1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

GIỚI THIỆU một số TRIẾT lý về CHÍNH TRỊ của PHƯƠNG tây

57 555 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 93,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn vềvấn đề này, chúng em thực hiện đề tài “Giới thiệu một số triết lý về chính trị củaPhương Tây” dựa trên nền tảng các tài liệu Triết học, Lịch sử triết học, Chính trịhọc –

Trang 1

Tiểu luận triết học

GIỚI THIỆU MỘT SỐ TRIẾT LÝ VỀ CHÍNH TRỊ CỦA

PHƯƠNG TÂY

Nhóm 09 Lớp 01 Khóa 24 thực hiện

Nhóm trưởng : Nguyễn Quốc Ân Thành viên 1 : Phan Tú Anh Thành viên 2 : Nguyễn Xuân Âu

Giảng viên phụ trách: TS.Bùi Văn Mưa

TP.Hồ Chí Minh, tháng 1 năm 2015

Trang 2

TP Hồ Chí Minh, ngày 09 tháng 11 năm 2014

- Tại địa điểm: Cafe Chiêu, số 118 Cao Thắng, Quận 3, TP Hồ Chí Minh

- Nội dung cuộc họp: chọn đề tài làm tiểu luận Triết học

- Phân công công việc:

1 Nguyễn Quốc Ân:

 Liên hệ lớp trưởng lấy danh sách đăng ký đề tài

 Phân công Tú Anh và Xuân Âu xem sơ bộ các tên đề tài

2 Phan Tú Anh

 Xem các đề tài từ số 1 đến số 7

 Tìm kiếm sơ bộ các tài liệu có liên quan đến các đề tài từ 1 đến 7

3 Nguyễn Xuân Âu

 Xem các đề tài từ số 8 đến số 15

 Tìm kiếm sơ bộ các tài liệu có liên quan đến các đề tài từ 8 đến 15

- Sau khi kết thúc việc tìm kiếm và chọn lọc các tài liệu có liên quan, nhóm bắtđầu thảo luận chọn đề tài

- Kết quả thảo luận: nhóm thống nhất chọn đề tài: "Giới thiệu một số triết lý vềquản trị của phương Đông"

- Phân công các thành viên trong nhóm về nhà tìm kiếm sâu và kỹ hơn về đềtài đã chọn, nhóm trưởng hướng thành viên tìm hiểu về triết lý quản trị của

Trang 3

- Đánh giá buổi làm việc:

 Toàn bộ thành viên có mặt đúng giờ hẹn

 Tham gia tích cực, sôi nổi

 Đóng góp các ý kiến hữu ích cho nhóm

- Lịch dự kiến cho cuộc họp tiếp theo là ngày 23/11/2014

- Nội dung họp dự kiến: tổng hợp tài liệu cả nhóm tìm được, thống nhất dànbài tiểu luận và phân công nhân sự thực hiện các phần của tiểu luận

Buổi họp kết thúc lúc 15h00 ngày 09 tháng 11 năm 2014

Trang 4

TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 11 năm 2014

- Hình thức: trao đổi trực tuyến thông qua công cụ mạng xã hội Facebook

- Nội dung cuộc họp: giải quyết tình trạng khẩn về việc trùng đề tài

+ Nhóm trưởng thông báo đề tài "Giới thiệu một số triết lý về quản trị củaphương Đông/ người Nhật" tuy là nhóm chọn trước nhưng sau đó cónhiều nhóm đăng ký trùng với lớp trưởng Để tránh tranh cãi thì nhómtrưởng lấy ý kiến thành viên có nên đổi đề tài hay không?

+ Tú Anh đề xuất chọn đề tài số 12 "Tư duy biện chứng và vai trò của nótrong phân tích (/hoạt động kinh tế quốc tế; /hoạt động quản trị nhânviên ; /hoạt động sản xuất – kinh doanh )

+ Xuân Âu: không có ý kiến

+ Nhóm trưởng đề xuất chọn đề tài số 3 "Giới thiệu một số triết lý vềchính trị của phương Tây"

Kết quả thảo luận: nhóm thống nhất đổi sang đề tài: "Giới thiệu một số triết lý vềchính trị của phương Tây"

Tiếp tục thống nhất về bố cục tiểu luận, phân công thực hiện đề tài

+ Trang bìa: nhóm trưởng làm

+ Trang đầu: Tú Anh làm

+ Các trang giữa: nhóm trưởng và Xuân Âu thực hiện

+ Trang cuối: kết luận – Tú Anh làm

+ Trang thêm: tài liệu tham khảo và mục lục – nhóm trưởng làm

Trang 5

 Đóng góp các ý kiến hữu ích cho nhóm.

- Lịch dự kiến cho cuộc họp tiếp theo là ngày 03/12/2014

- Nội dung họp dự kiến:

+ Tổng hợp các phần công việc đã phân chia thành bài tiểu luận thốngnhất cho nhóm

+ Bàn về phần phụ lục mở rộng cho đề tài

Buổi họp kết thúc lúc 23h45 ngày 15 tháng 11 năm 2014

Trang 6

TP Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 12 năm 2014

- Địa điểm: phòng B415, 279 Nguyễn Tri Phương, Quận 10, TP Hồ Chí Minh

- Nội dung cuộc họp: tổng hợp các phần công việc đã phân chia thành bài tiểuluận thống nhất cho nhóm và bàn về phần phụ lục mở rộng cho đề tài

- Nhóm trưởng tiến hành định dạng lại bài tiểu luận thống nhất theo yêu cầucủa thầy dựa trên bài các thành viên gửi qua email

- Nhóm trưởng đề xuất ý tưởng phần phụ lục sẽ mở rộng nghiên cứu về triết lýchính trị của Việt Nam

- Kết quả thảo luận: nhóm thống nhất sẽ mở rộng thêm đề tài về triết lý chínhtrị của Việt Nam

- Phân công thực hiện đề tài

+ Chính trị Việt Nam thời cổ đại: Tú Anh làm

+ Chính trị Việt Nam thời kỳ nhà nước phong kiến: Xuân Âu làm

+ Chính trị Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh: nhóm trưởng làm

- Đánh giá buổi làm việc:

