nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam 2.1.1 Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào thị trườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN VĂN HÒA
Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán ở
Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Người hướng dẫn: TS Lê Thị Thu Thủy
Hà nội - 2004
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
11
1.1 Khái quát chung về thị trường chứng khoán 11 1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán 11 1.1.2 Các chủ thể trên thị trường chứng khoán 15 1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán 22 1.2 Vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường
chứng khoán Việt Nam
25
1.2.1 Khái niệm thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường
chứng khoán
25
1.2.2 Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại thị trường chứng
khóan Việt Nam
28
1.2.3 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong
việc thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
31
1.2.4 Những tác động cơ bản đối với nền kinh tế - xã hội do việc
thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 3nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
2.1.1 Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm về quyền và
lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư
vào thị trường chứng khoán Việt Nam
40
2.1.2 Đảm bảo quyền tự chủ vốn, lựa chọn hình thức đầu tư phù
hợp khi đầu tư tại thị trường chứng khoán
43
2.2 Các hình thức đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài tại thị
trường chứng khoán Việt Nam
44
2.2.2 Thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán liên doanh 47 2.3 Các quy định về ưu đãi thuế quan đối với nhà đầu tư nước
ngoài khi đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam
68
2.3.1 Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp 69 2.3.2 Nhà đầu tư nước ngoài được phép chuyển lợi nhuận,
chuyển vốn đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại thị trường
chứng khoán Việt Nam
72
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THU
HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
3.2.1 Về việc ban hành luật chứng khoán
3.2.2 Điều chỉnh các quy định về thuế quan tạo ra sự ưu đãi hơn
cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại thị trường chứng
85
Trang 4khoán
3.2.3 Hoàn thiện khung pháp lý trong việc cho phép chuyển đổi
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
89
3.2.4 Cho phép các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài
thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện và doanh nghiệp
100% vốn nước ngoài hoạt động tại thị trường chứng
khoán Việt Nam
91
3.2.5 Các kiến nghị khác nhằm thu hút hơn nữa các nguồn vốn
đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán
91
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những thập niên gần đây, chu chuyển vốn đầu tư vào các nước đang phát triển ngày càng tăng lên nhanh chóng Các dòng vốn được đưa vào khu vực này dưới hình thức các khoản vay, đầu tư trực tiếp, viện trợ phát triển, đầu tư thông qua thị trường chứng khoán Trong đó, đầu tư qua thị trường chứng khoán là một hình thức đầu tư mới song kết quả đạt được tại các thị trường chứng khoán đó rất khả quan Các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi
cơ chế kinh tế đã thiết lập thị trường chứng khoán trong nước và mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư Mặc dù mới hình thành nhưng thị trường chứng khoán đã nhanh chóng góp phần quan trọng trong việc củng cố
hệ thống tài chính, phục vụ cho phát triển kinh tế quốc gia
Đối với Việt Nam, thị trường chứng khoán ra đời và đi vào hoạt động trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi mạnh mẽ từ cơ chế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa và đang phát triển với tốc độ cao, ổn định; đồng thời, trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Mục đích đặt ra khi xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam là nhằm thông qua thị trường để huy động và luân chuyển các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn phục
vụ cho phát triển đất nước; tận dụng các cơ hội để mở rộng và phát triển thị trường, trong đó coi các yếu tố nội lực là quyết định Để phù hợp với yêu cầu của quá trình hội nhập và sử dụng thị trường chứng khoán là một kênh thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài góp phần phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Việt Nam đã mở cửa thị trường cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia ngay từ khi thị trường mới đi vào hoạt động Như vậy, việc mở cửa thị trường
Trang 6chứng khoán Việt Nam vừa do ảnh hưởng, tác động bởi yêu cầu của quá trình hội nhập, vừa là đòi hỏi của nội tại nền kinh tế đang trong giai đoạn cần vốn đầu
tư
Thực tế các nước đang phát triển trên thế giới và tại Việt Nam trong những năm qua cho thấy, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đã và đang đóng một vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội
Phát triển và mở cửa thị trường chứng khoán, bên cạnh các kênh huy động vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA), chúng ta có thêm một kênh cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn vào Việt Nam đầy tiềm năng và hiệu quả Nếu Việt Nam có những chính sách phù hợp thì thông qua thị trường chứng khoán sẽ huy động được các nguồn vốn trong và ngoài nước, đặc biệt là các nguồn vốn dài hạn để tăng thêm sức mạnh cho hệ thống tài chính quốc gia
Trong Phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5
năm 2001-2005, đại hội IX của Đảng đã đề ra mục tiêu là trong giai đoạn 2001 –
2005 có thể thu hút được 18-20 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài cho phát triển,
trong đó 1-2 tỷ là thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu ra nước ngoài, mở
thị trường chứng khoán [ 5, tr 269 ]
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, Nhà nước Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh liên quan đến chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt Nam, khuyến khích và ưu đãi các nhà đầu tư nước ngoài đầu
tư vào thị trường chứng khoán Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày ngày 11/7/1998, sau được thay thế bởi Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán, Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định
về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, Quyết định số 55/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ quy
Trang 7định tạm thời ưu đãi về thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán và các văn bản khác đã tạo ra một khung pháp lý thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam ở mức độ ban đầu
Tuy vậy, vấn đề đặt ra là thị trường chứng khoán Việt Nam đã hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài hay chưa khi mà sự cạnh tranh nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài giữa các nước trong khu vực và trên thế giới đang ngày càng gay gắt ? Những vướng mắc nào đang cản trở việc thu hút các nguồn vốn nước ngoài vào thị trường ? Mức độ phù hợp với luật pháp và thông lệ các nước trong việc mở cửa và huy động các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán ? Cách thức quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầu tư này đã tạo thuận lợi cho việc đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài chưa ? Đây thực sự là những vấn đề đáng lưu ý trong quá trình phát triển và hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung, pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán nói riêng
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “ Một số vấn đề pháp lý cơ bản về thu hút
đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam” để góp
phần hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nhằm huy động được tối đa các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán ở Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về chứng khoán và thị trường chứng khoán Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu đó được thực hiện dưới khía cạnh kinh tế, những vấn đề thuộc chuyên môn nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán, những tác động của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế
Trang 8Tại Việt Nam, mặc dù nền kinh tế chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường mới được hơn 15 năm, song cho đến nay cũng đã
có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà kinh tế về chứng khoán và thị trường chứng khoán đã được công bố và các công trình nghiên cứu
đó đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao kiến thức cho người dân về chứng khoán và thị trường chứng khoán Các nhà nghiên cứu hàng đầu tại Việt nam về chứng khoán và thị trường chứng khoán phải kể đến như Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn
Tư, Giáo sư Nguyễn Duy Gia và nhiều các nhà nghiên cứu khác
Dưới góc độ pháp lý, các công trình nghiên cứu còn rất ít, chủ yếu là các bài viết đăng trên các Báo, tạp chí Nội dung của các bài viết đó tập trung vào các vấn đề như : Những vấn đề bất cập trong các quy định của pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán, các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán …
Cho đến nay, tại Việt nam chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào ở cấp độ luận văn Thạc sĩ hoặc luận án Tiến sĩ hoặc cấp Bộ, Ngành đề cập
về vấn đề pháp lý về thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt nam Việc nghiên cứu về vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt nam mới chỉ dừng lại ở một số bài báo mà trong đó mỗi bài viết đề cập tới một phạm vi nhỏ khác nhau như: Những tác động và thách thức đối với thị trường chứng khoán Việt nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; So sánh sự ưu đãi đối với các hoạt động đầu tư chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt nam và thị trường chứng khoán các nước … Do vậy, việc nghiên cứu một cách tổng quát và có hệ thống về các vấn đề pháp lý trong việc thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt nam
là rất cần thiết
Trang 93 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là nhằm phân tích và đưa ra cách nhìn nhận tổng quát và có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
Để thực hiện được điều đó, nhiệm vụ của luận văn là:
- Làm rõ khái niệm về thị trường chứng khoán và vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
- Phân tích thực trạng pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
- Nêu ra thực trạng áp dụng pháp luật và đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào một số vấn đề pháp lý cơ bản nhất liên quan đến việc thu hút, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư, các biện pháp đảm bảo đầu tư và các uư đãi thuế quan đối với nhà đầu tư nước ngoài khi tham gia thị trường chứng khoán
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử: Sử dụng phương pháp này trong phân tích và đánh giá để thấy các quy định về khuyến khích đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình thực tiễn hơn; các quy định về chứng khoán và thị trường chứng khoán, các
Trang 10quy định nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán có mối liên hệ chặt chẽ với các quy định của hệ thống pháp luật nói chung; đồng thời nhìn nhận các quy định được xây dựng theo thời gian và trong những điều kiện thực tế nhất định để hiểu vấn đề sâu sắc hơn
- Phương pháp so sánh: được sử dụng thường xuyên trong mỗi vấn đề qua việc đánh giá các quy định về thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán của Việt Nam có sự tương đồng hay khác biệt với luật pháp các nước và thông lệ quốc tế về vấn đề này cũng như so sánh giữa các văn bản điều chỉnh một vấn đề nhưng được xây dựng trong những thời gian khác nhau
- Phương pháp thống kê: Thống kê tình hình đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung và tình hình đầu tư vào thị trường chứng khoán qua các số liệu
về vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài đã đưa vào Việt Nam qua thị trường này
6 Những đóng góp của Luận văn:
- Luận văn đã phân tích và làm sáng tỏ được vai trò của thị trường chứng khoán, vai trò và sự tác động của các nguồn vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế xã hội
- Nêu và phân tích chuyên sâu về thực trạng của các quy định pháp luật
về thu hút và khuyến khích đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán
- Đánh gía những ưu điểm, những vấn đề còn bất cập qua áp dụng thực tế các quy định pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán và từ đó nêu lên những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật
7 Nội dung cơ bản của luận văn
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được trình bày làm 03 chương với các vấn đề:
Trang 11Chương I: Khái quát chung về thị trường chứng khoán và vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương II: Pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương III: Thực tiễn áp dụng pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam và một số kiến nghị
CHƯƠNG I
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VÀ VẤN ĐỀ THU HÚT ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI THÔNG QUA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về thị trường chứng khoán
1.1.1 Khái niệm thị trường chứng khoán
1.1.1.1 Sự ra đời của thị trường chứng khoán:
Thị trường chứng khoán đã ra đời và phát triển trên thế giới cách đây hàng trăm năm và đã trải qua nhiều bước thăng trầm
Hình thức sơ khai của thị trường chứng khoán xuất hiện vào khoảng thế
kỷ 15 tại các trung tâm thương mại của các nước phương Tây, nơi các thương gia trao đổi, thương lượng mua bán hàng hoá với nhau Sự trao đổi, thoả thuận
đó diễn ra tại các quán cà phê và thông qua lời nói với nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiện trực tiếp của hàng hoá Nguyên bản đầu tiên của thị trường giao dịch phải kể tới thị trường tại thành phố Bruges của Vương quốc Bỉ vào năm 1453, tiếp theo là sự ra đời của các thị trường ở Anh, Đức … vào thế kỷ 18 Nội dung giao dịch tại đó bao gồm cho cả thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị trường chứng khoán động sản (giao dịch các loại giấy tờ xác định quyền đối với tài sản) Quá trình hoạt động của thị trường giao dịch đó
đã làm xuất hiện các quy ước xác định cho các cuộc thương lượng và rồi trở
Trang 12thành các quy tắc có tính bắt buộc đối với các thành viên tham gia thị trường Do
sự phát triển của kinh tế và lưu thông hàng hoá, sau một thời gian hoạt động, thị trường đã không đáp ứng được yêu cầu cho cả ba giao dịch nữa nên đã dẫn đến
sự chia tách thành: các khu thương mại ( từ thị trường hàng hoá), thị trường hối đoái (từ thị trường ngoại tệ) và thị trường chứng khoán (từ thị trường chứng khoán động sản)
Thị trường chứng khoán ra đời đã có tác động tích cực đến nền kinh tế, đặc biệt là ở một số nước Tây Âu và bắc Mỹ Các nước đã nhận thấy vai trò của thị trường chứng khoán như một kênh thu hút và lưu thông các nguồn vốn đầu tư phát triển và thông qua thị trường, Nhà nước có thể quản lý và tác động đến nền kinh tế đầy hiệu quả Dần dần, thị trường chứng khoán đã ra đời và phát triển cả
ở các nước đang phát triển và các nước chuyển đổi cơ chế kinh tế
Xuất phát từ vai trò to lớn của thị trường chứng khoán đối với nền kinh tế, nên các quốc gia đều có các chính sách ưu đãi, khuyến khích thị trường này phát triển Đến nay, thị trường chứng khoán đã trở thành một thể chế tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, được xem là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh tế hiện đại
Trong quá trình phát triển, thị trường chứng khoán luôn chịu sự tác động
và chi phối bởi sự phát triển của nền kinh tế, của khoa học kỹ thuật và sự biến động xã hội Mặt khác, do sự năng động của thị trường chứng khoán tại mỗi nước trên cơ sở nền kinh tế của nước đó, ngày nay trên thế giới đã nổi lên một số thị trường lớn, có tính quốc tế như thị trường chứng khoán London (ra đời năm 1773), thị trường chứng khoán New York (ra đời năm 1792 bằng việc 24 thương gia ký thoả thuận “ Cây ngô đồng ” ở phố Wall ); thị trường chứng khoán Tokyo ( thị trường chứng khoán Nhật Bản ra đời năm 1878, thời kỳ Minh trị duy tân) Trong đó nổi bật về quy mô và uy tín cũng như doanh số đạt được là thị trường chứng khoán New York với khoảng 3000 công ty có chứng khoán niêm yết, bao
