Nội dung phân môn Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng việt 2: 1.1: Mục tiêu dạy học Tập đọc lớp 2: - Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho học sinh, cụ thể là: + Đọc thành tiếng: P
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ:
Dạy đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Đọc trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên đối với học sinh Trẻ phải học đọc đầu tiên, sau đó các em phải đọc để học Đọc giúp trẻ chiếm lĩnh được một ngôn ngữ để dùng trong giao tiếp và học tập Đọc là một công cụ để học tập các môn học Đọc tạo hứng thú và động cơ học tập Đọc tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và tinh thần học tập
cả đời Với tư cách là một phân môn của môn Tiếng việt, Tập đọc có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu này- đó là hình thành và phát triển năng lực đọc của học sinh
Tập đọc là một phân môn thực hành Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kĩ năng
bộ phận: Đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát,trôi chảy), đọc có ý thức (đọc hiểu)
và đọc hay (mà ở mức độ cao hơn là đọc diễn cảm)
Bốn kĩ năng đọc trên được hình thành trên hai hình thức đọc là đọc thành tiếng và đọc thầm Chúng được rèn luyện đồng thời Chúng được rèn đồng thời
và hỗ trợ lẫn nhau
Bên cạnh đó, dạy đọc còn có nhiệm vụ giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm việc với sách cho học sinh Đồng thời dạy đọc còn có nhiệm vụ làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh
Trên cơ sở ý nghĩa và nhiệm vụ của dạy học Tập đọc ở Tiểu học, qua tìm hiểu thực trạng dạy Tập đọc ở lớp 2 tại đơn vị trường Tiểu học Ngọc Khê 2, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng dạy học Tập đọc ở lớp 2, tôi chọn đề tài: “Một số kinh nghiệm về rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2”
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
I CƠ SỞ LÝ LUẬN :
1 Vấn đề luyện đọc thành tiếng ở Tiểu học:
1.1: Luyện chính âm: Nhằm nâng cao văn hoá phát âm cho học sinh và khi thực hiện cần lưu ý không để học sinh phát âm tự nhiên theo giọng địa phương ở những âm bị xem là mắc lỗi, đồng thời cũng chấp nhận nhiều chuẩn ở những trường hợp phát âm không xem là lỗi, từ đó không gò ép học sinh luyện phát âm theo chữ viết một cách không tự nhiên
1.2: Trọng âm và ngữ điệu:
- Trọng âm là độ vang và độ mạnh khi phát ra tiếng, Đó là sự phát âm một tiếng mạnh hay yếu, kéo dài hay không kéo dài, đường nét thanh điệu rõ hay không rõ
- Ngữ điệu: Để tạo ra ngữ điệu, học sinh phải làm chủ các thông số âm thanh của giọng; tạo ra cường độ bằng cách điều khiển đọc to, nhỏ, nhấn giọng, lơi giọng; tạo ra tốc độ bằng cách điều khiển độ nhanh, chậm và chỗ ngắt nghỉ của lời; tạo ra cao độ bằng cách nâng giọng, hạ giọng; tạo ra trường độ bằng cách kéo dài hay không kéo dài
2 Vấn đề luyện đọc hiểu ở Tiểu học:
Trang 2Bản chất của quá trình đọc hiểu văn bản: Dạy đọc hiểu là hình thành các
kĩ năng: kĩ năng nhận diện ngôn ngữ (nhận diện từ mới, từ quan trọng, nhận ra các câu khó hiểu, câu quan trọng, nhận ra các đoạn ý, nhận ra đề tài - nội dung bài đọc); Kĩ năng làm rõ nghĩa (làm rõ nghĩa từ, nghĩa câu, ý đoạn, ý chính của bài); Kĩ năng hồi đáp
II CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1 Nội dung phân môn Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng việt 2:
1.1: Mục tiêu dạy học Tập đọc lớp 2:
- Phát triển các kĩ năng đọc, nghe và nói cho học sinh, cụ thể là:
+ Đọc thành tiếng: Phát âm đúng; ngắt nghỉ hơi hợp lí; cuờng độ đọc vừa phải (không đọc quá to hay đọc lí nhí); tốc độ vừa phải (không ê a ngắc ngứ hay liến thoắng), đạt yêu cầu khoàng 50 tiếng/1phút
+ Đọc thầm và hiểu nội dung: Biết đọc không thành tiếng, không mấp máy môi; hiểu được nghĩa của các từ ngữ trong văn cảnh (bài đọc); nắm được nội dung của câu, đoạn hoặc bài đã đọc
+ Nghe: Nghe và nắm được cách đọc đúng các từ ngữ, câu, đoạn, bài; Nghe - hiểu các câu hỏi và yêu cầu của thầy cô; Nghe - hiểu và có khả năng nhận xét ý kiến của bạn
+ Nói: Biết cách trao đổi với các bạn trong nhóm học tập về bài đọc; biết cách trả lời các câu hỏi về bài đọc
