1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội ở việt nam

91 592 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi thời kỳ mà Đảng, Nhà nước đưa ra những chính sách ưu đãi khác nhau đối với người có công

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM

luËn v¨n th¹c sÜ luËt häc

Hµ néi - 2009

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ƯU ĐÃI XÃ HỘI

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật kinh tế

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Hữu Chí

Hµ néi - 2009

Trang 3

MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN

mạng tháng Tám 1945 đến nay)

18 1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám-1945 đến năm 1954 19 1.4.2 Giai đoạn từ 1954 đến 1975 20 1.4.3 Giai đoạn từ 1975 đến 1985 23 1.4.4 Giai đoạn từ 1986 đến 1994 24 1.4.5 Giai đoạn từ 1995 đến nay 25

Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT

NAM VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG

28 2.1 Đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội 29 2.1.1 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 29 2.1.2 Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi

quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

35 2.1.11 Các chế độ ưu đãi xã hội 36 2.2 Các chế độ ưu đãi xã hội 36 2.2.1 Chế độ ưu đãi trợ cấp 37 2.2.1.1 Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày

01 tháng 01 năm 1945 và thân nhân của họ

38

2.2.1.2 Đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945

đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945 và thân nhân của họ

39 2.2.1.3 Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ 40 2.2.1.4 Chế độ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng 41 2.2.1.5 Chế độ đối với Anh hùng Lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động 41 2.2.1.6 Chế độ đối với thương binh, người hưởng chính sách như

thương binh, thương binh loại B (gọi chung là thương binh)

42 2.2.1.7 Chế độ đối với bệnh binh 43 2.2.1.8 Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc

hóa học

45 2.2.1.9 Chế độ đối với người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động

kháng chiến bị địch bắt, tù đày

45 2.2.1.10 Chế độ đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, 46

Trang 4

bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

2.2.1.11 Chế độ đối với người có công giúp đỡ cách mạng 46 2.2.2 Chế độ chăm sóc sức khỏe 47 2.2.3 Chế độ đảm bảo về việc làm 48 2.2.4 Chế độ ưu đãi về giáo dục - đào tạo 50

2.3 Thực trạng áp dụng pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam hiện

nay

52 2.3.1 Những thành tựu, kết quả đạt được 52 2.3.2 Những hạn chế và tồn tại 55

Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP

LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

60 3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội 60 3.1.1 Pháp luật ưu đãi xã hội phải phù hợp với điều kiện kinh tế, xã

hội của đất nước

60 3.1.2 Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính toàn diện 63 3.1.3 Pháp luật ưu đãi xã hội phải đảm bảo tính thực tiễn 64 3.1.4 Xã hội hóa hoạt động ưu đãi xã hội, thiết lập mối quan hệ chặt

chẽ giữa ba chủ thể Nhà nước, đối tượng được hưởng ưu đãi và cộng đồng, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo

65

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội 67 3.2.1 Về đối tượng hưởng ưu đãi xã hội 67 3.2.2 Về các chế độ trợ cấp ưu đãi 69 3.2.3 Hoàn thiện cơ chế thực thi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện

pháp luật ưu đãi xã hội

72 3.2.4 Về việc xây dựng pháp luật ưu đãi xã hội 73

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước chúng ta đã trải qua hai cuộc chiến tranh ác liệt và lâu dài với rất nhiều sự hy sinh và mất mát Ở bất kỳ thời kỳ nào những người có công đều được kính trọng, được hưởng những chính sách ưu đãi từ phía Nhà nước, các tổ chức và cộng đồng xã hội

Trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam thì ưu đãi xã hội chiếm một vị trí rất quan trọng Ưu đãi xã hội đó là minh chứng cho truyền thống

"Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của dân tộc ta, là tình cảm và là sự biết ơn của thế

hệ đi sau đối với những người đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội sẽ tạo ra không những cho người thuộc đối tượng chính sách mà còn là những đối tượng khác niềm tin vào một

xã hội tốt đẹp, vào sự công bằng của đất nước, là sự động viên, khích lệ họ cống hiến, hy sinh cho đất nước

Từ sau khi giành được chính quyền cho đến nay, Nhà nước ta đã ban hành một loạt hệ thống các văn bản pháp luật để điều chỉnh vấn đề này Các văn bản pháp luật qua từng giai đoạn, từng thời kỳ đã được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tiễn

Những năm gần đây, nền kinh tế của đất nước ta đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đời sống của người dân được nâng cao và từ đó những chính sách dành cho người có công có những bước tiến đáng kể, góp phần làm ổn định đời sống cho các đối tượng chính sách, đảm bảo sự công bằng xã hội

Tuy nhiên, pháp luật về ưu đãi xã hội hiện nay còn một số mặt hạn chế

Có thể thấy như mức trợ cấp còn thấp so với tốc độ gia tăng giá cả của đời sống

Trang 6

xã hội đã dẫn đến tình trạng đời sống của nhiều người, nhiều gia đình chính sách chưa được bảo đảm Thủ tục để được công nhận là đối tượng chính sách (liệt sĩ, thương binh ) nhìn chung là đầy đủ, khá đơn giản nhưng lại không linh hoạt; thực tiễn tồn tại rất nhiều trường hợp do thời gian hay những lý do khác đã không đáp ứng được những yêu cầu về mặt thủ tục, giấy tờ mà pháp luật yêu cầu nên đã không được công nhận là đối tượng chính sách để được hưởng ưu đãi

xã hội

Nhằm mục đích tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận về ưu đãi

xã hội, thông qua thực tiễn để tìm ra những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội, từ đó hoàn thiện hơn nữa pháp luật về ưu đãi xã hội Đó chính là lý do mà tác giả đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận cũng như thực tiễn về pháp luật ưu đãi xã hội Trong nội dung của đề tài, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội từ

đó nêu lên những kiến nghị có thể được áp dụng để hoàn thiện hơn pháp luật

về ưu đãi xã hội, góp phần nâng cao đời sống, đảm bảo công bằng cho các đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu chính là những vấn đề thực tiễn cũng như lý luận về pháp luật ưu đãi xã hội, phân tích và tìm ra những tồn tại của pháp luật ưu đãi xã hội từ đó đưa ra những cách thức hoàn thiện các quy phạm pháp luật ưu đãi xã hội

Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu những quy phạm pháp luật về chính sách đối với người có công trong giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám -

1945 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 7

Luận văn được viết dựa trên sự tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính như phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh…

5 Những đóng góp mới của luận văn

Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật ưu đãi xã hội

Đưa ra khái niệm pháp luật ưu đãi xã hội Phân tích vai trò, ý nghĩa cũng như những nguyên tắc điều chỉnh xuyên suốt pháp luật ưu đãi xã hội

Phân tích thực trạng pháp luật ưu đãi xã hội, đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội

Đưa ra những vấn đề cơ bản cũng như mô hình để xây dựng pháp luật

ưu đãi xã hội ở Việt Nam

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật ưu đãi xã hội Chương 2: Quy định pháp luật ưu đãi xã hội ở Việt Nam và thực trạng

áp dụng

Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội

ở Việt Nam

Trang 8

Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

VỀ PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI

1.1 KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI

1.1.1 Định nghĩa pháp luật ƣu đãi xã hội

Ở bất kỳ thời kỳ nào của một quốc gia, một dân tộc đều có những con người cống hiến hết mình cho hòa bình, ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước Những sự cống hiến đó đều được Nhà nước và xã hội ghi nhận, tôn vinh và biết ơn thông qua những ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần mà Nhà nước, xã hội dành cho họ

Trải qua hơn 4000 năm dựng và giữ nước, với các chế độ chính trị xã hội khác nhau, với những quan niệm về con người, xã hội, chính trị… khác nhau, nhưng có thể khẳng định dù ở bất kỳ thời kỳ nào, giai đoạn lịch sử nào, chế độ nào của đất nước thì những người có công với đất nước đều được suy tôn và chính quyền luôn có chính sách ưu đãi đối với họ Ở mỗi thời kỳ khác nhau, chế độ khác nhau thì chính sách đối với người có công cũng khác nhau Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với người có công là sự ghi nhận những công lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước

Với đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam, lịch sử của những cuộc đấu tranh giành và giữ nước nên những người có công là một bộ phận lớn những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đó là những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những thương binh, liệt sĩ, người có công

Trang 9

nước, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc Do vậy, ưu đãi

xã hội xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có công với cách mạng (pháp luật ưu đãi xã hội Việt Nam hiện nay chỉ quy định về đối tượng này)

Tuy nhiên, những người có công với đất nước không chỉ bao gồm những người có công với cách mạng, những người đã xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc Bên cạnh đó còn một bộ phận những người đã cống hiến, hy sinh hết sức mình để bảo vệ, xây dựng và giữ vững đất nước không phải chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình, họ đã đem lại những thành tích, sự vinh quang cho đất nước, góp phần vào sự phát triển của đất nước cũng như khẳng định vị thế của đất nước trên trường quốc tế… Vì thế, đối tượng người có công được hưởng ưu đãi xã hội không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người có công với cách mạng mà còn được hiểu theo nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, phát triển đất nước mà không

có bất kỳ sự đòi hỏi, yêu cầu bù đắp nào Họ là những người có thành tích xuất sắc bảo vệ cho sự bình an của xã hội, làm rạng danh đất nước, cống hiến,

hy sinh vì lợi ích của đất nước, của dân tộc, được sự công nhận của pháp luật

mà không có sự phân biệt tôn giáo, dân tộc, tín ngưỡng, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp…, như Nhà giáo nhân dân, Nghệ sĩ nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Nhà kinh tế, Nhà khoa học có đóng góp xuất sắc…

Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng Gần một thập kỷ qua dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đồng lòng quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Không có gì quý hơn độc lập tự do"; "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ" Với quyết tâm ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được thắng lợi trước kẻ thù xâm lược Để có được thắng lợi to lớn ấy, hàng triệu đồng bào, chiến sĩ ta đã vượt qua bao gian lao, vất vả,

Trang 10

hàng triệu người đã hy sinh, bị thương, hay bệnh tật, không biết bao nhiêu người đã mất đi người thân, những hậu quả to lớn, những dấu ấn tàn khốc của chiến tranh vẫn còn in đậm trong tâm trí bao thế hệ người Việt Nam Khi chiến tranh đã đi qua, những đối tượng này và cả người thân của họ đã gặp không ít khó khăn trong cuộc sống Sức khỏe của họ đã bị suy giảm, tuổi tác cũng gây ra khó khăn không kém, những di chứng của chiến tranh làm cho họ khó có thể phấn đấu, học tập, rèn luyện, làm việc để có thể thích nghi với cuộc sống đang ngày phát triển Hơn nữa, họ không có điều kiện để chăm lo cho gia đình, con cái, người thân của họ bị thiệt thòi, cuộc sống gia đình bị ảnh hưởng Họ là những đối tượng cần tới sự trợ giúp của Nhà nước, sự giúp

đỡ của xã hội Những hy sinh, mất mát, cống hiến, công lao của họ cũng như thân nhân của họ xứng đáng được Nhà nước, xã hội ghi nhận và trợ giúp

Vì vậy, "ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước, cộng đồng và toàn xã hội về đời sống vật chất cũng như tinh thần đối với người có công và gia đình họ" [31, tr 263]

Chính sách ưu đãi xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước

ta Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi thời kỳ mà Đảng, Nhà nước đưa ra những chính sách

ưu đãi khác nhau đối với người có công để ghi nhận những đóng góp, công lao to lớn của người có công; thể hiện sự quan tâm, biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất nước; bù đắp một phần nào đó cho họ về đời sống vật chất cũng như tinh thần Ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền (năm 1945), tuy còn nhiều khó khăn, phải đương đầu với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn rất chú trọng đến công tác xây dựng cũng như thực hiện chính sách này Chính sách ưu đãi đối với người có công là một chính sách đặc biệt giành cho những đối tượng đặc biệt Vì thế, Nhà nước với vai trò và chức

Trang 11

đưa các chính sách ưu đãi đối với người có công vào cuộc sống Không những vậy, Đảng và Nhà nước còn vận động, kêu gọi và khuyến khích mọi người dân, các tổ chức tham gia các phong trào thiết thực nhằm mục đích thực hiện tốt nhất chính sách ưu đãi đối với người có công

Thực hiện tốt chính sách đối với người có công là việc làm có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ giúp ổn định đời sống của các đối tượng đặc biệt này, giúp họ hòa nhập với cộng đồng mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có công không chỉ thể hiện trách nhiệm của Đảng, Nhà nước mà còn thể hiện sự biết

ơn đối với những cống hiến của họ, hơn nữa nó còn góp phần giáo dục thế hệ

đi sau nhận thức được trách nhiệm của mình, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần xả thân vì đất nước, lòng dũng cảm, những thành quả mà thế hệ cha anh

đã ra sức bảo vệ, vun đắp nên Do đó, chính sách ưu đãi xã hội đối với người

có công mang tính nhân văn sâu sắc, nó góp phần tạo ra môi trường lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi công dân trong xã hội

Ở Việt Nam chính sách ưu đãi xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách an sinh xã hội Chính sách an sinh xã hội là sự bảo vệ của Nhà nước, xã hội đối với các thành viên của mình thông qua các chính sách và chương trình cụ thể nhằm giúp cho họ có cuộc sống ổn định, phát triển lành mạnh Hệ thống chính sách an sinh xã hội của nước ta chủ yếu điều chỉnh ba nhóm quan hệ chủ yếu là bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội Trong đó, chính sách bảo hiểm xã hội nhằm mục đích bảo vệ cho người lao động ở mọi thành phần kinh tế khi họ gặp phải những rủi ro không may trong quá trình lao động làm cho khả năng lao động của họ bị giảm sút, hay trong trường hợp người lao động già yếu không có khả năng lao động Chính sách cứu trợ xã hội là sự trợ giúp của Nhà nước đối với các thành viên của xã hội khi họ bị rơi vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, khó khăn, hiểm nghèo… nhằm giúp họ tồn tại, ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng

Trang 12

Còn chính sách ưu đãi xã hội như đã phân tích ở trên chính là chính sách ưu đãi người có công Tuy nhiên, khác với các chính sách còn lại trong hệ thống

an sinh xã hội thì chính sách ưu đãi xã hội không chỉ là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước mà nó còn là nghĩa vụ, là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người có công, thể hiện sự biết ơn sâu sắc đến họ Vì thế, chính sách ưu đãi xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội Đó không chỉ là vấn đề truyền thống, đạo lý mà còn là vấn đề chính trị, giáo dục, là vấn đề kinh tế, xã hội có ý nghĩa lâu dài

Để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, Nhà nước đặt ra pháp luật, quy định những quy tắc xử sự chung nhất cho các mối quan hệ xã hội và đảm bảo việc thực thi bằng những biện pháp thuyết phục, cưỡng chế của mình "Pháp luật là

hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội" [22, tr 226]

Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có công, các quyền ưu đãi của người có công

và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó Pháp luật

ưu đãi người có công quy định những nguyên tắc, cách thức, phương pháp thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có công; quy định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện ưu đãi đối với người có công; điều chỉnh tất cả các hoạt động ưu đãi đối với người có công nhằm mục đích đảm bảo thực hiện một cách tốt nhất, hữu hiệu nhất các chế độ, ưu đãi đối với đối tượng đặc biệt này

Từ những phân tích trên có thể rút ra kết luận, pháp luật ưu đãi xã hội

(ưu đãi người có công) là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban

hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Trang 13

của pháp luật Pháp luật ưu đãi xã hội là công cụ quản lý hữu hiệu mọi mặt đời sống, tinh thần của người có công, giúp phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội và góp phần làm cho xã hội phát triển bền vững

