược lại
- Chất lượng đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách
Đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của các DNNVV Một chính sách và cơ chế đúng đắn, hợp lý sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển DNNVV Chất lượng đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách trực tiếp quyết định chất lượng các chính sách và cơ chế đối với DNNVV
Ở các nước đang phát triển, vì nhiều lý do, chất lượng đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách không cao Do đó, chính sách phát triển các DNNVV không phải lúc nào cũng phù hợp với thực tế Bởi vậy, chính sách và cơ chế với DNNVV chưa
Trang 3524
thật sự tạo lập được môi trường pháp lý và những điều kiện cụ thể cần thiết để các DNNVV có khả năng phát triển một cách tự do, không bị chèn ép thiếu công bằng của các doanh nghiệp lớn Ngoài ra, chính sách và cơ chế chưa thật sự kết hợp chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ trong phát triển nền kinh tế của mỗi nước, chưa phát huy sức mạnh tổng thể của toàn bộ nền kinh tế và của từng khu vực Những chính sách ưu tiên, những cơ chế khuyến khích, kể cả những quy định
về giới hạn dưới và trên của từng loại hình doanh nghiệp sẽ là cơ sở để đánh giá, chính phủ mỗi nước đưa ra những quy định về ưu tiên Những quy định này ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và khả năng phát triển của các DNNVV Những ưu tiên về vốn, tín dụng, chế độ thuế, sử dụng công nghệ, quy chế mối quan hệ giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các quy mô khác nhau kể cả chính sách chống độc quyền… đều tác động đến hoạt động của các DNNVV Các chính sách đất đai, lãi suất, đào tạo… tạo ra những điều kiện cần thiết quan trọng hỗ trợ các DNNVV phát triển và thực hiện được những nhiệm vụ kinh tế - xã hội to lớn đặt ra đối với khu vực này Trên thực tế, do chất lượng đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách không cao nên những điều nêu trên vẫn còn nhiều bất cập
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, cơ chế, chính sách đang được từng bước hoàn thiện nhằm tạo điều kiện và môi trường pháp lý cần thiết, thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động Tuy nhiên, hệ thống chính sách vẫn còn nhiều bất cập, thiếu, không đồng bộ và cơ chế khuyến khích doanh nghiệp chủ yếu vẫn tập trung vào DNNN Trong thực tế vẫn còn sự phân biệt đối xử trong việc cho vay tín dụng giữa khu vực ngoài quốc doanh và khu vực Nhà nước mặc dù Chính phủ đang ra sức cải thiện tình hình này Tất cả những yếu tố đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến họat động của các DNNVV nước ta
- Đội ngũ các nhà quản lý doanh nghiệp
Sự xuất hiện và khả năng phát triển của mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào những người sáng lập ra chúng Do khả năng hạn chế về tri thức, về khả năng tiếp cận thông tin của các nhà quản lý DNNVV, nhiều chính sách của nhà nước ít có
Trang 3625
tác động đến doanh nghiệp Điều này ảnh hưởng lớn đến phương hướng, tốc độ phát triển của các DNNVV trong mỗi quốc gia Trên bình diện quốc gia, sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào sự có mặt của đội ngũ này Việc xây dựng đội ngũ các nhà sáng lập nhiệm vụ quan trọng đối với mỗi quốc gia, đây cũng
là một khâu yếu trong chiến lược phát triển các DNNVV ở nước ta trong những năm qua Nhà nước chưa xác định chiến lược và quy hoạch phát triển đội ngũ các chủ doanh nghiệp Đây là nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu lực các chính sách với DNNVV ở Việt Nam còn nhiều hạn chế
- Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ KH&CN
Sự phát triển của KH&CN và đặc biệt là công nghệ thông tin đã mở ra khả năng rộng lớn hơn cho việc hoạch định và thực thi các chính sách với DNNVV KH&CN tạo điều kiện và khả năng cho các nhà hoạch định chính sách có thể trang
bị kỹ thuật hiện đại hơn, năng động và linh hoạt hơn trong việc tiếp cận và lựa chọn thông tin, đưa ra các chính sách phù hợp hơn với thực tế
Trình độ và khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại của các DNNVV ở Việt Nam có nhiều hạn chế là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của chúng Ngoài những khó khăn về vốn là một trong những nguyên nhân dẫn đến công nghệ lạc hậu chậm đổi mới trong các DNNVV ở Việt Nam còn khó khăn nữa là do chưa quan tâm đúng mức tới phát triển công nghệ, thiếu thông tin về công nghệ và trình độ tiếp nhận, khai thác những tác động tích cực từ các chính sách
