1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

MỘT số vấn đề cơ bản về PHÁT LUẬT bảo vệ RỪNG ở VIỆT NAM HIỆN NAY

120 739 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những giai đoạn phát triển cụ thể của xã hội, chức năng quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước sẽ được thực hiện thông qua công cụ pháp luật với các giá trị khác nhau: chiến lược, chí

Trang 1

NGUYỄN THANH HUYỀN

Một số vấn đề cơ bản về phát luật bảo vệ rừng ở

Việt Nam hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Người hướng dẫn: TS Vũ Quang

Hà nội - 2004

Trang 2

MỞ ĐẦU…… ……….2

CHƯƠNG 1 Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÒ 5

CỦA PHÁP LUẬT TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG 5

1.1 RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG: 5

1.2 PHÁP LUẬT - CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG……… 11

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM 10

2.1 KHÁI LUẬN LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM: 10

2.1.1 Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam: 11

2.1.2 Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc: 11

2.1.3 Pháp luật bảo vệ rừng của Nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay .12

2.2 NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG VIỆT NAM: 24

2.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng: 15

2.2.2 Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng: 27

2.2.3 Chính sách phát triển rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng: 32

2.2.4 Quyền lợi và nghĩa vụ của chủ rừng: 39

2.2.5 Bảo vệ các loài động thực vật hoang dã, quí hiếm và đa dạng sinh học: 46

2.2.6 Xử lý vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ rừng: 51

2.2.7 Hợp tác quốc tế bảo vệ rừng: 53

2.3 PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI .59

2.3.1 Hiện trạng rừng ở các nước: 59

2.3.2 Chính sách pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia trên thế giới: 60

2.3.3 Kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xây dựng chính sách pháp luật bảo vệ rừng: 66 CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN 68

PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG VIỆT NAM .68

3.1 HIỆN TRẠNG RỪNG Ở VIỆT NAM .68

3.2 MỘT SỐ NHẬN XÉT BƯỚC ĐẦU VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM 76

3.2.1 Về chính sách phát triển rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng chúng ta còn gặp phải những vướng mắc như: 81

3.2.2 Quy định về tài chính liên quan đến rừng khá đầy đủ về mặt văn bản nhưng khó đi vào cuộc sống .83

3.2.3 Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng còn nhiều điểm vướng mắc: 85

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ, PHÁT TRIỂN RỪNG .89

Trang 3

3.2.3 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ rừng: 108

KẾT LUẬN 110 TÀI LIỆU THAM KHẢO………114

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ASEAN Hiệp hội các nước Đông nam á

ADB Ngân hàng phát triển châu á

BHXH Bảo hiểm xã hội

BV&PTR Bảo vệ và phát triển rừng

CBD Công ước Đa dạng sinh học 1992

CITES Công ước buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy

cơ bị đe doạ 1973

CH XHCNVN Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

EU Cộng đồng châu Âu

FAO Tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên hiệp quốc

FIPI Viện Điều tra quy hoạch rừng

HĐBT Hội đồng bộ trưởng

IUCN Hiệp hội quốc tế về bảo tồn thiên nhiên

KHCN&MT Khoa học công nghệ và môi trường

KH&ĐT Kế hoạch và đầu tư

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

RAMSAR Công ước quốc tế về bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm

quan trọng quốc tế, 1971

UBND Uỷ ban nhân dân

UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc

WB Ngân hàng thế giới

WWF Quỹ bảo tồn động vật hoang dã thế giới

Trang 5

MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, kinh tế con người cũng đang phải đối mặt với những thách thức lớn cho sự phát triển Đó là nguy cơ suy giảm nghiêm trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sự suy thoái các yếu tố quan trọng, căn bản của môi trường sống mà yếu tố đề cập đến đầu tiên là rừng Tình hình đó đã đặt ra cho toàn nhân loại nhiệm vụ cấp thiết, phải có những hành động thiết thực để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường

Đã có một sự nhất trí rộng rãi giữa các quốc gia trên thế giới, rừng, tài nguyên và đất rừng phải được quản lý tốt để đáp ứng các nhu cầu khác nhau về

xã hội, kinh tế, sinh thái và văn hóa, tinh thần của các thế hệ hiện nay và tương lai Bên cạnh việc đem lại những lợi ích kinh tế, rừng có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ đất, giữ nước, điều hoà không khí và bảo vệ môi trường sinh thái Hiện trạng mất rừng và suy thoái rừng đã và đang gây ra những hậu quả vô cùng tai hại cho đời sống nhân dân cũng như sự ổn định nhiều mặt của đất nước Trong hơn nửa thế kỷ qua, các hoạt động khai thác lâm sản quá mức, đốt phá rừng làm nương rẫy, chiến tranh và thiên tai đã làm cho Việt Nam mất

đi một diện tích rừng rất lớn, đặc biệt là vụ cháy rừng U Minh trong năm 2002 vừa qua

Vì vậy, bảo vệ rừng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội, bảo

vệ môi trường của đất nước, đòi hỏi Nhà nước phải có chế độ quản lý, bảo vệ thích hợp nguồn tài nguyên này, đặc biệt là quản lý bằng pháp luật Trong hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường thì pháp luật về bảo vệ rừng có bề dày lịch sử

và một hệ thống văn bản đồ sộ Tuy nhiên, hiệu quả của việc bảo vệ và phát triển rừng đạt được chưa cao, rừng vẫn ngày một bị thu hẹp, cháy rừng thường xuyên đã trở thành vấn đề thời sự Hậu quả gây ra trực tiếp từ việc mất rừng và suy thoái rừng như lũ lụt, hạn hán, lở đất, đặc biệt là những trận lụt lịch sử diễn ra ở vùng Tây Bắc, vùng ven biển miền Trung và bão lớn ở Nam bộ trong những năm gần đây

Trang 6

Do đó việc nghiên cứu tiến tới nhằm hoàn thiện pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam có ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ rừng, bảo tồn và phát huy các giá trị quí báu mà rừng mang lại cho đất nước, cho xã hội và cho mỗi người, góp phần thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà dân tộc ta đang trên con đường tiến tới

MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần nghiên cứu, làm sáng tỏ các qui định của pháp luật về bảo vệ rừng So sánh pháp luật bảo vệ rừng ở nước ta với pháp luật bảo vệ rừng ở một số quốc gia khác nhằm tham khảo những kinh nghiệm quốc tế quý báu Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam

và đưa ra phương hướng hoàn thiện về mặt xây dựng pháp luật bảo vệ rừng cũng như cách thức tổ chức thực hiện

PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

- Đánh giá vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ rừng

- Đánh giá thực trạng pháp luật bảo vệ rừng và đưa ra phương hướng hoàn thiện

- Nghiên cứu so sánh pháp luật bảo vệ rừng của mật số nước trong khu vực và thế giới

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp các phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích, thống kê, so sánh và tổng hợp Luận văn dựa trên cơ sở lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đồng thời luận văn đã vận dụng các tư tưởng chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy - chính trị pháp

lý, về cải cách hành chính , cải cách tư pháp

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:

Đề tài: “Pháp luật bảo vệ rừng ở Việt Nam hiện nay”

Trang 8

CHƯƠNG 1

Ý NGHĨA MÔI SINH CỦA RỪNG VÀ VAI TRÕ CỦA PHÁP LUẬT

TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG

1.1 RỪNG VÀ VAI TRÒ CỦA RỪNG ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG

Từ xa xưa diện tích rừng tự nhiên đã che phủ phần lớn bề mặt của trái đất, nhưng do tác động của con người diện tích rừng tự nhiên giảm đi đáng kể Chỉ tính riêng giai đoạn 1990- 1995 ở các nước phát triển có hơn 65 triệu ha rừng bị mất, tính đến năm 1995 diện tích rừng của toàn thế giới kể cả rừng tự nhiên và rừng trồng chỉ còn 3454 triệu héc ta (số liệu của FAO – 1997), tỷ lệ che phủ chỉ chiếm khoảng 35% Hiện nay, mỗi tuần trên thế giới có khoảng 500 000 héc ta rừng tự nhiên bị mất hoặc bị thoái hoá Tổng diện tích rừng trên toàn cầu là 3.869 triệu ha, rừng tự nhiên là 3.682 triệu ha và rừng trồng là 187 triệu ha [21]

Ở Việt Nam, năm 1943 diện tích rừng có khoảng 14,3 triệu héc ta, tỷ lệ che phủ khoảng 43%, năm 1995 tổng diện tích rừng và đất rừng cả nước khoảng 19,03 triệu héc ta; trong đó chỉ có 8,25 triệu héc ta rừng tự nhiên và 1,05 triệu héc ta rừng trồng, còn lại là đất trống đồi núi trọc Rừng tự nhiên tập trung chủ yếu ở Tây nguyên, Trung nam bộ, miền Trung Trong số diện tích rừng tự nhiên còn lại chỉ có 9% là rừng giàu (trữ lượng >150m3/ha), 33% rừng trung bình (trữ lượng 80m3- 150m3/ha) còn lại là rừng nghèo kiệt (< 80m3/ha) Hiện nay, tổng diện tích đất rừng Việt Nam tính đến năm 2002 là 11.314.626 ha rừng các loại, chiếm 35,7% diện tích toàn lãnh thổ [8, tr 19]

Cùng với việc mất rừng tự nhiên, môi trường sống của nhiều loài động vật rừng cũng bị mất, đây là nguy cơ làm cho nhiều loài động vật rừng quí hiếm đang bị tuyệt chủng, đa dạng sinh học đang bị suy thoái nhanh chóng Chính vì vậy, vai trò của rừng trong việc bảo vệ và cải tạo môi trường đã trở thành vấn đề thời sự lôi cuốn sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau Sự phát triển công nhiệp, quá trình đô thị hoá và nạn phá rừng ở các nước đang phát triển đã và đang làm nhiễm bẩn môi trường sống của loài người, phá

vỡ cân bằng sinh thái trong sinh quyển Ngày nay, vấn đề bảo vệ, gây trồng rừng

Trang 9

không chỉ còn mang ý nghĩa của việc bảo vệ phát triển nguồn tài nguyên mà còn là để bảo vệ và cải tạo môi trường sống của loài người Rừng có ảnh hưởng nhiều mặt đến môi trường tự nhiên, làm thay đổi điều kiện khí hậu, đất đai, sinh vật, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái con người