1.1.2 Đối tượng và phương pháp điều chỉnh của pháp luật ưu đãi

xã hội

Đối tượng điều chỉnh của một ngành luật là những quan hệ xã hội mà ngành luật đó hướng tới, là những tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt giữa các ngành luật với nhau

Luật ưu đãi xã hội điều chỉnh những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có công Đó là quan hệ giữa hai bên Nhà nước

và người có công cùng với gia đình của họ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như quan hệ về trợ cấp, ưu đãi, quan hệ về việc làm, quan

hệ về chăm sóc y tế… Với đặc điểm này, pháp luật ưu đãi xã hội đã trở thành một nét đặc thù trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam

Đối tượng điều chỉnh là tiêu chuẩn chủ yếu để phân biệt các ngành luật với nhau nhưng có nhiều trường hợp còn cần đến một căn cứ khác là phương pháp điều chỉnh để phân định rõ ràng sự khác nhau đó Phương pháp điều chỉnh, nhìn chung được hiểu là cách thức mà Nhà nước sử dụng để tác động vào các quan hệ xã hội thuộc đối tượng điều chỉnh của ngành luật ấy Đối với mỗi ngành luật, dựa trên những quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh thì phương pháp điều chỉnh cũng khác nhau, việc sử dụng phương pháp nào đều

đã được tính toán sao cho phù hợp và đem lại hiệu quả tốt nhất

Phương pháp điều chỉnh của pháp luật ưu đãi xã hội chủ yếu là những phương pháp mệnh lệnh - quyền uy (hay còn gọi là quyền uy - phục tùng), đó

là những quy định về đối tượng được trợ cấp, mức trợ cấp, thủ tục xác nhận là đối tượng được hưởng trợ cấp… Tuy nhiên, trong quan hệ ưu đãi xã hội

Trang 14

phương pháp mệnh lệnh - quyền uy này không giống như trong pháp luật hành chính Trong pháp luật hành chính, đó là sự bắt buộc của một bên là Nhà nước đối với bên kia là các cơ quan, tổ chức hay cá nhân, những người có nghĩa vụ phải phục tùng các mệnh lệnh đó, là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới Quyền uy - phục tùng trong pháp luật ưu đãi xã hội mang tính chất

"mềm" hơn nhiều Thực hiện việc ưu đãi xã hội, trước hết đó là trách nhiệm của Nhà nước, trách nhiệm "đền ơn, đáp nghĩa"; ưu đãi xã hội là sự "ưu đãi",

"trợ giúp" cho những đối tượng đặc biệt Bởi vậy, để thực hiện được những chính sách ưu đãi đối với người có công, Nhà nước với chức năng của mình, đưa chính sách thành pháp luật, thành các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia các quan hệ ưu đãi xã hội và đảm bảo thực hiện chúng, để cho những người có công có được sự đền đáp xứng đáng, thể hiện sự biết ơn của Nhà nước, thể hiện tình cảm, trách nhiệm của toàn xã hội đối với họ

Ngoài phương pháp điều chỉnh chủ yếu trên, qua các quan hệ pháp luật ưu đãi xã hội còn có thể thấy được sự điều chỉnh của phương pháp tùy nghi Những người có công đối với đất nước, họ đã hy sinh, cống hiến cho cả đất nước, cho cả dân tộc, cho toàn xã hội, vì thế mà việc thực hiện ưu đãi xã hội không phải chỉ là trách nhiệm của riêng Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội Cộng đồng, xã hội cần phải cùng với Nhà nước thực hiện công tác ưu đãi đối với người có công Phương pháp tùy nghi này có thể nhận thấy thông qua các quy định về việc Nhà nước khuyến khích các cá nhân, tổ chức, cộng đồng xây dựng nhà tình nghĩa, nhận phụng dưỡng các Bà mẹ Việt Nam anh hùng, lập quỹ "đền ơn đáp nghĩa"…

1.2 CÁC NGUYÊN TẮC CỦA PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI

Nguyên tắc cơ bản của một ngành luật chính là những tư tưởng, quan điểm chủ đạo điều chỉnh, chi phối đến toàn bộ ngành luật đó Các nguyên tắc

cơ bản của luật ưu đãi xã hội cũng vậy, đó là những tư tưởng chủ đạo điều

Trang 15

chỉnh, chi phối toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp luật ưu đãi xã hội Nội dung của các nguyên tắc này được thể hiện qua các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Qua tìm hiểu có thể nhận thấy có bốn nguyên tắc cơ bản điều chỉnh xuyên suốt và toàn bộ hệ thống pháp luật ưu đãi xã hội của nước ta

Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý vấn đề ưu đãi xã hội

Như đã nói ở trên, đối tượng được hưởng ưu đãi xã hội là những người có công, họ là những người đã cống hiến, hy sinh để bảo vệ Tổ quốc,

để góp phần phát triển đất nước Họ là những người anh hùng đối với đất nước nhưng cũng chính là những người phải chịu "thiệt thòi" khi sức khỏe bị suy giảm, bị thương tật, tuổi già, hoàn cảnh gia đình khó khăn… Vì thế, Nhà nước với tư cách là người quản lý xã hội, là người đại diện cho toàn thể nhân dân, là người có trách nhiệm trước hết trong việc xây dựng và triển khai thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội Nhà nước, thông qua các cơ quan chức năng của mình xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn

đề về ưu đãi xã hội như đối tượng được hưởng ưu đãi, chế độ cụ thể đối với từng đối tượng, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật ưu đãi xã hội… Trên cơ sở các văn bản pháp luật được ban hành, Nhà nước giao cho các ngành, các cấp, các địa phương triển khai thực hiện các quy định của pháp luật ưu đãi xã hội, đưa pháp luật ưu đãi xã hội vào cuộc sống

Với trách nhiệm là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước mà cụ thể là các

cơ quan chức năng từ Trung ương đến địa phương, với nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải đóng vai trò là người lãnh đạo, phát động các phong trào như

"đền ơn đáp nghĩa", "đi tìm địa chỉ đỏ"… để huy động tối đa sự tham gia, ủng

hộ của toàn thể nhân dân vào việc thực hiện các chính sách ưu đãi xã hội một cách hiệu quả nhất, để cho pháp luật ưu đãi xã hội được thực thi trong cuộc

Trang 16

sống Thông qua các ngành, các cấp, các đoàn thể, Nhà nước hàng năm phải đánh giá, tổng kết quá trình thực hiện chính sách ưu đãi xã hội, từ đó rút ra những kinh nghiệm và đưa ra những sửa đổi, bổ sung để pháp luật ưu đãi xã hội hoàn chỉnh hơn, phù hợp hơn

Thứ hai, nguyên tắc công bằng, công khai

Nguyên tắc công bằng được thể hiện ở sự bình đẳng giữa cùng đối tượng phải được hưởng cùng một loại chế độ ưu đãi như nhau Những người chịu sự mất mát, hy sinh, cống hiến như nhau phải được hưởng sự ưu đãi như nhau Những người có công phải được tạo điều kiện, tạo cơ hội như nhau để hòa nhập với cộng đồng, phải được Nhà nước, xã hội ưu tiên như nhau bất kể

là nam hay nữ, giàu hay nghèo, dân tộc ở vùng miền nào "Sự bình đẳng ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn, không chỉ đơn thuần là sự bình đẳng giữa những người có công với nhau mà còn là sự bình đẳng giữa những người có công với các thành viên khác của cộng đồng" [31, tr 277]

Một trong những mục đích của chế độ ưu đãi xã hội là ổn định đời sống cho người có công, đảm bảo mức sống cho các đối tượng này ít nhất bằng mức sống trung bình của cộng đồng dân cư nơi họ sinh sống Chế độ ưu đãi cũng cần được thiết kế một cách hợp lý Các chế độ, mức ưu đãi nhìn chung phải đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần của người có công, tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập vào cộng đồng, tự lập trong cuộc sống Mức ưu đãi phải đảm bảo mức sống tối thiểu cho họ nhưng nói chung mức ưu đãi không quá cao so với các đối tượng khác trong xã hội, nếu không sẽ dễ tạo nên sự thiếu công bằng, phân biệt đối xử giữa các thành viên trong xã hội