Trang 13gồm các tập đoàn khổng lồ như IBM, GE, AT&T … với giá trị hàng nghìn tỷ USD [ 58, tr53], [53, tr18]
Số lượng thành viên của Tổ chức Quốc tế các Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (IOSCO) đã tới hàng trăm và còn tiếp tục gia tăng, trong đó có Uỷ ban chứng khoán nhà nước Nhà nước Việt nam (chính thức gia nhập IOSCO từ tháng 5/2001)
Theo Christine Stopp – một nhà kinh tế học người Mỹ, thì thị trường chứng khoán là địa điểm mua bán chứng khoán của các công ty Nó được công nhận là một biện pháp hữu hiệu nhằm giúp cho các doanh nghiệp huy động vốn kinh doanh , đồng thời cống hiến cơ hội cho những cá nhân và định chế sẵn lòng cho vay tiền [ 42 ]
Tại Việt nam, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế về thị trường chứng khoán trong các tác phẩm, các công trình nghiên cứu cũng đã nêu khái niệm về thị trường chứng khoán khác nhau Theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Gia thì:
Thị trường chứng khoán là hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán trung, dài hạn (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và các loại chứng khoán khác) có tổ chức, theo pháp luật quy định [ 56, tr10]
Còn theo Ts Trần Thị Minh Châu, trong cuốn sách nghiên cứu về thị trường chứng khoán với điều kiện thực tiễn của Việt nam, xuất bản năm 2003 “ Thị trường chứng khoán và những điều kiện kinh tế – xã hội hình thành và phát
triển thị trường chứng khoán ở Việt nam ” thì cho rằng: Thị trường chứng
Trang 14khoán là một bộ phận của thị trường tài chính, trong đó chuyên môn hoá giao dịch một số loại hàng hoá đặc biệt như cổ phiếu, trái phiếu dài hạn, kể cả các công cụ tài chính phái sinh từ cổ phiếu, trái phiếu, theo những phương thức có
tổ chức như giao dịch qua sở giao dịch chứng khoán, công ty chứng khoán , giao dịch trực tiếp và qua mạng [34, tr 10] Quan điểm này về thị trường chứng
khoán được tác giả đưa ra trên cơ sở nghiên cứu thị trường tài chính nói chung
và vị trí, mối quan hệ của thị trường chứng khoán và thị trường tài chính
Như vậy, các quan điểm nêu trên về thị trường chứng khoán tuy có một số điểm khác nhau, song nhìn chung không có sự khác biệt cơ bản
Quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi nhất và phản ánh đúng nội
dung hoạt động của thị trường chứng khoán là: Thị trường chứng khoán là nơi
diễn ra các giao dịch mua bán, trao đổi các loại chứng khoán Đây cũng là quan
điểm của Gs Lê Văn Tư - một trong những chuyên gia hàng đầu về chứng khoán
và thị trường chứng khoán hiện nay [54, tr 12]
Chứng khoán ( là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành) được giao dịch trên thị trường chứng khoán là chứng khoán được phát hành hợp pháp
Dựa trên hình thức tổ chức của thị trường, thị trường chứng khoán bao gồm thị trường giao dịch tập trung ( nơi mua bán, trao đổi các loại chứng khoán
đủ tiêu chuẩn niêm yết tại các Trung tâm, Sở giao dịch chứng khoán) và thị trường giao dịch phi tập trung ( thị trường OTC – là thị trường giao dịch các loại chứng khoán không đủ điều kiện niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán và thị trường này không có địa điểm giao dịch chính thức) Khi tham gia vào thị trường, các chủ thể phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các quy tắc giao dịch đã được
ấn định trước nhằm đảm bảo sự trật tự và an toàn cho thị trường Các quy tắc đó xuất phát là từ các thông lệ do các thương gia thoả thuận đặt ra để điều hành thị
Trang 15trường khi thị trường chứng khoán mới ra đời, sau đó phần nhiều đã được Nhà nước thừa nhận dưới hình thức các quy phạm pháp luật
Việc mua bán, trao đổi các loại chứng khoán làm thay đổi chủ sở hữu của chứng khoán Đây chính là quá trình vận động của tư bản, chuyển từ tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh Đối tượng giao dịch trên thị trường chứng khoán là loại hàng hoá đặc biệt, đó là quyền sở hữu về tài sản, khác biệt với các thị trường hàng hoá thông thường Bản chất của thị trường chứng khoán là thị trường biểu hiện mối quan hệ giữa cung và cầu của vốn đầu tư mà ở đó giá cả của chứng khoán chứa đựng thông tin về chi phí vốn hay giá cả của vốn đầu tư
Thị trường chứng khoán là một thể chế tài chính cấp cao, là thị trường giao dịch các công cụ tài chính trung và dài hạn Đặc trưng của thị trường chứng khoán là tính tự do và xã hội hoá rất cao với sự tham gia của nhiều chủ thể bao gồm các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài
Dưới góc độ pháp lý, pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán của Việt nam cũng như trong Luật chứng khoán và giao dịch chứng khoán của các nước có nêu khái niệm chứng khoán nhưng không nêu khái niệm cụ thể về thị trường chứng khoán Trong Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán chỉ quy định về giao dịch chứng khoán và thị trường giao dịch tập trung Theo đó, thị trường giao dịch tập trung được hiểu là địa điểm hoặc hệ thống thông tin, tại đó các chứng khoán được mua, bán hoặc là nơi tham khảo để thực hiện các giao dịch chứng khoán
1.1.2 Các chủ thể trên thị trường chứng khoán
Tổ chức phát hành là tổ chức đã đăng ký phát hành chứng khoán ra công chúng ( phát hành chứng khoán ra công chúng là việc chào bán một đợt chứng khoán có thể chuyển nhượng được thông qua tổ chức trung gian cho ít nhất 50
Trang 16nhà đầu tư ngoài tổ chức phát hành) theo các thủ tục và điều kiện pháp luật quy định ( khoản 6, Điều 3 Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán ) Như vậy, tổ chức phát hành là người cung cấp chứng khoán (hàng hoá) cho thị trường chứng khoán
Chứng khoán được phép phát hành bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, các loại chứng khoán khác Khi phát hành chứng khoán, tổ chức phát hành phải tuân thủ các điều kiện phát hành đối với mỗi loại chứng khoán và việc phát hành đó phải được đăng ký với Uỷ ban chứng khoán Nhà nước Theo quy định hiện nay, các tổ chức phát hành có thể phân nhóm bao gồm:
* Chính phủ: Là tổ chức phát hành các loại chứng khoán gồm: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công trình, tín phiếu kho bạc
* Các doanh nghiệp: Công ty cổ phần, doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá là tổ chức được phép phát hành cả trái phiếu và cổ phiếu; Doanh nghiệp Nhà nước, các Công ty TNHH được phép phát hành trái phiếu; Các loại hình doanh nghiệp khác (Hợp tác xã, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân) không được phép phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào ra thị trường
* Các quỹ đầu tư : là tổ chức vừa phát hành ra các loại chứng khoán là chứng chỉ quỹ đầu tư , cổ phiếu vừa là tổ chức đầu tư , kinh doanh các loại chứng khoán
Sau khi phát hành chứng khoán ra công chúng, tổ chức có chứng khoán đã phát hành muốn niêm yết chứng khoán để giao dịch tại thị trường giao dịch tập trung thì phải đăng ký và phải được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép Mỗi loại chứng khoán chỉ được niêm yết tại một Trung tâm giao dịch chứng khoán
Hiện tại, số lượng các tổ chức phát hành chứng khoán đủ điều kiện niêm yết, giao dịch trên thị trường tập trung còn rất hạn chế, dẫn đến lượng cung hàng
Trang 17hoá cho thị trường chứng khoán Việt Nam còn sơ sài, chưa tạo được sự sôi động trên thị trường
Trước mắt cũng như về lâu dài, các công ty cổ phần từ chương trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, Chính phủ, các Ngân hàng thương mại, một
số quỹ đầu tư sẽ là những chủ thể phát hành chứng khoán chủ yếu cung cấp cho thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1.2.2 Các nhà đầu tư
Nhà đầu tư được hiểu là những người sở hữu chứng khoán, người mua hoặc dự kiến mua chứng khoán cho mình Khi tham gia vào thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư với khả năng về vốn của mình thực hiện việc mua bán, trao đổi chứng khoán trên thị trường chứng khoán với mục đích lớn nhất là nhằm tìm kiếm lợi nhuận
Nhà đầu tư bao gồm các nhà đầu tư cá nhân, các nhà đầu tư có tổ chức:
- Nhà đầu tư cá nhân: là các cá nhân có vốn, trên cơ sở nắm bắt thông tin
thị trường một cách trực tiếp hoặc thông qua các nhà tư vấn, thực hiện các giao dịch mua bán, sở hữu chứng khoán Nhà đầu tư cá nhân bao gồm các nhà đầu tư