 Toàn bộ thành viên có mặt đúng giờ hẹn

 Bài làm của các thành viên đúng theo phân công

- Lịch dự kiến cho cuộc họp tiếp theo là ngày 28/12/2014

- Nội dung họp dự kiến: tổng hợp phần phụ lục, hoàn chỉnh bài tiểu luận.Buổi họp kết thúc lúc 21h00 ngày 03 tháng 12 năm 2014

Trang 7

TP Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 12 năm 2014

- Hình thức: trao đổi trực tuyến thông qua công cụ mạng xã hội Facebook

- Nội dung cuộc họp: tổng hợp phần phụ lục, hoàn chỉnh bài tiểu luận

- Nhóm trưởng tiến hành định dạng lại bài tiểu luận thống nhất theo yêu cầucủa thầy dựa trên bài các thành viên gửi qua email

- Nhóm trưởng gửi lại bài đã tổng hợp cho các thành viên qua email

- Phân công các thành viên đọc kiểm tra lại lần cuối, các phản hồi gửi đếnnhóm trưởng thông qua email

- Đánh giá buổi làm việc:

 Toàn bộ thành viên có mặt đúng giờ hẹn

 Bài làm của các thành viên đúng theo phân công

Buổi họp kết thúc lúc 12h00 ngày 28 tháng 12 năm 2014

Trang 8

1.1 Triết lý triết học 1

1.2 Chính trị là gì? 1

II Giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại 2

2.1 Thời cổ đại 2

2.2 Thời trung cổ (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 15) 5

2.3 Thời cận đại 5

III Lược sử tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin 9

3.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 9

3.2 Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, sự phát triển của phong trào công nhân 9 3.3 Những trào lưu tư tưởng chính trị và cuộc đấu tranh lý luận của các tác giả kinh điển Mác xít 10

3.4 Những quan điểm chính trị chủ yếu của Mác – Ăngghen – Lênin 11

Kết luận 12

Phụ lục 14

I Triết học chính trị thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập tự chủ 14

II Tư tưởng chính trị thời sơ sử 16

2.1 Hoàn cảnh lịch sử 16

2.2 Tư tưởng chính trị 16

III Triết lý chính trị trong thời kỳ từ thế kỷ thứ II (trước công nguyên) đến thế kỷ X 17

3.1 Hoàn cảnh lịch sử 17

3.2 Tư tưởng chính trị 18

IV Tư tưởng chính trị thế kỷ XI 20

4.1 Điều kiện lịch sử 20

4.2 Tư tưởng chính trị 20

Trang 9

5.2 Tư tưởng chính trị thời kỳ này 22

VI Tư tưởng chính trị thời Hậu Lê 24

6.1 Hoàn cảnh lịch sử 24

6.2 Tư tưởng chính trị 25

VII Triết học chính trị Việt Nam từ thế kỷ XVI – XVIII 28

7.1 Những đặc điểm về kinh tế – xã hội 28

7.2 Triết lý chính trị 29

VIII Triết học chính trị dân chủ tư sản Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX .31

31

8.1 Hoàn cảnh lịch sử 31

8.2 Tư tưởng cách mạng dân chủ tư sản 32

IX Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị 34

9.1 Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội 34

9.2 Chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 35

9.3 Tư tưởng về đại đoàn kết 35

9.4 Tư tưởng về xây dựng thể chế chính trị 35

9.5 Lý luận về đảng cầm quyền 36

9.6 Về phương pháp cách mạng 37

X Triết học chính trị Việt Nam từ 1930 đến nay 37

10.1 Hoàn cảnh lịch sử 37

10.2 Những nội dung cơ bản về triết học chính trị 39

Kết luận 44 Tài liệu tham khảo 46

Trang 10

từ khi xã hội loài người phân chia thành các giai cấp và ra đời nhà nước, qua mỗigiai đoạn lịch sử nhất định, lĩnh vực chính trị luôn vận động cùng với sự vậnđộng của xã hội loài người, và được khái quát hóa thành tri thức lý luận tổngquát, thành các học thuyết, khuynh hướng, trào lưu triết học chính trị

Nổi bật và đặc sắc là triết học chính trị phương Tây với sự đa dạng và vận độngđấu tranh không ngừng, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử tưtưởng nhân loại Trải qua nhiều thời kỳ - Triết học Hy Lạp, La Mã cổ đại vớiDemocritus, Plato, Aristotle; triết học phương Tây thời Trung cổ với St.Augustine, Thomas Aquinas; thời Phục hưng – cận đại với N Machiavelli, JohnLocke, Montesquieu, Jean-Jacques Rousseau; thời hiện đại với Max Weber,David Easton, Bernard Crick, Harold Lasswell, C.Mác – V.I.Lênin, triết họcchính trị phương Tây là một bức tranh đầy màu sắc về quan hệ giữa các giai cấp

và quá trình đấu tranh giai cấp, cách thức giải quyết mối quan hệ giữa các giaicấp và tầng lớp xã hội trong việc phân bổ các lợi ích mà đặc biệt là lợi ích kinh

tế Quá trình phát triển của triết học chính trị phương Tây chứa đựng trong nónhiều bài học sâu sắc, tinh túy với đời sống xã hội hiện thực Để hiểu rõ hơn vềvấn đề này, chúng em thực hiện đề tài “Giới thiệu một số triết lý về chính trị củaPhương Tây” dựa trên nền tảng các tài liệu Triết học, Lịch sử triết học, Chính trịhọc – khoa Lý luận Chính trị, trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minhcùng với các nguồn tài liệu tham khảo là các tác phẩm triết học chính trịcủa một

số tác giả tiêu biểu trong các thời kỳ với mong muốn giới thiệu, tóm lược những

tư tưởng cốt yếu.Đề tài gồm 2 phần chính: Tư tưởng chính trị phương Tây thời

cổ đại, cận đại và lược sử tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin Phầnphụ lục chúng em mở rộng nghiên cứu về tư tưởng chính trị của Việt Nam từ thời

kỳ xây dựng nhà nước phong kiến đến hiện nay

Trang 11

là Philosophia nghĩa là yêu thích sự thông thái, "ái trí", nó vừa mang tính địnhhướng, vừa nhấn mạnh đến khát vọng tìm kiếm chân lý của con người Như vậy,cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu, triết học đã là hoạt độngtinh thần biểu hiện khả năng nhận thức, đánh giá của con người, nó tồn tại với tưcách là một hình thái ý thức xã hội

