1.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1 Mục tiêu chung Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa, từ đó đề
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỂN THỊ THANH HOA
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA CÔNG NHÂN KHI CHỌN KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH HÒA
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THANH HOA
MSSV: 4113892
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA CÔNG NHÂN KHI CHỌN KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH HÒA
Tháng 11- 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ - -
Em xin chân thành cám ơn Quý Thầy, Cô khoa Kinh tế & QTKD trường Đại học Cần Thơ đã tận tình giảng dạy em trong suốt thời gian học tập tại trường Thầy, Cô đã truyền dạy cho em những nguồn kiến thức thật bổ ích không chỉ về mặt lý thuyết mà còn cả về thực tế, đây chính là hành trang quý báu cho em thêm vững tin bước vào đời Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Quách Dương Tử Thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Em kính gửi lời cảm ơn chân thành đến các Cô, Chú, Anh Chị đang công tác tại BQL Khu kinh tế, BQL Khu công nghiệp Bình Hòa Cảm ơn các Anh, Chị, các bạn đang làm việc tại KCN Bình Hòa đã cung cấp cho em những thông tin để hoàn thành bảng số liệu sơ cấp
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy, Cô Khoa Kinh tế & QTKD Trường Đại học Cần Thơ, Thấy Quách Dương Tử luôn vui, khỏe, công tác tốt
và không ngừng thăng tiến trên con đường sự nghiệp Chúc các Anh, Chị và các bạn đang làm việc tại KCN Bình Hòa lời chúc sức khỏe và thành công trong cuộc sống
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Người thực hiện
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 4TRANG CAM KẾT - -
Tôi xin cam đoan rằng đề tài này là do chính tôi thực hiện Các số liệu thu thập và kết quả phân tích trong đề tài là trung thực Số liệu của đề tài chưa được sử dụng cho bất kỳ đề tài nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Người thực hiện
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trang 5NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
- -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Giáo viên hướng dẫn
Quách Dương Tử
Trang 6NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN
- -
Cần Thơ, ngày … tháng … năm … Giáo viên phản biện
Trang 7MỤC LỤC
- -
CHƯƠNG 1 13
1.1 Lý do chọn đề tài 13
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 14
1.2.1 Mục tiêu chung 14
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 14
1.3 Phạm vi nghiên cứu 14
1.3.1 Không gian nghiên cứu 14
1.3.2 Thời gian nghiên cứu 14
1.3.3 Đối tượng nghiên cứu 14
1.4 Các giả thiết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu 14
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 14
1.4.2 Giả thiết cần kiểm định 15
1.5 Lược khảo tài liệu 15
CHƯƠNG 2 18
2.1 Cơ sở lý luận 18
2.1.1 Khái quát chung về KCN 18
2.1.2 Lao động di cư 20
2.1.3 Khái quát chung về công nhân 22
2.2 Phương pháp nghiên cứu 27
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 27
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu 28
2.2.3 Lý thuyết phương pháp phân tích 29
2.2.4 Khung nghiên cứu 31
CHƯƠNG 3 33
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN CHÂU THÀNH VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH HÒA 33
3.1 Khái quát chung về huyện Châu Thành 33
3.1.1 Vị trí địa lý 33
3.1.2 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.3 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội trên địa bàn huyện Châu Thành năm 2013 34
3.2 Tổng quan tình hình phát triển các KCN ở ĐBSCL 36
3.2.1 Khái quát chung về tình hình hoạt động của các KCN 36
3.2.2 Những thuận lợi của các KCN ĐBSCL 38
3.3 Giới thiệu chung các KCN tỉnh An Giang 38
3.3.1 Các KCN tỉnh An Giang 38
3.3.2 Những chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang 39
3.4 Tổng quan về tình hình phát triển KCN Bình Hòa 42
3.4.1 Giới thiệu về KCN Bình Hòa 42