- Trau dồi vốn tiếng Việt , vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuốc sống, cụ thể:
+ Làm giàu và tích cực hoá vốn từ, vốn diễn đạt
+ Bỗi dưỡng vốn văn học ban đầu, mở rộng hiểu biết về cuộc sống, hình thành một số kĩ năng phục vụ cho đời sống và việc học tập cho bản thân (như khi khai lí lịch đơn giản, đọc thời khoá biểu, tra và lập mục lục sách, nhận và gọi điện thoại, )
+ Phát triển một số thao tác tư duy cơ bản (phân tích, tổng hợp, phán đoán, )
- Bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm và tâm hồn lành mạnh, trong sáng; tình yêu cái đẹp, cái thiện và thái độ ứng xử đúng mực trong cuộc sống; hứng thú đọc sách
và yêu thích tiếng Việt; cụ thể: Bồi dưỡng tình cảm yêu quý, kính trọng, biết ơn
và trách nhiệm đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô; yêu trường lớp; đoàn kết, giúp đỡ,
- Xây dựng ý thức và năng lực thực hiện những phép xã giao tối thiểu
- Từ những mẩu chuyện, bài văn, bài thơ hấp dẫn trong sách giáo khoa, hình thành lòng ham muốn đọc sách, khả năng cảm thụ văn bản, văn học, cảm thụ vẻ đẹp của tiếng Việt và tình yêu tiếng Việt
1.2: Nội dung dạy học Tập đọc lớp 2:
* Số bài, thời lượng học: Trung bình, một tuần, học sinh được học 3 bài tập
đọc, trong đó một bài học trong 2 tiết, hai bài còn lại học trong 1 tiết; Như vậy, tính cả năm, học sinh được học 93 bài tập đọc với 124 tiết Nhưng theo Chuẩn kiến thức và kĩ năng: Trung bình, một tuần, học sinh chỉ học 2 bài tập đọc, trong
Trang 3đó một bài học trong 2 tiết, một bài học trong 1 tiết; bài còn lại giáo viên có kế hoạch cho các em luyện đọc thêm trong các buổi học chiều
* Các loại bài tập đọc theo sách giáo khoa:
a) Xét theo thể loại văn bản:
+ Có 60 bài tập đọc là văn bản văn học, gồm 45 bài văn xuôi và 15 bài thơ trong đó có một số văn bản văn học nước ngoài Trung bình, trong mỗi chủ điểm/2tuần, riêng chủ điểm Nhân dân học trong 3 tuần, trong đó có truyện vui (học kì I) và một truyện ngụ ngôn (học kì II) Những câu truyện này vừa để giải trí, vừa có tác dụng rèn luyện tư duy và phong cách sống vui tươi, lạc quan cho các em
+ Các văn bản khác có 33 bài (không có văn bản dịch của nước ngoài) bao gồm văn bản khoa học, báo chí hành chính (tự thuật, thời khoá biểu, thời gian biểu, mục lục sách, ) Thông qua những văn bản này, sách giáo khoa cung cấp cho các em một số kiến thức và kĩ năng cần thiết trong đời sống, bước đầu xác lập mối liên hệ giữa học với hành, giữa nhà trường với xã hội
b) Xét theo thời lượng dạy:
Có 31 bài tập đọc được dạy trong 2 tiết và 31 bài dạy trong 1tiết Những bài dạy trong 2 tiết đều là truyện kể, đóng vai trò chính trong mỗi chủ điểm Sau khi học các bài tập đọc này, học sinh còn có 1 tiết kể lại nội dung truyện hoặc tập phân vai, dựng lại câu truyện theo kiểu hoạt cảnh (tiết Kể chuyện), và viết chính tả một đoạn trích hay đoạn tóm tắt nội dung truyện (tiết Chính tả)
2 Thực trạng Dạy - Học Tập đọc lớp 2:
2.1: Đối với học sinh:
- Do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, học sinh lớp 2 còn nhỏ (mới qua lớp 1)
sự tự giác trong học tập chưa cao, việc học của các em là học cho thầy, cho cô, học cho bố cho mẹ; một số học sinh trình độ đọc chưa đạt (chưa rành mạch, còn
ấp úng, ngân nga, nhát gừng, chưa thật thông hiểu văn bản); một số học sinh còn
có thói quen đọc thiếu ý thức (đồng thanh nhiều)
- Do ảnh hưởng cách phát âm của phương ngữ tại địa phương thường mắc lỗi như:
+ Phát âm không chuẩn xác một số phụ âm đầu: tr/ch; s/x; th/s(thêm/sêm; thứ/sứ)
+ Đọc và dùng từ địa phương: ong/ông (chong/chông; con ong/con ông);
uô/ ui (Quả chuối/ quả chúi); ưu / iu (quả lựu /quả lịu)
+ Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã
- Một số học sinh trong lớp là con gia đình gặp khó khăn về kinh tế, hạn chế về trình độ văn hoá Dẫn đến sự quan tâm chăm sóc của phụ huynh đối với con cái còn hạn chế; khó khăn trong việc phát huy tính tự giác luyện đọc ở nhà đồng thời các em chưa có thói quen đọc thêm sách báo ở nhà
- Đại đa số các em là con em dân tộc vì thế về mặt ngôn ngữ tiếng việt
của các em là ngôn ngữ hai.