Đã có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về triết học, nhưng đều baohàm những nội dung cơ bản giống nhau: Triết học nghiên cứu thế giới với tưcách là một chỉnh thể, tìm ra những quy luật chung nhất chi phối sự vận động củachỉnh thể đó nói chung, của xã hội loài người, của con người trong cuộc sốngcộng đồng nói riêng và thể hiện nó một cách có hệ thống dưới dạng duy lý Kháiquát lại, có thể hiểu: Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của conngười về thế giới; về vị trí, vai trò của con người trong thế giới ấy Triết lý triếthọc đơn giản chính là những lý luận về triết học

1.2 Chính trị là gì?

Chính trị là những công việc nhà nước, gắn với những quan hệ giai cấp,dân tộc, các nhóm xã hội khác nhau trong xã hội mà vấn đề cốt lõi là vấn đềgiành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước,…

Trang 12

I Giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại:

1.1 Thời cổ đại: mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp

-La Mã Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, cáchình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị

Trước nhất, bàn về thủ lĩnh chính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến

của các học giả về vấn đề này:

SOCRATES cho rằng: thủ lĩnh chính trị phải là người có đạo đức Nhưng

đạo đức phụ thuộc vào trí tuệ Tuy nhiên, do xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộcnên ông cho rằng chỉ có thiểu số tầng lớp quý tộc mới là người có trí tuệ, mới lànhững người sáng tạo đúng đắn

DEMOCRITUS: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo

đức và do thuộc trường phái duy vật chủ nô dân chủ nên cho rằng tầng lớp bìnhdân cũng có tài năng, có thể làm được chính trị

XENOPHON: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỹ thuật giỏi, phải có sức

thuyết phục cao, người thủ lĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chămsóc cho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức mạnh của mọi người Ông là ngườiđầu tiên đặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như: phải có chuyênmôn giỏi, có uy tín, vì dân…

PLATO: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị, có

tính khí phù hợp với nhiệm vụ đảm đương Ông xem tiêu chuẩn chính trị là tiêuchuẩn của mọi tiêu chuẩn Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội khôngđược có quyền tư hữu (sở hữu về tài sản) bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm Lựclượng võ sĩ bảo vệ thì không được có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽkhông thể chiến đấu dũng cảm được Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hysinh lợi ích cá nhân vì những giá trị chung Tuy có những quan điểm tiến bộnhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằng một thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ có ởtầng lớp chủ nô quý tộc

ARISTOTLE: xem thủ lĩnh chính trị là người sung túc, là người ở tầng

lớp trung lưu không phải giàu cũng không phải nghèo, họ là người phải biết uốnmình theo lới khuyên của các bên (vì quan điểm của ông theo nhị nguyên luận)

Trang 13

CICERO: như là một sự tổng kết về của những tư tưởng về người thủ

lĩnh chính trị trước đó Ông nêu ra rằng người thủ lĩnh chính trị phải có sự thôngthái, có trách nhiệm, có sự cao thượng về phẩm hạnh, phải thống nhất trong minhgiữa tài năng và quyền uy Có uy thế tinh thần, có tinh thần cao thượng, biết hysinh vì lợi ích chung, bỏ qua các lợi ích tiền bạc không chính đáng Quan niệmcủa ông đến ngày nay cũng khó có người đạt được, đó là nhà chính trị phải cóchính trị, có đạo đức…

Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, một số quan điểm nổi

bậc của các học giả như sau :

HERACLITUS: là người thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, có lập trường

duy tâm, ông xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không cóvấn đề công bằng hay không công bằng ở đó Công bằng do con người tạo ra xãhội con người là một trạng thái tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt

nó, tự nhiên sinh ra có kẻ trí và người ngu cho nên kẻ trí thống trị người ngu là lẽ

tự nhiên, kẻ trí là người quí tộc, nô lệ là người ngu Ông cho rằng quyền lực làquy luật vĩnh viễn Không bao giờ trong xã hội lại không có quyền lực Pháp luậtnhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một

cá nhân là điều tất yếu cho sự thống nhất Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên,một quý tộc phải được trị giá bằng một nghìn dân thường

PLATO: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống

trị của kẻ trí đối với người ngu Đó là đặc tính của trí tuệ Chỉ có người có trí tuệmới có quyền lực Trí tuệ chỉ có ở quý tộc

ARISTOTLE: quan niệm quyền lực của xã hội cũng là một trạng thái tự

nhiên Nó xuất phát từ gia đình, quyền của cha đối với con, chồng đối với vợ, anhđối em; xuất phát từ quyền lực đối với xã hội Trong xã hội có nhiều gia đình, giađình này có sự xâm hại đối với gia đình khác Do đó mỗi gia đình phải nhượnglại quyền lực của từng gia đình thành quyền lực chung Người nắm quyền lựcchung là nhà nước Vì vậy, quyền lực nhà nước là tự nhiên, pháp luật là nhữngnguyên tắc khách quan, vô tư, xuất phát vì lợi ích của xã hội, của từng công dân

Trang 14

CICERO: cho rằng quyền lực nhà nước hình thành trong quá trình lịch sử

lâu dài Quyền lực bắt nguồn từ bản chất của con người chạy trốn sự cô đơn, tìmcuộc sống của cộng đồng Cho nên quyền lực là của chung chứ không riêng củamột ai, dù đó là người tài giỏi nhất cũng không sinh ra quyền lực được

Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các quan điểm lớn bao gồm :

HERODOTUS: là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và

so sánh các thể chế của nhà nước khác nhau Theo ông có 3 hình thức cơ bản:

+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế cầm quyền của một người-đó là vua Thể chế

này có 2 mặt : Ưu điểm: là thể chế ra đời thường là do những người có công khaiquốc, thường là vì lợi ích chung của nhân dân Nó là một bàn tay sắt cần thiết khichế độ dân chủ bị rối loạn Nhược: thể chế này dễ rơi vào sự độc tài, chuyênquyền, dễ bị xu nịnh, luôn có xu hướng là lạm dụng quyền lực

