thắng trong hầu hết các cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâmlược và đô hộ như kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, Lý; kháng chiếnchống Mông – Nguyên thời Trần; khởi nghĩa ch
Trang 1ca vang khúc ca khải hoàn “Giải phóng Điện Biên” giữa khí thế sục sôi nhớ lại
“9 năm kháng chiến” Cũng trong ngày 7/5/2014, Trung Quốc hạ đặt trái phépgiàn khoan HD-981 trong thềm lục địa Việt Nam, vi phạm quyền chủ quyền vàquyền tài phán của Việt Nam Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc bùng lên ởkhắp nơi, ở mọi lứa tuổi Tuy nhiên, không phải ai, không phải tầng lớp nàocũng có những hành động yêu nước tỉnh táo và đúng đắn, đặc biệt là tầng lớphọc sinh, sinh viên Nếu không tỉnh táo sẽ dễ bị kích động, gây ảnh hưởng đếnbản thân và lợi ích của quốc gia Trên tất cả, lúc này người Việt Nam cần pháthuy được bản sắc truyền thống của dân tộc, chung vai sát cánh tạo nên nguồnsức mạnh to lớn đập tan âm mưu vi phạm chủ quyền của các thế lực bên ngoài.Hơn lúc nào hết, cần giúp cho nhân dân - đặc biệt là thế hệ trẻ người Việt - hiểu
và trân trọng truyền thống, bản sắc dân tộc Trước bối cảnh đó, bộ môn Lịch sử
có ưu thế trong việc truyền dạy những bài học truyền thống của cha ông thưởtrước, tạo nền tảng, cơ sở để thế hệ trẻ giữ gìn, phát huy, bảo tồn các giá trị vănhóa Việt, từ đó bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc
Khóa trình lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII là giai đoạn cónhiều sự kiện lịch sử thuận lợi trong việc hình thành cho các em học sinh hiểukhái niệm và những biểu hiện cụ thể của truyền thống dân tộc Việt Nam Chính
Trang 2vì vậy, trên cơ sở lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập Lịch sử Việt Nam
thế kỷ X – thế kỷ XVIII, tôi quyết định lựa chọn chuyên đề “Giáo dục truyền thống dân tộc Việt thông qua khóa trình Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X đến thế
kỷ XVIII” làm nội dung nghiên cứu và gửi tham dự xây dựng Kỷ yếu Trại hè
Hùng Vương lần thứ X tại Hạ Long – Quảng Ninh (2014)
B NỘI DUNG
Truyền thống là những thói quen, tư tưởng, lối sống, việc làm haynhững giá trị văn hóa tinh thần lập đi lập lại nhiều lần, truyền từ đời này sangđời khác Truyền thống mang tính tích cực và được mọi người tôn trọng, gìngiữ, kế thừa và phát huy
Mỗi một dân tộc lại có một đặc điểm, một cá tính hay một truyền thốngkhác nhau Điểm khác nhau đó tạo nên bản sắc riêng biệt cho mỗi một quốcgia, một dân tộc
Thế kỷ X – thế kỷ XVIII là giai đoạn tồn tại của chế độ phong kiến ViệtNam trải qua các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê – Lý – Trần – Hồ - Lê sơ –Mạc – Lê trung hưng – Tây Sơn Trong đó được chia ra làm hai thời kỳ rõ rệt:
Từ thế kỷ X – thế kỷ XV là thời kỳ chế độ phong kiến trung ương tậpquyền, chế độ phong kiến Việt Nam được hình thành, xây dựng và phát triểnđến đỉnh cao dưới thời Lê sơ thế kỷ XV
Thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII là thời kỳ đất nước chứng kiến nhiều biếnđộng về chính trị với sự lập lên – đổ xuống của các vương triều Mạc – Lê –Trịnh – Tây Sơn Đây là thời kỳ chế độ phong kiến phân quyền, đất nước bịchia cắt làm hai Đàng: Đàng Ngoài – Đàng Trong
Tuy nhiên, mặc dù có sự khác biệt về hoàn cảnh chính trị nhưng tựuchung lại, trong cả giai đoạn lịch sử thế kỷ X – thế kỷ XVIII, nhân dân ta đãtích cực xây dựng một thể chế chính trị độc lập, một nền kinh tế phát triển, mộtnền văn hóa đa dạng, phong phú, mang đậm bản sắc dân tộc và đã giành chiến
Trang 3thắng trong hầu hết các cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâmlược và đô hộ như kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, Lý; kháng chiếnchống Mông – Nguyên thời Trần; khởi nghĩa chống ách đô hộ của giặc Minh.Trong suốt thời kỳ lịch sử ấy, dân tộc Việt Nam đã biết gìn giữ, tiếp nối, pháthuy những truyền thống quý báu của cha ông từ thuở văn minh Văn Lang – ÂuLạc để làm rạng rỡ lịch sử Việt Nam.