- Về tác động ngoại cảnh: Cuộc sống của các em đôi khi ngoài thời gian ở trường, ở nhà ra; các em còn có thể tiếp xúc với những người xung quanh, có
Trang 4khi là phim, ảnh, tivi, đèn chiếu ngoài sự kiểm soát của thầy cô, gia đình Việc này cũng có thể làm xáo trộn tinh thần học tập của các em
* Kết quả, hiệu quả của thực trạng rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2:
Từ những thực trạng trên cho thấy kết quả chất lượng thực tế trước khi nhận lớp 2 (cả hai năm học) tỷ lệ học sinh đọc còn kém, đọc ê a, ngắc ngứ, còn đánh vần cao, học sinh đọc tốt chưa có em nào
Cụ thể: - Lớp 2B, Năm học 2013 – 1014
- Lớp 2A2, Năm học 2014 – 1015( là lớp đại trà) Thời gian khảo sát: KSCL đầu năm
Đọc hay Đọc rõ ràng, lưu loát Đọc đúng ngắc ngứ Đọc ê a,
T
Lớp 2B
Lớp 2A2
2.2: Thực trạng đối với giáo viên:
- Giáo viên chưa nắm chắc cơ sở lí luận của việc dạy - học Tập đọc như: Giáo viên phát âm chưa chuẩn, còn dư âm địa phương (như: âm tr/ch; s/x, chẳng hạn) dẫn đến kĩ năng đọc mẫu hạn chế; Giáo viên chưa nắm được các thể lại bài trong chương trình sách giáo khoa; chưa phân biệt được loại bài Tập đọc
và loại bài Tập đọc- Học thuộc lòng mà chỉ thấy khác là ở các lớp đầu cấp là đọc
đồng thanh còn lớp cuối cấp là không đọc đồng thanh chứ không hiểu được rằng
tiết Tập đọc là luyện đọc cá nhân, còn tiết Tập đọc- Học thuộc lòng là vừa phải luyện đọc vừa kết hợp rèn trí nhớ
- Giáo viên vận dụng chưa linh hoạt các phương pháp trong giờ dạy Tập đọc Kĩ năng đặt câu hỏi, hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài còn hạn chế
- Trong giờ Tập đọc giáo viên thường phân bố thời gian chưa hợp lý và dễ
sa nặng vào phần tìm hiểu bài, thấy giảng chưa đủ học sinh chưa hiểu Có những phần dạy quá sâu hoặc dông dài, không cần thiết, có phần lại hời hợt chưa đủ độ cần của bài giảng Không còn thời gian để học sinh luyện đọc, không sửa được lỗi phát âm sai chủ yếu cho học sinh, bỏ qua đi đối tượng học sinh đọc chưa đạt yêu cầu vì các em đọc ngắc ngứ, trả lời lâu làm mất nhiều thời gian Vì những lí
do trên, dẫn đến hiệu quả giờ học không cao
- Đôi khi giáo viên còn dập khuôn, máy móc, nặng về các bước lên lớp, chưa linh hoạt Vì vậy tiết Tập đọc cứng nhắc, chưa khuyến khích được các em, chưa phát huy hết tiềm năng ở mỗi cá nhân học sinh Chưa khuyến khích các em đọc thêm sách báo ở nhà
Với tình hình và thực tế như vậy tôi đã đưa ra các giải pháp nhằm rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 như sau:
Trang 5III MỘT SỐ KINH NGHIỆM TRONG VIỆC RÈN KĨ NĂNG ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2:
1, Giải pháp 1: Chuẩn bị tốt các công việc trước giờ lên lớp dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 2:
1.1: Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa; các tài liệu dạy học:
- Nghiên cứu chương trình tổng thể và các bài tập đọc của sách giáo khoa Tiếng Việt 2 Công việc này đòi hỏi chúng ta phải nắm được mục tiêu dạy Tiếng Việt 2 và phân môn Tập đọc; nắm được cấu trúc tổng thể và đặc điểm cấu trúc chương trình, sách giáo khoa Tiếng Việt 2 mà mình đang dạy Nắm được nội dung dạy học một cách chắc chắn và có hệ thống, xác định được vị trí của bài Tập đọc sẽ dạy trong chương trình
- Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu dạy học có liên quan đến bài Tập đọc sẽ dạy; đọc kĩ văn bản- bài tập đọc trong sách giáo khoa; nghiên cứu nội dung hướng dẫn đọc, hệ thống nội dung bài tập của sách giáo khoa và tài liệu tham khảo
1.2: Xác định mục tiêu, nội dung dạy học của giờ Tập đọc: Chúng ta cần trả lời
được các câu hỏi:
- Học sinh cần đọc bài Tập đọc trong thời gian bao lâu?
- Những từ ngữ, câu nào học sinh cần luyện đọc thành tiếng?
- Toàn bài cần đọc với giọng điệu chung như thế nào?
- Những từ ngữ, câu nào cần dạy nghĩa và dạy nghĩa chúng ra sao?
- Nội dung chính của bài Tập đọc là gì?
- Học sinh được giáo dục điều gì sau khi học bài Tập đọc?
1.3: Nắm vững phương pháp dạy học Tập đọc:
- Xác định phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp
- Chuẩn bị đồ dùng dạy học, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học
- Dự kiến thời gian cho từng hoạt động dạy học
- Xây dựng hệ thống nhiệm vụ, soạn thảo, lựa chọn các câu hỏi, bài tập phù hợp
- Dự kiến tình huống dạy học và điều chỉnh câu hỏi, bài tập
1.4: Chuẩn bị về việc đọc mẫu bài tập đọc định dạy:
Để giúp các em đọc tốt, việc đọc mẫu đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc rèn đọc cho học sinh; Việc phát âm đúng, phát âm chuẩn; Việc đọc hay (đọc diễn cảm) sẽ giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài Tập đọc Trong quá trình đọc mẫu, giáo viên ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ, dùng ngữ điệu, nhấn giọng, hạ giọng, lên giọng… để làm nổi bật ý nghĩa và tình cảm của tác giả
đã gửi gắm vào bài đọc đó Từ đó giúp học sinh thấy sôi nổi, hào hứng tham gia vào việc tìm hiểu, khám phá bài Tập đọc hơn và học sinh có ý thức đọc diễn cảm tốt hơn
1.5: Chuẩn bị về việc nhận xét, đánh giá học sinh sau khi đọc:
Tiếp thu và nghiên cứu kĩ Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về đánh giá học sinh Tiểu học và được áp dụng kể từ ngày 15/10/2014 cho năm học này thay
Trang 6cho Thông tư số 32/2009/TT- BGDĐT ngày 27 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh Tiểu học Với TT30 việc Đánh giá học sinh bằng nhận xét coi trọng việc động viên, khuyến khích tính tích cực và vượt khó trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy tất cả khả năng, đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan; không ghi điểm số không gây áp lực, sẽ gây được hứng thú cho học sinh, làm cho học sinh không cảm thấy ngại học sẽ giúp cho phương pháp dạy học theo hướng đổi mới tích cực hoá hiệu quả hơn Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Tiểu học
Sau khi học sinh đọc bài xong, giáo viên phải có lời nhận xét Kết quả của quá trình rèn đọc cho học sinh còn phụ thuộc vào lời nhận xét mà giáo viên để lại trong các em sau khi đọc Vì vậy, lời nhận xét của giáo viên không thể là tuỳ tiện mà lời nhận xét của giáo viên cần phải có động lực, thúc đẩy em học sinh đó biết cố gắng vươn lên trong các lần đọc sau Việc này quả là không đơn giản, nếu lời nhận xét mà thoái quá thì các em có thể mãn nguyện sẽ không cố gắng nữa, nếu lời nhận xét mà khắt khe thì các em dễ chán nản, dẫn đến tiêu cực Vì vậy, trước khi đưa ra lời nhận xét, giáo viên cần phải cân nhắc kĩ lưỡng, tuỳ vào