Chính sách ưu đãi xã hội mang tính nhân văn sâu sắc Thực hiện tốt chính sách ưu đãi xã hội sẽ giúp cho đất nước, cho dân tộc sự phát triển bền vững Để đảm bảo cho nguyên tắc công bằng, để cho pháp luật ưu đãi xã hội được thực thi một cách hiệu quả nhất thì việc giám sát của người dân nói

Trang 17

chung và của chính đối tượng được hưởng ưu đãi là rất cần thiết Vì vậy, những chính sách, những chế độ ưu đãi, mức ưu đãi, quy trình thực hiện, cơ quan thực thi… cần phải được công khai cho toàn dân được biết để đảm bảo cho việc triển khai pháp luật ưu đãi xã hội (hay chính sách ưu đãi xã hội) được công bằng, minh bạch và hiệu quả Việc công khai các vấn đề liên quan đến chế độ ưu đãi xã hội còn giúp cho thế hệ trẻ hiểu hơn về những cống hiến,

sự hy sinh, lòng dũng cảm của thế hệ đi trước từ đó ý thức hơn về trách nhiệm của mình đối với xã hội, với Tổ quốc, sẵn sàng cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp của dân tộc, của đất nước

Thứ ba, nguyên tắc kết hợp hài hòa giữa chính sách kinh tế và mức

ưu đãi

Nguồn vốn để thực hiện chính sách ưu đãi xã hội được dựa chủ yếu vào nguồn ngân sách Nhà nước Do vậy, khi đưa ra mức ưu đãi đối với các đối tượng cần tính toán đến khả năng đáp ứng của nền kinh tế Để cho những chế độ ưu đãi được khả thi thì nên tránh đặt ra những mức trợ cấp, những khoản ưu đãi vượt quá khả năng của nền kinh tế Ngoài việc thể hiện sự biết

ơn đối với những cống hiến của người có công, ưu đãi xã hội còn nhằm mục đích đảm bảo, cải thiện đời sống cho người có công, hỗ trợ phần nào cuộc sống vật chất, tinh thần của họ Vì thế, pháp luật ưu đãi xã hội không được đặt

ra những chế độ trợ cấp thấp hơn mức thu nhập trung bình của cộng đồng

Tùy từng thời kỳ, tùy thuộc vào mức độ phát triển của nền kinh tế mà

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải xây dựng, sửa đổi và bổ sung mức trợ cấp, các chế độ ưu đãi sao cho phù hợp với sự phát triển, với thu nhập của cộng đồng dân cư, với chỉ số giá tiêu dùng trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng đi lên thì đời sống vật chất cũng như tinh thần của những người có công càng được quan tâm và mức trợ cấp sẽ ngày một tăng lên để phù hợp hơn với nhu cầu ngày càng cao của con người

Trang 18

Ở mỗi địa phương, tùy tình hình phát triển kinh tế - xã hội của mình

mà địa phương đó sẽ có những chính sách khác nhau ngoài những chính sách chung do Nhà nước đặt ra để cải thiện hơn nữa đời sống vật chất cũng như tinh thần của người có công, nhưng những cải thiện đó đều phải trên nguyên tắc đảm bảo cho người có công có được mức sống trung bình hoặc trên trung bình so với dân cư nơi cư trú, nhằm ổn định cuộc sống lâu dài cho họ và giúp

họ có điều kiện để tham gia các hoạt động ích cho xã hội, tái hòa nhập với cộng đồng, tham gia sản xuất, kinh doanh để cải thiện, nâng cao chất lượng

cuộc sống của mình cũng như góp phần vào sự phát triển chung của đất nước

Thứ tư, xã hội hóa công tác ưu đãi xã hội

Người có công là những người đã tình nguyện hy sinh tuổi trẻ, sức lực

và cả tính mạng mình; có những cống hiến lớn lao cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước Những đóng góp của họ đã đem lại sự hòa bình, cuộc sống ấm no, hạnh phúc, những giá trị tinh thần vô giá Vì thế, chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của người có công không chỉ là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn dân, toàn xã hội, của

cả cộng đồng Đây là một nguồn lực rất lớn để giúp thực hiện tốt nhất những chính sách ưu đãi đối với người có công mà Nhà nước đặt ra, chủ thể này cũng sẽ là một nhân tố quan trọng cùng với Nhà nước giải quyết những yêu cầu bức xúc của những người có công Thực hiện chính sách ưu đãi người có công không chỉ thể hiện trách nhiệm mà đó còn là tình cảm, là sự biết ơn của cộng đồng đối với những cống hiến của họ, là sự thể hiện truyền thống đạo đức tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta, truyền thống "ăn quả nhớ kẻ trồng cây", truyền thống "uống nước nhớ nguồn"

Số lượng người có công mà chủ yếu là người có công với cách mạng ở nước ta là rất lớn Nền kinh tế xã hội của nước ta đang trên đà phát triển; đời sống, nhu cầu của người dân ngày càng tăng cao; chi phí xã hội theo đó cũng

Trang 19

gia tăng không ngừng Điều này đòi hỏi những chế độ, ưu đãi trong pháp luật

ưu đãi xã hội cũng phải tăng lên Thế nhưng, điều kiện kinh tế hay nói chính xác hơn là ngân sách nhà nước không đủ khả năng đáp ứng để đảm bảo cho các đối tượng ưu đãi có được cuộc sống ổn định Vì vậy, sự trợ giúp của cộng đồng hay việc xã hội hóa công tác ưu đãi xã hội là rất cần thiết

Trong việc thực hiện xã hội hóa công tác ưu đãi xã hội thì Nhà nước phải đóng vai trò là người lãnh đạo, chỉ đạo, và cùng với các tổ chức, đoàn thể, các thành viên trong xã hội thực hiện chính sách ưu đãi xã hội Nhà nước phát động, định hướng cho các hoạt động, phong trào, chương trình hỗ trợ, chăm sóc người có công

Thực tiễn cho thấy, các cơ quan, đơn vị, tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư đã có những đóng góp rất lớn và thiết thực cho công tác ưu đãi xã hội thông qua các hoạt động, phong trào như: "đền ơn đáp nghĩa", "đi tìm đồng đội", "tặng nhà tình nghĩa", "nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng"…

1.3 VAI TRÒ, Ý NGHĨA CỦA PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI

Như đã nói ở trên, ưu đãi xã hội là một phần quan trọng và đặc biệt trong hệ thống an sinh xã hội Việt Nam Pháp luật ưu đãi xã hội được ban hành nhằm bảo vệ một số đối tượng đặc biệt đã đóng góp xương máu, tuổi trẻ, công sức, trí tuệ vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa những chính sách ưu đãi đối với người có công của Nhà nước trong đời sống xã hội Chính sách người có công là một chính sách lớn trong hệ thống các chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước ta Nó mang tính chính trị, kinh tế, xã hội và nhân văn sâu sắc

Những người có công là một bộ phận đặc biệt của xã hội Họ là những người đã cống hiến cả cuộc đời hay hy sinh cả tính mạng, thân thể

Trang 20

mình cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Họ là những người đã đem lại hòa bình, tự do cho đất nước, đã có những đóng góp lớn lao vào sự phát triển vững mạnh của đất nước, sự bình an, cuộc sống của dân tộc Để thực hiện được điều đó, họ phải có niềm tin, lòng yêu nước mãnh liệt và quyết tâm xây dựng đất nước bền vững Vì thế, họ rất cần sự quan tâm, động viên, công nhận và trân trọng của Nhà nước, nhân dân tạo cho họ động lực để tiếp cống hiến Những chế độ, ưu đãi mà Nhà nước giành cho họ không chỉ là những sự hỗ trợ về vật chất, tinh thần mà nó còn tạo cho họ niềm tin vào một chế độ xã hội tốt đẹp, là động lực giúp họ tiếp tục phấn đấu; khuyến khích những thành viên khác trong xã hội cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước

Hiện nay, chúng ta đang ở thời bình, là thời kỳ xây dựng và phát triển đất nước nhưng những thế lực thù địch vẫn không ngừng chống phá ta bằng các thủ đoạn khác nhau Cùng với những mặt trái của nền cơ chế thị trường đặt đất nước chúng ta trước rất nhiều khó khăn Trước những biến đổi, khó khăn ấy, pháp luật ưu đãi xã hội càng có ý nghĩa lớn lao Thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội là việc làm có ý nghĩa quan trọng, nó không chỉ giúp ổn định cuộc sống của những người có công mà còn góp phần vào sự ổn định và phát triển của xã hội, của đất nước

Phần lớn những người có công là những người đang phải chịu đựng những hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, nhiều người có công đang gặp không ít khó khăn trong đời sống hằng ngày vì thương tật, vì tuổi già, vì thiếu vốn làm ăn… Vì vậy, chính sách ưu đãi người có công không chỉ mang ý nghĩa chính trị mà còn mang tính kinh tế Những chế độ trợ cấp của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng, nó đảm bảo và nâng cao đời sống cho những người có công; đối với một số đối tượng đặc biệt như không còn khả năng lao động, không còn nơi nương tựa, già yếu… thì đây còn là nguồn thu nhập của họ để ổn định đời

Trang 21

có công cách mạng làm ăn kinh tế giỏi, góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước, là những người "tàn nhưng không phế" Những chính sách phù hợp, hợp lý sẽ là động lực để những người có công trở thành một nguồn lực trong

sự phát triển kinh tế và khuyến khích những người khác phấn đấu cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Thực hiện chính sách ưu đãi người có công là sự thể hiện những truyền thống đạo đức tốt đẹp, quý báu của dân tộc ta, là thể hiện sự biết ơn đối với những mất mát, hy sinh, cống hiến của họ Chính sách ưu đãi đối với người có công hay là pháp luật ưu đãi xã hội thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cộng đồng đối với những người có công chứ không phải sự ban ơn, sự làm phúc cho họ Những quy định về mức trợ cấp, ưu đãi

về học tập, việc làm, nhà ở, chăm sóc sức khỏe… đã thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và xã hội đến mọi mặt đời sống của bộ phận dân cư đặc biệt này Chế độ ưu đãi xã hội phải đảm bảo đời sống vật chất đối với người

có công trong những sinh hoạt thiết yếu hàng ngày, nhất là đối với những đối tượng có công lao, thành tích lớn; bệnh tật, thương tật nặng, giúp cho họ vượt qua những mặc cảm, tự ti về tuổi tác, sức khỏe… để họ tái hòa nhập vào cộng đồng, phấn đấu vươn lên, khẳng định mình trong thời kỳ hội nhập và phát triển của đất nước

Những đóng góp, cống hiến, hy sinh của người có công là những điều

vô giá, không chỉ có giá trị ở quá khứ, hiện tại mà còn có giá trị lớn lao cho

Trang 22

tương lai Họ luôn là tấm gương cho các thế hệ con cháu mai sau học tập và phấn đấu Vì thế, thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội còn có tác dụng giáo dục cho thế hệ trẻ truyền thống cách mạng anh hùng, bất khuất của thế hệ đi trước, động viên thế hệ trẻ giữ vững truyền thống đó và tiếp bước cha anh giữ gìn, bảo vệ và xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh

Bên cạnh đó, thực hiện tốt pháp luật ưu đãi xã hội cũng góp phần tạo

ra môi trường xã hội lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi thành viên của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ

Như đã nói ở trên, pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa những chính sách ưu đãi đối với người có công của Đảng, Nhà nước ta, là sự đảm bảo cho những ưu tiên, ưu đãi cho người có công được thực hiện hay nói cách khác là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho những quyền được hưởng ưu đãi của người có công Việc đưa những chính sách ưu đãi thành pháp luật đã khẳng định rõ việc thực hiện ưu đãi xã hội là trách nhiệm của Nhà nước, của các ngành, các cấp có liên quan và việc hưởng những trợ cấp, ưu đãi đó chính là quyền của những người có công Do đó, khi nhận những ưu đãi này họ sẽ không bị tâm lý là kẻ được ban ơn mà tự hào về những cống hiến, hy sinh, đóng góp của mình để có được quyền hưởng những ưu đãi ấy

1.4 LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT ƢU ĐÃI XÃ HỘI (TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1945 ĐẾN NAY)

Có thể nói, trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, trải qua nhiều triều đại, nhiều chế độ khác nhau nhưng ở thời kỳ nào, giai đoạn nào, chế độ nào thì những người có công với đất nước đặc biệt là những người có công trong

sự nghiệp chống giặc ngoại xâm, giành độc lập tự do cho đất nước đều được ghi nhận, suy tôn và Nhà nước đều có những chính sách, những ưu đãi đối với

họ Ở mỗi thời kỳ khác nhau do quan điểm, chế độ chính trị, sự phát triển của

Trang 23

nền kinh tế, xã hội… mà quan niệm về đối tượng được công nhận là người có công cũng khác nhau, những ưu đãi, trợ cấp đối với họ cũng khác nhau, nó phản ánh bản chất của từng chế độ xã hội, từng thời kỳ Nhưng nhìn chung, những người có công là những người đã hy sinh, cống hiến hết sức mình, có những đóng góp lớn lao để bảo vệ, xây dựng, giữ vững đất nước, đem lại hòa bình, độc lập, vẻ vang cho đất nước và họ được Nhà nước công nhận, xã hội suy tôn và thể hiện lòng biết ơn bằng những ưu tiên, ưu đãi trong mọi mặt của đời sống, cả về vật chất lẫn tinh thần

1.4.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8-1945 đến năm 1954

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong công cuộc giành, giữ chính quyền, kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng Đảng và Nhà nước vẫn quan tâm đến những người có công mà cụ thể là những người có công với cách mạng, với sự nghiệp giành độc lập tự do cho Tổ quốc

Ngày 16/02/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL (sau

đó được sửa đổi, bổ sung bằng Sắc lệnh 242/SL ngày 12/10/1948) về "Hưu bổng thương tật và tiền tuất cho thân nhân tử sĩ", quy định về tiêu chuẩn xác nhận thương binh, truy tặng tử sĩ, thực hiện chế độ lương hưu thương tật đối với thương binh, chế độ tiền tuất đối với gia đình tử sĩ Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về những ưu đãi đối với người có công với cách mạng Sau đó, Đảng, Nhà nước ta còn ban hành nhiều chính sách, văn bản có liên quan quy định những vấn đề về thương binh, tử sĩ… và những ưu đãi dành cho họ Đồng thời, Đảng, Nhà nước cũng khuyến khích, động viên toàn dân dấy lên phong trào giúp đỡ, chăm sóc những đối tượng này như phong trào đón thương binh về làng, giúp binh sĩ tử nạn, lập quỹ tình nghĩa…

Trang 24

Trong giai đoạn này, Nhà nước đã ban hành một số Sắc lệnh, Nghị định, Thông tư, Thông lệnh quy định về một số vấn đề như:

- Khái niệm thương binh, tử sĩ;

- Trợ cấp hàng tháng đối với thương binh, thân nhân tử sĩ;

- Trợ cấp tạm thời, trợ cấp đặc biệt đối với những trường hợp chưa được hưởng trợ cấp hàng tháng mà hoàn cảnh khó khăn;

- Sắp xếp việc làm, ưu tiên chia cấp ruộng đất, miễn giảm thuế nông nghiệp, miễn đi dân công;

- Lập hồ sơ thương binh, tử sĩ và thân nhân tử sĩ;

- Gia đình tử sĩ được tặng bằng Tổ quốc ghi công, thương binh được tặng Huy hiệu thương binh do Bộ Thương binh - Cựu binh và Bộ Quốc phòng cấp;

