CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAMĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc BÁO CÁO SÁNG KIẾN TÊN SÁNG KIẾN: “LỒNG GHÉP TÍNH TỪ TẠO NÊN TÍNH HẤP DẪN KHI VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH 11”
Trang 1MỤC LỤC
5 III/ Thực trạng trước khi áp dụng sáng kiến 3
Trang 2CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
TÊN SÁNG KIẾN: “LỒNG GHÉP TÍNH TỪ TẠO NÊN TÍNH
HẤP DẪN KHI VIẾT ĐOẠN VĂN TRONG DẠY HỌC
MÔN TIẾNG ANH 11”
I/ Tác giả sáng kiến: Hứa Thị Bích Thủy
Giáo viên trường THPT Đống Đa – Quảng Uyên – Cao Bằng
II/ LĨNH VỰC ÁP DỤNG: “LỒNG GHÉP TÍNH TỪ TẠO NÊN TÍNH HẤP DẪN VIẾT ĐOẠN VĂN TIẾNG ANH 11”
Trong những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập của đất nước Tiếng Anh
đã và đang ngày càng khẳng định được vị trí là một ngôn ngữ giao tiếp cần thiết trong mọi lĩnh vực, góp phần giúp đất nước đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế
xã hội Vì vậy Tiếng Anh đã trở thành một môn học quan trọng trong nhà trường nhằm trang bị cho học sinh vốn kiến thức và kỹ năng cần thiết để học tập tích cực
và chủ động hơn
Làm thế nào để học sinh chủ động lĩnh hội và tiếp thu kiến thức một cách có hiệu quả? Học Tiếng Anh đơn thuần là học một ngôn ngữ Muốn học sinh học tốt môn ngôn ngữ thì học sinh phải rèn luyện đồng thời các kỹ năng cơ bản là: nghe, nói, đọc và viết Trong đó kỹ năng viết là một kỹ năng khó nhưng bắt buộc người học phải nắm vững vì hầu hết các kỳ thi Tiếng Anh đều là văn bản chữ viết Nếu như đọc văn bản không hiểu thì học sinh sẽ trả lời câu hỏi hoặc lựa chọn sai đáp án
Viết là một trong bốn kỹ năng mà học sinh cần phải học trong chương trình Tiếng Anh THPT mà các em cần nắm vũng Là học sinh, các em đã đang và sẽ học rất nhiều dạng bài viết để hoàn thiện quá trình học của mình Tuy nhiên, trong quá trình học các em có một bài viết bằng Tiếng Anh mạch lạc, trôi chảy và gợi mở là rất hiếm Vậy làm thế nào để giúp học sinh có thể phát triển kỹ năng viết? Nếu chỉ theo hướng dẫn trong sách giáo viên mà không có sự sáng tạo đổi mới trong phương pháp giảng dạy thì liệu giờ dạy viết có thật sự hiệu quả? Qua quá trình
giảng dạy ở trường THPT, với kinh nghiệm ít ỏi, tôi xin đưa ra đề tài “Lồng ghép tính từ tạo tính hấp dẫn khi viết đoạn văn trong dạy học môn Tiếng Anh 11”.