sự cố gắng của các em, tuỳ vào cá tính của mỗi học sinh đồng thời lời nhận xét trước và sau quá trình đọc của các em phải có sự liên kết,
2 Giải pháp 2: Tìm hiểu đặc điểm tâm lí học sinh và công tác xã hội hoá giáo dục:
- Cần phải gần gủi học sinh nắm bắt từng đối tượng về đặc điểm tâm lí về hoàn cảnh gia đình
- Khảo sát chất lượng học sinh ngay đầu năm học để phân loại đối tượng học sinh và phân làm nhiều nhóm nhỏ, sao cho mức chênh lệch trong nhóm về khả năng, về năng lực là tương đương
- Đầu năm tôi tổ chức họp phụ huynh, gặp gỡ phụ huynh trao đổi phối hợp giáo dục:
+ Hướng dẫn cách học ở nhà: giờ học, giờ chơi hợp lí để các em học đủ, chơi khoẻ có ích;
+ Hướng dẫn phụ huynh cách chăm sóc chế độ dinh dưỡng để tăng cường sức khoẻ, thể lực cho các em nhất là những em hiện đang thiếu cân; vì có sức khoẻ, có thể lực thì các em mới có thể học được, tiếp thu bài được
- Quan tâm, đôn đốc nhắc nhở học sinh thường xuyên học tập trong đó có phân môn Tập đọc
- Có kế hoạch theo dõi sự tiến bộ, tồn tại hàng tuần, hàng tháng của từng
cá nhân học sinh để kịp thời có biện pháp phù hợp với từng đối tượng
- Phối hợp với nhà trường, với tổ chuyên môn, thường xuyên báo cáo về
sự chuyển biến của học sinh để có kế hoạch chỉ đạo và sự giúp đỡ về cả phương pháp dạy học và thời lượng
- Thường xuyên liên lạc với gia đình học sinh để phản hồi và nhận sự hỗ trợ của gia đình học sinh về việc học tập, rèn luyện nói chung
- Liên kết với thôn, phố, địa phương, các ban ngành liên quan để nhận sự
Trang 7hỗ trợ giáo dục
3, Giải pháp 3: Luyện đọc thành tiếng cho học sinh lớp 2:
- Căn cứ theo nhóm đối tượng học sinh tôi đã phân loại để áp dụng các hình thức luyện đọc cũng như bố trí thời gian đọc hợp lí cho từng đối tượng học sinh; đối với những em đọc chưa đạt yêu cầu cần thời gian luyên đọc nhiều hơn, đọc nhiều lần hơn; đối với những em đọc đạt yêu cầu cần luyện đọc để đọc lưu loát tiến tới đọc diễn cảm
- Muốn học sinh đọc tốt, trước hết cần rèn cho học sinh đọc đúng, phát âm
đúng, rõ ràng Tôi thấy học sinh chủ yếu là phát âm sai: (nguyên nhân là do thói quen địa phương):
+ Phụ âm đầu tr/ch; r/d; s/x;th/s
+ Vần: ong/ ông; uô/ ui; ươ / ưu
+ Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã.
- Để khắc phục tình trạng trên, tôi đã tiến hành như sau:
- Điều tra phân loại lỗi ngay từ đầu năm cho từng em, từng nhóm để có kế hoạch uốn nắn
+ Lỗi phát âm sai tr/ch; r/d là lỗi phổ viến đối với các đối tượng học sinh
ở phố, thị trấn,
+ Lỗi phát âm sai th/s; ong/ ông; uô/ ui; ươ / ưu là lỗi phổ viến đối với
các đối tượng học sinh ở trong nông thôn và con em dân tộc
+ Lỗi phát âm sai s/x; Không phân biệt được thanh hỏi/ thanh ngã là lỗi
phổ viến đối với tất cả các đối tượng học sinh
- Khi hướng dẫn phát âm đúng, tôi phân tích cho các em thấy sự khác biệt của phát âm đúng với phát âm sai mà các em mắc phải Bằng cách dùng trực giác nghe, nhìn để hướng dẫn cho các em nghe, nhìn khuôn miệng của cô giáo đọc âm, đọc vần để học sinh theo đọc mẫu
Ví dụ:
Âm S : Uốn đầu lưỡi về phía vòm, hơi thoát ra xát mạnh, không có tiếng thanh.