Nghiên cứu vai trò của rừng đối với môi trường không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, gây trồng các loại rừng phòng hộ, hạn chế ảnh hưởng của thiên tai, làm tăng thêm ý nghĩa cảnh quan văn hoá xã hội của rừng

1.1.1 Vai trò tác động của rừng đến khí hậu

- Rừng có ảnh hưởng tổng hợp đến các nhân tố khí hậu, thuỷ văn Vùng rừng núi, vùng đồng bằng, vùng sa mạc có chế độ khí hậu hoàn toàn khác nhau Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ gió của từng địa phương Chế độ gió thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi chế độ nhiệt và độ khô ẩm của không khí

- Rừng là chướng ngại trên đường di chuyển của gió, làm thay đổi tốc độ

và hướng gió Rừng làm thay đổi tốc độ gió ở xung quanh rừng trong một phạm

vi nhất định ở mặt đón gió cũng như ở mặt khuất gió Phạm vi ảnh hưởng của rừng khiến gió phụ thuộc vào chiều cao của rừng - rừng càng cao thì phạm vi ảnh hưởng của rừng đến gió càng lớn Ảnh hưởng của rừng đến gió còn phụ thuộc vào cấu trúc của rừng, rừng có cấu trúc nhiều tầng thì ảnh hưởng của rừng đến gió càng nhiều

- Rừng là công cụ cơ bản và quan trọng nhất để cân bằng khí CO2 và O2

trong khí quyển thông qua quá trình quang hợp Thảm thực vật rừng trên thế giới giữ vai trò quyết định trong chu trình tuần hoàn các-bon tự nhiên trong khí quyển Nếu không có chu trình này thì chỉ trong 30 - 35 năm, toàn bộ CO2 trong khí quyển sẽ bị tiêu hao hoàn toàn, sự sống sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng

- Trong những thập kỷ vừa qua, do đốt phá rừng làm nương rẫy, mở mang diện tích đất canh tác không hợp lý, do phát triển công nghiệp ồ ạt nên tỷ lệ CO2trong khí quyển tăng dần gây ra hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ của trái đất cũng

Trang 10

tăng lên Điều đó còn chứng tỏ vai trò của rừng trong việc cân bằng nhiệt độ trong không khí

Ngược lại, nhiệt độ là một nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong đời sống của rừng, nó có ảnh hưởng quyết định đến cường độ các quá trình sinh

lý của cây rừng, như quang hợp, hô hấp, thoát hơi nước, hấp thu nước và các chất dinh dưỡng khoáng

- Nhiệt độ là yếu tố quan trọng kích thích hạt giống nảy mầm và có ảnh hưởng đến quá trình nảy lộc, ra lá, ra hoa, kết quả của cây rừng Nhiệt độ, độ

ẩm và nước có ảnh hưởng quyết định đến phân bố rừng trên thế giới Quy luật phân bố rừng có liên quan chặt chẽ đến quy luật phân bố nhiệt độ theo vành đai,

độ vĩ và độ cao

1.1.2 Vai trò, tác động của rừng đến nguồn nước

Tục ngữ Ấn Độ có câu: “Rừng là nguồn nước, nước là sự sống” Điều

đó đã nói lên vai trò to lớn của rừng đến nguồn nước trên trái đất Rừng có tác dụng giữ nguồn nước, hạn chế lũ lụt, hạn hán, bảo vệ đất đai chống xói mòn, nâng cao độ phì của đất và làm sạch những nguồn nước bị nhiễm bẩn Ở những nơi có rừng nước mưa rơi xuống một phần được giữ lại ở tán rừng và sau đó bốc hơi trở lại khí quyển, một phần tiếp tục rơi xuống đất và chảy dọc theo thân cây, cành cây Phần nước rơi xuống đất lại bị cây bụi, thảm tươi, tầng cành khô, lá rụng ngăn cản cơ học làm tốc độ dòng chảy chậm lại hạn chế xói mòn đất Khi

độ ẩm bão hòa, một phần nước trong đất chảy theo chiều thẳng đứng bổ sung cho lượng nước ngầm

- Tầng cành cây lá rụng và đất rừng giữ vai trò như một chiếc phin lọc chất bẩn Rừng có khả năng chuyển hóa dòng nước chảy trên mặt đất thành dòng chảy trong lòng đất Khả năng ngăn chặn dòng chảy của rừng rất lớn Lượng dòng chảy ở rừng hỗn giao loài lá rộng có độ tán che 0,7 - 0,8 là 44,3m3/ha/năm, còn ở đất rừng sau khai thác trắng là 1.888,7m3/ha/năm (theo tác giả Bùi Ngạnh (1973-1976) - nghiên cứu ở Núi Tiên - Hữu Lũng - Lạng Sơn)

Trang 11

- Ngược lại, nước cũng là nhân tố sinh thái giữ vai trò quan trọng trong đời sống của cây rừng Cùng với nhiệt độ, nước là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố rừng trên thế giới Nước là một trong những điều kiện cần thiết để hạt giống nảy mầm, xúc tiến quá trình thoát hơi nước và hấp thu chất dinh dưỡng khoáng Nước ảnh hưởng đến rừng dưới 3 dạng: mưa, độ ẩm không khí và độ

ẩm đất Lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm có ảnh hưởng trực tiếp đến thời kỳ sinh trưởng của cây rừng Cường độ mưa ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hấp thu nước của thực vật rừng và độ xói mòn đất nhất là trong điều kiện địa hình đồi núi

- Ở nước ta, nhìn chung lượng mưa cao lại phân bố không đều, cường độ mưa lớn nên khả năng gây ra xói mòn đất rất lớn Sự bào mòn tầng mặt đất màu

mỡ trong lưu vực thượng nguồn là nguyên nhân làm tăng nồng độ phù sa của những dòng sông Riêng sông Hồng hàng năm đổ ra biển từ 80-130 triệu tấn phù

sa Nhiều hồ thuỷ điện ở nước ta bị cạn dần do xói mòn đất xuống lòng hồ Phá rừng đốt nương rẫy làm giảm độ che phủ của tán rừng và kết quả là gây ra xói mòn đất nghiêm trọng và đất đai thoái hóa

1.1.3 Vai trò tác dụng của rừng đến đất

Rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến đất thông qua sự rơi rụng của cành lá cây rừng, thảm mục rừng tạo ra sự tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng, thông qua đó rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất

Vật rơi rụng và thảm mục rừng

- Vật rơi rụng như cành, lá, hoa quả rụng xuống đất là nguồn cung cấp chất hữu cơ cho đất rừng Vi sinh vật phân giải, vật rơi rụng biến thành thảm mục rừng Thảm mục là thành phần đặc trưng chỉ có trong hệ sinh thái rừng Thảm mục là kho chứa các chất dinh dưỡng khoáng làm tăng độ phì nhiêu của đất Thảm mục có tác dụng điều tiết nguồn nước, ngăn cản dòng chảy, hút một lượng nước lớn làm giảm lưu lượng dòng chảy, tăng lượng nước thấm vào đất,

Trang 12

giảm lượng bốc hơi mặt đất Do vậy, thảo mục có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì nguồn nước, chống lũ lụt, hạn hán và xói mòn đất

Ở vùng rừng nhiệt đới, mặc dầu vật rơi rụng nhiều hơn vùng rừng ôn đới, nhưng do điều kiện nhiệt độ và độ ẩm cao nên quá trình phân giải thảm mục rừng diễn ra chậm hơn vùng rừng ôn đới Trong điều kiện này, thảm mục chuyển thành than bùn Hiện tượng này gặp phổ biến ở rừng tràm U Minh, rừng tràm Nam Bộ Cải tạo vùng đất phèn ở miền nam nước ta là một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn Phát triển vùng đất phèn thành vùng sản xuất nông – lâm nghiệp kết hợp đem lại kết quả kinh tế cao

Rừng có khả năng tự cải tạo đất thông qua quá trình tuần hoàn dinh dưỡng trong rừng: Tuần hoàn dinh dưỡng khoáng là một đặc trưng chỉ có ở hệ

sinh thái rừng Những chất dinh dưỡng khoáng trong đất được rễ cây rừng hấp thụ, nuôi dưỡng cây, phần còn lại trả về đất thông qua vật rơi rụng và rễ cây bị chết trong đất Vật rơi rụng và rễ cây lại tiếp tục phân giải thành mùn cung cấp chất dinh dưỡng khoáng cho cây Toàn bộ quá trình di chuyển các chất khoáng trên đây tạo nên chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng trong rừng Nhờ có chu trình này mà rừng có khả năng tự cải tạo đất

- Khi rừng bị phá hoại, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng bị phá vỡ, rừng không còn khả năng tự cải tạo đất, đất đai bị xói mòn, độ phì đất bị thoái hoá Tập quán du canh du cư, đốt rừng làm rẫy không chỉ huỷ diệt tài nguyên thiên nhiên rừng trên mặt đất mà còn phá hoại cả nguồn tài nguyên đất đai phì nhiêu dưới tán rừng mưa nhiệt đới, gây lũ lụt hạn hán trên phạm vi cả nước

Rừng ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất:

- Ảnh hưởng của rừng đến quá trình hình thành đất thông qua tác dụng của vật rơi rụng, thảm mục rừng, chu trình tuần hoàn dinh dưỡng khoáng Tiểu khí hậu dưới tán rừng có ảnh hưởng tốt đến quá trình hình thành đất Động vật rừng, vi sinh vật trong rừng cải thiện tính chất lý học, hoá học của đất Rễ cây rừng chằng chịt dưới đất làm cho đất tơi xốp thoáng khí, có độ hút nước cao Mỗi loại rừng khác nhau ảnh hưởng đến quá trình hình thành đất khác nhau Đất

Trang 13

rừng lá thưa, đất rừng lá rộng, đất rừng tre nứa đều có những đặc trưng khác nhau

1.1.4 Vai trò, tác dụng của rừng đến việc chống ô nhiễm và làm sạch không khí

Rừng có khả năng làm sạch không khí

- Hô hấp của sinh vật nói chung và con người nói riêng, các chu trình đốt cháy, công nghiệp hoá luôn thải các chất CO2 vào khí quyển Nếu không có quá trình quang hợp của thực vật, đặc biệt là cây rừng sử dụng CO2 thì cân bằng CO2

và O2 trong khí quyển sẽ bị phá huỷ và loài người không thể tồn tại được Để đảm bảo quang hợp bình thường hàng năm mỗi hecta rừng cần 4 tấn Cácbonic tương đương với hàm lượng CO2 có trong 1.800.000m3 không khí