Tôi mong muốn răng qua đề tài này các bạn đồng nghiệp sẽ cùng trao đổi, thảo luận có những nhận xét và đóng góp thiết thực để cùng tìm ra các phương pháp dạy học tích cực bộ môn Tiếng Anh, tạo được hứng thú học tập cho các em học sinh trong các trường THPT và đặc biệt là ở Trường THPT Đống Đa – Huyện Quảng Uyên – Tỉnh Cao Bằng
Trang 3III/ THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
Nhìn chung, học sinh trường THPT Đống Đa có tinh thần tích cực trong việc học tập môn Tiếng Anh, nhưng do điều kiện tiếp xúc và môi trường ngôn ngữ còn hạn chế, khả năng vận dụng từ vựng và sử dụng vốn từ còn chưa linh hoạt dẫn đến bài văn còn khô khan và thiếu tính hấp dẫn Tuy nhiên, Ngay từ khi bắt đầu học Tiếng Anh, học sinh đã được tiếp xúc với 4 kỹ năng cơ bản của ngôn ngữ là: Nghe, nói, đọc, viết Trong đó kỹ năng viết là một trong những kỹ năng khó nhất, bởi lẽ
nó là phần hội tụ và hoàn thiện từ vựng, cấu trúc ngữ pháp của Tiếng Anh Nó đòi hỏi học sinh phải có vốn từ vựng phong phú, hiểu rõ các cấu trúc ngữ pháp cũng như các ý tưởng để lập dàn ý khi viết bài Kỹ năng viết giúp cho học sinh tái hiện lại những gì đã được học, giúp các em thực hành sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả và truyền đạt cho người nghe hiểu được ý tưởng của mình Bên cạnh đó kỹ năng viết còn phát huy khả năng sáng tạo của học sinh, nó phản ánh kết quả của quá trình nghe, nói, đọc ngữ pháp, từ vựng của học sinh Tuy nhiên tình trạng thiếu vốn từ làm cho học sinh gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý Và tôi nhận thấy tính
từ có vai rất quan trọng, tạo nên một lớp nghĩa mở làm cho bài viết trở nên rõ ràng, sáng ý hơn Khi học sinh có được một số tính từ nhất định và biết cách vận dụng những tính từ đó trong việc viết Tiếng Anh sẽ tạo nên sự thay đổi rất lớn trong việc học các kỹ năng khác như: nói, nghe và đọc trong quá trình học tiếng Anh của học sinh
Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài này để giúp bản thân hiểu sâu hơn về mục đích, yêu cầu cũng như các phương pháp, kỹ năng, thủ thuật dạy viết bằng cách lồng ghép tính từ để nâng cao hiệu quả giảng dạy và giúp học sinh chủ động tích cực phát huy kỹ năng viết đoạn văn Tiếng Anh
1 Đối với Giáo viên
Khi dạy viết đoạn văn và lồng ghép tính từ vào văn bản cần phải chú ý Đưa ra những tính từ nào liên quan và phù hợp với nội dung của bài viết để học sinh có thể vận dụng lồng ghép tính từ trong giờ viết
Các cấu trúc và trật tự tính từ mà học sinh có thể áp dụng
Thỏa luận cặp, nhóm như thế nào có hiệu quả
Đa dạng hình thức dạy học như thế nào để gây hứng thú cho học sinh
Việc lồng ghép tính từ trong giờ viết gấy được hứng thú học tập cho học sinh, giúp học sinh tích cực hơn trong việc tiếp thu kiến thức
2 Đối với Học sinh
Hầu hết học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số lại sống trên địa bàn khó khăn, không có điều kiện tiếp xúc với kiến thức thực tế nên trình độ cũng như khả năng nhận thức của các em còn hạn chế Là con em nông dân do đó việc quan tâm dạy dỗ và đầu tư cho học tập của phụ huynh học sinh chưa nhiều, một số