Vậy truyền thống dân tộc Việt bao gồm những đặc điểm nào và có nhữngbiểu hiện cụ thể ra sao? Người giáo viên Lịch sử cần xác định và có minhchứng cụ thể trong khóa trình Lịch sử Việt Nam từ thế kỷ X – thế kỷ XVIII, từ
đó tạo nền tảng, cơ sở trong việc giáo dục tinh thần, tình cảm, thái độ và địnhhướng hành động cho học sinh
Trên cơ sở nghiên cứu và giảng dạy khóa trình Lịch sử Việt Nam từ thế
kỷ X đến thế kỷ XVIII tôi lựa chọn và phân tích 6 biểu hiện, đặc điểm trongtruyền thống dân tộc Việt như sau:
1 Truyền thống yêu nước
Bất cứ một dân tộc nào trên thế giới này cũng đều có lòng yêu nước.Lòng yêu nước tuy một phần là tình cảm rất tự nhiên, nhưng mặt khác quantrọng hơn, nó chính là sản phẩm của lịch sử, được hun đúc bởi chính lịch sử củadân tộc Cùng với tiến trình lịch sử Việt Nam, tinh thần yêu nước Việt Nam trởthành chủ nghĩa yêu nước, trở thành một giá trị, một động lực tinh thần vô cùngmạnh mẽ thúc đẩy biết bao thế hệ kiên cường và dũng cảm hi sinh để giành lại
và bảo vệ độc lập của Tổ quốc, bảo vệ những phẩm giá của chính con người
Tinh thần yêu nước là giá trị cơ bản trong hệ giá trị truyền thống của dântộc Việt Nam ta Theo G.S Trần Văn Giàu: tình cảm và tư tưởng yêu nước làtình cảm và tư tưởng lớn nhất của nhân dân, của dân tộc Việt Nam và chủ nghĩayêu nước là sợi chỉ đỏ xuyên qua toàn bộ lịch sử Việt Nam từ cổ đại đến hiệnđại Ở đây, bản chất Việt Nam biểu lộ đầy đủ và tập trung nhất, hơn bất cứ chỗ
Trang 4nào khác Yêu nước trở thành một triết lý xã hội và nhân sinh của người ViệtNam.