- Rừng là một “nhà máy lọc bụi” khổng lồ Theo tài liệu của Menden

(1956): một hecta rừng cây Vân Sam có khả năng hút 32 tấn bụi trong không khí; rừng thông: 36,4 tấn, người ta gọi đây là khả năng chống nhiễm bẩn vật lý môi trường của rừng [9]

Rừng còn có khả năng chống nhiễm bẩn hoá học môi trường

- SO2 là chất độc đối với con người, nhất là khi gặp không khí ẩm tạo thành H2SO3 sẽ tác động mạnh đến cơ quan hô hấp Rừng có tác dụng ngăn cản

cơ giới sự truyền lan SO2 và làm giảm nồng độ của chúng

Trong những năm gần đây, một mối nguy hiểm mới xuất hiện là sự nhiễm bẩn môi trường không khí, đất, nước bởi các sản phẩm do phân huỷ phóng xạ, đặc biệt nguy hiểm là các đồng vị phóng xạ stronti-90, xezi137, Việc nghiên cứu vai trò của rừng trong việc chống ô nhiễm phóng xạ có nguồn gốc nhân tạo đang trở nên có ý nghĩa quan trọng Rừng rất mẫn cảm với các bức xạ ion hoá và

có tác dụng hạn chế các tác hại của nó Rừng giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình làm yếu hiệu quả của việc phân huỷ hạt nhân dưới dạng nhiễm bẩn phóng xạ trong khí quyển Rừng có khả năng ngăn cản, phân phối lại và tích luỹ bụi phóng xạ Theo tài liệu của Duya Kơ (1966) tổng lượng phóng xạ trong

Trang 14

nước mưa ở những nơi không được bảo vệ bởi rừng lớn hơn 32 lần so với rừng Các chất phóng xạ rơi xuống được tích luỹ nhiều ở đất rừng [9]

Rừng còn có khả năng phân phối lại, hấp thụ và làm giảm tiếng ồn, và

rừng còn tạo ra một hoàn cảnh tiểu khí hậu có tác dụng tốt đến sức khoẻ và kéo dài tuổi thọ cho con người Nhiều loài cây rừng có khả năng điều tiết các chất phitonxit có tác dụng sát trùng, diệt vi khuẩn như thông, long não, bạch đàn, quế Vì vậy, ngày nay, việc thiết kế vành đai xanh, trồng cây trên các đường phố, xây dựng các công viên trở thành nội dung không thể thiếu được trong các thiết

kế và dự án xây dựng các thành phố và khu trung tâm công nghiệp

Tóm lại, ảnh hưởng của rừng đến môi trường mang tính tổng hợp như đất, nước, không khí và rừng là yếu tố cơ bản để duy trì cân bằng sinh thái của môi trường Rừng không còn thì sự sống của loài người sẽ bị đe doạ Số phận của rừng là số phận của hành tinh chúng ta Nếu như giá trị kinh tế của rừng (gỗ và đặc sản) có thể xác định được thì chức năng bảo vệ và cải tạo môi trường sống của rừng trở nên vô giá đối với sự sống còn của loài người

Chính vì ý nghiã và vai trò to lớn đó của rừng mà ngày nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề phát triển và bảo vệ rừng Nó không còn là vấn đề của riêng một quốc gia nào mà là vấn đề toàn cầu Thế giới

đã có rất nhiều các hội nghị bàn về môi trường nói chung mà đặc biệt là môi trường rừng Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển của Liên Hợp Quốc họp tại Brazin tháng 6 năm 1992 đã chính thức thừa nhận phương châm

“phát triển bền vững” là mục tiêu phát triển lâu dài cần đạt được của mọi quốc

gia Quan điểm chung của sự phát triển bền vững là bảo đảm sao cho việc đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hôm nay không tổn hại đến việc đáp ứng nhu cầu của thế hệ mai sau

1.2 PHÁP LUẬT- CÔNG CỤ HỮU HIỆU TRONG VIỆC BẢO VỆ RỪNG

Lịch sử thế giới đã ghi nhận những hậu quả nặng nề của nhiều dân tộc do tình trạng phá rừng mà nhiều quốc gia đất đã bị sa mạc hoá, thiếu đất canh tác, mùa màng thất bát, nạn đói và thiếu nước đe doạ thường xuyên Mất rừng sẽ làm mất luôn khả năng điều tiết và duy trì nguồn nước, làm cho lũ lụt và hạn hán xảy

Trang 15

ra thường xuyên hơn Mất rừng do tình trạng chặt rừng, đốt rừng làm nương rẫy

đã làm cho bầu không khí trên trái đất bị ô nhiễm nghiêm trọng, gây ra hiệu ứng nhà kính làm cho trái đất nóng lên hàng năm 0,50C băng ở hai cực tan ra, nước biển dâng lên làm ngập đất đai trồng trọt, làm thủng tầng ôzôn, gây ảnh hưởng xấu đến sự sống trên trái đất

Mất rừng gây ra hiện tượng xói mòn đất nghiêm trọng hàng năm ở vùng đồi núi mất đi khoảng 0,9 đến 1,2 cm tầng đất mặt Theo tính toán của các nhà khoa học muốn hình thành 2,54cm tầng đất mặt phải mất thời gian là 30 năm (Napier và pouster 1982) [9] Xói mòn đất không những làm cho đất vùng đồi bị thoái hoá nghiêm trọng mà còn làm bồi đắp các lòng sông, lòng hồ gây ảnh hưởng không nhỏ đến các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện và các hệ thống giao thông đường thuỷ

Rừng bị huỷ hoại, tàn phá là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của nhiều loài động thực vật trên thế giới Sự tàn phá những hệ sinh thái đa dạng đã dẫn đến dự đoán rừng: trong vòng 20 đến 30 năm tới 1/4 tổng số loài sinh vật trên thế giới có nguy cơ bị diệt vong (Ravex, 1998) [9]

Rừng bị huỷ hoại, tàn phá làm cho cảnh quan, môi trường xơ xác tiêu điều, ảnh hưởng không tốt tới đời sống văn hoá, an ninh, quốc phòng

Với vai trò và tác dụng to lớn của rừng đối với môi trường sống nói chung

và sự tồn vong của loài người nói riêng cũng như tác hại của việc rừng bị hủy hoại vừa phân tích trên đây cho thấy việc quản lý bảo vệ và phát triển rừng cần thiết hơn bao giờ hết Quản lý, bảo vệ rừng bằng nhiều công cụ và biện pháp khác nhau Tuy nhiên, công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu được ở bất kì quốc gia nào đó là pháp luật

Ngay từ ngày đầu giành được độc lập chính phủ Việt Nam quan tâm ngay tới vấn đề bảo vệ rừng bằng việc ban hành sắc lệnh 124/SL ngày 21/12/1949 do

Hồ Chủ Tịch ký Quy định việc kiểm soát lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng Tiếp theo đó, Quyết định 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập khu rừng quốc gia Cúc Phương Nghị định 39/CP ngày 5/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn bắt

Trang 16

chim thú rừng Đến thời kỳ gần đây, Pháp lệnh về bảo vệ rừng ngày 11/9/1972 , Luật bảo vệ môi trường 1993, Luật bảo vệ và phát triển rừng1991, Luật đất đai

1993 (được sửa bổ sung năm 1997, 1998, 2000, 2001), Luật phòng cháy chữa cháy 2001

Có thể đánh giá pháp luật bảo vệ rừng có một bề dày lịch sử trong hệ thống pháp luật Việt Nam Điều đó thể hiện nhận thức cực kỳ đúng đắn của Nhà nước tới công tác bảo vệ và phát triển rừng cũng như coi trọng việc quản lý, bảo

vệ rừng

- Để thực hiện chức năng quản lý và bảo vệ rừng, Nhà nước với tính cách

là chủ thể đặc biệt quản lý xã hội, có thể thực hiện nhiều phương thức, biện pháp khác nhau để giữ gìn và phát triển vốn rừng hiện có Tuy nhiên, công cụ hữu hiệu nhất để Nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong việc quản lý rừng chính là pháp luật Chỉ có thể thông qua pháp luật và bằng pháp luật, Nhà nước mới có thể điều chỉnh hành vi của các chủ thể tới rừng phát triển đúng hướng

Sự điều chỉnh của pháp luật đối với việc bảo vệ rừng thể hiện ở chỗ một mặt Nhà nước xây dựng một hệ thống các qui phạm đầy đủ và đồng bộ qui định chặt chẽ các nguyên tắc và phương thức khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng, các tài nguyên và hệ sinh thái rừng Mặt khác, bảo đảm thực hiện các qui phạm đó bằng quyền lực cưỡng chế của Nhà nước Trong những giai đoạn phát triển cụ thể của xã hội, chức năng quản lý và bảo vệ rừng của Nhà nước sẽ được thực hiện thông qua công cụ pháp luật với các giá trị khác nhau: chiến lược, chính sách, qui hoạch, kế hoạch, phương thức quản lý và sử dụng các tài nguyên

và bảo vệ rừng Có thể nói, sự hiện diện của pháp luật là một đòi hỏi tất yếu khách quan đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng (nguồn tài nguyên quí giá không chỉ cho thế hệ hôm nay và cho cả thế hệ mai sau) Chỉ có pháp luật mới định hướng được việc bảo vệ và phát triển rừng và mới bảo đảm cho các ý chí đó của Nhà nước được áp dụng trong thực tiễn

- Pháp luật sẽ xác lập những phạm vi và nội dung các quyền của con người, quyền công dân trong mối liên hệ và tác động qua lại với môi trường rừng

Trang 17

- Pháp luật quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân mỗi tổ chức và của các cộng đồng địa phương trong việc khai thác, sử dụng, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên và hệ sinh thái rừng

- Quy định các biện pháp quản lý bảo vệ rừng, sử dụng và phát triển rừng

- Các hình thức khuyến khích khen thưởng đối với những người có công bảo vệ rừng và các biện pháp xử phạt đối với người vi phạm pháp luật

- Pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý để nhà nước bằng quyền lực cưỡng chế, ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm đến rừng, vi phạm các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường vừa xử lý nghiêm minh những người có hành vi sai phạm