+ Thể chế quý tộc: thể chế của một số ít người thông thái và tiêu biểu về phẩm

hạnh của quốc gia để cầm quyền Ưu: đây chính là chính quyền của những người

có trình độ cao nên mọi công việc, các quyết sách chính trị đều được bàn bạcgiữa những người trí tuệ nên công việc có khoa học, ít sai lầm Nhược: giữa cácnhà thông thái làm việc bên nhau sớm muộn cũng sẽ tiêu diệt lẫn nhau, vì không

ai chịu thua ai, các nhà thông thái đều muốn làm thầy của nhau

+ Thể chế dân chủ: thể chế này là của đông đảo nhân dân nắm quyền và nó được

thành lập bởi chế độ bỏ phiếu để bầu ra các pháp quan Ưu: các quyết định quyếtsách chính trị đều do tập thể bàn bạc một cách dân chủ Nó có xu hướng côngbằng vì lợi ích chung, chăm lo cho nhân dân Nhược : số đông người ít học cầmquyền thì khó có khả năng chống độc tài, chuyên chế, dễ rơi vào tiểu tiết màquên đi tầm chiến lược, thường thấy những chuyện trước mắt mà không thấytrước những chuyện lâu dài Dễ bị kẻ xấu kích động lôi kéo Từ đó ông kết luậnloại thể chế tốt nhất là thể chế hỗn hợp những ưu của từng thể chế trên

DEMOCRITUS: ông ủng hộ chế độ dân chủ cộng hoà chủ nô.

SOCRATES: ông là người ủng hộ chế độ chuyên chế độc tài Ông cho

rằng dân chủ là sai lầm Dân chủ là chính quyền của người ngu dốt, ông gọi đó làchính quyền “bình dân”

Trang 15

ARISTOTLE: ông cho rằng thể chế nhà nước dân chủ là thể chế người

giàu, người nghèo không bên nào số lượng tuyệt đối Ông cho rằng mọi thể chếđều có nguy cơ biến chất, thay đổi bằng cuộc cách mạng Ông là người đầu tiênphân loại quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp Người đứng đầu nhànước là giai cấp trung lưu, ông đề cao vai trò của pháp luật đối với việc ổn định

xã hội Nhà nước có chức năng bảo đảm cho xã hội được sống hạnh phúc Ôngquan niệm công bằng rất tiến bộ, phân phối công bằng có nghĩa là người đángđược hưởng nhiều hơn thì được nhiều hơn, người đáng được hưởng ít hơn thìđược ít hơn Ông cũng đề cập đến vấn đề hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích

xã hội và cho rằng đạo đức phải phục vụ cho pháp luật

POLYBE: kế thừa tư tưởng trước đó vào thể chế nhà nước, ông cho rằng

thể chế nhà nước là phải kết hợp những ưu điểm các thể chế chứ không theo mộttiêu chí thuần túy nào bởi vì trong thuần túy đã chức đựng mầm mống sự yếukém khi phát huy tối đa sẽ bộc lộ yếu kém

1.2 Thời trung cổ (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 15): xã hội phương Tây chìm đắm

trong xiềng xích nô lệ của hai thế lực thần quyền và thế quyền, đó là Thiên chúagiáo và chế độ phong kiến mà người ta gọi đêm trường Trung cổ Thiên chúagiáo lấn át cả chế độ phong kiến và chi phối toàn bộ đời sống xã hội bằng nhữngluật lệ hà khắc và người xuẩn Chính vì vậy, thời kỳ này xã hội phương Tây hầunhư không phát triển được về mọi mặt, kể cả hệ tư tưởng chính trị

1.3 Thời cận đại: là thời kỳ triết học khai sáng, những tư tưởng chính trị phát

triển rất rực rỡ, phong phú và đa dạng, đặc biệt là ở Pháp

DIDEROT: theo ông nguồn gốc nhà nước ra đời do khế ước xã hội Nhà

nước phải bảo đảm bình đẳng và tự do Nhà nước nào vi phạm điều đó thì khôngcòn tư cách để tồn tại.Về luật pháp: bản chất con người phải phù hợp với trạngthái tự nhiên, luật pháp quán triệt điều đó, chứ không phải ngược lại Người tagọi ông là tác giả của tác phẩm cộng sản tuyệt vời và của18 “bộ luật tự nhiên”.Về

tư cách lãnh đạo, ông cho rằng mọi chức vụ của người cầm quyền phải được thựchiện bằng thi cử “dòng đầu tiên của một bộ luật là hạn chế quyền lực của ngườicầm quyền” (Diderot) Về phương pháp thay đổi chế độ xã hội, ông không tán

Trang 16

thành phương pháp cách mạng và cho tằng tiến bộ về lý trí sẽ làm thay đổi xãhội Ông phủ nhận vai trò của tôn giáo: nhà thờ không thể dung hoà với chân lýđược.

VOLTAIRE: là lãnh tụ của phong trào khai sáng, ông chống chế độ chủ

nô, đấu tranh cho sự bình đẳng của công dân nước Pháp Ông phê phán nhà thờ

và chuyên chế, mọi tội ác trong xã hội là do nhà thờ mà ra Ông chủ trương tự dotín ngưỡng, báo chí, ngôn luận và sở hữu Ông kịch liệt chống chiến tranh Theoông, chiến tranh còn kinh khủng hơn dịch hạch và điên khùng Theo ông bất bìnhđẳng về tài sản là tất yếu

MONTESQUIEU: phê phán chế độ chuyên chế phong kiến và cho rằng

chuyên chế về bản chất là đối lập với tự do Theo ông chế độ chuyên chế là bạochúa, vua pháp là một gã phù thuỷ Bàn về nhà thờ, ông cho rằng nhà thờ lànguồn gốc của tội lỗi, ông giải thích sở dĩ La Mã cường thịnh là do ghét chuyênchế và yêu tự do Sở dĩ La mã bị huỷ diệt cũng vì tự do bị huỷ diệt và đạo đức bịsuy đồi; song ông cũng giành cho tôn giáo một vị trí nhất định trong việc duy trìđạo đức xã hội Về nguồn gốc của nhà nước, theo ông, nhà nước xuất hiện trongmột quá trình lịch sử lâu dài khi mà trong xã hội xuất hiện tình trạng mâu thuẫnkhông thể điều hoà nếu không có một cơ quan có quyền lực đủ mạnh để giữ gìn

sự bình ổn của xã hội Ông là người đã xây dựng học thuyết nhân quyền với mụcđích tạo dựng các thể chế chính trị bảo đảm tự do chính trị cho các công dân Tự