- Tổ chức bộ máy Bộ Thương binh - Cựu binh Ở mỗi khu kháng chiến thành lập một Sở Thương binh - Cựu binh, mỗi tỉnh hoặc liên tỉnh thành lập một Ty Thương binh - Cựu binh [24, tr 46-47]

Đặc biệt, theo Nghị định số 51/TB-NĐ ngày 27/7/1949 và Nghị định 367/TB-NĐ ngày 30/8/1950 thì Nhà nước sẽ tổ chức các trại an dưỡng để thu nhận và chăm sóc thương binh, bệnh binh

Tóm lại, trong giai đoạn này, khi đất nước phải đối mặt với rất nhiều khó khăn trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn quan tâm đến những người có công với cách mạng thông qua những chính sách, những văn bản pháp luật quy định về những ưu đãi đối với họ Những chính sách, văn bản này tuy còn sơ sài, đơn giản nhưng nhìn chung đã giải quyết được những yêu cầu cấp bách của việc cần phải có

sự quan tâm, ưu đãi đối với nhưng người có công với cách mạng "Thực hiện

Trang 25

chế độ ưu đãi đối với người có công ở giai đoạn này chủ yếu là phát huy truyền thống dân tộc, của các cộng đồng dân cư; việc chăm sóc thương binh, gia đình liệt sĩ chủ yếu dựa vào nguồn lực địa phương và tình cảm, sự quan tâm của nhân dân" [31, tr 282]

"Với 184 văn bản pháp luật về người có công được ban hành giai đoạn

1954 - 1975 có thể nói rằng chế độ ưu đãi thương binh, gia đình liệt sĩ đã có điều kiện thực hiện trên nhiều lĩnh vực và ngày càng phát triển" [24, tr 49]

Có thể liệt kê một số điểm quan trọng của các văn bản được ban hành trong giai đoạn này như sau:

- Thông qua bản Điều lệ ưu đãi thương binh, dân quân, du kích, thanh niên xung phong bị thương tật; Điều lệ ưu đãi bệnh binh; Điều lệ ưu đãi gia đình liệt sĩ ban hành kèm theo Nghị định 980/TTg ngày 27/7/1950 của Thủ tướng Chính phủ và một số văn bản khác

Có thể thấy, do điều kiện đã thay đổi, khả năng kinh tế cho phép nên những đối tượng được hưởng trợ cấp thương tật đã được mở rộng đến những đối tượng như dân quân, du kích, thanh niên xung phong

- Tuy nhiên, những văn bản trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1964) đã bộc lộ một số điềm bất hợp lý như: đối với thương binh thì mức khởi điểm để hưởng trợ cấp thương tật còn thấp, khoảng

Trang 26

cách giữa các hạng thương tật còn quá chênh lệch; đối với gia đình liệt sĩ thì không có trợ cấp hàng tháng [31, tr 283]

- Ngày 30/10/1964 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 161/CP kèm theo bản Điều lệ tạm thời về chế độ đãi ngộ đối với quân nhân, thanh niên xung phong, dân quân du kích đã khắc phục được phần nào nhưng bất cập nêu trên như quy định về chế độ tiền tuất một lần và trợ cấp hàng tháng đối với liệt sĩ; quy định chế độ thương tật mới gồm 8 hạng, tăng mức độ khởi điểm hưởng trợ cấp thương tật là 21%; các quy định ưu đãi về giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế… được duy trì và bổ sung

- Bên cạnh đó, chế độ ưu đãi đã mở rộng ra thêm một số đối tượng và chế độ mới như những quy định về chế độ đối với dân công thời chiến; chế độ đối với lực lượng vận tải nhân dân; chế độ đối với công nhân, viên chức, cán

bộ giữ chức vụ chủ chốt của xã, dân công phục vụ các chiến trường quan trọng; chế độ đối với cán bộ y tế làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không…

- Những quy định về việc các cơ quan, xí nghiệp phải nhận thương binh vào làm việc với tỷ lệ 5% biên chế (Thông tư 51/TTg-NC ngày 17/5/1965); quy định về cung cấp các bộ phận, phương tiện giả (chân giả, tay giả…) giúp thương binh hòa nhập với cuộc sống; quy định về việc khám chữa bệnh, miễn giảm tàu xe… đã thể hiện trách nhiệm, sự quan tâm của Nhà nước đến mọi mặt đời sống của người có công

Tuy nhiên, cũng cần phải thấy một số hạn chế như việc quy định các

cơ quan, xí nghiệp phải tiếp nhận 5% biên chế là thương binh nhưng lại thiếu các biện pháp đảm bảo việc này được thực hiện; quy định về việc miễn giảm

vé tàu xe thì chưa rõ ràng gây nên sự lộn xộn, thiếu công bằng

Song song với việc ban hành, hoàn thiện những văn bản pháp luật đối với người có công với cách mạng Đảng, Nhà nước cũng tiếp tục phát động

Trang 27

phong trào toàn dân chăm sóc, giúp đỡ người có công với cách mạng, gia đình cách mạng

Qua những phân tích trên có thể thấy, pháp luật ưu đãi người có công hay nói chính xác là pháp luật ưu đãi người có công với cách mạng trong giai đoạn này khá toàn diện, các chế độ ưu đãi, đối tượng được hưởng ưu đãi khá

đa dạng và đầy đủ Điều này đã góp phần rất lớn trong việc khích lệ mọi người, mọi tầng lớp tham gia chiến đấu, cống hiến sức lực, của cải, trí tuệ cho công cuộc kháng chiến chống Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, giành độc lập tự do cho đất nước

1.4.3 Giai đoạn từ 1975 đến 1985

Trong giai đoạn này, cả nước bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nền kinh tế còn lạc hậu, với những hậu quả vô cùng nặng nề của 30 năm chiến tranh Trong tình hình mới, pháp luật nói chung và pháp luật ưu đãi người có công nói riêng đã có những thay đổi cho phù hợp hơn với tình hình kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước

Nhìn chung, pháp luật ưu đãi người có công trong giai đoạn này chủ yếu tập trung vào việc giải quyết những tồn đọng sau chiến tranh (Chỉ thị số 223/CT-TƯ ngày 08/7/1975 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xác định yêu cầu, nhiệm vụ của công tác thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh Nghị định số 08/NĐ-76 ngày 17/6/1976 của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định về đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận và giải quyết chế độ đối với những người đã bị thương, hy sinh trong suốt hai thời kỳ kháng chiến ở miền Nam); bổ sung thêm nhiều quy định về tiêu chuẩn đối với thương binh, liệt sĩ (Quyết định số 301/CP ngày 20/9/1980 về việc bổ sung đối tượng, tiêu chuẩn xác nhận thương binh, bệnh binh, liệt sĩ trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế); bổ sung thêm nhiều đối tượng vào đối tượng được hưởng ưu đãi như người có công giúp đỡ cách

Trang 28

mạng, bệnh binh, cán bộ hoạt động cách mạng (Quyết định số 208/CP ngày 20/7/1977, Quyết định số 78/CP ngày 13/4/1978)

Đáng chú ý trong giai đoạn này, ngày 18/9/1985, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 236/HĐBT về việc bổ sung, sửa đổi chế độ ưu đãi đối với người có công Nghị định này phần nào đã xóa bỏ được những bất cập trước đây, thống nhất được một số chế độ trợ cấp, phụ cấp ưu đãi, đã có sự cân đối giữa chế độ trợ cấp, ưu đãi với chế độ tiền lương của công nhân viên chức

Giai đoạn này do tình hình đất nước còn nhiều phức tạp, khó khăn nên chính sách ưu đãi chỉ mới giải quyết được phần nào khó khăn trước mắt, những giải pháp tình thế để ổn định đời sống của người có công

1.4.4 Giai đoạn từ 1986 đến 1994

Hòa bình, thống nhất đã được 10 năm, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều sai phạm, không phù hợp, đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng Việc đổi mới, mở cửa trở nên cấp thiết