- Tình hình thị trường
Thị trường là một trong những vấn đề nan giải và khó khăn nhất cho các DNNVV ở nước ta và cho cả các nhà hoạch định chính sách Do thị trường nước ta còn phát triển ở trình độ chưa cao, nhu cầu thấp, đặc biệt ở các vùng nông thôn Hơn nữa, sản phẩm lại bị chèn ép bởi sản phẩm ngoại nhập, sản phẩm nhập lậu, trốn thuế… lại càng gây khó khăn không nhỏ cho DNNVV Việc quản lý thị trường đầu
ra còn nhiều sơ hở, buông lỏng tạo điều kiện cho các đối tượng làm ăn phi pháp
Trang 3726
phát triển, còn các doanh nghiệp họat động trung thực thua thiệt vì cạnh tranh không lành mạnh Thị trường các yếu tố đầu vào như đất đai, vốn đang là những khó khăn lớn, những thách thức đặt ra đối với các DNNVV Những nhân tố trên làm cho các tác động của chính sách bị méo mó
2.2.1.4 Sự cần thiết phải hỗ trợ và phát triển DNNVV
Xuất phát từ vai trò của loại hình doanh nghiệp này và những lợi ích to lớn
do việc hỗ trợ đó mang lại cả cho chính các DNNVV cũng như có lợi cho Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
* Lợi ích của chính sách hỗ trợ đối với Nhà nước và xã hội
Thực tế của nhiều nước cho thấy, sự hỗ trợ không chỉ có lợi đối với các doanh nghiệp mà có lợi cho cả Nhà nước và xã hội Lợi ích đó thể hiện trên các mặt:
+ Trước hết sự hỗ trợ các doanh nghiệp là cách thức để nuôi dưỡng các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước
+ Hỗ trợ doanh nghiệp là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước thay vì Nhà nước phải đầu tư trực tiếp để thành lập các DNNN như mô hình kinh tế hiện vật trước đây bằng việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp đã có, đặc biệt là các DNNVV khu vực tư nhân
+ Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển sản xuất hiệu quả hơn vì vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân, vừa thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước
+ Bằng việc hỗ trợ các DNNVV, Nhà nước cũng có thể giải quyết những vấn
đề xã hội (như vấn đề lao động thất nghiệp) mà bất cứ nước nào cũng phải đương đầu, tạo việc làm rất hiệu quả với nguồn vốn hạn hẹp của Nhà nước: thay vì chỉ thành lập mới các DNNN, thì với số vốn đó có thể hỗ trợ cho một số lượng doanh nghiệp đã có nhiều gấp bội Ngoài ra, Nhà nước có thể thông qua chính sách hỗ trợ
để định hướng phát triển các DNNVV
Các DNNVV ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại rất nhiều hạn chế như đã đề cập ở phần trên Do đó, để các doanh nghiệp này phát huy được vai trò của mình, cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước Hơn nữa có nhiều vấn đề mà các doanh
Trang 3827
nghiệp không thể tự giải quyết được như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường, đào tạo nguồn nhân lực, Nhiều vấn đề khác nếu được sự hỗ trợ của Nhà nước sẽ làm giảm bớt những khó khăn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và phát triển thuận lợi Kinh nghiệm cho thấy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV
Phát triển DNNVV cũng là một cách nhằm thúc đẩy sự cạnh tranh bình đẳng trong nền kinh tế, tận dụng được ưu thế riêng của loại hình này trong việc sử dụng các nguồn lực trong nước phục vụ những nhu cầu đa dạng của người dân trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển Cạnh tranh là sức sống, là động lực và là một đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường so với cơ chế kế hoạch hoá tập trung Để cạnh tranh thì trên thị trường phải có nhiều chủ thể tham gia Phát triển DNNVV chính là
để duy trì cạnh tranh cần thiết trong nền kinh tế thị trường, tránh những méo mó do
sự độc quyền gây ra, duy trì được tính năng động và linh hoạt của các chủ thể kinh
tế trong một môi trường kinh doanh mà tính năng động và linh hoạt có vai trò cho
sự sống còn của một doanh nghiệp
DNNVV, một bộ phận tuy còn nhỏ bé trong nền kinh tế nước ta hiện nay nhưng lại tiềm ẩn khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai đang còn hạn chế nhiều mặt Nếu không có những chính sách hỗ trợ phát triển hợp lý thì khó có thể phát triển phù hợp với những yêu cầu đòi hỏi mới của tình hình Sự hỗ trợ hợp lý của Nhà nước đối với DNNVV, chính là phải đảm bảo được sự bình đẳng trong hoạt động kinh tế chống lại sự độc quyền trong kinh doanh của các công ty lớn và mạnh nhằm đẩy các DNNVV vào tình trạng phá sản do mất thị trường