- Pháp luật có vai trò hết sức quan trọng, không thể thiếu trong sự nghiệp bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam Bởi vì, để sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển bền vững thì nhà nước không chỉ sử dụng pháp luật để quy định việc thu thuế các sản phẩm của rừng như thời phong kiến và thời Pháp thuộc

mà pháp luật để bảo vệ và phát triển rừng vì sự phát triển của đất nước, vì cân bằng môi trường sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, đảm bảo phát triển bền vững trên cơ

sở bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành Điều đó có ý nghĩa sống còn cho sự tồn tại của loài người ở cả hiện tại và tương lai

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG

Ở VIỆT NAM

2.1 KHÁI LUẬN VỀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG Ở VIỆT NAM

2.1.1 Pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến Việt Nam:

Dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, rừng là một loại tài nguyên thuộc sở hữu các vương triều (nhà vua) nhưng trong thực tế người dân vẫn tự do vào rừng khai thác, hái lượm, kết hợp với săn bắt thú rừng Cùng với sự phát triển của lịch sử, các triều đại phong kiến ở nước ta cũng có quy định luật lệ thành văn về lâm nghiệp, trước hết là các thể lệ về thu thuế các sản vật của rừng Như sách “ Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú đã ghi vào tháng 3/1013 vua Lý Thái Tổ đã định ra lệ thu thuế sản vật rừng, có 6 loại thuế khác nhau, trong đó có các loại thuế liên quan đến sản vật khai thác ở rừng như : thuế

Trang 18

khai thác của dân Mạn Lào (dân tộc ít người), thuế thu vào gỗ, và các loại hoa quả ở đầu nguồn [30]

Trong Quốc triều hình luật của triều đại nhà Lê (năm 1428-1788) cũng đã

có điều luật quy định về lĩnh vực bảo vệ rừng - điều 22 trong chương Tạp luận quy định : Người chiếm cứ những hoa lợi ở núi, rừng, hồ, đập thì xử phạt 60 trượng [35, tr 201]

Nội dung chủ yếu của các qui định trên nhằm bảo vệ chế độ sở hữu của vua chúa đối với tài nguyên rừng Ngoài ra, các triều đại phong kiến cũng đã có quy định, thể lệ về thuế lâm sản, về thủ tục khai thác các loại lâm sản đế cống nạp cho nhà vua Thời vua Lê Dụ Tông (1715) bỏ lệnh cấm lưu thông gỗ quế, cho phép dân được tự do lưu thông buôn bán Nơi có rừng quế tự nhiên cho phép người bóc vỏ quế, người bóc vỏ quế được hưởng một nửa, nộp vào cho nhà nước một nửa hoa lợi về quế; Năm 1720 Chúa Trịnh Cương quy định lại thể lệ

về quản lý cây quế rất chặt chẽ Người muốn buôn bán quế phải làm tờ khai xin phép, mua được bao nhiêu phải báo cáo cho quan sở tại ghi chép, đem đựng vào sọt 100 cân, vận tải trên đường có tuần ty kiểm tra lại, về đến kinh đô phải trình giấy tờ để quan kiểm tra lại trước khi đem về nhà cất giữ Khi có thuyền buôn của người nước ngoài đến mua thì phải làm tờ khai để trình lên chúa Trịnh xem xét và chuẩn y cho nộp thuế [30]

Đời vua Gia Long (1802), theo sách “Đại Nam hội điển”, nhà vua đặt chế

độ thuế đối với lâm thổ sản (Mật ong rừng, Trầm hương, Ngà voi, Sừng tê giác, Cánh kiến, Sừng hươu, Kỳ nam, ) Năm 1804 Gia Long đặt lệ thưởng cho những người bẫy, bắt, giết được Hổ Triều đình đã hạ lệnh cho các tỉnh thu mua cống nạp cho nhà vua các loại gỗ và lâm sản quý Cũng có những triều đại quy định những thể chế để tiết kiệm gỗ như thời vua Minh Mạng năm 1840 [30]

Tóm lại, các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã quan tâm chú trọng đến việc quản lý, bảo vệ rừng tuy nhiên, chủ yếu vẫn là các quy định về việc thu thuế cống nạp sản vật từ rừng cho nhà vua, rất hiếm gặp các quy định về bảo vệ động vật rừng Các qui định pháp luật bảo vệ rừng dưới các triều đại phong kiến

Trang 19

chủ yếu nhằm mục đích bảo vệ một loạt tài sản, bảo vệ quyền lợi của giai cấp phong kiến chứ chưa đặt ra ý thức về vấn đề bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo

vệ rừng và phát triển bền vững cho các đời sau Mặc dù vậy những qui định đó cũng thể hiện hành động cụ thể trong việc bảo vệ rừng và tài nguyên rừng

2.1.2 Pháp luật bảo vệ rừng dưới chế độ Pháp thuộc

Người Pháp xâm lược Việt Nam bắt đầu từ năm 1858 Ngay khi vào Việt Nam, chúng đã tiến hành mọi chương trình khai thác, vơ vét tài nguyên một cách triệt để, trong đó có tài nguyên rừng Năm 1875, người Pháp ban hành quy chế cấp giấy phép khai thác, thủ tục trình báo khi khai thác, vận chuyển gỗ, và quy định đường kính tối thiểu được phép khai thác đối với 43 loại gỗ, phân thành 4 nhóm Hầu hết cấp đường kính tối thiểu được phép khai thác là 45cm [30] Theo quy tắc này, gỗ được khai thác rất tự do để kiếm lời Chính vì vậy, trong những thập kỷ đầu xâm lược và đô hộ nước ta, rừng ở các tỉnh Nam Kỳ bị phá hoại rất nhanh chóng, làm cho nhà cầm quyền có những lo lắng và bắt đầu

đề ra những biện pháp chặt chẽ hơn để quản lý và bảo vệ rừng

Vì vậy, ngay từ năm 1891 và sau đó 1894 Pháp đã ban hành Nghị định liên tiếp về việc thiết lập các khu rừng cấm (Reseive Forestiere) Đó là những khu mà ở đó cấm hẳn các hành động khai thác tự do Thời Pháp thuộc cũng như thời phong kiến, song có nhiều điểm tiến bộ, đã có những chính sách quan tâm tới vấn đề bảo vệ rừng cho dù vì mục đích thương mại, ví dụ: Người khai thác phải khai thác theo một quy tắc nhất định để đảm bảo tái sinh các khu rừng này trong một chu kỳ từ 15 đến 20 năm Ở các khu rừng cấm, người khai thác phải

áp dụng kỹ thuật đánh dấu các cây được chặt và phải giữ lại những cây non của các cây có giá trị để làm cho các khu rừng ngày càng có nhiều loại gỗ quí có giá trị thương mại cao hơn Ba khu rừng cấm đầu tiên được thiết lập ở Thủ Dầu Một Việc thiết lập các khu rừng cấm và những quy định về những quy tắc khai thác gỗ ở những khu rừng đó theo các Nghị định ban hành năm 1891 được xem

là “hòn đá tảng” về quy tắc quản lý rừng trong những năm sau đó

Trang 20

Ngày 3/6/1902 thực dân Pháp đã ban hành các chế độ thể lệ lâm nghiệp ở Bắc Kỳ Ngày 20/8/1902 ban hành các quy chế về khai thác rừng ở các khu vực rừng cấm ở Bắc Kỳ Ngày 27/3/1914 toàn quyền Đông Dương ra Nghị định thiết lập chế độ độc quyền khai thác rừng ở Bắc Kỳ Tiếp theo đó, ngày 26/8/1914 toàn quyền Đông Dương lại tiếp tục ra Nghị định thành lập chế độ độc quyền khai thác rừng ở Trung Kỳ [30]

Nhìn chung, các quy định pháp luật về lâm nghiệp trong thời kì thực dân Pháp đô hộ nước ta chủ yếu nhằm mục đính khai thác, bảo vệ quyền lợi của nhà cầm quyền Đông Dương

2.1.3 Pháp luật bảo vệ rừng của nhà nước Việt Nam từ 1945 đến nay

Ngay từ khi mới thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ

đã qui định phải xóa bỏ những pháp luật, thể chế có tính chất độc quyền, bóc lột

hà khắc và không phù hợp với lợi ích của nhân dân, nhất là nhân dân lao động Tuân theo các qui định đó, Bộ Quốc Dân Kinh Tế và sau này là Bộ Canh Nông

đã ra nhiều Nghị định để bãi bỏ những thể chế lâm nghiệp có tính chất hà khắc,

độc quyền đã được áp dụng trong thời kỳ Pháp thuộc và xác định rõ: Rừng và các nguồn tài nguyên khác là của toàn dân nên Nhà nước Việt Nam mới chú

trọng xây dựng một chính sách lâm nghiệp hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, gìn giữ bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng không chỉ cho thế

hệ hôm nay mà còn giữ nguyên kho tài sản truyền cho hậu thế Có thể tạm chia làm các giai đoạn:

2.1.3.a Giai đoạn từ năm 1945 đến 1960

Theo đề nghị của ông Tổng thanh tra các nha thuộc Bộ Canh nông, ngày 24/7/1946, Bộ Canh Nông đã ra Nghị định số 288, thiết lập tại Bộ Canh nông một Uỷ ban nghiên cứu lâm chính có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lâm chính Ngày 16/11/1947 Bộ Canh Nông đã ban hành Nghị định số 300B ấn định cách tính giá bán lâm sản và trong những năm kháng chiến, Bộ Canh Nông đã nhiều lần sửa đổi chế độ thu tiền bán lâm sản như : quy định các cơ quan nhà nước khi được khai thác lâm sản đều phải trả tiền bán lâm sản, để lại cho ngân sách xã có rừng một số tiền trong tổng số tiền bán khoán lâm sản thu được

Trang 21

Ngày 21/8/1954 Bộ Canh nông và Bộ Tài Chính đã ban hành Nghị định liên bộ

số 8CN/TN/ND quy định cách tính tiền bán lâm sản phải trả cho nhà nước Văn bản này còn được áp dụng trong suốt giai đoạn xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ngày 12/3/1954 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 366/TTg về việc trồng cây gây rừng Thông tư này đã xác định chính sách sử dụng đất đai công thế vào mục đích trồng rừng (quyền sở hữu đất đai vẫn là của

quốc gia) và chính sách hưởng lợi “ai gây rừng thì được quyền hưởng hoa lợi về cây cối đã trồng”, “chính quyền phải cử cán bộ chuyên môn để giúp dân và có thể ươm cây con (như cây phi lao) để bán lại cho nhân dân” [41] Có thể nói, đây là chính sách hết sức tiến bộ trong thời kì này mặc dù

quy định đất đai thuộc sở hữu của nhà nước nhưng người gây rừng thì lại được toàn quyền hưởng hoa lợi về cây cối đã trồng Chính sách này thúc đẩy nhân dân gây trồng và bảo vệ rừng