Tinh thần yêu nước là nguyên tắc đạo đức và chính trị, một tình cảm xãhội mà nội dung của nó là lòng trung thành với Tổ quốc, là lòng tự hào về quákhứ và hiện tại của Tổ quốc, ý chí bảo vệ những lợi ích của Tổ quốc Thực ra,trên thế giới, mỗi quốc gia, dân tộc đều có tình yêu đất nước, nhưng bản sắc, sựhình thành cũng như biểu hiện của nó lại có sự khác nhau Ở Việt Nam, chúng
ta có thể thấy rằng, chủ nghĩa yêu nước là giá trị đạo đức cao quý nhất của dântộc Việt Nam, là chuẩn mực đạo đức cao nhất, đứng đầu trong thang bậc giá trịtruyền thống, và là hằng số trong mỗi người Việt Nam, là tiêu điểm của mọitiêu điểm Yêu nước là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên lợi ích cánhân, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ đất nước, có ý thức giữ gìn và phát triểnbản sắc dân tộc, luôn tự hào về dân tộc…
Tinh thần yêu nước Việt Nam được bắt nguồn từ những tình cảm bình dị,đơn sơ của mỗi người dân Tình cảm đó, mới đầu, chỉ là sự quan tâm đến nhữngngười thân yêu ruột thịt, rồi đến xóm làng, sau đó phát triển cao thành tình yêu
Tổ quốc Tình yêu đất nước không phải là tình cảm bẩm sinh, mà là sản phẩmcủa sự phát triển lịch sử, gắn liền với một đất nước nhất định
Ở mỗi một người dân Việt thời trung đại lại có cách thể hiện tình yêunước khác nhau: Đối với nhân dân, “trung quân” mới là yêu nước; đối với vuaquan, yêu nước là phải “thương dân”; người nông dân yêu nước phải chăm lophát triển sản xuất; người thương nhân yêu nước là phải làm hưng thịnh nềnthương nghiệp nước nhà,…Tình yêu đất nước không chỉ gắn liền với quá trìnhxây dựng đất nước, nó còn được thể hiện rõ hơn trong quá trình bảo vệ đấtnước
Trên thế giới, hầu như dân tộc nào cũng phải trải qua quá trình bảo vệ đấtnước, chống xâm lăng Nhưng có lẽ không dân tộc nào lại phải trải qua quá
Trang 5trình giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc nhiều và đặc biệt như ở Việt Nam.Trong khoảng thời gian từ thế kỷ III TCN đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, dântộc ta đã dành hơn nửa thời gian cho các cuộc kháng chiến giữ nước và đấutranh chống ngoại xâm, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng dân tộc.Không có một dân tộc nào trên thế giới lại phải chịu nhiều cuộc chiến tranh nhưvậy và với những kẻ thù mạnh hơn rất nhiều Chính tinh thần yêu nước nồngnàn đã giúp dân tộc ta vượt qua mọi khó khăn, chiến thắng mọi thế lực xâmlược Qua những cuộc chiến đấu trường kỳ đầy gian khổ đó, chủ nghĩa yêunước đã trở thành dòng chảy “chủ lưu” của đời sống Việt Nam, trở thành mộttriết lý xã hội và nhân sinh trong tâm hồn Việt Nam
Yêu nước là tình cảm và tư tưởng phổ biến, vốn có ở tất cả các dân tộctrên thế giới chứ không riêng gì của dân tộc Việt Nam Song, tư tưởng ấy đượchình thành sớm hay muộn, đậm hay nhạt, nội dung cụ thể, hình thức và mức độbiểu hiện cũng như chiều hướng phát triển của nó lại tuỳ thuộc vào điều kiệnlịch sử đặc thù của từng dân tộc Đối với dân tộc Việt Nam, lòng yêu nướckhông chỉ là một tình cảm tự nhiên, mà nó còn là sản phẩm của lịch sử đượchun đúc từ chính lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc Việt Nam Lịch
sử mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam là lịch sử đất tranh giành lại và bảo vệnền độc lập từ tay kẻ thù xâm lược (thời gian chống giặc ngoại xâm cộng lại lêntới trên 12 thế kỷ) Chính vì vậy mà tinh thần yêu nước đã ngấm sâu vào tình cảm,vào tư tưởng của mỗi người dân Việt Nam qua tất cả các thời đại, làm nên một sứcmạnh kỳ diệu, giúp cho dân tộc ta đánh thắng hết kẻ thù này đến kẻ thù khác cho
dù chúng có hùng mạnh đến đây Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng
kết: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Đó là một truyền thống quý báu của
ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [1;140].