do chính trị của công dân là quyền làm mọi cái mà pháp luật không cấm Do vậy

tự do chính trị chỉ có được ở các quốc gia mà tất cả các quan hệ đều được điềuchỉnh bằng luật pháp Pháp luật trở thành thước đo của tự do, mặt khác ông lạicho rằng kinh nghiệm lịch sử bao đời cho thấy người nắm quyền lực thường cókhuynh hướng lạm quyền Do vậy cách tốt nhất để chống lạm quyền là phảichống độc quyền, là phải phân chia sao cho quyền lực kiềm chế quyền lực, từ đóông đưa ra học thuyết tam quyền phân lập một cách có hệ thống (lập pháp hànhpháp và tư pháp) và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến.Đặt vấn đề xây dựng đạo đức chính trị: ông cho rằng đạo đức chính trị là phải đặtlợi ích công cộng cao hơn lợi ích cá nhân người cầm quyền Ông đề ra thuyết địa

Trang 17

lý: cho rằng cái đạo đức, cái tính cách của một dân tộc chịu sự chi phối bởinhững điều kiện địa lí nhất định (địa hình, khí hậu…) nhà cầm quyền khi banhành chính sách pháp luật phải xét đến những điều kiện địa lí cụ thể đó Về thểchế nhà nước: ông phân ra bản chất và nguyên tắc hoạt động của các loại chínhphủ đó là chính phủ cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc, quân chủ.

ROUSSEAU: là đại biểu của tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay

gắt quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên chế Về chính trị: quan điểm

về chính trị của ông cấp tiến hơn Montesquieu (vì Montesquieu bảo vệ tư tưởngquân chủ lập hiến), quan điểm của ông tiến xa hơn ở chỗ đề cao tư tưởng chủquyền nhân dân, ông không chỉ phê phán chế độ phong kiến mà đòi bác bỏ hoàntoàn chế độ đó Ông cho rằng trong xã hội mọi người phải được tự do bình đẳng

đó là trạng thái tự nhiên vốn có, là phúc lợi cao nhất của con người, quyền lựctrong xã hội phải thuộc về nhân dân Nhà nước lập ra qua các khế ước xã hộiphải thể hiện ý chí quyền lực của nhân dân nếu không thể hiện được điều đó thì

bộ phận cầm quyền phải bị đào thải, thay thế Ông chủ trương quyền lực phải tậptrung cao nhất, ông chống lại tư tưởng phân quyền của Montesquieu, theo ôngnếu quyền lực phân chia ra các cơ quan nắm giữ các nhiệm vụ khác nhau thì phảicoi các cơ quan đó là công cụ của chủ thể nhân dân và lệ thuộc vào chủ quyềnnhân dân Ông cho rằng ý chí chung phải được rút ra từ đa số và chính trị làchính trị của đa số, được xây dựng trên nguyên tắc đa số, chỉ qua quyết định của

đa số thì chính trị mới không phạm sai lầm

JOHN LOCKE: Ông cho rằng bản chất của con người là tự do, xã hội

loài người là tự do, cho nên tự do là giá trị cao quý nhất của xã hội, của conngười Nhà nước phải bảo đảm sự tự do của con người, mới bảo đảm tồn tại sựhợp lí của nhà nước Luật của tư nhiên bắt buộc phải tự do nên con người phải tự

do Ông đã luận giải về nguồn gốc và bản chất của nhà nước xuất phát từ quyềnlực tự nhiên của con người là tối cao và bất khả xâm phạm Do quy luật tự nhiêncủa xã hội mà nảy sinh ra bất công về kinh tế xã hội, mất an ninh và quyền tựnhiên của con người bị xâm phạm Để bảo vệ quyền tự nhiên của con người thìmọi thành viên trong xã hội mới “ký kết”, hình thành một chính quyền có quyền

Trang 18

lực chung Như vậy quyền lực xuất hiện từ các thành viên của xã hội Từ đó ôngđưa ra 3 kết luận quan trọng như sau :

- Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân Quyền lực của dân là cơ

sở, nguồn gốc, nền tảng của quyền lực nhà nước Trong quan hệ với dân, nhànước không có quyền mà chỉ thực hiện sự ủy quyền của nhân dân Nhà nước cóquyền trong “khế ước xã hội”, đó là hiến pháp những đạo luật cơ bản…

- Nhà nước thực chất là khế ước của xã hội, trong đó công dân nhường một phầnquyền của mình mà hình thành quyền lực chung, quyền lực nhà nước điều hành

và quản lý XH để bảo vệ quyền tự nhiên của con người

- Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là tiêu chí cănbản nhất để xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của nhà nước, đó là giới hạncăn bản của nhà nước Đi quá giới hạn này, chính quyền sẽ là chuyên chế , thành

kẻ thù của quyền lực tự nhiên và là đối tượng cách mạng

Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế độ dân chủ hiện đại Lốccơ chia nhà nướclàm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:

- Quyền lập pháp: là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia và thuộc về toàn dân.Nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân (nghị viện) do nhân dân bầu

ra và phải là những người hiểu rõ về luật

- Quyền hành pháp: là quyền thực hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan lậppháp, phải có cơ quan riêng và tách ra khỏi quốc hội

- Quyền tư pháp: là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chấp giữa cá nhânđược thực hiện bởi thẩm phán do nhân dân bầu ra

Theo ông, phân quyền là một tất yếu kĩ thuật, là một tiêu chuẩn không thểthiếu được của một xã hội dân chủ Yêu cầu phân quyền sao cho cân bằng, côngbằng nghĩa là dùng quyền lực này để chế ngự quyền lực khác

Như vậy, tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luật trongkhi tư tưởng chính trị phương đông thường gắn liền với đạo đức Tư tưởng chínhtrị phương tây thường xuất phát từ “trạng thái tự nhiên” của con người thường đềcao động lực “quyền lợi” của con người Chính trị học của giai cấp tư sảnphương tây thường dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân, tuyết đối hoá quyền lợi

Trang 19

cá nhân Tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản so với tư tưởng chính trị của giaicấp phong kiến là một bước tiến bộ trong việc giải phóng con người nhưng vẫnchưa đặt con người như là mục đích, tức là vẫn chưa thể giải phóng đại đa sốnhân dân lao động