cá nhân trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài
Thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán Việt nam trong 03 năm qua cho thấy, do đặc điểm của một thị trường mới ra đời, các nhà đầu tư cá nhân chiếm tỷ trọng lớn trong số các nhà đầu tư (tính đến ngày 30/6/2003 có hơn 14.500 tài khoản giao dịch thì tuyệt đại đa số là tài khoản của nhà đầu tư cá nhân) Tuy nhiên, các nhà đầu tư là nhà đầu tư cá nhân ít vốn, tham gia thị trường mang tính thăm dò, khi thị trường có dấu hiệu bất ổn thì rút vốn
- Nhà đầu tư có tổ chức: là các tổ chức kinh tế, tài chính như các ngân
hàng thương mại, các công ty bảo hiểm, các quỹ bảo hiểm, quỹ tương hỗ … Các
tổ chức này tham gia thị trường và hoạt động đầu tư chứng khoán được coi là một phần trong những hoạt động đầu tư tài chính mà tổ chức được phép thực
Trang 18hiện Việc đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư có tổ chức rất đa dạng về danh mục đầu tư và có tính chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm Hiện nay, do thị trường chứng khoán Việt Nam mới ra đời, hơn nữa hành lang pháp lý chưa rõ ràng nên số lượng các nhà đầu tư có tổ chức tham gia còn quá ít, đặc biệt là sự thiếu vắng các nhà đầu tư chứng khoán là các quỹ bảo hiểm, quỹ hưu trí Theo thống kê, tính tới tháng 6/2003, trong số 14.500 tài khoản giao dịch, mới có 90 nhà đầu tư là các nhà đầu tư có tổ chức [20]
1.1.2.3 Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
- Cơ quan quản lý Nhà nước:
Thị trường chứng khoán có vai trò quan trọng và sự hoạt động của nó có ảnh hưởng, tác động rất lớn đến nền kinh tế nói chung Do vậy việc quản lý, giám sát của Nhà nước đối với các hoạt động phát hành và kinh doanh chứng khoán là cần thiết Từ nhận thức đó, tại các nước có thị trường chứng khoán hoạt động đều thành lập một cơ quan chuyên trách thực hiện chức năng quản lý Nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán Cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán ở các nước thông thường là một Uỷ ban, có thể là cơ quan thuộc Chính phủ như ở Anh (Uỷ ban đầu tư chứng khoán), Nhật bản (Uỷ ban giám sát chứng khoán và giao dịch chứng khoán ), Hoa kỳ (Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán ) … hoặc thuộc một bộ thuộc lĩnh vự tài chính như ở Hàn Quốc là Uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán thuộc Bộ Kinh tế – Tài chính…
Tuy cơ quan quản lý Nhà nước về thị trường chứng khoán ở các nước khác nhau có thể có tên gọi khác nhau, song đều có mục đích quản lý nhằm đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững, vì lợi ích của các nhà đầu tư, lợi ích quốc gia…
Trang 19Trên cơ sở học tập và vận dụng vào điều kiện thực tế, Việt nam đã thành lập cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán là Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (Thành lập theo Nghị định số 75/CP/1996 của Chính phủ ngày 28/11/1996, sau được thay thế bởi Nghị định số 90/2003 NĐ-CP ngày 12/8/2003) Uỷ ban chứng khoán Nhà nước là một cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán Việt Nam
- Sở giao dịch chứng khoán - Trung tâm giao dịch chứng khoán:
Thị trường giao dịch tập trung được tổ chức dưới hình thức Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán Trên cơ sở điều kiện thực tế, Việt Nam chủ trương xây dựng thị trường chứng khoán theo mô hình tổ chức từ Trung tâm giao dịch chứng khoán lên Sở giao dịch chứng khoán Điều này là phù hợp với thực tiễn Việt Nam khi thị trường chứng khoán còn nhỏ bé và trong giai đoạn vận hành ban đầu
Ngày 11/7/1998, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập các trung tâm giao dịch chứng khoán tại Tp Hồ Chí Minh và Hà nội Tuy nhiên, cho đến nay mới có Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minh đi vào hoạt động ( từ tháng 7/ 2000 )
Tại khoản 1 điều 61, Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán quy định về Trung tâm giao dịch chứng khoán: là đơn vị sự gnhiệp có thu, trực thuộc Uỷ ban chứng khoán Nhà nước, có
tư cách pháp nhân, có trụ sở, con dấu và tài khoản riêng; kinh phí hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán do ngân sách Nhà nước cấp Đồng thời, điều
64 Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 cũng đã quy định về Sở giao dịch chứng khoán: là một pháp nhân tự chủ về tài chính, chịu sự giám sát và quản lý của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước
Trang 20Trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán có chức năng quản lý, điều hành và giám sát cũng như cung cấp các dịch vụ liên quan đến các hoạt động mua bán chứng khoán tại Trung tâm Trung tâm giao dịch chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán có các thành viên đăng ký là các công ty chứng khoán có giấy phép hoạt động môi giới, tự doanh Chỉ có các thành viên Trung tâm giao dịch chứng khoán mới được mua bán chứng khoán qua hệ thống giao dịch tại Trung tâm và sở mà không được mua, bán chứng khoán bên ngoài
Qua hơn 3 năm hoạt động, Trung tâm này đã thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao và là trung tâm thu hút sự quan tâm của các nhà phát hành chứng khoán, các nhà đầu tư và xã hội đối với tình hình phát triển của thị trường chứng khoán Việt nam
- Công ty chứng khoán:
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán Căn cứ theo các điều từ điều 65 đến điều
75 Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998 và Quyết định số 78/2000/QĐ-UBCK ngày 29/12/2000 về việc ban hành Quy chế
về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán thì Công ty chứng khoán được hiểu là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động kinh doanh, dịch vụ chứng khoán và chịu sự giám sát, quản lý chặt chẽ của
cơ quan đó cũng như của Trung tâm giao dịch chứng khoán Hoạt động của công
ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳn với các doanh nghiệp sản xuất
và thương mại thông thường Công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát
Trang 21hành tới người đầu tư và có tính thanh khoản, qua đó huy động được các nguồn vốn trong xã hội phục vụ cho phát triển kinh tế
- Các tổ chức lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán:
Đây là các ngân hàng thương mại Việt Nam, chi nhánh ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các công ty chứng khoán ( chỉ các công ty chứng khoán có giấy phép hoạt động môi giới hoặc tự doanh ) đáp ứng đủ các điều kiện
và được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép hoạt động lưu ký để tham gia lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán tại Trung tâm Giao dịch chứng khoán Các thành viên lưu ký này đóng vai trò quan trọng giúp các hoạt động mua, bán chứng khoán, kiểm soát chứng khoán, các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán được thực hiện, đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động an toàn và tiện lợi
- Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán:
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là hình thức tự quản của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ và các ngân hàng lưu ký với chức năng cơ bản là bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường phát triển ổn định Tại các nước như Hoa kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tập hợp hàng trăm thành viên và có vai trò rất quan trọng trong các hoạt động kinh doanh chứng khoán
Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, trong Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 đã xác định: Đẩy mạnh hoạt động
và tăng cường vai trò của Hiệp hội ngành chứng khoán trong việc hỗ trợ cơ quan quản lý nhà nước trên các phương diện đào tạo, xây dựng khuôn khổ pháp lý, giám sát tuân thủ pháp luật của các thành viên tham gia thị trường, phát triển thị trường Tuy vậy, cho đến nay, mặc dù thị trường chứng khoán đã hoạt động được 03 năm và Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Việt Nam đã có
Trang 22Quyết định thành lập, song thực tế Hiệp hội vẫn chưa triển khai được các hoạt động của mình nhằm trợ giúp cho sự phát triển của thị trường
- Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm:
Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là các công ty chuyên cung cấp dịch
vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm lực tài chính của tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam kết của tổ chức phát hành đối với mỗi đợt phát hành cụ thể Một thị trường chứng khoán muốn hoạt động lành mạnh, an toàn cho các nhà đầu tư thì không thể thiếu các công ty cung cấp dịch vụ này
Hiện nay, thị trường chứng khoán Việt Nam chưa xuất hiện các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm, nhưng theo yêu cầu và kế hoạch phát triển thị trường chứng khoán của UBCKNN thì các công ty này sẽ được khuyến khích thành lập trong thời gian tới đây
1.1.3 Vai trò của thị trường chứng khoán
1.1.3.1 Thị trường chứng khoán là sợi dây nối liền giữa người cung cấp vốn
và người cần vốn
Khác với các loại thị trường khác, tại thị trường chứng khoán người phát hành chứng khoán hoặc cơ quan tài chính rất khó giao dịch trực tiếp với đông đảo người đầu tư chứng khoán Để thực hiện được việc mua bán chứng khoán, cần phải thông qua môi trường và cơ cấu nhất định, đó là trung tâm giao dịch chứng khoán và người môi giới chứng khoán Nhiệm vụ của người môi giới chứng khoán là căn cứ vào yêu cầu của hai bên mua và bán, đứng trung gian tạo thành thoả thuận giao dịch Trong giao dịch chứng khoán áp dụng phương thức thoả thuận công khai giá cả, đấu giá, cạnh tranh lẫn nhau Thị trường chứng khoán tạo ra những cơ hội cho cung và cầu được đáp ứng, đảm bảo lợi ích của cả hai bên mua và bán
Trang 231.1.3.2 Tác động luân chuyển vốn đầu tư
Thị trường chứng khoán có thể huy động và luân chuyển một lượng vốn đầu tư lớn, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế Đồng thời, nó có thể chuyển thời hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế Việc huy động vốn trên thị trường chứng khoán giúp làm tăng vốn đầu tư của các doanh nghiệp, giúp họ tránh được các khoản vay có chi phí cao
Người phát hành chứng khoán thông qua việc phát hành chứng khoán ra công chúng để tập trung vốn, nếu một nhà đầu tư không thể hoặc không muốn tiếp tục sở hữu chứng khoán của tổ chức phát hành thì có thể chuyển nhượng chứng khoán đó để thu hồi vốn đầu tư thông qua thị trường chứng khoán Sự chuyển nhượng đó sẽ không ảnh hưởng lớn đến sự hoạt động và năng lực tài chính của tổ chức phát hành
1.1.3.3 Thị trường chứng khoán là động lực thúc đẩy năng lực quản lý kin h doanh:
Khi quyết định đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư bao giờ cũng cân nhắc , lựa chọn nên đầu tư vào chứng khoán của tổ chức phát hành nào để có thể thu lợi cao nhất Vì thế, tất yếu là họ sẽ tập trung vào các tổ chức phát hành đang hoặc sẽ có triển vọng hiệu quả kinh tế cao, tạo cho các tổ chức đó có một nguồn vốn tập trung phát triển Ngược lại, đối với các tổ chức phát hành yếu kém, hiệu quả kinh tế thấp thì không thể tập trung huy động được vốn, thậm chí bị các nhà đầu tư chuyển vốn đến các tổ chức lành mạnh hơn Trong sự cạnh tranh đó, tính tất yếu là các tổ chức phát hành chứng khoán phải không ngừng nâng cao năng lực quản lý, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư được tiếp nhận
1.1.3.4 Cung cấp thông tin kinh tế:
Thị trường chứng khoán là nơi quan trọng truyền tin tức kinh tế, cung cấp
dự báo về các chu kỳ và khả năng kinh doanh Trong quá trình hoạt động của thị
Trang 24trường chứng khoán, các chỉ số giao dịch luôn có sự biến động, lúc phản ảnh sự tích cực, lúc phản ánh sự tiêu cực, do đó đòi hỏi sự nắm bắt các thông tin kinh tế – xã hội, các sự kiện nhạy cảm khác phải kịp thời, chính xác Thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán các nước cho thấy, việc thay đổi giá chứng khoán có
xu hướng đi trước chu kỳ kinh doanh, cho phép Nhà nước cũng như các công ty
có thể có kế hoạch đầu tư hoặc phân bổ các nguồn vốn đầu tư
Ngoài các tác động tích cực nêu trên, thị trường chứng khoán còn có những tác động tiêu cực nhất định đối với nền kinh tế, xã hội Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở thông tin hoàn hảo, song ở các thị trưòng mới nổi, thông tin được cung cấp đến các nhà đầu tư không phản ánh được hết tình hình thực tế Việc quyết định giá cả, việc mua bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý thông tin, do đó, giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của tổ chức phát hành, không trở thành cơ
sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn vốn, các nguồn lực
Một số tiêu cực khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu cơ, tạo ra sự khan hiếm giả một loại chứng khoán nhất định trên thị trường giao dịch, hoặc hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại quyền lợi của các cổ đông thiểu số, việc mua bán thông tin nội bộ, hiện tượng tung tin thất thiệt, thao túng thị trường làm nản lòng các nhà đầu tư Nhiệm vụ của các nhà quản lý thị trường là giảm thiểu các tiêu cực của thị trường nhằm bảo đảm quyền lợi của các nhà đầu tư và đảm bảo tính hiệu quả của thị trường đối với nền kinh tế
Vai trò của thị trường chứng khoán được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, song vai trò tiêu cực hay tích cực của thị trường có thực sự được phát huy hay hạn chế phụ thuộc đáng kể vào các chủ thể tham gia thị trường, sự quản lý của các cơ quan Nhà nước hữu quan
Trang 251.1.3.5 Thúc đẩy cạnh tranh quốc tế:
Việc mở cửa thị trường chứng khoán cho các nhà đầu tư nước ngoài đã thúc đẩy năng lực cạnh tranh trên thị trường chứng khoán Điều này cho phép các công ty có thể huy động các nguồn vốn đầu tư rẻ hơn, nhiều hơn, tạo ra những cơ hội kinh doanh cho các công ty trong nước trên thị trường quốc tế
1.1.3.6 Thông qua thị trường chứng khoán, Nhà nước có thể kiểm soát và điều tiết được nền tài chính quốc gia:
Trên cơ sở căn cứ vào tình hình hoạt động của thị trường chứng khoán , những biến động của chứng khoán giao dịch mà Nhà nước có những chính sách điều tiết cho phù hợp như mở rộng hay thắt chặt các nguồn vốn đầu tư vào chứng khoán , kiểm soát việc cho vay … Mặt khác, thông qua thị trường chứng khoán, Nhà nước huy động các nguồn vốn tài chính như phát hành trái phiếu mà không tạo áp lực về lạm phát
1.2 Vấn đề thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2.1 Khái niệm thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
Khi xem xét về huy động các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn bên ngoài phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, thì hiện tại, đối với Việt Nam, các nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và viện trợ phát triển (ODA) đang được đánh giá cao và chiếm vị trí chủ yếu
Tính đến hết năm 2002, đã có trên 3000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam được cấp giấy phép với tổng vốn đăng ký đạt trên 36 tỷ USD Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận của nền kinh tế và đã đóng góp rất quan trọng vào vào sự phát triển kinh tế xã hội Vốn FDI giai đoạn 1996-2000 chiếm gần 30% tổng vốn đầu tư xã hội, đóng góp 10% GDP và 7% nguồn thu ngân sách (nếu tính cả dầu khí thì tỷ lệ này đạt 20%) [ 52, tr 199]
Trang 26Đồng thời, theo số liệu thống kê của Bộ kế hoạch và đầu tư, tổng giá trị vốn viện trợ phát triển được các nước, các tổ chức tài chính quốc tế đã cam kết qua các vòng đàm phán từ năm 1993 đến năm 2003 đạt vào khoảng 22,55 tỷ USD, trong đó đã ký hiệp định chính thức khoảng 19,5 tỷ USD và đã giải ngân
được 11,04 tỷ USD [18]
Tuy nhiên, hai kênh thu hút vốn đầu tư nước ngoài nêu trên cũng đang gặp nhiều khó khăn và đặt ra nhiều vấn đề không dễ giải quyết Về vốn đầu tư trực tiếp, sự cạnh tranh thu hút vốn FDI giữa các nước Châu á, các nước trong khu vực ASEAN đang và sẽ hết sức gay gắt Đặc biệt, khi Việt Nam chính thức gia nhập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) và sắp tới là Tổ chức thương mại thế giới (WTO – dự kiến hoàn tất các thủ tục vào năm 2005), nếu không có những điều chỉnh chính sách kịp thời như cải cách và đơn giản thủ tục đầu tư, nâng cao chất lượng nhân lực, hiệu suất lao động … thì Việt Nam khó có thể cải thiện được tình hình như hiện nay trong việc thu hút vốn của các nhà đầu tư nước ngoài
Về vốn viện trợ phát triển ODA, để có thể thu hút được nguồn vốn này là việc hết sức phức tạp, Việt Nam phải chịu sự ràng buộc về cải cách và mở cửa