Trang 6Lịch sử là một minh chứng hùng hồn nhất cho những khẳng định trên Từthế kỷ thứ III TCN, dân tộc ta đã đánh tan cuộc xâm lược đầu tiên của bọnphong kiến phương Bắc do nhà Tần tiến hành Từ năm 179 TCN đến năm 938,nước ta tiếp tục nằm dưới sự đô hộ của phương Bắc (tổng cộng 1117 năm) Đây
là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là thời kỳ biểu hiện sức mạnh quậtcường, sự vươn lên thần kỳ của dân tộc ta và kết thúc với chiến thắng BạchĐằng năm 938 oanh liệt Tiếp sau thời kỳ này là hàng loạt các chiến thắng vangdội khác: Lê Hoàn đánh tan quân Tống (981); Lý Thường Kiệt và quân dân nhà
Lý đã đánh bại cuộc xâm lược lần thứ hai của quân Tống (1075-1077); nhàTrần ba lần đánh bại quân Mông – Nguyên (1258, 1285, 1287-1288); Lê Lợiđánh bại quân Minh, Nguyễn Huệ đánh bại quân Thanh… Rồi đến những thắnglợi vang dội của các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Trong nhữngcuộc chiến tranh tàn khốc đó, nếu không có tinh thần yêu nước, lòng tự hào tựtôn dân tộc, làm sao một dân tộc nhỏ yếu như chúng ta có thể làm nên nhữngchiến thắng vang dội, đánh thắng được những kẻ thù mạnh nhất thế giới Lòngyêu nước ở mỗi người dân Việt Nam đã được thể hiện ở tinh thần dám xả thân
vì nước, sẵn sàng đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích riêng tư củabản thân mình, đấu tranh không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng đấtnước, giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc
Từ lâu, nhân dân ta đã quen xem việc giữ nước là việc của nhà mình.Người nông dân Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt mà vẫn lo việc nước Nguyễn ChếNghĩa tự nguyện tòng quân dưới cờ súy ngày hội Các gia nô, nô tì tạm gác mốithù giai cấp, lao vào cuộc chiến đấu cứu nước không kể đến thân mình như YếtKiêu, Dã Tượng,… Những người dân tộc thiểu số như Hà Bổng, Hà Đặc, HàChương đứng lên đánh giặc giữ nước, đồng thời giữ yên xóm làng quê hương,
… Biết bao người con của dân tộc đã tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân củamình cho đất nước và đã anh dũng hy sinh nơi chiến trường Biết bao nhiêu
Trang 7người mẹ, người vợ đã tiễn chồng, tiễn con ra mặt trận mà không bao giờ cònđược đón họ trở về Đó là sự hy sinh to lớn được thúc đẩy bởi tinh thần yêunước nồng nàn của dân tộc ta Bấy nhiêu cũng là quá đủ để có thể thấy rằng, tưtưởng yêu nước không phải là một triết lý để “nói suông” mà nó là kim chỉ namcho hành động, đem lại một sức mạnh to lớn, thúc đẩy dân tộc ta tiến lên
Nội dung cơ bản của truyền thống yêu nước được áp dụng truyền dạy vàđịnh hướng tình cảm, thái độ cho học sinh trong tất cả các nội dung bài dạy của
khóa trình Lịch sử Việt Nam thế kỷ X – XVIII, từ bài 28 đến bài 37 (SGK Lịch
sử 10 Nâng cao); từ bài 17 đến bài 24 (SGK Lịch sử 10 Cơ bản) Đặc biệt được
sử dụng tích cực khi dạy bài Tổng kết lịch sử Việt Nam, bài 28: Truyền thống
yêu nước của dân tộc Việt Nam thời phong kiến (SGK Lịch sử 10 Cơ bản).
Như vậy, được hình thành từ sớm, lại được thử thách, khẳng định quabao nhiêu thăng trầm của lịch sử, được bổ sung, phát triển qua từng thời kỳ,theo yêu cầu phát triển của dân tộc và thời đại, tinh thần yêu nước đã trở thànhchủ nghĩa yêu nước, trở thành một trong những giá trị truyền thống cao quýnhất, bền vững nhất của dân tộc ta Yêu nước đã thực sự trở thành một thứ vũ
khí tinh thần mà theo G.S Trần Văn Giàu: “vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng là tuỳ thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy”.