Như vậy, khuyến khích phát triển DNNVV chính là để duy trì sự cạnh tranh trong nền kinh tế, tức là duy trì và tạo ra động lực cho sự phát triển Phát triển DNNVV chính là huy động mọi nguồn vốn phát triển kinh tế, tăng thu nhập bình quân đầu người, tạo thêm nhiều việc làm góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020 Nước ta đang cần nhiều vốn
để đầu tư phát triển, Nhà nước chỉ có khả năng dùng ngân sách để đầu tư vào cơ sở
Trang 3928
hạ tầng là chính thay vì chủ yếu đầu tư vào các ngành sản xuất như trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, các ngành sản xuất cần được đầu tư từ các nguồn khác Phát triển DNNVV chính là cách tốt nhất huy động có hiệu quả các nguồn đầu tư của nhân dân để phát triển kinh tế
Phát triển DNNVV chính là cách để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chuyển dần lao động sản xuất nông nghiệp sang lao động công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ phát triển ở các vùng nông thôn; giải quyết sức
ép về lao động, việc làm và vấn đề xã hội do tình trạng di cư vào các trung tâm đô thị và thành phố lớn
Phát triển DNNVV tạo ra sự năng động, linh hoạt cho toàn bộ nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp thích ứng được trước những biến đổi nhanh chóng của thị trường trong nước cũng như quốc tế
Các DNNVV có ưu thế là năng động, dễ thay đổi cơ cấu sản xuất thích ứng nhanh với tình hình Đó là những yếu tố rất quan trọng trong kinh tế thị trường để đảm bảo khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả của sản xuất kinh doanh Phát triển DNNVV còn góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập của nước ta với các nước trong khu vực và trên thế giới
Với những căn cứ đã phân tích ở trên, chúng ta có thể khẳng định rằng Nhà nước cần phải có những chính sách hỗ trợ tích cực nhằm phát triển DNNVV trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay
* Các chính sách đối với DNNVV
Thuật ngữ "chính sách” được sử dụng phổ biến trên sách báo, các phương
tiện thông tin và đời sống xã hội Mọi chủ thể kinh tế - xã hội đều có chính sách của mình Ví dụ có chính sách của các cá nhân, chính sách của doanh nghiệp, chính sách của Đảng, chính sách của một quốc gia, chính sách của một liên minh các nước, hay tổ chức quốc tế vv…
Tuyên bố chính sách có nghĩa là một cá nhân hay một tổ chức đã quyết định một cách thận trọng và có ý thức, cách giải quyết những vấn đề tương tự Chính sách xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định Vạch ra phạm vi
Trang 4029
hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở những nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể Bằng cách đó, các chính sách hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức Ta có thể hiểu theo nghĩa rộng về chính sách của
một đất nước là: tổng thể các quan điểm tư tưởng phát triển, những mục tiêu tổng
quát và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu phát triển của đất nước
Hoặc có thể hiểu một cách ngắn gọn: “Chính sách là những hành động của Nhà
nước nhằm hướng tới những mục tiêu của đất nước” Với quan niệm này chính sách
là một bộ phận của chiến lược, bao gồm những giải pháp và công cụ để thực hiện
mục tiêu chiến lược Hay “chính sách là quyết sách của Nhà nước nhằm giải quyết
một vấn đề chín muồi đã đặt ra của đất nước, thông qua hoạt động thực thi của các ngành các cấp có liên quan trong bộ máy Nhà nước"
Tóm lại, chính sách là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế - xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước
Một số chính sách chủ yếu có tác động quan trọng tới DNNVV
- Chính sách hỗ trợ tín dụng
Chính sách hỗ trợ tín dụng là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp
và công cụ mà Nhà nước sử dụng để đảm bảo cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp trong nền kinh tế Chính sách hỗ trợ tín dụng là một trong những chính sách của Nhà nước, là công cụ thúc đẩy sự phát triển các doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng trong nền kinh tế
Cùng với sự ổn định kinh tế vĩ mô, chính sách hỗ trợ tín dụng đã có tác dụng tích cực thúc đẩy hoạt động của các DNNVV Trong tổng dư nợ tín dụng, tỷ lệ dành cho các doanh nghiệp ngoài dân doanh có chiều hướng tăng lên mặc dù chưa tương xứng với số lượng các doanh nghiệp đó
- Chính sách khoa học và công nghệ