Về thể chế bảo vệ rừng, sản xuất, lưu thông và xuất khẩu lâm sản được chính phủ rất quan tâm Ngày 5/11/1945 Uỷ ban nhân dân Bắc Bộ đã ban hành Thông tư số 828 gửi Chủ tịch UBND các tỉnh Bắc bộ về việc bảo vệ và duy trì

rừng, ra mệnh lệnh “cấm chỉ nhân dân không ai được tự tiện khai khẩn hoặc đốt phá rừng núi” [42]

Ngày 28/6/1946 Bộ Nội vụ và Bộ Canh nông đã ra Thông tư liên bộ số

1303/BCN/VP về việc bảo vệ rừng Thông tư này đã xác định “rừng núi có hai nhiệm vụ quan trọng là nhiệm vụ xã hội và nhiệm vụ kinh tế” và khẳng định:

“thể lệ lâm chính có mục đích bảo vệ rừng núi , mỗi năm chỉ khai thác phần thặng dư và giữ nguyên kho tài sản truyền cho hậu thế” và cấm ngặt

việc đốt phá rừng vô ý thức, việc khai thác rừng nhất thiết phải tuân theo mệnh lệnh của Nha lâm chính [43] Có thể nói, đây là qui định hết sức tiến bộ cả về mặt ý nghĩa xã hội và về mặt lập pháp Bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên

rừng, không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau đó chính là ý tưởng “phát triển bền vững” mà ngày nay chúng ta đang hướng tới

Trang 22

Những tội phạm: (chính phạm và tòng phạm) vi phạm Thông tư trên sẽ do Nha lâm chính làm biên bản đưa ra toà án và sẽ bị phạt tiền, phạt tù hay hay phải bồi thường theo thể lệ đã ấn định Thông tư này còn quy định trách nhiệm của

Uỷ ban hành chính các làng, xã đối với việc đốt nương làm rẫy, phòng chống cháy rừng và trách nhiệm hợp tác chặt chẽ với sở lâm chính để bảo vệ rừng

Trong thời kì khôi phục và cải tạo kinh tế ở miền Bắc XHCN, ngày 8/9/1959 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 335/TTg về công tác lâm nghiệp, trong chỉ thị này đã nêu lên nhận định về tình hình lâm nghiệp từ sau ngày lập lại hòa bình và chỉ thị cho Bộ Nông Lâm phối hợp với các bộ, các ngành liên quan nghiên cứu những vấn đề rất cần thiết, cơ bản như :

- Xây dựng đường lối công tác và phương hướng phát triển lâm nghiệp dài hạn; nắm tình hình rừng để xác định trữ lượng và sản lượng hàng năm; chủ trương định canh ở miền núi, quy hoạch sử dụng đất đai; lập quy hoạch kinh doanh rừng cho mỗi cấp tỉnh, xã, xí nghiệp

- Chấn chỉnh công tác quản lý, chú trọng vấn đề: phân cấp quản lý rừng cho các cấp hành chính, đăc biệt cho các xã, giao rừng và tổ chức việc kinh doanh về lâm nghiệp cho các đơn vị sản xuất như nông trường, xí nghiệp, hợp tác xã

- Xây dựng chính sách chế độ bảo vệ rừng và thú rừng, trồng cây gây rừng, khai thác, sử dụng gỗ, chính sách giá cả chế độ sử dụng tiền bán lâm sản vào việc tu bổ, cải tạo rừng và kiến thiết đường trong rừng

Tóm lại, ở thời kì này nhà nước quản lý bảo vệ rừng ở những mặt thiết yếu nhất và ban hành văn bản pháp quy về vấn đề này chủ yếu bằng chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư của các bộ, ngành; Nghị định của các bộ chưa ban hành văn bản ở cấp cao hơn Mặc dù vậy, những nội dung quy định về bảo vệ rừng đã tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh và kịp thời

2.1.3.b Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1990

Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam năm 1960 đường lối phát triển lâm nghiệp được xác định cụ thể hơn Ngày

10/3/1961 Trung ương Đảng có Chỉ thị số 15CT/CTTW xác định rõ “rừng là tài

Trang 23

sản của toàn dân, phải do nhà nước thống nhất quản lý” Trong thời kì này

Tổng cục Lâm nghiệp đã chú ý tăng cường công tác xây dựng chính sách và thể chế lâm nghiệp, đề xuất với Chính phủ ban hành nhiều chính sách, thể lệ, văn bản pháp quy về lâm nghiệp Ngày 29/12/1961 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 221/CP/HĐCP về một số thể lệ về phòng cháy và chữa cháy rừng; Chỉ thị số 134/TTg ngày 21/6/1960 của Thủ tướng Chính phủ về việc cấm bắt voi, Nghị định số 39CP ngày 5/4/1963 quy định Điều lệ tạm thời về săn, bắt chim thú rừng

Trong thời kỳ này, Chính phủ còn ban hành nhiều chính sách quan trọng khác nhằm khuyến khích nhân dân tham gia xây dựng phát triển lâm nghiệp như:

- Quyết định 72/TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng chính phủ về việc thành lập khu rừng quốc gia Cúc Phương

- Chỉ thị số 77/TTg ngày 5/8/1963 của Thủ tướng Chính phủ về việc lập

quy hoạch dài hạn phát triển lâm nghiệp

- Nghị quyết số 183CP ngày 25/9/1966 của Thủ tướng Chính phủ về công tác trồng cây gây rừng

- Nghị quyết số 38CP ngày 12/3/1968 của Hội đồng Chính phủ về công tác định canh định cư kết hợp với tác hóa đối với đồng bào hiện còn du canh, du cư

- Quyết định số 179/CP ngày 12/11/1968 của HĐCP đối với một số hợp tác xã có kinh doanh nghề rừng

- Quyết định số 17/CP ngày 3/2/1972 của HĐCP về quản lý thống nhất việc khai thác, thu mua, phân phối gỗ và cơ sở cưa xẻ gỗ

Đặc biệt, năm 1972 “Pháp lệnh quy định về bảo vệ rừng” đã được ban hành và công bố vào ngày 11/9/1972, pháp lệnh này gồm 26 điều 5 chương, quy định về các vấn đề: nguyên tắc chung; những biện pháp bảo vệ rừng, tổ chức bảo vệ rừng, thưởng phạt và điều khoản chung

Trang 24

Chính phủ đã ban hành nghị quyết số 155CP ngày 3/10/1973 về việc thi hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và Nghị định số 101CP ngày 21/5/1973 quy định hệ thống tổ chức và quyền hạn của lực lượng kiểm lâm nhân dân

Việc ban hành pháp lệnh quy định việc bảo vệ rừng và các văn bản về thi hành pháp lệnh này ngay trong những năm còn chiến tranh đã biểu hiện sự quan tâm của nhà nước về công tác bảo vệ rừng và tạo điều kiện pháp lý để ngành lâm nghiệp tổ chức việc bảo vệ rừng có hiệu quả hơn

Sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất, Chính phủ ban hành Quyết định

số 61CP ngày 7/3/1975 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý thống nhất giống cây trồng rừng

- Chỉ thị số 257/TTg ngày 6/7/1975 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh trồng rừng và giao đất, giao rừng cho hợp tác xã kinh doanh

- Ngày 24/1/1977 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 41/TTg

về quy định các khu rừng cấm (quy định 10 khu rừng cấm đầu tiên trong cả nước)

và xác định những nguyên tắc quản lý bảo vệ rừng, xây dựng các khu rừng cấm

- Quyết định số 360/TTg ngày 7/7/1978 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập khu rừng cấm Nam bãi Cát Tiên thuộc huyện Tân Phú - Đồng Nai; Quyết định số 79/CT ngày 31/3/1986 của chủ tịch HĐBT về việc thành lập vườn quốc gia Cát Bà Quyết định số 194/CT ngày 9/8/1986 của chủ tịch HĐBT về việc quy định về các khu rừng cấm tiếp tục công nhận 73 khu rừng cấm ở Việt Nam

- Thông tư số 32/TT/LB ngày 21/10/1986 của Liên Bộ Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Lâm nghiệp về mối quan hệ phối hợp giữa hai ngành Kiểm sát và Lâm nghiệp trong việc phòng, chống các vi phạm, tội phạm về quản lý bảo vệ rừng

Về cơ chế tổ chức quản lý việc thực hiện các chính sách, pháp luật về bảo

vệ rừng, ở trung ương có Tổng cục Lâm nghiệp (từ năm 1976 là Bộ Lâm nghiệp) là cơ quan chuyên ngành của Chính phủ có trách nhiệm thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về rừng, đất trồng rừng trong phạm vi cả nước, ở cấp tỉnh có các Ty Lâm nghiệp (từ năm 1976 đổi thành Sở Lâm nghiệp) là cơ

Trang 25

quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp của tỉnh kiêm cả việc quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp Ở cấp huyện có các Hạt kiểm lâm tức thuộc UBND huyện đồng thời là cơ quan ngành dọc của các Ty Lâm nghiệp tỉnh

2.1.3.c Giai đoạn từ năm 1991 đến nay

Giai đoạn này được mở đầu bằng việc Quốc hội thông qua Luật bảo vệ và phát triển rừng ngày 12/8/1991 Luật gồm 9 chương, 54 điều là sự tiếp thu, kế thừa và phát triển hệ thống các quy phạm trước đó, đặc biệt là Pháp lệnh bảo vệ rừng năm 1972, cho phù hợp với xu hướng phát triển trong thời kỳ mới, thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Ngoài ra, Nghị định số 17/HĐBT ngày 17/1/1992 của Hội đồng Bộ trưởng đã quy định chi tiết việc thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng Nghị định gồm 4 chương 22 điều cụ thể hoá các vấn đề về quản lý nhà nước, phát triển và sử dụng rừng, đất trồng rừng