Sự ra đời của tư tưởng chính trị Macxit là một cuộc cách mạng vĩ đại, lầnđầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, một giai cấp bị áp bức bóc lột, giai cấpcông nhân đã có một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là kim chỉ nam chohành động của mình

II Lược sử tư tưởng chính trị của chủ nghĩa Mác – Lênin:

2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội:

Những quan điểm chính trị Macxit được Mác và Ăngghen nêu ra là kếtquả của quá trình tư duy lý luận, kế thừanhững tinh hoa của những nhà tư tưởng,các nhà chính trị lỗilạc của nhân loại, kết hợp với quá trình tham gia vào thựctiễnđấu tranh cách mạng sôi động của giai cấp công nhân và nhândân lao động.Với những điều kiện lịch sử cụ thể:

- Chủ nghĩa tư bản đã chiến thắng chế độ phong kiến lỗi thời, chínhquyênnhà nước đã thuộc về tai giai cấp tư sản

- Giai cấp tư sản vẫn không xóa bỏ được những đốikháng của giai cấp, nóchỉ thay thế giai cấp này bằng giai cấp khác Nhà nước Tư bản chủ nghĩa cũngnhư nhà nước phong kiến, đều là bộ máy có tính giai cấp, phục vụ lợi ích cho giaicấp thống trị

- Sự hình thành thị trường thế giới, sự phát triển của tự do cạnh tranh, cáccuộc khủng hoảng kinh tế, sự tập trung tư bản ngày một tăng, tất cả có tác dụngthúc đẩy đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị giữa giai cấp vô sản và tư sản

2.2 Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, sự phát triển của phong trào công nhân:

- Sự phát triển của sản xuất, sự tăng cường bóc lột đãnâng cao ý thức giaicấp và tính tổ chức của giai cấp côngnhân Giai cấp công nhân ngày càng tỏ ra làmột lược lượng chính trịđộc lập, tách khỏi sự thao túng của giai cấp tư sản

Trang 20

- Các cuộc đấu tranh độc lập đầu tiên của giai cấp vôsản ở các trung tâmcông nghiệp của Anh, Pháp, Đức pháttriển mạnh mẽ.

- Các cuộc khởi nghĩa nói trên đã chứng minh giai cấpcông nhân thấy rằngsức mạnh của họ là sự đoàn kết, sựthống nhất

- Sự phát triển của phong trào đã nảy sinh một nhu cầutất yếu cần có một

lý luận, một học thuyết, một hệ thốngquan điểm chính trị chỉ ra cho giai cấp côngnhân cần phảiđấu tranh như thế nào, đấu tranh vì cái gì, mục đích trướcmắt vàmục tiêu lâu dài

2.3 Những trào lưu tư tưởng chính trị và cuộc đấu tranh lý luận của các tác giả kinh điển Mác xít:

- Vaitơlinh chỉ ra chế độ tư hữu là nguyên nhân của mọi tai họa của xãhội, cần xóa bỏ nó, xã hội sẽ ra đời bằng con đường cách mạng và do giai cấpcông nhân tiến hành

- Theo C Mác, để thực hiện thành công một cuộc cách mạng không phảichỉ cần có nhiệt tình mà chủ yếu phải có sự biết biết khoa học

- Mác cũng chỉ ra rằng không thể thực hiện ngay lập tức chủ nghĩa cộngsản mà phải tiến hành cuộc dấu tranh tuân theo đúng những quy luật khách quancủa lịch sử

- Những quan điểm của chủ nghĩa xã hội không tưởng, đó là những quanđiểm phản ánh nguyện vọng của giai cấp vô sản còn chưa phát triển Đúng nhưnhận xét của Mác và Ăngghen “Tương ứng với một nền sản xuất tư bản chủnghĩa chưa thành thục, với những quan hệ giai cáp chưa thành thục thì có một lýluận chưa thành thục” Và hai ông cũng chỉ ra một nguyên nhân của Chủ Nghĩa

Xã Hội không tưởng đó là vì họ chưa có mối quan hệ chặt chẽ với giai cấp côngnhân, với phong trào của giai cấp công nhân

+ Muốn xóa bỏ bất bình đẳng nhưng chưa biết làm thế nào

+ Không hiểu được vai trò sứ mệnh của giai cấp công nhân

+ Bảo vệ sự bình đẳng tuyệt đối trong phân phối, trong tiêu dùng, nêu caotinh thần khổ hạnh

Trang 21

- Chủ nghĩa Pơruđông: những người theo chủ nghĩa này phản đối cuộc bãicông của giai cấp công nhân từ biểu tình đến đấu tranh chính trị giành chínhquyền từ giai cấp tư sản Những quan điểm của ông biến một trật tự xã hội tư bảnthành trật tự xã hội công bằng, sự cải cách quan hệ và bằng biện pháp đó có thểxóa bỏ được những mâu thuẫn của trật tự Tư Bản Chủ Nghĩa, tiến tới xây dựngmột trật tự xã hội mới.

Phê phán những quan điểm của Pơruđông về chínhtrị, Mác đã chứng minhrằng trong cuộc đấu tranh chống tưbản, giai cấp vô sản phải được tổ chức lạithành một giaicấp độc lập và phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại giaicấp tưsản

Lênin là người đầu tiên đã từ lý luận khoa họcMacxit tiến hành thành côngcuộc cách mạng Tháng Mười Nga và xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa đầu tiên trênthế giới

2.4 Những quan điểm chính trị chủ yếu của Mác – Ăngghen – Lênin:

 Con người – điểm xuất phát và mục đích đấu tranhchính trị của Mác –Ăngghen – Lênin:

 Chính trị là chính trị của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định:

 Cơ sở kinh tế nào thì quan hệ chính trị ấy:

 Khi quan hệ kinh tế thống trị không còn phù hợp, cản trở sự phát triển củalực lượng sản xuất thì một thời kỳ cách mạng bắt đầu:

 Giai cấp công nhân và chuyên chính vô sản:

 Giai cấp công nhân cầm quyền tất nhiên tạo ra hệ thống chính trị chuyênchính vô sản:

 Khi cầm quyền nhà nước, Đảng Cộng Sản phải lãnh đạo giai cấp côngnhân, nhân dân lao động đấu tranh chống chủ nghĩa quan liêu - xây dựngnền dân chủ xã hội chủ nghĩa:

Trang 22

KẾT LUẬN

Thời cổ đại ở phương Tây, với những cuộc đấu tranh một mất một còngiữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cảicách dân chủ ở các thành bang là đặc trưng cơ bản nổi bật của hệ tư tưởng lúcbấy giờ Thời trung cổ là sự kết hợp và xuyên thấu lẫn nhau giữa thần quyền vàthế quyền để thống trị thần dân mà biểu hiện cơ bản là sự thống trị của thiên chúagiáo đối với tinh thần của nông nô Sang thời cận đại, đặc trưng cơ bản là sự pháttriển mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ của các cuộc cách mạng dânchủ tư sản với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động đấutranh cho các quyền cơ bản của con người Đó là những nét tổng thể dệt nên nộidung cơ bản của lịch sử phát triển tư tưởng chính trị ở các nước phương Tây thời

kỳ trước Mác Việc làm rõ những giá trị phổ biến trong sự phát triển chính trị củanhân loại qua sự phát triển tư tưởng chính trị phương tây từ cổ đại đến cận đại sẽ

có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dânlao động ở nước ta

Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của các thời đại lịch sử phương Tây,chúng ta không được quên tính giai cấp của nó, mặt khác không vì thế mà phủnhận toàn bộ nội dung, tri thức khách quan trong các học thuyết chính trị mà phảibiết chọn lọc, rút ra những cái giá trị để kế thừa, làm giàu tri thức của mình, kể cảđối với tư tưởng chính trị tư sản hiện đại.Qua những giá trị tư tưởng chính trịPhương Tây đã trình bày, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ hệ thống chính trị nào,nhà nước cũng mang bản chất giai cấp, nhưng đồng thời phải thực hiện chứcnăng xã hội Mặt khác, hệ thống chính trị nào, nhà nước nào mà quyền lực thuộc

về nhân dân lao động thì đó là xu hướng tiến bộ Nhà nước pháp quyền là mộtthành tựu của văn minh chính trị cần phải được ứng dụng Hệ thống chính trị cầnphải có cơ chế tự điều chỉnh và cơ chế cân bằng kiểm soát quyền lực để thíchứng với điều kiện thay đổi và cần phát huy sáng tạo cá nhân

Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN thực sự vững mạnh đồngthời nâng cao hiệu quả và chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã trởmột đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp cách mạng

Trang 23

của dân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà nước pháp quyền đủ mạnh mới có thể bảo

vệ và phát huy những thành quả trong quá trình đổi mới về mọi mặt (chính trị,kinh tế,văn hoá, quan hệ quốc tế…), mới có đủ khả năng giải quyết vấn đề mớinảy sinh do mặt trái của cơ chế thị trường, của kinh tế nhiều thành phần mang lại,

và mới có khả năng đương đầu và đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” màcác thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành

Trang 24

xã hội đặc biệt với kinh tế.

Chính trị là quan hệ giữa các giai tầng xã hội, các cộng đồng dân tộc vàcác cá nhân với quyền lực chính trị và chủ quyền quốc gia

Ở Việt Nam hiện nay, chính trị được nghiên cứu bởi các ngành khoa họckhác nhau:

 Chính trị học – khoa học về quyền lực và phương thức cầm quyền

 Các khoa học chính trị chuyên ngành; nhà nước pháp luật, lý luận vềĐảng, quan hệ quốc tế, khoa học về quyền con người

 Các khoa học khác: Tâm lý học, xã hội học, văn hoá học cũng nghiêncứunhiều vấn đề liên quan tới chính trị

Khác với khoa học cụ thể trên, triết học đi vào những vấn đề cơ bản, chungnhất củachính trị như nguồn gốc chính trị, bản chất của chính trị, đặc trưng củachính trị, vai tròcủa chính trị trong đời sống xã hội và mối quan hệ giữa các thànhviên xã hội (cá nhân,tập đoàn, cộng đồng) với chính trị đặc biệt là các thiết chếchính trị

Triết học chính trị Việt Nam có thể hiểu là hệ thống các quan điểm hay quanniệm vềnguồn gốc, bản chất của các thể chế chính trị Việt Nam, về chủ quyềnquốc gia dântộc, về mối quan hệ của nhà nước với các thành viên xã hội, giữanhà nước với xã hộinói chung

Triết học chính trị Việt Nam cũng như triết học chính trị của mọi quốc gia,ngay từ đầuchưa xuất hiện với tư cách là một lý luận độc lập Nó thường là một

bộ phận của tưtưởng xã hội và có quá trình phát triển từ thấp đến cao tùy thuộcvào sự phát triển củalịch sử Thực tế ở Việt Nam cũng không có sự khác biệtgiữa tư tưởng chính trị và triếthọc chính trị Tư tưởng chính trị ở Việt Nam cũng

là những quan điểm chung nhất vềchính trị hay nói cách khác cũng chính là triết

Trang 25

học chính trị Việt Nam Vì vậy, hệ thốngtư tưởng chính trị Việt Nam từ thời cổđại cho đến thế kỷ XX cũng có thể xem là triếthọc chính trị Việt Nam.

Nghiên cứu lịch sử Việt Nam, các nhà sử học, chính trị học chia ra các thờikỳ:

1 Thời kỳ tiền sử: Thời kỳ bắt đầu từ khi con người xuất hiện trên đấtnước ViệtNam (cách đây 40–50 vạn năm) cho đến cuối thời đại đồ đá mới Đây

là thờikỳ còn để lại dấu ấn ở vùng núi Đọ (Thanh Hóa), Sơn Vi (Phú Thọ) và tỉnhHòaBình (văn hoá Hòa Bình) Mặc dù dân cư trong thời kỳ này đã biết trồngtrọt,làm đồ gốm, có những hiểu biết về thời gian, về tự nhiên nhưng chưa cónhànước, chưa có chính trị

2 Thời kỳ sơ sử: Theo các tài liệu lịch sử, cách đây khoảng 4000 năm,dân cưtrên lãnh thổ Việt Nam đã tập trung vào 3 trung tâm văn hoá lớn là ĐôngSơn(Miền Bắc), Sa Huỳnh (Miền Trung) và Đồng Nia (Miền Nam) Từ thời kỳnàyViệt Nam đã bước vào thời đại kim khí, xã hội bắt đầu có nhà nước và cóchínhtrị