em chưa nắm được phương pháp học tập một cách có hiệu quả, chưa chú ý trong các giờ học, do đó kiến thức của các em có được sau mỗi giờ học chưa có chiều sâu, thiếu tính bền vững
Trang 4Từ đó có thể thấy việc nân cao chất lượng dạy và học bộ môn Tiếng Anh ở trường THPT Đống Đa cần có sự nỗ lực lớn của mỗi giáo viên Tiếng Anh để truyền tải được nội dung cơ bản không vượt quá khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em hứng thú, dễ hiểu, nhớ lâu nhưng cũng phải đáp ứng yêu cầu đổi mới kiểm tra đánh giá của môn học
IV/ MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN: “LỒNG GHÉP TÍNH TỪ TẠO NÊN TÍNH HẤP DẪN TRONG GIỜ DẠY VÀ HỌC VIẾT ĐOẠN VĂN
TIẾNG ANH THPT”
1 Tính đổi mới sáng tạo của đề tài:
Trong dạy kỹ năng viết, việc đổi mới phương pháp giảng dạy được thực hiện bằng việc chuyển phương pháp dạy viết như là một sản phẩm sang phương pháp dạy viết như là một quá trình Phương pháp dạy viết theo quá trình gồm các bước: Chuẩn bị viết, viết nháp, viết chính thức, và đánh giá kết hợp với các kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác mà tôi và các đồng nghiệp đã có cơ hội được tập huấn trước
đó vào giảng dạy bộ môn Tiếng Anh Thông qua những kĩ thuật và phương pháp dạy viết mới này học sinh được tạo nhiều cơ hội tương tác trong lớp học hơn, các
em được yêu cầu phải thảo luận, tìm ý, viết nháp trước khi viết chính thức và bời vì tuân theo quy trình chặt chẽ như vậy cho nên sản phẩm viết cuối cùng của các em thường hoàn chỉnh hơn và thường có chất lượng tốt hơn Tuy nhiên, việc người học vận dụng, sử dụng từ vựng như thế nào có được một bài viết hay, đúng với ý tưởng của học sinh lại là một vấn đề thách thức lớn đối với các em Không diễn đạt được
ý, thiếu vốn từ làm cho các em chán nản, bất lực và không hào hứng trong giờ học
viết Tiếng Anh Chính vì vậy, đề tài “Lồng ghép tính từ tạo tính hấp dẫn trong giờ dạy và học Tiếng Anh 11” ở trường Đống Đa không đề cập đến các phương
pháp dạy học mà chủ yếu đề cập đến một số phương pháp lồng ghép tính từ trong hoạt động dạy viết nhằm giúp các em học sinh có thêm vốn từ vựng và vận dụng những tính từ theo chủ đề một cách sáng tạo và có hiệu quả Hơn nữa, những phương pháp này còn hướng đến tính chất đổi mới của hoạt động giảng dạy lấy người học làm trung tâm tiếp thu kiến thức, giúp các em tự tìm tòi khám phá qua quy trình nhận thức quả tư duy, việc tiếp nhận kiến thức kiến thức một cách chủ động mang lại hiệu quả cao hơn rất nhiều so với lối tư duy thụ động mà trước kia chúng ta vẫn thường làm Như vậy, đề tài của tôi là làm sao để học sinh thực sự hứng thú và yêu thích giờ học viết môn Tiếng Anh
2 Một số biện pháp thực hiện
2.1 Chú ý việc xác định cách viết một đoạn văn và các tính từ theo chủ đề
Trước khi cho học sinh viết đoạn văn, giáo viên phải giúp học sinh trả lời được những câu hỏi sau: Đoạn văn viết gồm bao nhiêu từ? Cấu trúc của một đoạn văn gồm bao nhiêu phần? Làm thế nào để viết một đoạn văn? Và thể loại của đoạn văn viết là gì?