Nhà nước đã xây dựng một hệ thống các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan tới việc trồng rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng, giao đất lâm nghiệp và khoán rừng, các văn bản pháp luật quy định là: luật đất đai 1993, Quyết định số 202/TTg ngày 2/2/1994 của Thủ tướng Chính phủ

về việc khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng, Nghị định

số 7/CP ngày 5/2/1996 của chính phủ về việc quản lý giống cây trồng, Nghị định

số 8/1997/QH10 của quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 2 về dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng, Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, chính sách, nhiệm vụ và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng

Nhà nước đã xây dựng và ban hành hệ thống các quy phạm về quản lý rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, khai thác chế biến xuất khẩu lâm sản và bảo vệ động thực vật rừng quý hiếm Chỉ thị số 130/TTg ngày 27/1/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý và bảo vệ động vật và thực vật quý hiếm, Nghị định 22/CP ngày 9/3/1995 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy rừng, Luật phòng cháy chữa cháy 2001, Chỉ thị số 359/TTg ngày

Trang 26

29/5/1996 của Thủ tướng Chính phủ về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã

Các văn bản về đầu tư và các vấn đề tài chính do việc bảo vệ môi trường rừng, nhà nước đã kịp thời ban hành những văn bản pháp luật để hướng dẫn và đảm bảo hoạt động cấp phát vốn, thu chi ngân sách cho việc thực hiện các chính sách, dự án về rừng như: Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của chính phủ quy định khung giá các loại đất; Thông tư liên bộ số 74/TT-LB ngày 13/10/1995 của liên bộ Tài chính- Lâm nghiệp hướng dẫn sử dụng, quản lý cấp phát và quyết toán kinh phí giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp; Thông tư liên bộ số 6/TTg/LB ngày 22/10/1996 của Bộ Tài chính –Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn hướng dẫn lập kế hoạch cấp phát, quản lý và quyết toán kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng; Nghị định số 43/ 1999/NĐ-CP ngày 29/6/1999 của chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển nhà nước; Thông tư số 28/1999/TT-BTC ngày 13/3/1999 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý cấp phát vốn ngân sách nhà nước cho dự án trồng rừng mới 5 triệu hecta rừng cho Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ

Về phân cấp quản lý rừng, Nhà nước đã thiết lập một hệ thống các cơ quan quản lý thống nhất từ trung ương đến địa phương Hệ thống các cơ quan này gồm Chính phủ, UBND cấp tỉnh (là cơ quan quản lý về hành chính lãnh thổ), các sở nông nghiệp và phát triển nông thôn trực thuộc tỉnh Các văn bản điều chỉnh sự phân cấp nêu trên gồm có:

- Nghị định số 73/CP ngày 1/11/1995 của Chính phủ về chức năng, nhiệm

vụ quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn; Quyết định 245/1998/QĐ-TTg ngày 21/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện trác nhiệm quản lý Nhà nước của các cấp về rừng và đất lâm nghiệp

Về các biện pháp chế tài đối với các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng có các văn bản quan trọng như: Nghị định số 77/CP ngày 29/11/1996 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong quản lý và bảo vệ rừng, quản lý

Trang 27

lâm sản; Nghị định số 04/CP ngày 10/1/1997 của Chính phủ xề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai; Bộ luật hình sự năm 1985 (sửa đổi năm 1999)

Ngoài ra nhà nước Việt Nam cũng tích cực tham gia các điều ước Quốc tế

có liên quan đến lĩnh vực bảo vệ rừng trong đó có công ước RAMSAR năm

1971 về tầm quan trọng quốc tế của các vùng đất ngập nước đặc biệt là nơi cư trú của các loài chim nước (Việt Nam phê chuẩn năm 1989), công ước CITES năm 1973 về buôn bán quốc tế những loài động thực vật có nguy cơ bị đe doạ, công ước CBD năm 1992 về đa dạng sinh học (cả 2 công ước này được Việt Nam phê chuẩn năm 1994) Bên cạnh đó, chúng ta cũng ký kết nhiều hiệp định cấp chính phủ với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia trong khu vực cam kết phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau cùng quản lý và phát triển rừng bền vững

Tóm lại, trong bất kỳ giai đoạn lịch sử nào, vấn đề bảo vệ rừng cũng được Đảng và Nhà nước ta nhận thức và quan tâm đặc biệt thông qua việc xây dựng

và thực hiện chính sách qui định cụ thể Hệ thống pháp luật bảo vệ rừng đã được hình thành và phát triển đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể Ưu điểm nổi bật là lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc vấn để sở hữu và bảo vệ rừng nói riêng và tài nguyên thiên nhiên nói chung được Đảng và Nhà nước xem là tài sản của toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và sự nghiệp bảo vệ rừng cũng là sự nghiệp chung của toàn xã hội Tuy nhiên, gần 60 năm qua, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan cho dù hệ thống pháp luật bảo vệ rừng tương đối đầy đủ và đồ sộ nhưng hiệu quả trên thực tế còn chưa cao Hiện nay trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, thì rừng vẫn luôn đứng trước nguy cơ bị đe doạ, suy thoái, đòi hỏi chúng ta tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật rừng đủ mạnh để bảo vệ rừng nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội nói chung và bảo vệ môi trường cân bằng sinh thái cũng như bảo vệ đa dạng sinh học

Trang 28

2.2.1 Các nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng

1 Nguyên tắc rừng là tài nguyên, tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là đại diện: Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 quy định: “

Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác

mà pháp luật quy định là của nhà nước” (20, trang 142)

Như vậy, đối với các tài nguyên và hệ sinh thái rừng thì nhà nước với tính cách là chủ sở hữu đặc biệt, có đầy đủ 3 quyền năng : quyền chiếm hữu, quyền

sử dụng, quyền định đoạt Hiến pháp năm 1992 cũng xác định: “ phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trườngcó sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng trên chế

độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân

có sở hữu tập thể làm nền tảng” [20]

2 Nguyên tắc sử dụng rừng và đất rừng: Theo quy định trên, rừng núi là

thuộc hình thức sở hữu toàn dân mà đại diện là nhà nước- mặc dù theo quy định thì nhà nước có đầy đủ 3 quyền năng (quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) nhưng trong thực tế nhà nước không thể và không có khả năng để sử dụng 3 quyền trên Nhà nước giao cho các cá nhân và tổ chức sử dụng lâu dài và ổn định Người sử dụng đất rừng có quyền hưởng hoa lợi, để lại quyền thừa kế hoa lợi trên mặt đất, được phép chuyển quyền sử dụng như chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê, thế chấp, để lại thừa kế quyền sử dụng đất được nhà nước giao

Theo quy định tại điều 4-Luật bảo vệ và phát triển rừng 1991: “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào việc gây trồng rừng, bảo vệ rừng, khai thác

và chế biến lâm sản theo hướng phát triển nông- lâm - ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến” [11 Tr 20]

Trang 29

3 Nguyên tắc quản lý các loại rừng: Nhà nước quản lý rừng theo các

nguyên tắc sau:

Rừng được chia thành ba loại theo mục đích sử dụng chủ yếu của từng loại gồm :

- Rừng phòng hộ được xác định chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái

Rừng phòng hộ được phân thành các loại: rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay, rừng phòng hộ chắn sóng lấn biển, rừng phòng

hộ bảo vệ môi trường sinh thái ( Điều 26 - luật bảo vệ và phát triển rừng- 1991)

- Rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn

hệ sinh thái rừng của quốc gia bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh phục vụ nghỉ ngơi du lịch

Rừng đặc dụng được phân thành các loại: vườn quốc gia, khu rừng bảo tồn thiên nhiên, khu rừng văn hoá xã hội, nghiên cứu thí nghiệm, nguồn gen thực vật, động vật rừng, nghiên cứu khoa học

Ranh giới của khu rừng đặc dụng phải được xác định bằng hệ thống biển báo, mốc kiên cố (Điều 31- Luật bảo vệ và phát triển rừng) [11 tr 29]

- Rừng sản xuất được sử dụng chủ yếu để sản xuất kinh doanh gỗ, các lâm sản khác, đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái

Theo tinh thần của điều 2, quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên (ban hành kèm theo Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001của Thủ tướng chính phủ) thì nguyên tắc tổ chức quản lý 3 loại rừng được xác định như sau :

- Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ được nhà nước thống nhất quản lý và xác lập hệ thống các khu rừng đặc dụng và phòng hộ quốc gia Mỗi khu rừng đặc dụng, phòng hộ được xác lập, tổ chức quản lý theo mục đích sử dụng trên

Trang 30

quyền sử dụng đất, chịu trách nhiệm quản lý, bảo vệ, xây dựng và sử dụng hợp

lý tài nguyên rừng theo quy định của pháp luật và không được trái với quy chế này

- Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (gọi chung là chủ rừng) được nhà nước giao hoặc cho thuê đất lâm nghiệp và rừng sản xuất để thực hiện việc sản xuất, kinh doanh, diện tích đất lâm nghiệp và rừng sản xuất giao hoặc cho các chủ rừng thuê tuỳ theo quỹ rừng, quỹ đất lâm nghiệp của địa phương và nhu cầu, khả năng quản lý, sử dụng đất và sản xuất kinh doanh của chủ rừng

- Mọi tổ chức cá nhân phải có trách nhiệm bảo vệ xây dựng và phát triển rừng theo quy định của pháp luật Mọi hành vi xâm hại đến rừng và đất lâm nghiệp đều bị xử lý theo pháp luật [11 tr 105]

2.2.2 Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng

Quản lý nhà nước về bảo vệ rừng là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của nhà nước nhằm bảo vệ tính đa sinh học, bảo đảm sự cân bằng sinh thái của rừng, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên rừng đồng thời ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường rừng

a Nội dung các qui định pháp luật:

Tại điều 2 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 qui định rõ: “Nhà nước thống nhất quản lý rừng và đất trồng rừng Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân - dưới đây gọi là chủ rừng để bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài theo qui hoạch, kế hoạch của Nhà nước Tổ chức, cá nhân đang sử dụng hợp pháp rừng, đất trồng rừng được tiếp tục sử dụng theo qui định của Luật này” Như chúng ta đã biết, rừng có

vai trò và tác dụng to lớn đối với môi trường sống nói chung và sự tồn vong của loài người nói riêng Chính vì vậy, việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng là chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, không một tổ chức hay cá nhân nào có đủ

tư cách và thẩm quyền để quản lý bảo vệ rừng Việc quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng là một yêu cầu tất yếu khách quan Đây là lĩnh vực tác động qua lại giữa