mà nhiều khi chưa phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội do áp lực từ bên viện trợ Hơn nữa, nếu tiếp nhận ODA không phù hợp và hiệu quả thì về lâu dài gánh nặng nợ nước ngoài sẽ đè lên nền kinh tế và lan truyền cho các thế hệ mai sau
Trong điều kiện hiện tại, để có thể tiếp tục duy trì thu hút được lượng vốn đầu tư nước ngoài theo yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong điều kiện hai kênh huy động vốn FDI và ODA gặp nhiều hạn chế, thì thu hút thông qua thị trường chứng khoán được coi là một cánh cửa và là giải pháp khả thi
Mở cửa thị trường chứng khoán là yêu cầu tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của Nhà nước Việt Nam
Trang 27Thị trường chứng khoán là một kênh huy động các nguồn vốn trong và ngoài nước rất hữu hiệu Với đặc trưng là một kênh lưu thông vốn lớn, thị trường chứng khoán có khả năng thu hút được các nguồn vốn trung và dài hạn từ các nhà đầu tư nước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển quốc gia
Thực tiễn các nước đã cho thấy, thị trường chứng khoán thu hút và luân chuyển một lượng vốn góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế Tổng giá trị thị trường của một số thị trường chứng khoán lớn chiếm tỷ trọng cao so với tổng GDP đã thể hiện sự vượt trội của nó so với các kênh huy động vốn khác Đặc biệt, các thị trường chứng khoán Soul (Hàn Quốc), Hồng kông, Tokyo (Nhật Bản), Thượng Hải (Trung quốc) … đã phát triển thành những thị trường chứng khoán uy tín trên thế giới và đã góp phần tích cực thu hút được các dòng vốn đầu
tư vào quốc gia mình, nhất là các nguồn vốn đầu tư từ các nước Châu Âu, Hoa
kỳ
Đối với thị trường chứng khoán Việt Nam, mặc dù là mới mẻ, song với những kinh nghiệm rút ra từ việc tiếp nhận các nguồn vốn FDI và ODA cũng như tham khảo kinh nghiệm phát triển thị trường chứng khoán các nước, thì chúng ta có khả năng thu hút một lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư nước ngoài
Do vậy, việc tạo ra một môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài là yêu cầu đặt ra cho các cơ quan quản lý Nhà nước, các tổ phát hành chứng khoán
và cho các định chế tài chính liên quan Điều này cũng có nghĩa chúng ta phải tạo ra các điều kiện kinh tế ổn định, vững chắc; các chính sách và hành lang pháp lý minh bạch, chặt chẽ
Như vậy, thu hút vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán là việc tạo ra các cơ sở pháp lý, các cơ sở kinh tế nhằm khuyến khích và đảm bảo cho việc huy động các nguồn vốn của nước ngoài vào Việt Nam thông qua các hình thức đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 28Trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, việc mở cửa thị trường chứng khoán cho các nhà đầu tư nước ngoài là yêu cầu của quá trình hội nhập, vừa là đòi hỏi của nội tại nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và phát triển Mở cửa thị trường chứng khoán, Việt Nam phải đảm bảo trong các chính sách quản lý và điều hành thị trường phải phù hợp với tì nh hình kinh tế đất nước, với thông lệ và luật pháp quốc tế Cùng với các nguồn vốn đầu tư trong nước được coi là yếu tố quyết định, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh giữa các nước trong việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài như hiện nay, thì Việt Nam cần có những chính sách huy động vốn vào thị trường chứng khoán phải hấp dẫn, linh hoạt hơn Đồng thời, việc huy động vốn đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán cũng cần có sự cẩn trọng, những chính sách điều chỉnh chặt chẽ để hạn chế những mặt trái do việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài đó mang lại đối với nền kinh tế xã hội
1.2.2 Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2.2.1 Tổ chức nước ngoài:
Tổ chức nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt nam là các tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài được thành lập theo pháp luật nước ngoài và hoạt động kinh doanh tại nước ngoài hoặc tại Việt Nam Các tổ chức kinh tế tài chính nước ngoài có thể là các doanh nghiệp, các ngân hàng, các định chế tài chính khác, các quỹ đầu tư Khi tham gia thị trường chứng khoán Việt nam, các tổ chức đó có thể tham gia đầu tư với các loại hình khác nhau: mua bán chứng khoán, thành lập công ty liên doanh với đối tác Việt nam, cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán … Tuy vậy, đối với một số loại hình đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt nam như thành lập công
Trang 29ty liên doanh chứng khoán hay cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động đầu
tư chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài phải xin phép các cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việt nam và chỉ được phép đầu
tư sau khi đã được các cơ quan đó cấp giấy phép Trong trường hợp tổ chức kinh
tế tài chính là quỹ đầu tư nước ngoài, thì khi muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam phải được Uỷ ban chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận
Thực tế trong ba năm hoạt động vừa qua, số lượng các nhà đầu tư là các
tổ chức kinh tế nước ngoài tham gia thị trường còn hạn chế, chủ yếu còn đang tìm hiểu, thăm dò và một số tìm đối tác để thành lập công ty liên doanh Mặc dù
số lượng tham gia ít, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia về chứng khoán và thị trường chứng khoán, thì một số nhà đầu tư nước ngoài là các tổ chức, như các quỹ đầu tư nước ngoài đã hoạt động rất tích cực và đã góp phần làm cân bằng thị trường, nhất là những lúc giá chứng khoán sụt giảm hoặc thị trường khan hiếm vốn
1.2.2.2 Người nước ngoài không thường trú tại Việt Nam:
Người nước ngoài không thường trú tại Việt nam là công dân của nước ngoài cư trú ở nước ngoài Họ có thể tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt nam trực tiếp tại Việt nam hoặc thông qua các công ty chứng khoán được phép hoạt động kinh doanh chứng khoán tại thị trường chứng khoán Việt nam Với sự phát triển của công nghệ thông tin và sự mở rộng hoạt động của các công ty chứng khoán có tính quốc tế đã ngày càng cho phép các nhà đầu tư cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt nam vẫn thực hiện được việc đầu tư vào thị trường chứng khoán Theo số liệu tìm hiểu từ các công
ty chứng khoán cho thấy, thực tế có một số đoàn người nước ngoài đến tìm hiểu
về thị trường chứng khoán Việt Nam nhưng số lượng mở tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán không đáng kể Điều này phản ánh thị trường chứng
Trang 30khoán Việt Nam còn tương đối xa lạ đối với người nước ngoài Nếu sắp tới Việt Nam có những chính sách ưu đãi hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài thì có thể huy động được vốn đầu tư từ các cá nhân nước ngoài thông qua việc họ trực tiếp giao dịch hoặc qua các quỹ đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
1.2.2.3 Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam:
Người nước ngoài thường trú tại Việt Nam là công dân nước ngoài, người không có quốc tịch Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam Đây
là những người nước ngoài có điều kiện trực tiếp nắm bắt và thông hiểu tình hình phát triển của nền kinh tế Việt nam nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng Lợi thế đó cùng với kinh nghiệm và những kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán mà họ có được tại nước ngoài sẽ giúp cho hoạt đầu tư có hiệu quả cao hơn Theo tổng kết của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước trong Báo cáo tổng kết 03 năm hoạt động của thị trường chứng khoán thì trong số các tài khoản giao dịch được mở của các nhà đầu tư nước ngoài chủ yếu là của người nước ngoài thường trú tại Việt Nam
1.2.2.4 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài :
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài
Trong những năm gần đây, với việc ban hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, số lượng người Việt Nam định
cư ở nước ngoài đầu tư về nước tăng lên nhanh chóng Đối với thị trường chứng khoán, việc đầu tư vào thị trường là phù hợp với tâm lý và khả năng về vốn của người Việt Nam định cư ở nước ngoài Tuy nhiên, số lượng nhà đầu tư này tham gia vào thị trường chưa nhiều do thị trường chưa có sự quảng bá rộng rãi với họ, một phần là mức độ ưu đãi chưa hấp dẫn Do vậy, khi Nhà nước có các chính