Đây là giai đoạn nước ta chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý, định hướng của Nhà nước Cùng với sự chuyển đổi này, việc điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội cũng được thay đổi cho phù hợp với cơ chế mới Pháp luật ưu đãi người có công theo đó cũng được thay đổi, bổ sung cho hợp lý hơn (Quyết định số 79/HĐBT ngày 05/7/1989, Quyết định số 8/HĐBT ngày 05/01/1990, Nghị định số 27/CP ngày 23/5/1993…)

Do đặc điểm của thời kỳ quá độ, nền kinh tế xã hội nước ta đang có nhiều biến đổi mạnh mẽ, gây nên những sự xáo trộn trong xã hội, đời sống của nhân dân và của người có công gặp không ít khó khăn Những quy định

về ưu đãi đối với người có công cũng chỉ mang tính chắp vá, giải quyết những

Trang 29

vấn đề trước mắt, từng bước khắc phục những điểm bất hợp lý của pháp luật

ưu đãi người có công

Những năm cuối của giai đoạn này, đất nước đã dần ổn định, nền kinh

tế đã có sự phát triển, những mâu thuẫn xã hội của nền kinh tế thị trường trở nên mạnh mẽ, đòi hỏi Nhà nước phải có sự quan tâm hơn nữa đến chính sách người có công Nổi bật nhất là vào ngày 29/8/1994 Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành 02 văn bản rất quan trọng đối với chính sách người có công,

đó là Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng; và Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" Tiếp theo đó Nhà nước đã ban hành một số Nghị định, Thông tư… để hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh trên cũng như hoàn thiện hơn những quy định về ưu đãi người có công Hai quy định này đã đánh dấu cho

sự phát triển, tiến bộ của pháp luật ưu đãi người có công trong hệ thống các chính sách, pháp luật

1.4.5 Giai đoạn từ 1995 đến nay

Từ năm 1995 đến nay, công cuộc đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu Tuy còn nhiều khó khăn nhưng nhìn chung đất nước ta đang phát triển nhanh chóng về mọi mặt Đảng, Nhà nước đã có sự quan tâm sâu sắc đến mọi mặt đời sống của nhân dân, hệ thống chính sách, pháp luật đang ngày dần hoàn thiện Chính sách mở cửa, hội nhập đã đem lại nhiều lợi ích, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao; chế độ, chính sách đối với người có công theo đó cũng được hoàn thiện hơn

Cho đến nay, hàng ngàn văn bản đã được ban hành, những sửa đổi, bổ sung, quy định mới đã dần đi vào cuộc sống hơn, thiết thực hơn, trợ giúp được nhiều hơn cho những người có công

Trang 30

Trong giai đoạn này có một số điểm nổi bật, đánh dấu sự phát triển của pháp luật ưu đãi người có công Ngày 29/6/2005 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng (thay thế cho Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 1994 - được sửa đổi năm 2000 và 2002), Pháp lệnh mới này đã mở rộng thêm các đối tượng được hưởng ưu đãi (từ 7 lên đến 11 nhóm với 17 đối tượng, không chỉ bao gồm những người có công với cách mạng mà còn bao gồm cả thân nhân của họ); ngày 26/5/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng; mức trợ cấp không ngừng được tăng lên để phù hợp hơn với tốc độ tăng trưởng của xã hội (Nghị định số 07/2008/NĐ-CP ngày 21/01/2008 quy định mức trợ cấp, phụ cấp chuẩn là 564.000đ ; ngày 23/04/2009 mức trợ cấp được nâng lên 685.000đ là theo quy định tại Nghị định 38/2009/NĐ-CP); bổ sung nhiều quy định mới như hỗ trợ thân nhân liệt sĩ trong di chuyển hài cốt liệt sĩ (Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 29/01/2008), hỗ trợ thân nhân liệt sĩ khi đi thăm viếng mộ liệt sĩ (Thông tư liên tịch số 01/2008 ngày 29/01/2008)… Pháp luật ưu đãi xã hội ngoài ra còn được quy định trong một số pháp luật có liên quan như pháp luật về đất đai, nhà ở, thuế, giáo dục đào tạo

So với những giai đoạn trước đây, pháp luật ưu đãi xã hội đã có sự phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Các đối tượng được hưởng ưu đãi đã được mở rộng, mức trợ cấp được nâng cao, các chế độ ưu đãi cũng được hoàn thiện hơn, được thực hiện trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm đảm bảo không chỉ đời sống vật chất mà còn cả tinh thần cho người

có công

Bên cạnh hệ thống chính sách của Nhà nước, các phong trào như "Đền

ơn, đáp nghĩa", "Phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng", "Chăm sóc

Trang 31

thương binh, gia đình liệt sĩ" đã được phát động mạnh mẽ trong toàn dân và các tổ chức xã hội Qua các phong trào này đã huy động được một nguồn lực rất lớn để trợ giúp cho công tác ưu đãi người có công, tạo ra sự cảm thông, chia sẻ trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội

Tóm lại, dù ở bất kỳ thời kỳ, chế độ nào thì tiêu chí cơ bản để xác định người có công đó là những cống hiến xuất sắc của họ không chỉ trong cuộc đấu tranh bảo vệ, gìn giữ đất nước mà còn cả trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước

Những người có công, không phân biệt giới tính, độ tuổi, tôn giáo… nếu có cống hiến, hy sinh, có công lao to lớn đối với đất nước đều được ghi nhận, tôn vinh và thể hiện sự biết ơn thông qua những chính sách trợ cấp, ưu đãi về vật chất lẫn tinh thần

Pháp luật ưu đãi xã hội là tổng thể những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách đối với người có công trên tất cả các lĩnh vực của đời sống

Pháp luật ưu đãi xã hội không chỉ mang tính chính trị, kinh tế, xã hội

mà còn mang tính nhân văn sâu sắc Nó là sự thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ ngàn đời nay Nó giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức trách nhiệm, lòng dũng cảm và tinh thần phấn đấu rèn luyện không ngừng để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Với chức năng của mình, Nhà nước ban hành pháp luật ưu đãi xã hội

và triển khai thực hiện chúng một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Nhà nước đóng vai trò vừa là người lãnh đạo, thực hiện vừa là người định hướng cho việc triển khai pháp luật, chính sách về ưu đãi xã hội, huy động tối đa nguồn lực từ cộng đồng, xã hội để giúp đảm bảo cho người có công được hưởng những quyền lợi của mình, cải thiện cuộc sống của họ, giúp họ vượt qua khó

Trang 32

khăn vươn lên thành người có ích cho xã hội

Trang 33

Trải qua các cuộc chiến tranh, số lượng người có công là rất lớn, việc xác nhận là người có công để được hưởng ưu đãi cũng là một vấn đề lớn được đặt ra Việc đặt ra những điều kiện, thủ tục xác nhận để được hưởng ưu đãi là cần thiết, tránh sự giả mạo, tránh làm mất đi ý nghĩa lớn lao của chính sách ưu đãi xã hội Thế nhưng, do điều kiện chiến tranh và nhiều nguyên nhân khác

mà một số người có công vẫn chưa được xác nhận để được hưởng ưu đãi, còn nhiều bất cập trong việc xử lý… Những điểm này đã và đang được các cơ quan chức năng khắc phục để đảm bảo công bằng cho những người có công

và mục đích tốt đẹp của chính sách ưu đãi

Pháp luật ưu đãi xã hội ở nước ta được hình thành và phát triển gắn liền với công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Trải qua nhiều giai đoạn phát triển, pháp luật ưu đãi xã hội đã ngày càng hoàn chỉnh hơn, đáp ứng được phần nào thực tiễn và nhu cầu phát triển của xã hội Pháp luật ưu đãi xã hội ở nước ta hiện nay không những được mở rộng về đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi mà còn xây dựng được một hệ thống các chế độ ưu đãi khá toàn diện và đầy đủ, giúp ổn định được đời sống của những người có công, thể hiện rõ trách nhiệm, tình cảm của Nhà nước và xã hội đối với những cống hiến của người có công