2 Truyền thống đoàn kết
Chống giặc ngoại xâm, bảo vệ nền độc lập chủ quyền là nét nổi bật củatruyền thống yêu nước Việt Nam Và như trên đã trình bày, dân tộc ta đã đánhbại gần như tất cả các cuộc xâm lăng của các thế lực bên ngoài Một trongnhững nguyên nhân cơ bản làm nên những thắng lợi đó chính là tinh thần đoànkết của quân dân ta
Trang 8Đoàn kết là sự đồng thuận và đóng góp của mỗi cá nhân trong một nhóm vìmột mục đích hay một công việc chung nào đó mà không làm phương hại đếnlợi ích của người khác.
Vai trò của đoàn kết đặc biệt được thể hiện rõ ràng nhất là khi Tổ quốclâm nguy, bị giặc ngoại xâm giày xéo Lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và
giữ nước vĩ đại của dân tộc ta khẳng định rằng: “Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn” [4; 217] Thực tế lịch sử đã
chứng minh, mỗi khi có giặc ngoại xâm, chỉ khi nào chúng ta đoàn kết đượctoàn dân, huy động được sức mạnh toàn dân tộc như thời Lý - Trần, khởinghĩa Lam Sơn, khởi nghĩa Tây Sơn thì chúng ta tất giành thắng lợi Ngượclại, nếu không lấy được lòng dân, không phát huy được sức mạnh toàn dântộc thì khi đó cuộc đấu tranh của nhân dân ta sẽ bị thất bại như cuộc khángchiến của nhà Hồ, nhà Nguyễn ở các thế kỷ trước
Truyền thống đoàn kết được áp dụng cụ thể khi giảng dạy ở các bài 19:Những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X – XV; Bài 23: Phongtrào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc cuối thế kỷ
XVIII (SGK Lịch sử 10 Cơ bản); Bài 30 và bài 37 (SGK Lịch sử 10 Nâng cao).
Khi giảng dạy về truyền thống đoàn kết của dân tộc ta trong các thế kỷ X–XVIII, nhấn mạnh nhất trong các cuộc kháng chiến chống phong kiến phươngBắc Tinh thần đoàn kết đã tạo điều kiện cho dân tộc ta thực hiện thế trận cuộc
“chiến tranh nhân dân” – toàn dân đánh giặc, không phân biệt già trẻ, gái trai,dân tộc, giàu nghèo,…
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống năm 981 của nhàTiền Lê, ta thấy được tinh thần đoàn kết thể hiện ở chỗ triều thần nhà Đinh -đứng đầu là Thái hậu Dương Vân Nga - đã từ bỏ lợi ích của dòng tộc, giai cấp,đặt lợi ích của quốc gia làm đầu thông qua việc Thái hậu khoác áo cổ cồn cho
Trang 9Lê Hoàn, lịch sử chuyển giao từ triều Đinh sang Tiền Lê một cách hòa bình Từ
đó đã tạo được khối đại đoàn kết đánh tan mưu đồ xâm lược của quân Tống vớinhững chiến thắng ở vùng Đông Bắc như trận Ải Chi Lăng và trận Bạch Đằngnăm 981 Những tên tuổi như Lê Hoàn, Dương Vân Nga sáng mãi cùng lịch sửdân tộc và trong lòng quần chúng nhân dân
Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống lần II (1075-1077),
Lý Thường Kiệt cùng vua quan nhà Lý cũng phát huy được sức mạnh đoàn kếttoàn dân tộc làm nên những chiến thắng vang dội, tiêu biểu là trận chiến ở bờBắc sông Như Nguyệt
Tinh thần đoàn kết chưa bao giờ được phát huy rực rỡ như dưới triều đạinhà Trần thế kỷ XIII “Hào khí Đông A” – hào khí nhà Trần - trở thành một sứcmạnh lớn lao để giúp nhân dân ta 3 lần đánh thắng quân Mông – Nguyên Hạtnhân của khối đại đoàn kết đó chính là Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn.Trần Quốc Tuấn đã gạt bỏ mọi tư thù cá nhân, hết lòng trung nghĩa phụng sự sứmệnh của đất nước Khi giảng dạy về mối đoàn kết trong nội bộ tướng sĩ nhàTrần, giáo viên có thể chứng minh qua câu chuyện cảm động về việc Trần QuốcTuấn tắm gội cho Trần Quang Khải, chủ động giải quyết mối bất hòa riêng tư