Trang 31sách khuyến khích hơn và thị trường được biết đến nhiều hơn thì thị trường sẽ có khả năng thu hút được một lượng vốn lớn từ các nhà đầu tư này
1.2.3 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán
1.2.3.1 Những điều kiện thuận lợi:
Một là: Nền kinh tế đang phát triển ổn định với tốc độ tăng trưởng cao:
Đây là một yếu tố rất quan trọng cho việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam Kể từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, chuyển nền kinh tế từ tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản
lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta đã không ngừng đạt được các thành tự to lớn trong các lĩnh vực kinh tế xã hội Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm trong hơn mười năm qua luôn từ 7 đến 10% Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng đầu thế giới [18]
Mặc dù nằm trong khu vực trung tâm của cơn bão khủng hoảng tài chính năm 1997, nhưng Việt nam đã có những chính sách tài chính tiền tệ hợp lý, giảm thiểu sự tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, tránh được sự thiệt hại cho các doanh nghiệp, các nhà đầu tư và vẫn duy trì được sự tăng trưởng Sự tăng trưởng ổn định, với tốc độ cao sẽ là điều kiện đảm bảo cho sự thành công của các hoạt động đầu tư, trong đó có đầu tư vào thị trường chứng khoán
Hai là: Tình hình chính trị ổn định, trật tự an ninh được đảm bảo:
Trong vòng 03 năm vừa qua, tình hình trật tự an ninh trên thế giới có rất nhiều bất ổn Hàng loạt các vụ khủng bố, chiến tranh, dịch bệnh nổ ra gây thiệt hại to lớn về tính mạng và tài sản cho người dân tại nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn đảm bảo được an ninh, trật tự và
đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là quốc gia có độ an toàn về an ninh, trật tự
Trang 32nhất trên thế giới Người nước ngoài đến Việt Nam du lịch, công tác hay đầu tư luôn được đảm bảo về tính mạng, sức khoẻ, tài sản
Thực tiễn các hoạt động đầu tư, luân chuyển các nguồn vốn quốc tế đã cho thấy, tại các khu vực hay quốc gia càng bất ổn về trật tự xã hội thì mức độ rủi ro cho các nhà đầu tư càng cao và do đó các nhà đầu tư hạn chế hoặc không đưa vốn vào khu vực, quốc gia đó
Ba là: Nhà nước có chính sách ưu đãi và cam kết bảo hộ cho các nhà đầu
Đối với Việt Nam, năm 1987, Luật đầu tư nước ngoài được ban hành tạo
cơ sở và đánh dấu một bước thay đổi cơ bản trong việc thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam luôn xác định và cam kết rõ ràng bảo hộ tất cả các nguồn vốn đầu tư hợp pháp của nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam dưới các hình thức đầu tư hợp pháp khác nhau Đồng thời cũng đã không ngừng
có các chính sách, ban hành các quy định pháp luật kịp thời ưu đãi, tạo thế cạnh tranh tốt hơn Điều này đã làm cho các nhà đầu tư nước ngoài yên tâm đưa các nguồn vốn vào đầu tư tại Việt Nam, trong đó có đầu tư tại thị trường chứng khoán
Bốn là: Thị trường chứng khoán Việt Nam là một thị trường mới, đầy
tiềm năng phát triển:
Thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời trong điều kiện sự nghiệp Đổi mới, với sự chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung bao cấp sang nền
Trang 33kinh tế thị trường được thực hiện mới hơn 10 năm So với các nước xung quanh thì, đến nay Việt Nam mới có thị trường chứng khoán là muộn Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong nước cao, an ninh đảm bảo và với sự tiếp nhận kinh nghiệm từ các thị trường chứng khoán các nước, thị trường chứng khoán Việt Nam có cơ hội và triển vọng phát triển cao Mặt khác, do thị trường chứng khoán vẫn còn là mới mẻ với các nhà đầu tư trong nước, nên mức độ cạnh tranh trong đầu tư các loại chứng khoán trên thị trường chưa cao Do vậy, các nhà đầu
tư nước ngoài tham gia thị trường (chủ yếu trước mắt là mua các loại chứng khoán vào) với chiến lược đầu tư dài hạn thì khả năng thu lợi khi thị trường đi vào ổn định là rất lớn
Thực tiễn thị trường chứng khoán các nước, điển hình là thị trường chứng khoán Trung Quốc cho thấy (thị trường chứng khoán Trung Quốc cũng là một thị trường ra đời muộn, kết quả của thực hiện chương trình Cải cách và Mở cửa năm 1979), trong hơn 10 năm, giá các loại chứng khoán ở thị trường đã tăng lên nhiều lần (có loại chứng khoán đã tăng tới hàng trăm lần) so với ngày thị trường mới ra đời Hơn nữa, trong 03 năm hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam vừa qua, trong khi các nhà đầu tư trong nước còn do dự đầu tư hoặc vốn đầu tư hạn chế thì nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã bỏ vốn mua vào nhiều loại chứng khoán với số lượng lớn mà chưa bán ra để đợi thời cơ
1.2.3.2 Những khó khăn trong việc thu hút đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Một là: Nền tảng kinh tế thấp kém:
Một thị trường chứng khoán khi bước vào tiến trình hội nhập, muốn thu hút được vốn của các nhà đầu tư nước ngoài thì yêu cầu cần có một nền tảng kinh tế nội tại vĩ mô cũng như vi mô phát triển ổn định và bền vững Điều này tạo nên sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào bởi khả năng thu lợi cao và hạn chế được những rủi ro trong quá trình đầu tư
Trang 34Mặt khác, sự ổn định và bền vững của nội tại nền kinh tế sẽ giúp cho các
cơ quan quản lý chứng khoán, các doanh nghiệp có được sự hậu thuẫn để đối phó với những rủi ro, những biến động có thể phát sinh trong quá trình tiếp nhận các nguồn vốn nước ngoài Nền tảng kinh tế thấp kém là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng không kiểm soát những luồng vốn ra vào thị trường chứng khoán,
dễ dẫn đến khủng hoảng
Nền tảng kinh tế thấp, hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hạn chế, thương hiệu mờ nhạt … là những cản trở lớn trong thu hút các nguồn vốn đầu tư nước ngoài bởi lợi nhuận thu được từ đầu tư không khả quan, trong khi rủi ro lại lớn
Hai là: Chất lượng hàng hoá- chứng khoán giao dịch chưa đủ hấp dẫn:
Sự kém hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài còn được bộc lộ qua khối lượng hàng hoá - chứng khoán lưu chuyển trên thị trường còn ít ỏi Các công ty
cổ phần là lực lượng cung cấp hàng hoá chủ yếu cho thị trường chứng khoán thì rất ít công ty đáp ứng đủ các điều kiện để phát hành và niêm yết chứng khoán trên thị trường, hơn nữa thương hiệu của các doanh nghiệp Việt nam nói chung còn ít được các nhà đầu tư nước ngoài biết đến, thậm chí ngay trong khu vực Việc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đã được thực hiện qua 10 năm, với gần 1.000 công ty được cổ phần hoá (trong tổng số 5.600 DNNN) [18] nhưng số lượng công ty được niêm yết trên thị trường giao dịch tập trung - tính tới tháng 2/2004 mới có 23 công ty cổ phần với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là hơn 1000
tỷ đồng [16]
Mặt khác, hệ thống các định chế trung gian như các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, các ngân hàng thương mại là các tổ chức kinh doanh chứng khoán hoặc cung cấp các dịch vụ liên quan đến hoạt động kinh doanh chứng khoán chỉ mới được ra đời và triển khai hoạt động trong vòng 03 năm qua nên còn thiếu khả năng và kinh nghiệm Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến hoạt
Trang 35động kinh doanh và cung cấp các dịch vụ cho thị trường chứng khoán, chưa đáp ứng được với các giao dịch hiện đại của hệ thống giao dịch ngân hàng, chứng khoán, các định chế tài chính trên thế giới Tất cả sự yếu kém đó đã tạo nên những cản trở cho các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn đầu tư, làm ăn trên thị trường chứng khoán Việt nam
Ba là: Các hạn chế về kỹ thuật và cơ sở hạ tầng thị trường:
Các giao dịch trên thị trường chứng khoán hiện nay phụ thuộc rất lớn vào
sự phát triển của khoa học kỹ thuật Đó là các công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho các phương tiện báo giá, thông tin giao dịch, thanh toán, bảo quản chứng khoán
… Những hạn chế về cơ sở vật chất kỹ thuật có thể gây những khó khăn ban đầu cho việc phát triển thị trường, đồng thời sự lạc hậu đó làm cho thị trường chứng khoán Việt Nam kém tính hấp dẫn, không thu hút được sự chú ý của cộng đồng các nhà đầu tư nước ngoài