Âm X: Khe hẹp giữa đầu lưỡi và răng-lợi, hơi thoát ra xát nhẹ, không có tiếng
thanh
- Đối với học sinh đọc đánh vần là nhóm những học sinh đọc còn ê a
ngắc ngứ; cũng do các em chưa nhớ hết được âm, được vần nên các em mới đọc chậm, đọc ê a ngắc ngứ; vì vậy cần phải cho các em đọc đánh vần để các em được cơ hội nắm bắt âm, vần thuần thục thì các em mới có thể đọc trơn lưu loát được Tuy nhiên thời gian luyên đọc đánh vần của số học sinh này không thể kéo dài chỉ cho phép trong một thời gian nhất định
Để giúp số học sinh này đuổi kịp bạn tôi lên kế hoạch tăng thêm thời lượng: Đối với học sinh đại trà ngoài các buổi học chính ra được học tăng thêm 2 buổi/tuần là chiều thứ hai và chiều thứ tư, theo lịch của Chuyên môn nhà trường còn đối với học sinh đọc ê a ngắc ngứ, đọc còn chậm tôi lập kế hoạch đề xuất với nhà trường; được sự bàn bạc của tổ chuyên
môn và sự chỉ đạo của nhà trường tôi tổ chức cho số học sinh này học tăng
thêm một buổi chiều là 3 buổi chiều/tuần vào các chiều thứ hai, chiều thứ tư
Trang 8và chiều thứ năm hàng tuần) Đồng thời với việc yêu cầu các em luyện đọc;
tôi luôn động viên, khuyến khích sự cố gắng của các em, luôn quan tâm để phát hiện điểm yếu đối với từng đối tượng để có kế hoạch giúp đỡ Như em Phạm Thị Ngọc, hoàn cảnh của em rất thiệt thòi, bố ham rượu chè, mẹ thì một tay vừa nuôi 3 con ăn học và một mẹ già nên không những thiếu hụt việc chăm lo cho con học hành mà còn thiếu cả về mặt chế độ dinh dưỡng cho con;
Em Phạm Thị Kim Huế không có bố, sức khoẻ mẹ thì không bình thường, đời sống của 3 mẹ con em đều phụ thuộc ở bà ngoại Hoàn cảnh 2 em học sinh trên là một ví dụ Những đối tượng học sinh như trên, tôi luôn chia sẻ những lời động viên và hướng dẫn các em cách khắc phục, cách tự học ở nhà cũng như ở lớp Gặp phụ huynh trao đổi động viên họ vượt khó để quan tâm đến các cháu nhiều hơn
Qua quá trình luyện đọc cho các em, tuy là các em có chậm, yếu hơn các bạn nhưng được luyện đọc nhiều, được sự chăm sóc của cô, của nhà trường, của các bậc phụ huynh sự tiến bộ của các em cũng đã động viên tôi rất nhiều Quả là “Có công mài sắt có ngày nên kim”, chỉ trong thời gian 2 tháng
- 8 tuần học đầu năm- tôi đã cắt rốn được số học sinh còn đọc vần, và số lượng nhóm đối tượng học sinh tôi phân chia hồi đầu năm cũng giảm dần
- Rèn đọc thành tiếng : Cần rèn cho các em phát âm đúng, rõ ràng, đọc
đúng và đọc trôi chảy Khi tập đọc lưu ý những dấu thanh mà các em hay bỏ quên hoặc đọc sai Đọc rõ từng tiếng, không được kéo dài liền tiếng này sang tiếng khác Rèn học sinh biết ngừng, nghỉ đúng chỗ, biết phân biệt câu thơ, dòng thơ Đối với câu văn dài, hướng dẫn học sinh biết đọc thành từng cụm từ, biết giữ hơi để khỏi phải bị ngắt quãng giữa các âm tiết; Phần này tôi đã hướng dẫn học sinh như sau: Dùng dấu gạch chéo đánh dấu chỗ nghỉ hơi (//), chỗ ngừng, chỗ ngắt nhịp (/) và gạch dưới từ cần nhấn giọng trong đoạn văn, đoạn thơ; Hay
ra bài tập yêu cầu học sinh tìm những từ ngữ, câu chứa nhiều tiếng dễ phát âm sai và đọc lại
Ví dụ : Hướng dẫn học sinh đúng, biết ngừng, nghỉ đúng chỗ, đọc diễn cảm các câu văn; đoạn thơ sau:
Lớp ta hôm nay sạch sẽ quá ! // Thật đáng khen ! //
Các em hãy lắng nghe và cho cô biết / mẫu giấy đang nói gì nhé ! //
Các bạn ơi ! // Hãy bỏ tôi vào sọt rác ! //
(Bài Mẫu giấy vụn, Tiếng Việt 2- Tập 1)
Bê Vàng đi tìm cỏ / Lang thang / quên đường về /
Dê trắng thương bạn quá Chạy khắp nẻo / tìm Bê / Đến bây giờ Dê Trắng / Vẫn gọi hoài: / “Bê ! // Bê !” //
(Bài Gọi bạn, Tiếng Việt 2 - Tập 1)
- Hướng dẫn học sinh đọc thầm:
Trước hết phải cho học sinh biết được đọc như thế nào được gọi là đọc
Trang 9thầm: Đọc thầm là đọc không thành tiếng, đọc bằng mắt.