để thực hiện đoàn kết chặt chẽ từ trong nội bộ triều đình
Từ tinh thần đoàn kết đã tạo nên tính chất toàn dân sâu sắc trong cuộckháng chiến chống Mông – Nguyên của nhà Trần thế kỷ XIII Đông đảo cáctầng lớp nhân dân tham gia các lực lượng vũ trang của triều đình và đấu tranhchống kẻ thù xâm lược:
Các vua Trần cùng các vương hầu, quý tộc đều ra trận thể hiện khí phách
hiên ngang, lòng yêu nước nồng nàn như Trần Quốc Toản, Trần Khánh Dư,Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, đặc biệt là Trần Quốc Tuấn
Những người có địa vị thấp kém nhất trong xã hội Yết Kiêu, Dã Tượng vốn là gia nô, gia đồng - cũng vẫn có nhận thức đầy đủ và sâu sắc về nghĩa vụ
Trang 10-của mình với vận mệnh dân tộc, dũng cảm, kiên gan tham gia cuộc chiến và lậpnhiều chiến công vang dội.
Mọi giới, mọi lứa tuổi đều hăng hái tham gia kháng chiến Các vị bô lãotham gia Hội nghị Diên Hồng 1285 thể hiện sự đồng lòng nhất trí qua lời hôvang “Đánh!” Những người phụ nữ cũng có những đóng góp xứng đáng vàothắng lợi của cuộc kháng chiến như Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung tổ chứccho gia đình hoàng tộc, quan lại di chuyển khỏi kinh thành Thăng Long Bà bánnước ở bến đò Rừng đã chỉ cho Trần Quốc Tuấn sự lên xuống của mực nước,
Đồng bào các dân tộc ít người đều có những đóng góp to lớn trong cuộckháng chiến Các tù trưởng miền núi là người dân tộc thiểu số như Hà Bổng, HàĐặc, Hà Chương có vai trò lớn trong chặn đánh và chặn đường rút chạy củađịch
Như vậy, chỉ khi khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố ở mức độ caothì kế sách “thanh dã” – “vườn không nhà trống” của nhà Trần mới phát huyđược hết sức mạnh Từ quân sĩ đến nhân dân đều quyết tâm “Sát Thát” Tinhthần ấy được truyền giao từ Hội nghị Bình Than 1282 đến hội nghị Diên Hồng
1285 Tiếng hô vang “Đánh!” lan tỏa về các địa phương để nhân dân trên dướimột lòng cùng triều đình đánh giặc làm nên những chiến thắng lẫy lừng nhưtrận Đông Bộ Đầu, trận Tây Kết, Vạn Kiếp, đặc biệt là trận Bạch Đằng năm1288
Nghệ thuật quân sự trong cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên
là đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của dân tộc tatrong thời đại phong kiến Người đề ra và vận dụng thiên tài chiến lược, chiếnthuật chiến tranh nhân dân đó không ai khác là Hưng Ðạo Ðại Vương TrầnQuốc Tuấn Lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc ta, đã xuấthiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợpchiến đấu của quân triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong
Trang 11những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luônchủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù.Khi tổng kết nguyên nhân cơ bản dẫn đến thắng lợi to lớn của quân dân tatrong ba lần kháng chiến chống quân Mông – Nguyên ở thế kỷ XIII, người anh
hùng vĩ đại của dân tộc - Trần Hưng Đạo đã nói: “Mới rồi Toa Đô và Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây nhưng vì vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước góp sức nên bọn giặc phải chịu bị bắt” [3;117].