3.4.2 Hiện trạng phát triển KCN Bình Hòa 43
Trang 8CHƯƠNG 4 46
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA CÔNG NHÂN KHI CHỌN KCN BÌNH HÒA ĐỂ LÀM VIỆC 46
4.1 Mô tả khái quát về đối tượng nghiên cứu 46
4.2 Thực trạng về đời sống và việc làm của công nhân tại KCN Bình Hòa 48
4.2.1 Thực trạng đời sống của công nhân 48
4.2.2 Việc làm của người lao động tại KCN 50
4.2.3 Thu nhập của công nhân trước và sau khi đến làm việc tại KCN Bình Hòa 52
4.2.4 Mối quan hệ giữa người lao động và công ty tại KCN Bình Hòa 52
4.2.5 Mối quan hệ giữa người lao động và người dân địa phương tại KCN Bình Hòa 53
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa để làm việc 54
4.3.1 Kiểm định Cronbach’s Alpha 54
4.3.2 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 56
4.3.3 Xác định hệ số điểm nhân tố 59
4.3.4 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh 59
CHƯƠNG 5 61
MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ NÂNG CAO LÒNG TRUNG THÀNH CỦA CÔNG NHÂN TẠI KCN BÌNH HÒA 61
5.1 Những tồn tại bất cập trong việc chọn việc làm tại các KCN của người lao động 61
5.2 Một số giải pháp thu hút và nâng cao lòng trung thành của công nhân tại KCN 61
5.2.1 Về chính sách và quan hệ 61
5.2.2 Về an toàn 63
5.2.3 Về đảm bảo 64
5.2.4 Về lợi ích và điều kiện KCN 65
CHƯƠNG 6 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
6.1 Kết luận 67
6.2 Kiến nghị 67
6.2.1 Đối với nhà nước 67
6.2.2 Đối với địa phương 68
6.2.3 Đối với các doanh nghiệp tại KCN Bình Hòa 68
6.2.4 Đối với công nhân tại KCN Bình Hòa 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 1 72
PHỤ LỤC 2 79
Trang 10DANH SÁCH BẢNG
- -
Bảng 3.1 Đơn giá cho thuê đất công nghiệp 43
Bảng 3.2 Các dự án đầu tư vào KCN Bình Hòa 45
Bảng 4.1 Thông tin đáp viên 47
Bảng 4.2 Các nguyên nhân “đẩy” và “kéo” người lao động đến làm việc tại KCN 51
Bảng 4.3 Kênh thông tin để người lao động tìm đến KCN 52
Bảng 4.4 Thu nhập trước và sau khi đến làm việc tại KCN 52
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha lần 1 55
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha lần 2 56
Bảng 4.7: Ma trận xoay nhân tố lần 1 57
Bảng 4.8: Ma trận xoay nhân tố lần 2 57
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
- -
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả 27
Hình 2.2 Khung nghiên cứu 32
Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Châu Thành năm 2013 35
Hình 4.1 Tình hình cư trú của lao động 48
Hình 4.2 Dạng nhà ở của người lao động 49
Hình 4.3 Nghề nghiệp của người lao động trước khi đến làm tại KCN 50 Hình 4.4 Trình độ tay nghề trước khi làm tại KCN 50
Hình 4.5 Hành động của người lao động khi không hài lòng với công ty 53
Hình 4.6 Mô hình điều chỉnh 60
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
- -
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU - - 1.1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của các khu công nghiệp (KCN) là nhu cầu tất yếu của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Sau gần 23 năm phát triển, tính đến tháng 6/2014 mạng lưới KCN cả nước có 295 KCN được thành lập/cấp giấy chứng nhận đầu tư Hằng năm, các KCN này đóng góp vào giá trị sản xuất của khu vực một tỷ lệ đáng kể, nhiều địa phương xem trọng việc phát triển các KCN như một động lực cốt lõi giúp kinh tế địa phương đi lên, thể hiện vai trò đi đầu trong tiếp nhận chuyển giao công nghệ, năng lực quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam đi lên Trong đó, nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng cho sự phát triển kinh tế đất nước bền vững, mặc khác việc thu hút các nguồn lực thông qua việc hình thành các khu công nghiệp là một vấn đề có tính quy luật chung của nhiều quốc gia đang đi lên hiện nay Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cấp thiết của cả nước nói chung và của địa phương nói riêng
ĐBSCL có nguồn lao động dồi dào, cung cấp lao động cho Tp HCM và Đông Nam Bộ, tuy nhiên hiện nay ĐBSCL lại gặp khó khăn trong việc giải quyết nguồn lao động cho các khu công nghiệp tại địa bàn tỉnh Theo thống kê của Tổng cục thống kê năm 2013, ĐBSCL có tỷ lệ thất nghiệp tính chung cho