Các đọc hình thức thầm: Cả lớp đọc thầm, đọc thầm theo bạn hoặc theo cô; có thể đọc thầm để làm theo yêu cầu của cô giáo: Đọc thầm để tìm tiếng, từ
khó đọc trong đoạn, trong bài ; hay tìm trong bài có những nhân vật nào? Đọc
thầm giúp các em chuẩn bị tốt cho khâu đọc thành tiếng, tìm hiểu bài và nắm bắt nội dung bài học tốt hơn Vì vậy, bước đọc thầm trong tiết Tập đọc rất quan
trọng Không những thế mà việc làm này còn hình thành kỹ năng, kỹ xảo đọc
thầm cho học sinh và kỹ năng này sẽ theo các em trong suốt cuộc đời
Đối với học sinh lớp 2, đọc thầm khó hơn đọc thành tiếng do các em chưa
có sức tập trung cao để theo dõi bài đọc Thường các em dễ bỏ dở giữa chừng hay bị sót dòng
Để hướng dẫn học sinh đọc thầm đạt kết quả, khi dạy tôi yêu cầu học sinh tập trung vào bài Đọc thầm theo bạn để biết được bạn đã đọc đến đâu, hoặc đặt câu hỏi để tìm tiếng, từ khó đọc trong đoạn, trong bài; hay tìm trong bài có những nhân vật nào? Có như vậy các em mới chú ý và tập trung trong khi đọc thầm và kích thích tinh thần học tập của học sinh
Ví dụ 1: Bài “Mẹ hiền” Trang 63, Tiếng việt 2 tập I.
Tôi yêu cầu học sinh đọc thầm để tìm trong bài có những nhân vật nào? (Minh, Nam; bác bảo vệ; cô giáo, và các bạn cùng lớp Nam và Minh)
Ví dụ 2: Em hãy đọc thầm các câu sau và tìm những từ ngữ, câu chứa nhiều tiếng dễ phát âm sai và đọc lại:
Lúc này, Mai cứ loay hoay mãi với cái hộp đựng bút Em mở ra đóng lại Cuối cùng em lấy bút đưa cho Lan
Các từ khó đọc: loay hoay, mãi, mở, ra.
(Bài Chiếc bút mực, Tiếng Việt 2 - Tập 1)
- Hướng dẫn học sinh đọc thuộc lòng:
Nếu bài Tập đọc có yêu cầu Học thuộc lòng, giáo viên cần chú ý cho học sinh luyện đọc kĩ hơn (bước đầu diễn cảm); có thể ghi một số từ ngữ làm “điểm tựa” để các em tự nhớ và đọc thuộc, sau đó, xoá dần hết “từ điểm tựa” để học sinh tự nhớ và học thuộc toàn bộ; hoặc tổ chức cuộc thi hay trò chơi luyện học thuộc lòng để giờ học nhẹ nhàng, gây hứng thú cho các em
Để luyện Học thuộc lòng: Đối với những tiết có yêu cầu học thuộc lòng (cũng như phần Luyện đọc lại ở tiết Tập đọc không có yêu cầu Học thuộc lòng) thì khâu luyện học thuộc lòng được thực hiện sau khi học sinh đã nắm được nội dung bài đọc (nhưng: đầu giờ học giáo viên cần lưu ý cho học sinh để các em có
ý thức ghi nhớ bài trong quá trình tiết học) và được tiến hành theo các bước sau: + Giáo viên đọc mẫu
+ Giáo viên lưu ý cho học sinh về giọng điệu của từng nhân vật hoặc của toàn
bộ bài đọc, hay đoạn đọc
+ Giáo viên tổ chức học sinh thi đọc cá nhân và uốn nắn cách đọc cho học sinh
(Khâu này là luyện cho học sinh đọc trôi chảy, ngắt nghỉ hơi đúng chỗ, đúng mức, nếu có học sinh khá, giáo viên có thể giúp học sinh bước đầu rèn đọc diễn cảm)
Trang 10+ Hướng dẫn học sinh đọc thuộc lòng: Bước luyện đọc này là rèn trí nhớ cho các em và được tiến hành như đã nêu trên
- Luyện đọc bằng phương pháp tổ chức các trò chơi.