Trang 31

con người và tự nhiên và là hoạt động có ý thức tự giác của con người trong quá trình tồn tại và phát triển rừng vì lợi ích và phát triển của thế hệ hôm nay và mai sau

Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ rừng được xác định tại điều 8 – Luật bảo vệ và phát triển rừng bao gồm:

1 Điều tra, xác định các loại rừng, phân định ranh giới rừng đất trồng rừng trên bản đồ và trên thực địa đến đơn vị hành chính cấp xã, thống kê, theo dõi diễn biến tình hình rừng, đất trồng rừng

2 Lập quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, phát triển rừngvà sử dụng đất trồng rừng trên phạm vi cả nước và ở rừng địa phương

3 Quy định và tổ chức thực hiện các chế độ, thể lệ về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng

4 Giao rừng, đất trồng rừng, thu hồi rừng, đất trồng rừng

5 Đăng ký, lập và giữ sổ địa chính , cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng rừng, đất trồng rừng

6 Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các chế độ thể lệ về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và sử dụng rừng, đất trồng rừng và xử lý các vi phạm chế độ, thể

lệ đó

7 Giải quyết tranh chấp về rừng, đất trồng rừng [11, Tr21, 22]

Những nội dung về quản lý nhà nước về bảo vệ rừng nêu trên đã được cụ thể hoá tại Nghị định số 17/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội động Bộ trưởng về thi hành luật bảo vệ và phát triển rừng Tại điều 2 của Nghị định này qui định:

- Nhà nước thống nhất quản lý rừng, đất trồng rừng bằng pháp luật, chính sách, qui hoạch, kế hoạch và các chế độ, thể lệ

Nhà nước thực hiện việc phân cấp trách nhiệm quản lý nhà nước về rừng, đất trồng rừng từ trung ương đến cơ sở

- Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân thuộc các thanh phần kinh tế để quản lý, bảo vệ, xây dựng và sản xuất, kinh doanh, ổn định lâu dài [11, tr38]

Trang 32

b Các cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng:

Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng được thực hiện bởi một hệ thống thống nhất các cơ quan Nhà nước từ Trung ương đến địa phương bao gồm Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp, các Bộ, Sở thuộc các tỉnh, thành phố

Với tính cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất có quyền quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, những nhiệm vụ kinh tế-

xã hội, quốc phòng và an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước, Quốc hội quyết định chính sách bảo vệ, phát triển tài nguyên thiên nhiên và hệ sinh thái rừng, quyết định bộ máy nhà nước về bảo vệ rừng

Bên cạnh chính phủ là cơ quan thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ rừng trong phạm vi cả nước, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp là các cơ quan hành chính địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng ở địa phương

Những qui định nêu trên về quản lý Nhà nước trong việc bảo vệ rừng khá đầy đủ và chi tiết nhưng khả năng thực thi trên thực tế là rất khó nếu không

muốn nói là “bất khả thi” “ Nhà nước thực hiện việc phân cấp trách nhiệm

quản lý Nhà nước về rừng, đất trồng rừng trừ Trung ương đến cơ sở” (Điều 2 nghị định số 17/HĐBT ngày 17/01/1992) Khi xảy ra sự cố về rừng như: rừng bị

tàn phá, lâm tặc hoành hành, bị cháy thì trách nhiệm thuộc về “ai” trong hệ

thống các cơ quan quản lý Nhà nước về rừng đó? Chính vì vậy, từ góc độ pháp

lý có thể thấy đây là khiếm khuyết khiến cho rừng ngày càng bị thu hẹp và vấn

để bảo vệ rừng ngày càng khó khăn (một vài khuyến nghị về vấn đề này xin được đề cập trong chương 3)

Theo qui định tại điều 6, Nghị định của Hội động Bộ trưởng ngày 17/01/1992 thì nội dung quản lý nhà nước về rừng, đất trồng rừng trong phạm vi địa phương của UBND các cấp gồm:

Trang 33

- Căn cứ vào chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp của nhà nước, chỉ đạo việc xây dựng và thực hiện qui hoach, kế hoạch quản lý, bảo

vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng, đất trồng rừng và chịu trách nhiệm trước nhà nước về tài nguyên rừng ở địa phương

- Tổ chức, chỉ đạo, thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ của nhà nước về quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng, đất trồng rừng và tiền hành thanh tra việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ ấy với mọi tổ chức,

cá nhân, kể cả tổ chức của Trung ương đóng tại địa phương

- Chỉ đạo thực hiện chủ trương giao rừng, đất trồng rừng cho các thanh phần kinh tế trong địa phương

- Giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng rừng, đất trồng rừng theo qui định của pháp luật [11, Tr40, 41]

Hiện nay, cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành về bảo vệ rừng ở Trung ương là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ở cấp tỉnh có các sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng, đất trồng rừng, theo qui định tại điều 5, Nghị định 17/HĐBT ngày 17/01/1992 thì Bộ Lâm nghiệp (từ năm 1995 là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý Nhà nước

về rừng, đất trồng rừng trong cả nước, cụ thể là:

- Tổ chức, chỉ đạo việc điều tra, phúc tra, xác định các loại rừng, phân định ranh giới rừng, đất trồng rừng trên bản đồ tỷ lệ 1/10.000 và trên thực địa đến đơn vị hành chính cấp xã, theo dõi diễn biến tình hình tài nguyên rừng trong

cả nước và ở từng địa phương

- Xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp, qui hoạch các vùng lâm nghiệp, các hệ thống rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất, rừng giống trong phạm vi cả nước, lập kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn, trình Chính phủ phê duyệt và tổ chức chỉ đạo thực hiện Thực hiện việc phân cấp quản lý Nhà nước về rừng, đất trồng rừng từ Trung ương đến cơ sở

Trang 34

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện phương hướng tiến bộ khoa học, kỹ thuật, các qui phạm, qui trình, kỹ thuât về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng, đất trồng rừng

- Xây dựng trình Chính phủ quyết định các chính sách, chế độ, thể lệ, về quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng, đất trồng rừng và tổ chức chỉ đạo việc thực hiện

- Phối hợp với Tổng cục quản lý ruộng đất (nay là Vụ đất đai thuộc Bộ tài nguyên môi trường) xây dựng và chỉ đạo thực hiện các qui chế giao rừng, đất trồng rừng

- Xây dựng trình Chính phủ quyết định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức bộ máy của hệ thống quản lý ngành Lâm nghiệp

- Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra trong và ngoài ngành lâm nghiệp về việc chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ quản lý bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng rừng, đất trồng rừng Khen thưởng hoặc đề nghị khen thưởng những tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, xử phạt hoặc đề nghị xử phạt những tổ chức cá nhân vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến tài nguyên rừng [11,

Tr 39, 40]

Cơ quan chuyên trách trong cơ cấu của Bộ Lâm nghiệp trước đây nay sáp nhập với Bộ Thủy lợi và Bộ Nông nghiệp thành Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hiện nay có Cục Kiểm lâm, ở các Sở lâm nghiệp nay là Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn có các chi cục kiểm lâm Đây là lực lượng chuyên trách có chức năng quản lý và bảo vệ rừng, được tổ chức thành hệ thống đặt dưới sự lãnh đạo thống nhất của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và sự chỉ đạo, kiểm tra của cơ quan chính quyền địa phương

Theo qui định tại Điều 46 Luật bảo vệ và phát triển rừng thì cơ quan kiểm lâm có nhiệm vụ kiểm tra, thanh tra việc thi hành pháp luật về rừng, đấu tranh ngăn ngừa các hành vi vi phạm về rừng; thực hiện việc quản lý rừng và bảo vệ rừng; tuyên truyền vận động nhân dân bảo vệ và xây dựng vốn rừng [11, Tr34]

Chức năng quyền hạn cụ thể của Cục kiểm lâm trực thuộc Bộ NN&PTNT

Trang 35

được qui định cụ thể trong Quyết định số 347/TTg ngày 25 /08 /1996 của Thủ tướng chính phủ và theo qui định tại điều 2 Quyết định trên thì nhiệm vụ quyền hạn cụ thể chủ yếu của Cục kiểm lâm thực hiện theo qui định tại Nghị định 39/CP ngày 15/8 1994 của Chính phủ về hệ thống tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của kiểm lâm

Như vậy, về cơ bản ở nước ta đã hình thành một hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ rừng Tuy nhiên, hiện nay trong thực tiễn quản lý nhà nước về bảo vệ rừng đã có nhiều nảy sinh và Chính phủ đang có chủ trương sửa đổi Nghị định 39/CP ngày 15/8/1994 của Chính phủ về tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn của Cục kiểm lâm cho phù hợp với tình hình mới

2.2.3- Chính sách phát triển rừng giao đất lâm nghiệp và khoán rừng

2.2.3a Chính sách phát triển rừng

Phát triển rừng luôn được coi là một nhiệm vụ quan trọng trong chính sách lâm nghiệp của Việt Nam Phát triển rừng để bảo vệ rừng và lập lại cân bằng hệ sinh thái rừng

Phát triển rừng được hiểu là quá trình làm gia tăng diện tích, năng suất, chất lượng của rừng, tăng cường tính năng tác dụng của rừng đối với sản xuất, đòi sống, bảo vệ môi trường, nâng cao tính đa dạng sinh học của rừng

1 Chương trình phủ xanh đất trống đồi, núi trọc:

Trước đây Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng chính phủ) đã ra Quyết định

số 327-CT ngày 15/9/1992 về phủ xanh đất trống đồi núi trọc hay còn gọi là chương trình 327 nhằm khuyến khích nhân dân trồng cây lâm nghiệp phát triển diện tích rừng Ngày 12/9/1995 Thủ tướng chính phủ ban hành Quyết định số

556 /TTg về điều chỉnh Quyết định số 327/TTg nói trên, trong đó tại điều 1của

quyết định này xác định: “Từ năm 1996 trở đi, chương trình 327 thực chất là chương trình quốc gia về tạo mới và bảo vệ rừng phòng hộ rừng đặc dụng”

Việc trồng mới rừng sản xuất không thuộc phạm vi của chương trình này Theo luật định, chương trình 327 được thực hiện theo dự án, chủ yếu theo phương thức lấy nông lâm kết hợp, lấy hộ gia đình dự án làm động lực thực hiện, chủ