Sau khi đọc xong yêu cầu của đầu bài, giáo viên sẽ giúp học sinh dần dần trả lời những câu hỏi đó dựa vào bảng sau:
Trang 5Parts of a
Paragraph
1 Topic Sentence (Introduction)
2 Supporting Details (Body)
3 Closing Sentence (Conclusion)
How to Write a
Paragraph
1 Prewriting Paragraphs
2 Writing Paragraphs
3 Editing Paragraphs
4 Publishing Paragraphs
Kinds of
Paragraphs
2 Classification 6 Choice
4 Compare and Contrast 8 Evaluation
Khi học sinh đã thực hiện theo thứ tự các bước trong bảng hướng dẫn thì sẽ
có được một dàn ý (outline) cho dạng bài viết paragraph trong chương trình Tiếng Anh 11 (cơ bản) nhằm mục giúp các em học sinh thực hành viết dễ dàng hơn, hiệu quả hơn và hứng thú hơn trong các giờ học viết
Unit 1 Part D Writing
* Writing about a friend
* Outline
1 Introduction (Mở đầu)
- Who this person is / his or her relationship to you
- Your impression / opinion about the person
2 Body (Thân bài)
- Describe his / her physical appearance
- Describe his / her character, habit, hobbies
3 Conclusion (Kết luận)
- What you feel about this person or say what you like about her / him
Tuy nhiên, sau khi hoạt động cặp nhóm tìm ra được những ý chính cần thiết, học sinh vẫn còn lúng túng khi phải viết một đoạn văn nào đó Vậy nên, để học sinh dựa vào một dàn ý đã có sẵn để viết hoàn chỉnh là việc thực sự rất khó khăn đối với đối tượng là học sinh trung bình nói chung và đối với học sinh trường THPT Đống Đa nói riêng
Một trong những nguyên lí của việc viết văn bản là học sinh phải có vốn từ phù hợp và vận dụng những từ đó một cách đúng chính xác theo trật tự từ và cấu trúc ngữ pháp dưới sự định hướng và hướng dẫn cách thức tiếp cận, để học sinh có thể vận dụng kỹ năng viết một văn bản theo một chủ đề xác định
2.2 Tổ chức học sinh tìm ra những tính từ miêu tả theo chủ đề liên quan đến nội dung của đoạn văn
Trang 6Học sinh có thể hoạt động nhóm chuẩn bị các tính từ theo nhiều hình thức khác nhau như: group competition, cross out, choose the suitable words, brainstorming, mindmap
Ex: Unit 1 – Tiếng Anh 11
Write about a friend, real or imaginary, following the guidelilines.
- give your friend’s name, age, sex and home address, when and where you meet him or her
- decribe his/her physical characteristics (height, hair, eyes, face, clothes, ) and his/her personalities (helpful, sincere, )
- say what you like about him or her
Sau khi đọc yêu cầu của đầu bài và nghe hướng dẫn của giáo viên về cấu trúc, thể loại, và có được outline của bài Học sinh sẽ hoạt động cặp nhóm theo hình thức
do giáo viên tổ chức hoạt động tìm ra câu trả lời cho từng ý
Trong bài này tôi áp dụng kỹ thuật “khăn trải bàn” nhằm tổ chức hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm, kích thích, thúc đẩy cá nhân học sinh tham gia tích cựctrong việc liệt kê các tính từ mà các em biết Qua quá trình hoạt động tinh thần độc lập, trách nhiệm của cá nhân học sinh được phát huy hơn và mô hình có sự tương tác, giao tiếp, chia sẻ kinh nghiệm giữa học sinh với học sinh
Cá nhân
Cá nhân
Cá nhân
Cá nhân
1 4
3
1
2 3
Ý kiến chung của
cả nhóm về chủ đề
Viết ý kiến cá nhân
Viết
ý kiến
cá nhân
Viết
ý kiến
cá nhân
Trang 7Học sinh hoạt động nhóm 4 người, mỗi người ngồi vào vị trí như hình vẽ minh họa Học sinh tập trung vào việc tìm các tính từ liên quan đến chủ đề mà các
em đã được phân công
Ví dụ: Hoạt động 1