Để hỗ trợ cho việc rèn đọc tôi còn sử dụng phương pháp trò chơi luyện đọc Tổ chức các trò chơi đơn giản, không mất nhiều thời gian, không cần chuẩn
bị công phu Trò chơi luyện đọc tạo không khí vui tươi, hồn nhiên, tiết học nhẹ nhàng Các em tham gia trò chơi sẽ phát triển trí thông minh, khả năng sáng tạo
để đáp ứng yêu cầu giao tiếp hằng ngày và phục vụ cho việc học tập tốt Các em tham gia trò chơi còn rèn tinh thần tập thể và sự hỗ trợ lẫn nhau trong học tập, như vậy trò chơi học tập không những trau dồi kiến thức mà còn rèn những kĩ năng sống cần thiết cho các em Nên giáo viên có thể lồng ghép hoạt động trò chơi vào trong tiết học, bằng các hình thức: Thi đọc to, đọc rõ ràng; hay thi đọc nhanh, thi đọc tiếp sức,
Cách tổ chức trò chơi: Có nhiều hình thức tổ chức trò chơi luyện đọc Thời gian tổ chức trò chơi có thể là 3’ hoặc 5’; 15’; Giáo viên có thể lựa chọn loại trò chơi sao cho phù hợp với nội dung yêu cầu bài học và quỹ thời gian cho phép của tiết học
Ví dụ: Trò chơi “Ai nhập vai tốt” (thời gian 5’)
Sau khi học xong bài Tập đọc “Mẫu giấy vụn” Trang 49, Tiếng Việt 2
Tập I Cuối tiết học tôi tổ chức trò chơi như sau:
Yêu cầu: Đọc thầm đoạn 4 của bài và thể hiện vai bạn gái trong bài
“Bỗng một em gái đứng dậy, tiến tới chỗ mẫu giấy, nhặt lên rồi mang bỏ vào sọt rác Xong xuôi, em mới nói:
- Em có nghe thấy ạ Mẫu giấy bảo: “Các bạn ơi ! Hãy bỏ tôi và sọt rác!”
Với trò chơi này, Tôi đã phát huy được cho học sinh các kĩ năng: đọc thầm, rèn trí nhớ, đọc diễn cảm, nói lưu loát, mạnh dạn, tự tin,
4.Giải pháp 4: Luyện đọc hiểu cho học sinh lớp 2:
Ai cũng đã biết, nếu muốn hiểu bài thì phải đọc thông văn bản và ngược lại muốn đọc tốt văn bản thì cần phải hiểu nội dung Khi các em đã nắm được nội dung bài, hiểu được tình cảm của tác giả gửi gắm trong bài đọc, thì khi đọc học sinh mới có thể thể hiện được tình cảm đó qua bài đọc Biết vậy, nhưng với trình độ học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng để các em nắm được nội dung bài học trong một tiết dạy thời gian (40’) cả luyện đọc cả tìm hiểu bài quả là không đơn giản Vì vậy, qua quá trình dạy học “nói về môn Tập đọc” tôi rất trăn trở và đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài qua các khâu như sau:
4.1: Tìm hiểu bài:
- Việc tìm hiểu bài đóng vai trò rất quan trọng trong việc đọc hay, đọc diễn cảm đối với các em Tuy nhiên việc này không cho phép nhiều thời gian vì thế sẽ làm mất đi thời gian luyện đọc, nếu làm sơ sài cho qua để lấy thời gian luyện đọc thì các em chưa hiểu nội dung bài việc luyện đọc nâng cao sẽ không hiệu quả Vì thế người giáo viên cần phải làm tốt cả hai (tìm hiểu bài và luyện đọc) muốn vậy, khi chuẩn bị bài, người dạy phải nắm vững nội dung bài Tập