Trang 36

dự án làm dịch vụ hai đầu cho hộ gia đình, nhằm đảm bảo năng lực phòng hộ bền vững của quốc gia, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai, củng cố quốc phòng, an ninh, sử dụng có hiệu quả đất đai, từng bước nâng cao đời sống và gắn lợi ích của hộ trồng rừng với lợi ích quốc gia [36]

2 Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng:

Trong giai đoạn từ năm 1998 đến năm 2010, Nhà nước chủ trương phát triển mạnh mẽ vốn rừng quốc gia Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 2 (từ ngày 21/11/1997 đến ngày 12/12/1997) đã ra Nghị quyết số 08/1997/QH10 về dự án trồng mới 5 triệu hécta rừng Dự án này là sự nối tiếp những kết quả của chương trình 327 và được xác định là công trình quan trọng của quốc gia Để thực hiện trồng mới 5 triệu hecta rừng, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/ 7/ 1998 qui định về mục tiêu, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng (còn gọi là dự án 661) Các mục tiêu đề ra cho dự án là:

1 Trồng mới 5 triệu hecta rừng cùng với việc bảo vệ diện tích rừng hiện

có, để tăng độ che phủ của rừng lên 43%, góp phần đảm bảo an ninh môi trường, giảm nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh học,

2 Sử dụng có hiệu quả diện tích đất trống, đồi núi trọc, tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, tăng thu nhập cho dân cư sống ở nông thôn, miền núi, ổn định chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh nhất là ở vùng biên giới

3 Cung cấp gỗ để làm nguyên liệu sản xuất giấy, ván nhân tạo đáp ứng nhu cầu gỗ, củi và các lâm đặc sản khác cho tiêu dùng trong nước và sản xuất hàng xuất khẩu, cùng với phát triển công nghiệp chế biến lâm sản, đưa lâm nghiệp trở thành một ngành kinh tế quan trọng, góp phần phát triển kinh tế miền núi [11, Tr 330]

Nguyên tắc chỉ đạo thực hiện dự án: nhân dân là lực lượng chủ yếu trồng, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và được hưởng lợi ích từ nghề rừng, Nhà nước

Trang 37

tạo điều kiện pháp lý thuận lợi, tổ chức nghiên cứu và chuyển giao công nghệ,

có các chính sách khuyến khích người làm nghề rừng, hỗ trợ đầu tư từ nguồn vốn ngân sách hoặc vốn tín dụng ưu đãi; hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu

Trong 5 triệu héc ta rừng trồng có 2 triệu héc ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất Dự án chia ra diện tích rừng trồng của từng giai đoạn cụ thể như sau:

- Giai đoạn 1998- 2000: Trồng mới 700.000ha, trong đó có 260.000 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 350.000 ha

Giai đoạn 2001- 2005: Trồng mới 1,3 triệu ha, trong đó 350.000 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung 650.000 ha

Giai đoạn 21006- 2010: Trồng mới 2 triệu ha, trong đó có 350.000 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng [11, Tr 332]

2.2.3b Chính sách giao đất lâm nghiệp và khoán rừng

Hiến pháp quy định nhà nước là chủ sở hữu rừng núi nhưng trong điều kiện phát triền nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các chế độ sở hữu khác nhau thì nhà nước không phải là chủ thể nắm trọn vẹn và thực hiện đầy đủ quyền sở hữu về rừng và đất rừng Để thực hiện mục tiêu bảo vệ, phát triển rừng, nhà nước đã giao bớt một phần quyền năng chiếm hữu và sử dụng rừng và đất rừng cho các chủ thể khác thuộc các thành phần sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân thông qua chế độ giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và khoán rừng

Tại điều 2, Luật bảo vệ và phát triển rừng qui định: “Nhà nước giao rừng, đất trồng rừng cho tổ chức, cá nhân (dưới đây gọi là chủ rừng) để bảo

vệ, phát triển và sử dụng rừng ổn định, lâu dài theo qui hoạch, kế hoạch nhà nước” [11, Tr 20]

Để thực hiện chủ trương giao rừng, đất trồng rừng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 02/CP ngày 15/1/1994 qui định về việc giao đất lâm nghiệp cho tổ chức hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Đất lâm nghiệp được xác định là đất có rừng tự nhiên, đất đang có rừng

Trang 38

trồng và đất chưa có rừng được qui hoạch để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như trồng rừng Đối tượng được giao đất lâm nghiệp gồm các ban quản lý khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, các doanh nghiệp lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp, các trạm trại, xí nghiệp giống lâm nghiệp; các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân; trường học, trường dạy nghề; các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế khác, hộ gia đình, cá nhân cư trú tại địa phương được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận Thời hạn giao đất đối với các tổ chức của nhà nước được quy định theo qui hoạch, kế hoạch của nhà nước, còn đối với các tổ chức khác, hộ gia đình, cá nhân là 50 năm Nếu sau 50 năm vẫn có nhu cầu sử dụng đúng mục đích thì nhà nước sẽ giao tiếp Nếu trồng các loại cây lâm nghiệp có chu kỳ trên 50 năm thì sau 50 năm được nhà nước giao tiếp cho đến khi thu hoạch sản phẩm chính Theo khoản 3 điều 67 Luật đất đai ban hành ngày 26/ 11/

2003 và sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/ 7/ 2004 thì thời hạn giao đất, cho thuê đất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, làm muối cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân; người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài … không quá 50 năm Đối với những dự án đầu tư lớn nhưng thu hồi vốn chậm, dự án đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn thì thời hạn giao đất, cho thuê đất là không quá 70 năm Việc giao đất lâm nghiệp trong từng trường hợp cụ thể phải căn cứ vào quĩ đất lâm nghiệp, qui hoạch đất lâm nghiệp, qui hoạch rừng của từng địa phương; nhu cầu, khả năng

sử dụng đất lâm nghiệp vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức được ghi trong luận chứng kinh tế kỹ thuật, dự án quản lý xây dựng khu rừng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; đơn xin giao đất lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú xác nhận Trong trường hợp được giao đất gắn với thực hiện các chính sách đầu tư, hỗ trợ bằng nguồn vốn của nhà nước thì phải theo kế hoạch nguồn vốn đầu tư hỗ trợ hàng năm của nhà nước

Để khai thác tối đa quỹ đất lâm nghiệp, phát huy mọi nguồn lực vào việc trồng rừng và sử dụng đất rừng, ngày 16/11/1999 Chính phủ ban hành tiếp Nghị

Trang 39

định số 163/1999/NĐ-CP về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích lâm nghiệp Theo Nghị định này thì đã xuất hiện thêm một hình thức giao quyền sử dụng đất trồng rừng là cho thuê đất lâm nghiệp Đây là một hình thức quản lý vừa tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa kích thích khả năng sử dụng đất rừng

Đối tượng được nhà nước giao đất lâm nghiệp mà không thu tiền sử dụng đất được qui định trong điều 4 của Nghị định 163 giống như trong Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994 Tại điều 5 Nghị định 163/CP có mở rộng và qui định đối tượng được nhà nước cho thuê đất lâm nghiệp:

- Hộ gia đình, cá nhân, kể cả hộ gia đình qui định tại khoản 1 điều 4 của Nghị định này (các hộ gia đình, cá nhân đã được giao đất lâm nghiệp) có nhu cầu và khả năng sử dụng đất lâm nghiệp để sản xuất, kinh doanh

- Tổ chức trong nước thuộc mọi thành phần kinh tế

- Tổ chức, cá nhân nước ngoài

Việc qui định như trên là phù hợp với chủ trương phát huy mọi nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế đất nước đồng thời thể hiện tính nhất quán với chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài của Đảng và nhà nước được qui định trong luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Nhà nước cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài thuê đất lâm nghiệp để sử dụng vào mục đích lâm nghiệp như sau:

- Đất được qui hoạch để xây dựng, phát triển rừng sản xuất

- Đất rừng phòng hộ đầu nguồn, vùng ít xung yếu và các loại đất rừng phòng hộ qui định tại điểm b, c, d khoản 2 điều 3 của Nghị định này

- Đất rừng đặc dụng để kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái dưới tán rừng theo qui định của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Điều 10 Nghị định 163/CP) [11, Tr 428]

Theo khoản 3 điều 75 - Luật đất đai 2003 thì “tổ chức kinh tế, người Việt Nam định cư ở nước ngoài , tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất dùng sản

Trang 40

xuất được kết hợp kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng”

Đối với rừng phòng hộ - khoản 5 điều 76 Luật đất đai 2003 quy định:

“UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng phòng hộ thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan,

du lịch sinh thái môi trường dưới tán rừng”

Đối với rừng đặc dụng - khoản 5 điều 77 Luật đất đai 2003 quy định

“UBND tỉnh, thành phồ trực thuộc Trung ương quy định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụng thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan,

du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng”

Đây là một hướng đi mới kích thích các tổ chức kinh tế, người nước ngoài đầu tư vào hoạt động sản xuất lâm nghiệp, bảo vệ rừng

Bên cạnh việc giao đất lâm nghiệp, cho thuê đất lâm nghiệp, Nhà nước còn qui định về khoán đất lâm nghiệp tại điều 11 Nghị định 163/CP

- Ban quản lý rừng đặc dụng, ban quản lý rừng phòng hộ, doanh nghiệp nhà nước được nhà nước giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp thực hiện khoán đất lâm nghiệp theo qui định tại Bản qui định về giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước ban hành kèm theo Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 của Chính phủ và Quyết định số 187/1999/QĐ-TTg ngày 16/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới tổ chức và cơ chế quản lý lâm trường quốc doanh

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đã trồng cây nông nghiệp lâu năm trên đất lâm nghiệp không phải đất lâm nghiệp mà nhà nước đã giao cho các doanh nghiệp, nếu phù hợp với dự án được duyệt thì chuyển sang hình thức khoán đất lâm nghiệp theo qui định tại Bản qui định về giao khoán đất Ban hành kèm theo Nghị định số 01/CP ngày 4/1/1995 của Chính phủ hoặc cho thuê đất lâm nghiệp

Hạn mức giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp: Đối với hộ gia đình do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định nhưng không quá 30 ha; hạn mức giao cho tổ chức theo dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đối với đất thuê,

Ngày đăng: 18/10/2015, 15:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w