Để miêu tả về ngoại hình của bạn mình (your friend’s characteristics) Giáo viên chia lớp ra thành nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm 4 người sẽ tìm ra các tính
từ miêu tả bạn mình trong vòng 5 phút Mỗi cá nhân học sinh làm việc độc lập viết vào ô mang số của mình câu trả lời Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên sẽ chia sẻ, thảo luận thống nhất các câu trả lời và viết những ý kiến chung của
cả nhóm vào ô giữa tấm khăn trải bàn
Cụ thể:
- decribe his/her physical characteristics:
Bước 1: individual work
+ Group 1: hair:
- Student 1: Bald head - hói
Pony tail - tóc cột đuôi ngựa Shaved head - tóc húi cua Long hair - tóc dài
- Student 2: Crew cut - đầu đinh
Dreadlocks - tóc uốn lọn dài
Flat- top - đầu bằng
Undercut - tóc cắt ngắn ở phần dưới
- Student 3: Cropped hair - tóc cắt ngắn
Layered hair - tóc tỉa nhiều lớp Bob - tóc ngắn quá vai
- Student 4: Permed hair - tóc uốn lượn sóng
French blaid/plait, pigtail - tóc đuôi sam Cornrows - tóc tết tạo thành từng luống nhỏ Bunch - tóc buộc cao
Bun - tóc búi cao
Bước 2: group discussion
Bald head - hói Pony tail - tóc cột đuôi ngựa Shaved head - tóc húi cua Long hair - tóc dài Crew cut - đầu đinh Dreadlocks - tóc uốn lọn dài Flat- top - đầu bằng
Undercut - tóc cắt ngắn ở
Cropped hair - tóc cắt ngắn Layered hair - tóc tỉa nhiều lớp Bob - tóc ngắn quá vai
Permed hair - tóc uốn lượn sóng French blaid/plait, pigtail
- tóc đuôi sam Cornrows - tóc tết tạo thành từng luống nhỏ Viết ý kiến cá nhân
Trang 8phần dưới Bunch - tóc buộc cao
Bun - tóc búi cao
+ Group 2: height: Tall, medium, short
+ Group 3: eyes:
Beady - mắt tròn và sáng
Boss-eyed - mắt chột
Bug-eyed - mắt ốc nhồi ( mắt lồi)
Clear - mắt khỏe mạnh, tinh tường
Close-set - mắt gần nhau
Cross-eyed - mắt lác Liquid - mắt long lanh, sáng Piggy - mắt ti hí
Pop- eyed - mắt tròn xoe (vì ngạc nhiên) Sunken - mắt trũng, mắt sâu
+ Group 4: face:
Oblong - thuôn dài
Square - mặt vuông chữ Điền
Diamond - mặt hình hột xoàn
Rectangle - mặt hình chữ nhật
Inverted triangle
- mặt hình tam giác ngược
Triangle - mặt hình tam giác Round - mặt tròn
Heart - mặt hình trái tim Oval - mặt trái xoan Pear - mặt hình quả lê
+ Group 5: nose:
Sloping tip - mũi nhọn
Bulbous - mũi hình bầu tròn, mập
Turned-up – mũi nhỏ, hơi vểnh lên ở chóp
Broad with large nostrils - mũi rộng với lỗ mũi to
Snub – mũi hếch, ngắn, hơi vểnh lên ở chóp
Straight- edged – mũi thẳng dọc dừa
Fleshy - mũi đầy đặn, có nhiều thịt
Hawk- nosed - mũi khoằm (mũi diều hâu)
Thin and pointed - mũi nhọn
Aquiline - mũi khoằm (mũi chim ưng)
+ Group 1: clothes:
Smartly dressed: ăn mặc bảnh bao
Neatly dressed: ăn mặc chỉnh tề
Untidily/ Sloppily dressed: ăn mặc luộm thuộm
Có được các tính từ miêu tả cần thiết, học sinh sẽ thực hành đặt câu với các tính từ đó Nếu như trước kia khi được cung cấp tính từ các em tự thực hành đặt câu đơn giản chỉ mang tính chất mô tả khô khan không tự nhiên thì những cấu trúc tính cũng rất cần thiết để các em có thể tạo nên câu văn mạc lạc, tự nhiên mà không gây cảm giác hụt hẫng cho người đọc
Trang 92.3 Xác định loại tính từ
Sau khi liệt kê được các tính từ cần thiết cho đặc điểm “physical characteristics” học sinh vận dụng đặt câu với các tính từ trên Dưới đây là một số cách phân loại tính từ và vị trí của tính từ mà giáo viên và học sinh cần nắm được khi xây dựng câu cũng như chữa lỗi sai của trật tự tính từ