Thế kỷ XV chứng kiến nỗi đau khổ tột cùng của nhân dân ta dưới ách đô
hộ, kìm kẹp của nhà Minh:
“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”…
(Trích: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Cao trào kháng chiến chống Minh, do yêu cầu và tính chất của nó đã pháthuy thêm một bước tinh thần cả nước cùng đứng lên chống quân xâm lược.Khắp mọi nơi, nhân dân rầm rộ nổi dậy, không phải đi theo một đội quân chínhquy nào đó, hay theo mệnh lệnh của nhà nước mà tự động chống lại kẻ thù.Cuộc đấu tranh mang đậm tính tự phát nên cũng nói lên tính tự giác cao độ đểbảo vệ Tổ quốc của nhân dân Không sợ hy sinh, không sợ kẻ thù lớn mà tùytheo sức mà đánh Mỗi tầng lớp tập hợp theo hoàn cảnh và điều kiện của mìnhvới những hình thức đấu tranh khác nhau nhưng tất cả các cuộc đấu tranh đều
có chung một mục đích: giải phóng Tổ quốc Và từ cao trào tự phát như vậymới có được đỉnh cao tập trung trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) -một cuộc chiến tranh nhân dân xuất sắc trong lịch sử dân tộc Trong cuộc khởinghĩa ấy đã huy động được toàn dân tham gia đánh giặc, không phân biệt giàtrẻ, trai gái, tướng – sĩ,…Tất cả nghĩa quân như một đại gia đình:
Trang 12“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới
Tướng sĩ một lòng phụ tử, hoà nước sông chén rượu ngọt ngào.”…
(Trích: Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi)
Với tinh thần đoàn kết và đội quân “phụ tử” như vậy, nghĩa quân LamSơn đã lật đổ ách cai trị của nhà Minh, từ một cuộc khởi nghĩa ở địa phương đãphát triển lên trở thành một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Sau thắng lợicủa khởi nghĩa Lam Sơn, năm 1428 nhà Lê sơ đã được thành lập và trở thànhvương triều phát triển đỉnh cao trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam
Thế kỷ XVI – XVIII đất nước bị chia cắt thành hai Đàng: Đàng Trong –Đàng Ngoài Đời sống nhân dân khổ cực, hàng loạt các cuộc khởi nghĩa nôngdân đã nổ ra nhưng đều bị thất bại Năm 1771, ba anh em Nguyễn Huệ, NguyễnNhạc, Nguyễn Lữ đã phất cờ khởi nghĩa tại ấp Tây Sơn – Bình Định Cuộc khởinghĩa đã có những vai trò to lớn đối với lịch sử dân tộc: Bước đầu hoàn thành
sự nghiệp thống nhất đất nước; đập tan âm mưu xâm lược của hai thế lực ngoạibang Xiêm (1785) – Thanh (1789); xây dựng một vương triều mới tương đối ổnđịnh, tiến bộ, nhất là vương triều Tây Sơn của Quang Trung (1789-1802) Cuộckhởi nghĩa Tây Sơn đã trở thành cuộc khởi nghĩa nông dân lớn nhất, vĩ đại nhấthoàn thành những nhiệm vụ có “một không hai” trong lịch sử dân tộc ta Và đểlàm nên những trận Ngọc Hồi – Đống Đa ấy chính là sức mạnh đoàn kết củaquần chúng nhân dân, của toàn thể dân tộc
Đồng thời với những thắng lợi trên, lịch sử cũng đã ghi nhận rằng, khinào nhà nước không đoàn kết một lòng với nhân dân, sức mạnh khối đại đoànkết toàn dân bị hao tổn thì các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, hay sự tồn tại của
cả vương triều đều bị thất bại Đó chính là sự thất bại của nhà Hồ, vương triều
Mạc và vương triều Nguyễn sau này Đúng như Hồ Nguyên Trừng đã nói: “Tôi không sợ đánh mà chỉ sợ lòng dân không theo”