cả khu vực thành thị và nông thôn là 2,4% đứng thứ 2 sau Hà Nội (3,7%), tỷ lệ thiếu việc làm là 5,2% đứng đầu cả nước theo sau là khu vực Đồng bằng sông Hồng (3,5%) Hiện nay các KCN đã giải quyết cho rất nhiều lao động nhàn rỗi, thất nghiệp, thu nhập không ổn định,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội, nhưng trên thực tế đa số các doanh nghiệp đang thiếu lao động do các tỉnh ĐBSCL đua nhau thành lập các KCN Nguồn lao động có giới hạn trong khi các nhà máy, xí nghiệp, công ty ngày càng nhiều, thêm vào đó đa số lao động lại tìm đến các KCN ở Bình Dương, Tp HCM với mức lương hấp dẫn
Dù là một tỉnh có thế mạnh về nông nghiệp nhưng An Giang vẫn quan tâm phát triển công nghiệp, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến lương thực, thủy sản, từng bước nâng cao chất lượng, giá trị mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh là gạo, cá tra, rau đậu, may mặc,… Việc đẩy mạnh đầu tư các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trong thời gian qua đã góp phần giúp An Giang từng bước vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế và đạt mức tăng trưởng ổn định Tình hình phát triển nguồn nhân lực cho các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh
An Giang đang có xu hướng ngày càng tăng An Giang đang tập trung các khu công nghiệp (KCN) để phát triển kinh tế của tỉnh đi lên Các KCN hiện có ở
An Giang như: KCN Bình Hòa (Châu Thành), KCN Bình Long (Châu Phú), KCN Vàm Cống (TP.Long Xuyên), KCN Hội An (Chợ Mới), thì KCN Bình Hòa ở huyện Châu Thành là KCN lớn nhất tỉnh về diện tích, đa dạng các ngành, đang thu hút nhiều nhà đầu tư, có nhiều lao động,… Hiện nay KCN Bình Hòa đã giải quyết cho rất nhiều lao động nhàn rỗi, thất nghiệp, thu nhập
Trang 14không ổn định,… góp phần đảm bảo an sinh xã hội Tuy nhiên các KCN tỉnh
An Giang chỉ mới có nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông mà vẫn chưa giải quyết được tình trạng thiếu hụt lao động Mặc dù các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang đã và đang tuyển dụng với mức lương hấp dẫn nhưng số người đăng ký và làm việc vẫn còn đang thiếu và biến động không ổn định Từ vấn
đề trên cho thấy, lực lượng lao động là điều kiện cần thiết cho sự phát triển và tồn tại của KCN Bình Hòa nói riêng, các KCN khác nói chung, củng như sự
phát triển của tỉnh An Giang Vì thế, để làm rõ vấn đề trên, nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa để làm việc” được tôi chọn thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của nghiên cứu là phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa, từ đó đề ra giải pháp để thu hút lao động và nâng cao lòng trung thành của công nhân đối với KCN
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng về đời sống và việc làm của công nhân
tại KCN Bình Hòa
Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng quyết định tham gia làm
việc của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa
Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm thu hút và giữ chân người lao
động tại KCN
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Không gian nghiên cứu
Đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của công nhân khi chọn KCN Bình Hòa để làm việc”, nghiên cứu trong phạm vi địa bàn tỉnh An Giang
mà chủ yếu tập trung KCN Bình Hòa (huyện Châu Thành) Vì KCN này lớn, tập trung nhiều ngành nghề, có nhiều công nhân đang làm việc
1.3.2 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ 11.08.2014 đến 17.11.2014 Thời gian thu mẫu từ ngày 15.09.2014 đến ngày 25.09.2014
1.3.3 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các công nhân đang làm việc tại KCN Bình Hòa (huyện Châu Thành)
1.4 Các giả thiết cần kiểm định và câu hỏi nghiên cứu
1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng đời sống và việc làm của công nhân tại KCN Bình Hòa như thế nào?