Trang 34

2.1 ĐỐI TƯỢNG ĐƯỢC HƯỞNG ƯU ĐÃI XÃ HỘI

Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng năm 2005 quy định có hai nhóm đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi đó là, người có công cách mạng và thân nhân của người có công với cách mạng, trong đó người có công cách mạng bao gồm có 11 đối tượng

2.1.1 Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đã tham gia

tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945

2.1.2 Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945

Là người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một

tổ chức quần chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng 8 năm 1945

2.1.3 Liệt sĩ

Là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo

vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Chiến đấu, tiểu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, lùng bắt gián điệp, biệt kích.Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, bảo đảm giao thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa khi địch bắn phá;

- Trực tiếp đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận có tổ chức với địch;

- Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt

Trang 35

- Được tổ chức phân công đi làm nghĩa vụ quốc tế mà bị chết trong khi thực hiện nhiệm vụ hoặc bị thương, bị bệnh phải đưa về nước điều trị nhưng không cứu chữa được Trường hợp bị chết do tự bản thân gây nên hoặc

vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị hoặc trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị, làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, lao động thì không thuộc diện xem xét xác nhận là liệt sĩ;

- Dũng cảm đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự;

- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

- Do ốm đau, tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ ở vùng rừng núi, hải đảo và nước ngoài;

- Thương binh hoặc người được hưởng chính sách như thương binh bị chết do vết thương tái phát trong các trường hợp sau: suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên chết do vết thương tái phát; suy giảm khả năng lao động

từ 21%-80% chết trong khi đang điều trị vết thương tái phát tại bệnh việc cấp tỉnh trở lên

Thân nhân liệt sĩ là những người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ", bao gồm:

- Cha đẻ, mẹ đẻ của liệt sĩ;

- Vợ hoặc chồng liệt sĩ là người có quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc hôn nhân thực tế được pháp luật công nhận;

- Con liệt sĩ gồm con đẻ, con nuôi hợp pháp và con ngoài giá thú theo quy định của pháp luật;

Trang 36

- Người có công nuôi dưỡng liệt sĩ là người đã thực sự nuôi dưỡng liệt sĩ khi còn dưới 16 tuổi, đối xử như con đẻ, thời gian nuôi từ 10 năm trở lên Trường hợp nuôi liệt sĩ ở thời kỳ sơ sinh hoặc đang bị tai họa lớn trong thời gian từ 05 năm trở lên khi liệt sĩ dưới 16 tuổi cũng được coi là có công nuôi liệt sĩ

2.1.4 Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Theo quy định tại Điều 1 Nghị định 167-CP ngày 20/10/1994 về việc thi hành Pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" thì những Bà mẹ được tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Có 2 con là liệt sĩ và có chồng hoặc bản thân là liệt sĩ;

- Có 2 con mà cả 2 con là liệt sĩ hoặc chỉ có 1 con mà con đó là liệt sĩ;

- Có từ 3 con trở lên là liệt sĩ;

- Có 1 con là liệt sĩ, chồng và bản thân là liệt sĩ

Người con là liệt sĩ bao gồm con đẻ và con nuôi của Bà mẹ được pháp luật thừa nhận, và đã được Chính phủ tặng bằng Tổ quốc ghi công

Bà mẹ có đủ 1 trong 4 trường hợp nêu trên do phải chịu đựng nỗi đau mất con, mất chồng mà bị bệnh tâm thần, vẫn được tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng"

2.1.5 Anh hùng Lực lƣợng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động

Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân là người được Nhà nước tặng hoặc truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân" vì đã có

Trang 37

Anh hùng lao động là người được Nhà nước tuyên dương Anh hùng Lao động vì có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến

2.1.6 Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh

Thương binh được hiểu là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận thương binh" và "Huy hiệu thương binh"

Người được hưởng chính sách như thương binh là người không phải quân nhân, công an nhân dân, bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận người được hưởng chính sách như thương binh"

Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh là người

bị thương do một trong các trường hợp sau:

- Chiến đấu, tiểu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, lùng bắt gián điệp, biệt kích.Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, bảo đảm giao thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa khi địch bắn phá;

- Hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt, tra tấn tù đày vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu tranh hoặc thực hiện chủ trương vượt tù, vượt ngục;

- Được tổ chức phân công đi làm nghĩa vụ quốc tế mà bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ Trường hợp bị thương do tự bản thân gây nên hoặc vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của cơ quan, đơn vị hoặc trong khi học tập, tham quan, du lịch, an dưỡng, chữa bệnh, thăm viếng hữu nghị, làm việc theo hợp đồng kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, lao động thì không

Trang 38

thuộc diện xem xét xác nhận là thương binh;

- Dũng cảm đấu tranh chống lại hoặc ngăn chặn các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội là tội phạm được quy định trong Bộ luật hình sự;

- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng, an ninh; dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân;

- Bị tai nạn khi đang làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ ở vùng rừng núi, hải đảo và nước ngoài

Ngoài ra còn có quy định về thương binh loại B, đó là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên trong khi tập luyện, công tác đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1993

Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh và thương binh loại B theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng năm 1995 được gọi chung là thương binh

2.1.7 Bệnh binh

Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn

vị có thẩm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh" thuộc một trong các

trường hợp sau đây:

- Chiến đấu, tiểu phỉ, trừ gian, trấn áp phản cách mạng, lùng bắt gián điệp, biệt kích Trực tiếp phục vụ chiến đấu: tải đạn, cứu thương, tải thương, bảo đảm giao thông liên lạc, tiếp tế lương thực, thực phẩm, cứu chữa kho hàng, bảo vệ hàng hóa khi địch bắn phá Trong khi làm nhiệm vụ quy tập hài cốt liệt sĩ ở vùng rừng núi, hải đảo và nước ngoài hoặc đã xuất ngũ dưới một năm mà bệnh cũ tái phát phải điều trị tại bệnh viện;

Trang 39

- Hoạt động từ ba năm trở lên ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

- Hoạt động chưa đủ ba năm ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhưng có đủ mười năm trở lên công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân;

- Đã có đủ mười năm công tác trong quân đội nhân dân, công an nhân dân nhưng không có đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng chế độ hưu trí;

- Trong thời gian được tổ chức phân công đi làm nghĩa vụ quốc tế;

- Dũng cảm thực hiện công việc cấp bách, nguy hiểm phục vụ quốc phòng và an ninh;

- Mắc bệnh do một trong các trường hợp nêu trên đã xuất ngũ nhưng chưa đủ ba năm mà bệnh cũ tái phát dẫn đến tâm thần

Bệnh binh là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 41% - 60% đã được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền công nhận trước ngày 31/12/1994

2.1.8 Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học là người được cơ quan có thẩm quyền công nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục

vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học, bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hóa học Bao gồm:

- Cán bộ chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc quân đội nhân dân Việt Nam;

- Cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên thuộc lực lượng Công an nhân dân;

- Cán bộ, công nhân, viên chức trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức

Trang 40

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể chính trị - xã hội khác;

- Thanh niên xung phong tập trung;

- Dân công;

- Công an xã, dân quân du kích, tự vệ, cán bộ thôn, ấp, xã, phường;

Để được hưởng chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, các đối tượng trên cần phải đáp ứng điều kiện sau:

- Đã công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đầu từ tháng 8 năm 1964 đến

30 tháng 4 năm 1975 tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học Bị mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động, sinh con dị dạng, dị tật hoặc vô sinh do hậu quả của chất độc hóa học

- Hoặc trường hợp không có vợ hoặc chồng hoặc đã có con trước khi tham gia kháng chiến mà bị mắc bệnh suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên do hậu quả của chất độc hóa học

Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học nếu được cơ quan có thẩm quyền công nhận thuộc một trong các trường hợp sau thì được hưởng chế độ ưu đãi:

- Người bị dị dạng, dị tật, không tự lực được trong sinh hoạt;

- Người bị dị dạng, dị tật suy giảm khả năng tự lực trong sinh hoạt

2.1.9 Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt

tù, đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch

2.1.10 Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ

Ngày đăng: 18/10/2015, 15:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w