Tính từ có thể được phân loại theo vị trí hoặc chức năng:
2.3.1 Tính từ phân loại theo vị trí:
a Tính từ đứng trước danh từ
• a good pupil (một học sinh giỏi)
• a boy good (một cậu bé khỏe mạnh)
Cách sử dụng công thức và vị trí của tính từ
Hầu hết tính từ trong tiếng Anh khi được dùng để tính chất cho danh từ đều đứng trước danh từ, ngược lại trong tiếng Việt tính từ đứng sau danh từ mà nó phẩm định Thông thường, những tính từ đứng trước danh từ cũng có thể đứng một mình, không có danh từ theo sau như nice, good, bad, long, short, hot, happy, beautiful Tuy nhiên, một số ít tính từ lại chỉ đứng một mình trước danh từ, như former, latter, main
b Tính từ đứng một mình, không cần bất kì danh từ nào đứng sau nó:
Ví dụ:
• The boy is afraid
• The woman is asleep
• The girl is well
• She soldier looks ill
- Các tính từ như trên luôn luôn đứng một mình, do đó chúng ta không thể nói:
an afraid boy
• an asleep woman
• a well woman
• an ill soldier
- Nếu muốn diễn đạt các ý trên, chúng ta phải nói:
• A frightened woman
• A sleeping boy
• A healthy woman
• A sick soldier
- Những tính từ đứng một mình sau động từ như trên là những tính từ bắt đầu bằng a- và một số các tính từ khác như:
• aware; afraid;alive;awake; alone; ashamed; unable; exempt; content
Ví dụ:
• The hound seems afraid
• Is the girl awake or asleep?
2
3.2 Tính từ được phân loại theo công dụng
- Tính từ được phân thành các nhóm sau đây:
Trang 10a Tính từ chỉ sự miêu tả: nice, green, blue, big, good
• a large room
• a charming woman
• a new plane
• a white pen
Tính từ chỉ sự miêu tả chiếm phần lớn số lượng tính từ trong tiếng Anh Chúng
có thể phân làm hai tiểu nhóm:
* Tính từ chỉ mức độ: là những tính từ có thể diễn tả tính chất hoặc đặc tính ở những mức độ (lớn , nhỏ ) khác nhau Những tính từ này có thể dùng ở dạng so sánh hoặc có thể phẩm định bởi các phó từ chỉ mức độ như very, rather, so
• small smaller smallest
• beautiful more beautiful the most beautiful
• very old so hot extremely good
b Tính từ chỉ số đếm: bao gồm tính từ chỉ số đếm (cardinals) như one, two, three và những tính từ chỉ số thứ tự (ordinals) như first, second, third,
c Đối với các từ chỉ thị: this, that, these, those; sở hữu (possesives) như my, his, their và bất định (indefinites) như some, many,
2.3.3 Vị trí của tính từ:
- Tính từ được chia theo các vị trí như sau:
a Trước danh từ:
• a small house
• an old woman
- Khi có nhiều tính từ đứng trước danh từ, vị trí của chúng như sau:
b Sau động từ: ( be và các động từ như seem, look, feel )
• She is tired
• Jack is hungry
• John is very tall
c Sau danh từ: Tính từ có thể đi sau danh từ nó phẩm định trong các trường hợp sau đây:
* Khi tính từ được dùng để phẩm chất/tính chất các đại từ bất định:
• There is nothing interesting [nothing là đại từ bất định]
• I'll tell you something new [something là đại từ bất định]
* Khi hai hay nhiều tính từ được nối với nhau bằng "and" hoặc "but", ý tưởng diễn tả bởi tính từ được nhấn mạnh:
• The writer is both clever and wise
• The old man, poor but proud, refused my offer
* Khi tính từ được dùng trong các cụm từ diễn tả sự đo lường:
• The road is 5 kms long
• A building is ten storeys high
* Khi tính từ ở dạng so sánh:
• They have a house bigger than yours
• The boys easiest to teach were in the classroom