Trang 15- Yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định tham gia làm việc của công nhân tại KCN Bình Hòa?
- Các giải pháp thu hút và nâng cao lòng trung thành của công nhân đối với KCN?
1.4.2 Giả thiết cần kiểm định
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân khi chọn KCN được đánh giá qua các yếu tố: Vị trí KCN; Môi trường xung quanh KCN; Chế độ lương của công ty; Thời gian lao động; Các chính sách bảo hộ lao động; Trang thiết bị nơi làm việc; Yêu cầu về trình độ học vấn; Mối quan
hệ đồng nghiệp;…
1.5 Lƣợc khảo tài liệu
- Gyorgyi Barta (2005) nghiên cứu chủ đề: “Tái cấu trúc các khu công
nghiệp tập trung ở Budapest” kết quả nghiên cứu cho thấy không dễ gì người lao động có thể thay đổi chỗ ở để có được việc làm, với mức lương cao nhưng không đủ bù đắp chi phí đáp ứng nhu cầu của họ tại địa phương, nơi mà họ làm việc Ở Budapest người lao động tại khu công nghiệp được xếp vào loại
có thu nhập thấp nhất trong các ngành nghề Người lao động dễ bị thu hút bởi các công việc có sự “độc lập về lương” (chế độ tiền lương không phụ thuộc vào quy định hệ thống lương), khi làm việc trong các nhóm nghề này người lao động sẽ có thể tăng thêm thu nhập nhờ vào tiền thưởng thêm Chính vì thế,
số lượng lao động tại các khu công nghiệp giảm đáng kể
- Theo The Centre for Research on Multinational Corporations (SOMO) “Migrant labour rights in Malaysia’s electronics industry” mục đích
của nghiên cứu nhằm xác định các vấn đề thường gặp ở lao động nhập cư phỏng vấn với hơn 100 người lao động trong ngành công nghiệp sản xuất điện
tử ở Penang và Selanger, qua điều tra sơ bộ, báo cáo của công ty và các báo cáo nghiên cứu kết quả cho thấy rằng quyền lợi của người lao động di cư đang
bị vi phạm nghiêm trọng, chỗ ở không đạt tiêu chuẩn, bị phân biệt đối xử và điều kiện làm việc tồi tệ (làm thêm giờ và tiền lương thấp), khấu trừ tiền lương bắt buộc vào thực phẩm và chỗ ở, thu lệ phí tuyển dụng, hậu quả là lao động nhập cư bị gán nợ
- Ths Nguyễn Quốc Nghi và Ths Nguyễn Hữu Tâm (2010) “Nhân tố
ảnh hưởng đến quyết định chọn KCN để làm việc của lao động tại các KCN ở Tiền Giang” Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn KCN ở Tiền Giang để làm việc của lao động Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích bảng chéo (Cross-tab) để phân tích thực trạng và thu nhập của lao động tại các KCN ờ Tiền Giang Bên cạnh đó, phân tích nhân tố (Factor Analysis) được sử dụng để xác định các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định làm việc của lao động tại các KCN trên địa bàn tỉnh Tiền Giang Qua kết quả phân tích ta thấy, lao động tại các KCN ở Tiền Giang có trình độ học vấn khá thấp, phần lớn lao động đến KCN do sự giới thiệu của người thân và bạn bè Tỷ lệ lao động chưa được đào tạo trình độ tay nghề còn khá cao, đời sống vật chất của người lao động khá đầy đủ với mức thu nhập trung bình tạm cho là chấp nhận được của
Trang 16người lao động Ba nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định của người lao động đó chính là, nhân tố an toàn, nhân tố điều kiện hỗ trợ, nhân tố lợi ích kinh tế, trong đó quan trọng nhất là “Chính sách thưởng đối với lao động”,
“Chính sách bảo hiểm đối với lao động” và “Nhà trọ tại KCN”
- Trần Thị Ngọc Duyên, Cao Hào Thi báo cáo khoa học trường Đại