3 Thời kỳ chống Bắc thuộc (từ thế kỷ II đến thế kỷ X)

4 Thời kỳ xây dựng quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập (từ thế kỷ X –XIX)

5 Thời kỳ chống Pháp (Giữa thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX)

6 Thời kỳ cách mạng dân chủ nhân dân và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam(từ1930 đến nay)

Trong mỗi thời kỳ lịch sử này, các tư tưởng chính trị có những sự pháttriển qua từngnấc thang khác nhau tùy thuộc vào những diễn biến cụ thể của lịchsử

Như vậy, tư tưởng chính trị Việt Nam chỉ xuất hiện từ thời sơ sử và pháttriển cho đến nay

II Tư tưởng chính trị thời sơ sử:

Trang 26

Dựa vào các tài liệu khảo cổ học, các tài liệu thành văn (sử cũ của TrungQuốc và Việt Nam), có thể thấy nhà nước Văn Lang được sắp xếp bộ máy cai trịtheo ba cấp: đứng đầu nhà nước là vua Hùng (ngôi vị này được cha truyền connối), thứ hai là các lạc hầu, lạc tướng, bên dưới có 15 bộ lạc Nhà nước có luậtriêng mà sách Trung Quốc viết là "luật Việt" khác với "luật Hán" của TrungQuốc Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đã đánh dấu sự ra đời của chính trị và từ

Tư tưởng này đã tạo nên sức mạnh để chiến thắng quân Tần, một đế chếmạnh nhất châu Á thời bấy giờ Tần Thủy Hoàng đã đánh bại 6 cường quốc khác

và lần đầu tiên thống nhất được Trung Quốc Nhưng quân Tần đã bị thất bạitrong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam kéo dài khoảng từ 214 đến 208 trướccông nguyên và phải rút về nước

Tư tưởng độc lập dân tộc còn thể hiện ở sự hợp nhất hai nhà nước Tây Âu

và Lạc Việt thành nhà nước mới là Âu Lạc do Thục Phán đứng đầu để chốngngoại xâm Nhà nước Âu Lạc tiếp tục trên cơ sở kế thừa những thành tựu củaVăn Lang đã tăng cường xây dựng và củng cố các lực lượng quân sự, xây dựng

Trang 27

một đạo quân khá mạnh, sử dụng thành thạo các cung tên (hiện đã đào được hàngvạn mũi tên ở Thành Cổ Loa), xây thành kiên cố để chống ngoại xâm.

Nhờ có lực lượng quân sự vững mạnh và sự thống nhất ý chí của toàn dânnên nhà nước Âu Lạc đã đánh bại nhiều cuộc xâm lược của Triệu Đà (TrungQuốc) buộc Triệu Đà phải thay đổi đối sách và dùng mưu kế mới xâm lược được

Đối với người Việt Nam, yêu nước cũng là yêu chính nòi giống của mình.Bảo vệ đất nước cũng là bảo vệ nòi giống của mình Chính điều này đã làm chotình cảm yêu nước trở nên gần gũi, gắn bó với người Việt Nam Đó là triết lýchính trị, cũng là triết lý sống của người Việt Nam

III Triết lý chính trị trong thời kỳ từ thế kỷ thứ II (trước công nguyên) đến thế kỷ X:

Đặc điểm của thời kỳ này là khi đặt được ách thống trị lên Âu Lạc, chínhquyền phương Bắc đã tìm cách chia lại các khu vực hành chính, phân nhỏ ÂuLạc thành các bộ phận (quận, huyện như những quận huyện của Trung Quốc) và

cử quan lại nắm giữ tới các quận Có thời kỳ chúng còn với tay tới các làng xã

Trang 28

nhằm trực tiếp khống chế nhân dân ở từng địa phương Chúng xây dựng một tổchức quan lại từ trên xuống dưới, luôn duy trì một lực lượng đội quân thườngtrực khá mạnh, xây dựng các thành quách kiên cố để giữ vững sự thống trị củamình.

Các thế lực xâm lược ra sức chiếm đất đai, lập đồn điền Chúng khai tháccác sản phẩm quý hiếm, bắt dân chúng đóng góp nặng nề và phục dịch bộ máyquyền lực của chúng một cách vô điều kiện Chính sách đàn áp dã man và sự bóclột, vơ vét triệt để của quân xâm lược đã đẩy nhân dân Việt Nam vào con đườngcùng khốn, đau thương, chết chóc Đồng thời các chính quyền phương Bắc cũngluôn đẩy mạnh quá trình đồng hoá Việt Nam Từ đầu công nguyên, nhiều Nho sĩ

có tài của Trung Quốc đã được đưa sang Việt Nam để mở trường dạy học, truyền

bá tiếng Hán Chúng đưa dân Hán di cư sang Việt Nam để thay đổi cả phong tụctập quán trong cuộc sống Mục đích của chúng là xóa bỏ mọi yếu tố truyền thốngcủa văn hoá Âu lạc

3.2 Tư tưởng chính trị:

Tư tưởng chính trị cơ bản của thời kỳ này, nổi bật vẫn là tư tưởng yêunước, thương nòi, căm thù quân xâm lược và quyết tâm vùng dậy giành lại độclập cho giang sơn đất nước

Tư tưởng đó luôn được nung nấu trong tâm khảm của từng con người ViệtNam và nó được thể hiện qua các cuộc khởi nghĩa điển hình trong suốt thời kỳBắc thuộc

Cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên là khởi nghĩa của hai nữ anh hùng là TrưngTrắc vàTrưng Nhị (hai chị em ruột) con lạc tướng huyện Mê Linh, dòng dõi vuaHùng nổ ra vàonăm 40 Cuộc khởi nghĩa này được nhân dân hưởng ứng rộng rãi,giành được thắnglợi, giải phóng cả 4 quận đã bị xâm chiếm, giành lại nền độc lập

tự chủ của đất nước

Trưng Trắc và Trưng Nhị đã xưng vương và xây dựng đất nước trongvòng hai năm.Sau đó, nhà Hán phải dùng đại binh để khôi phục lại quyền thốngtrị của chúng Mụcđích của cuộc khởi nghĩa là "đến nợ nước, trả thù nhà"

— Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (248)

Ngày đăng: 18/10/2015, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w