1.2.4 Những tác động cơ bản đối với nền kinh tế - xã hội do việc thu hút đầu
tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 36Đối với Việt Nam, với những lợi thế như nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định; an ninh trật tự xã hội đảm bảo… chúng ta cũng có thể huy động được hàng trăm triệu USD mỗi năm thông qua việc cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán
Thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán trong thời gian vừa qua cho thấy số vốn của các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào mua các loại cổ phiếu trên thị trường giao dịch tập trung đã lên đến hàng chục triệu USD và khả năng sẽ huy dộng được lớn hơn trong thời gian tới khi Việt Nam có sự điều chỉnh các chính sách ưu đãi hơn và nguồn cung dồi dào hơn
Hai là: Kiểm soát sự lưu chuyển vốn quốc tế vào Việt nam
Khả năng thu hút được các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán là kết quả của quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế Các nguồn vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán chảy vào từ nhiều quốc gia, nhiều định chế tài chính và nhiều các cá nhân nước ngoài Do vậy, sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan hữu quan, sự kết hợp với các quốc gia khác sẽ ngăn chặn các hoạt động tẩy rửa tiền quốc tế, đồng thời Nhà nước có thể kịp thời điều tiết được sự đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài vào một số chứng khoán nhất định vì an ninh và lợi ích quốc gia Mặt khác, sự cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán còn hạn chế các hoạt động đầu tư núp bóng (đứng sau người Việt Nam để đầu tư), tránh thất thu các khoản thuế, lệ phí cho Nhà nước
Ba là: Tự hoàn chỉnh thông qua cơ chế cạnh tranh và sự du nhập công
nghệ quản lý
Để có thể hấp dẫn được các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam thì xét trên góc độ vĩ mô, nền kinh tế Việt Nam phải có một cơ cấu hợp lý, có thế đứng vững vàng trong cạnh tranh toàn cầu, còn xét ở góc độ vi mô, tức là xét ở từng doanh nghiệp thì đòi hỏi phải có khả năng thích
Trang 37ứng cao, năng động và hiệu quả Điều này cũng có nghĩa tính cạnh tranh không chỉ đặt ra giữa Việt Nam với các nước, giữa các doanh nghiệp Việt Nam với doanh nghiệp nước ngoài mà sự cạnh tranh ngay giữa các doanh nghiệp Việt Nam với nhau trong quá trình thu hút vốn Sự cạnh tranh chính là động lực cho mỗi doanh nghiệp, mỗi định chế và cả cả nền kinh tế tự hoàn chỉnh mình để tồn tại và phát triển
1.2.3.2 Những tác động tiêu cực:
Một là: Nguy cơ về một nền kinh tế lệ thuộc vào nước ngoài
Khi mở cửa thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư , tất cả các nước đều có quy định cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ một
tỷ lệ chứng khoán nhất định Pháp luật Việt Nam cho phép nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đến tối đa 30% tổng số cổ phiếu niêm yết của tổ chức phát hành hoặc 30% vốn điều lệ của một công ty trong trường hợp mua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam Như vậy, kết quả có thể là một công ty cổ phần có 30%
cổ phần do người nước ngoài nắm giữ thì công ty đó dễ dàng do người nước ngoài kiểm soát khi họ liên kết với nhau Đồng thời, khi thị trường chứng khoán
mà các nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ đủ tới 30% lượng cổ phiếu niêm yết và quá 50 % lượng trái phiếu theo quy định cho phép thì thực chất thị trường của Việt Nam đã được coi là bị lệ thuộc vào nước ngoài Trong trường hợp phần lớn
cổ phiếu, trái phiếu của người nước ngoài đồng loạt đưa ra bán tháo để chuyển vốn ra nưóc ngoài, thì hậu quả là thị trường chứng khoán và thị trường ngoại hối
sẽ bị tác động rất tiêu cực, có thể sụp đổ Trong cuộc khủng hoảng tài chính Đông nam á vừa qua các nước Hàn Quốc, Malaixia, Inđonexia, Philipin đã bị đào thoát 43,1 tỷ USD vốn đầu tư, trong đó vốn đầu tư tài chính chiếm tới 31,2
tỷ [52]
Hai là: Nguy cơ biến dạng thị trường
Trang 38Khi mở cửa thị trường chứng khoán cho nhà đầu tư nước ngoài, thì tất yếu Việt Nam phải chịu những áp lực nhất định về cải cách cơ cấu kinh tế xã hội cũng như các nguyên tắc quản lý từ bên ngoài Sự cải cách đó nếu thận trọng và phù hợp sẽ có tác động tích cực là thu hút được các nguồn vốn cho phát triển, song nếu thực hiện việc cải cách nóng vội, nội lực còn yếu kém thì chúng ta phải gánh chịu những hậu quả rất lớn bởi sự biến dạng của thị trường chứng khoán và những thị trường liên quan như thị trường tiền tệ Một khi do sức ép cải cách mà thị trường đã bị biến dạng thì tác hại là vô cùng nguy hiểm bởi mục tiêu thu hút vốn qua thị trường cho phát triển có thể biến thành phục vụ những lợi ích của các thế lực bên ngoài
Ba là: Khả năng lây lan rủi ro và những biến động thị trường:
Năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ với điểm xuất phát là Đông Nam á đã lan sang và ảnh hưởng tới các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc … Những biến động lây lan từ thị trường tiền tệ sang thị trường chứng khoán, từ quốc gia này đến quốc gia khác Sự đổ vỡ của thị trường bất động sản,
sự thua lỗ của các công ty dẫn tới hiện tượng giảm giá chứng khoán và ngay lập tức trở thành trào lưu rút vốn ồ ạt ra khỏi thị trường chứng khoán của một nước, rồi cả một khu vực Thị trường chứng khoán đóng vai trò là kênh huy động vốn
và là hàn thử biểu của toàn bộ nền kinh tế là nơi rất có khả năng lây lan rủi ro và chịu nhiều biến động
Trang 39- Nghị định số 90/2003 NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/8/2003 – thay thế Nghị định số 75/CP/1996 ngày 28/11/1996, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước; Quyết định số 04/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK ngày 13/10/1998 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư chứng khoán và công ty quản lý quỹ
- Nghị định số 144/2003/NĐ-CP ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán thay thế Nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 11/7/1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trường chứng khoán; Quyết định số 05/2000/QĐ-UBCK3 ngày 27/03/1999 của Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước về việc ban hành Quy chế lưu ký, thanh toán bù trừ và đăng ký chứng khoán; Quyết định số 55/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của Thủ tướng Chính
Trang 40phủ quy định tạm thời ưu đãi về thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán; Thông tư số 74/2000/TT- BTC ngày 19/7/2000 của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Quyết định số 55/2000/QĐ-TTg ngày 27/3/2000 của Thủ tướng Chính phủ quy định tạm thời ưu đãi về thuế đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán
- Thông tư số 169/1998/TT-BTC ngày 22/12/1998 của Bộ tài chính hướng dẫn chế độ thuế áp dụng đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh tại Việt Nam không thuộc các hình thức đầu tư theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Quyết định số 36/2003/QĐ-TTg ngày 11/3/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam (thay thế Quyết định số 145/1999/QĐ-TTg ngày 28/6/1999 của Thủ tướng Chính phủ ); Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg ngày 17/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam (thay thế Quyết định
số 139/1999/QĐ-TTg ngày 10/6/1999 của Thủ tướng Chính phủ )
Nội dung của các văn bản pháp luật về đầu tư nói chung và về thị trường chứng khoán nói riêng đã cho thấy khuyến khích của Nhà nước nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt nam thể hiện dưới các khía cạnh cơ bản sau:
2.1 Các quy định về bảo hộ của Nhà nước đối với các nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
2 1.1 Nhà nước Việt Nam khuyến khích và bảo đảm về quyền và lợi ích hợp pháp cho các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam
Trong quá trình hội nhập và mở cửa, Việt Nam luôn xác định rõ vai trò của các nguồn vốn đầu tư nước ngoài phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội
là rất quan trọng Các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích và bảo đảm các