Học Bách Khoa, ĐHQG-HCM (2009) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc tại doanh nghiệp nhà nước” Mục tiêu của đề tài nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước Nghiên cứu sử dụng số liệu sơ cấp thu thập trên 253 lao động có trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học tại Tp.HCM Tác giả đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả tìm ra các yếu tố ảnh hưởng kết hợp với phân tích tương quan giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc tìm loại hình DNNN mong muốn được làm việc nhất Bên cạnh phương pháp phân tích nhân tố nhằm tìm ra nhân tố tác động duy nhất đến quyết định làm việc, phương pháp hồi quy đa biến quyết định làm việc bị ảnh hưởng bởi các yếu tố nào Kết quả
mô hình hồi quy cho thấy có 8 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc là
cơ hội đào tạo và thăng tiến, thương hiệu và uy tín tổ chức, sự phù hợp giữa cá nhân - tổ chức, mức trả công, chính sách và môi trường tổ chức, chính sách và thông tin tuyển dụng, hình thức trả công, gia đình và bạn bè
- Trần Văn Mẫn và Trần Kim Dung (2010) “Các yếu tố ảnh hưởng
đến quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên mới tốt nghiệp” mục tiêu của
đề tài là nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng quyết định chọn nơi làm việc của sinh viên tốt nghiệp Bằng việc sử dụng phương pháp nghiên cứu mô hình phương trình cấu trúc với mẫu 360 sinh viên khoa quản trị kinh doanh chuẩn
bị tốt nghiệp, kết quả cho thấy thang đo gồm 8 thành phần: Việc làm; Thông tin và thủ tục thoáng; Tình cảm quê hương; Chính sách ưu đãi; Vị trí và môi trường; Con người; Điều kiện giải trí; Chi phí sinh hoạt rẻ với 21 biến quan sát
đã được khẳng định giá trị và độ tin cậy Những thành phần liên quan đến công việc được đánh giá cao hơn những thành phần liên quan đến cuộc sống Hầu như không có sự phân biệt ý nghĩa thống kê về tầm quan trọng của các thành phần ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc theo đặc điểm của cá nhân sinh viên về giới tính, kết quả học tập, mức thu nhập gia đình hay xuất
xứ địa phương
- Phạm Tất Thắng (2008) với đề tài “Một số vấn đề về “tam nông” ở
các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long trong quá trình phát triển KCN” Mục tiêu của nghiên cứu tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa phát triển của KCN theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn, ổn định và nâng cao đời sống của người dân tại KCN Kết quả nghiên cứu cho thấy việc phát triển các KCN đã giải quyết việc làm cho hơn 32.000 lao động trực tiếp, đa số là lao động trẻ (có 90% lao động tuổi từ 18 đến 35)
Vì là lao động trẻ nên học nhanh chóng tiếp thu những kĩ thuật mới, tiếp cận với công nghệ hiện đại và phương thức làm việc mang tính công nghiệp Đây
là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển đội ngũ lao động mới, có chuyên môn, trình độ, kỉ luật, kỹ thuật và có năng suất cao cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của vùng Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc phát triển các
Trang 17KCN đi đôi với việc thu hồi đất, chủ yếu là đất nông nghiệp làm cho nông dân mất đất, mất việc làm, không có thu nhập ổn định Bên cạnh đó, sau khi nông dân nhận tiền đền bù nhưng đầu tư không hiệu quả dẫn đến đời sống không ổn định, không đủ điều kiện sinh sống
Qua quá trình lược khảo tài liệu, các tác giả sử dụng số liệu sơ cấp với cỡ mẫu tương đối lớn, loại thang đo thường sử dụng để khảo sát là thang đo Likert 5 mức độ (1: Rất không quan trọng – 5: Rất quan trọng) Đồng thời các tác giả đều áp dụng phương pháp kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha để kiểm tra độ tin cậy của thang đo Likert, phương pháp phân tích nhân tố kết hợp với hồi quy để đánh giá sự tác động của các biến độc lập trong mô hình Nhìn chung, các tác giả trên đã chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn các KCN để làm việc của lao động thông qua các nhân tố như: chế độ lương, nhà trọ, công việc, an ninh khu vực, trình độ học vấn, chuyên môn,…
Trang 18CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- - 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái quát chung về KCN
2.1.1.1 Khái niệm về KCN
Theo nghị định số 192/CP ngày 25 tháng 12 năm 1994 của Chính phủ, Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định không có dân cư sinh sống do chính phủ hoặc thủ tướng chính phủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất
Theo định nghĩa của Porter, KCN – “cluster” là tập hợp các công ty cùng với các tổ chức tương tác qua lại trong một lĩnh vực cụ thể Xung quanh nhà sản xuất hình thành các nhà cung cấp chuyên môn hóa các phụ kiện và dịch vụ cũng như cơ sở hạ tầng Khu công nghiệp tập trung bao trùm lên cả các kênh phân phối và khách hàng, và bên cạnh đó là những nhà sản xuất sản phẩm phụ trợ, các công ty thuộc các ngành liên quan về kỹ thuật, công nghệ hoặc cùng
sử dụng một loại đầu vào Các khu công nghiệp tập trung còn hình thành cả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ như các trường đại học, các viện công nghệ, các trung tâm nghiên cứu, hiệp hội thương mại,… cung cấp các dịch vụ đào tạo chuyên môn, giáo dục, thông tin, nghiên cứu và hỗ trợ kỹ thuật
Theo tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) khu công nghiệp là một lãnh địa được phân chia và phát triển có hệ thống theo một kế hoạch tổng thể nhằm cung ứng các thiết bị kỹ thuật cần thiết, cơ sở hạ tầng, phương tiện công cộng phù hợp với sự phát triển của một liên hợp các ngành công nghiệp Những năm gần đây, trong loại hình này còn xuất hiện hình thức khu công nghệ cao để tập trung các ngành công nghệ kỹ thuật cao, vi sinh và công nghệ cao
Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng quy định: Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, do chính phủ thành lập hoặc cho phép thành lập Còn “Doanh nghiệp khu công nghiệp” là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp
Như vậy, KCN là một khu vực có những thuận lợi về xây dựng kết cấu
hạ tầng, cơ sở kỹ thuật vật chất, vốn,… để thu hút đầu tư và hoạt động theo một cơ cấu hợp lý, các doanh nghiệp công nghiệp và công nghiệp dịch vụ có liên quan thuộc nhiều thành phần kinh tế nhằm đạt hiệu quả trong kinh doanh của từng doanh nghiệp trong khu công nghiệp
2.1.1.2 Đặc điểm KCN
- KCN có vị trí xác định, có thể có hoặc không có rào ngăn cách, không
có dân cư sinh sống
Trang 19- KCN được thành lập để thu hút các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp
- KCN được thành lập có khả năng thu hút vốn đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài
- KCN có khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu về lao động
- Đơn vị chủ đầu tư KCN thuê đất nhà nước để đầu tư hạ tầng và thu tiền cho thuê đất, phí điều hành KCN
- Được quản lý bởi một cơ quan chuyên trách là Ban quản lí KCN cấp tỉnh, thành phố theo cơ chế ủy quyền của các bộ ngành, với cơ chế một cửa, một đầu mối, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp
2.1.1.3 Vai trò của KCN đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
i) Thu hút nhiều nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế
KCN là nơi kết hợp nguồn vốn trong và ngoài nước, trong việc quy hoạch các mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN
Thực tế ở Việt Nam cho thấy yếu tố quan trọng trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước chính là vốn Trong những năm qua phát triển KCN đã huy động được một nguồn vốn khá lớn cho nền kinh tế gắn liền với các hệ thống chính sách đầu tư
ii) KCN góp phần giải quyết việc làm, tạo ra một lực lượng lao động có tay nghề cao cho xã hội
KCN là nơi thu hút nhiều lao động trực tiếp và gián tiếp Tính đến những tháng đầu năm 2014 đã tạo việc làm trực tiếp cho hơn 2,5 triệu lao động Với nguồn lao động lớn, máy móc thiết bị hiện đại, trình độ quản lý cao của các doanh nghiệp trong các KCN, tạo áp lực cho các cơ quan Nhà nước tăng cường đào tạo nguồn nhân lực trong nước đáp ứng được nhu cầu lao động cho các KCN và bản thân của các doanh nghiệp có nhiều lựa chọn lao động có tay nghề cho doanh nghiệp mình Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại KCN đã đào tạo một đội ngũ lao động tiên tiến, giúp cho lao động Việt Nam nâng cao tay nghề và học hỏi kĩ thuật mới
iii) Góp phần hoàn thiện cơ chế chính sách phát triển kinh tế của đất nước
Các KCN tạo ra môi trường cạnh tranh, hoàn thiện và đổi mới môi trường hoạt động kinh doanh Các doanh nghiệp trong KCN đóng vai trò kích thích trong việc cải cách và hoàn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, nhất là hoàn thiện thể chế về tiền tệ và tín dụng, ngoại hối của các địa phương nói riêng và của cả nước nói chung Các doanh nghiệp cũng đã góp phần thay đổi bộ mặt và cấu trúc mạng lưới thương mại hàng hóa và dịch vụ xã hội
iv) KCN góp phần đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp vào kim ngạch xuất khẩu và ngân sách cả nước
Trang 20Theo số liệu từ Vụ Quản lý Khu kinh tế thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu Tư, hằng năm các KCN, KKT đóng góp hơn 80 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu, chiếm tỷ trọng từ 40 % tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế; khoảng 60 nghìn tỷ đồng thu vào ngân sách nhà nước
v) Góp phần hình thành mối liên kết giữa các địa phương và nâng cao năng lực sản xuất ở từng vùng, miền
Các KCN đã và đang tạo cho các địa phương phát huy các thế mạnh đặc thù của địa phương mình, đồng thời hình thành mối liên kết giữa các vùng, miền của cả nước
vi) KCN là nơi tiếp nhận công nghệ mới, những ngành nghề mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu định hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Những công nghệ đang được sử dụng ở dự án FDI trong các KCN đều thuộc công nghệ hiện đại hơn công nghệ vốn có của nước ta, đa số đều là những dây chuyền tự động hóa, hiện đại; một số sản phẩm điện tử vi mạch, ô
tô, thép,… được sản xuất bằng những công nghệ tiên tiến
KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp công nghiệp và dịch vụ công nghiệp nên góp phần làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ công nghiệp
vii) Góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước
Để thu hút các nhà đầu tư vào KCN, tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án, các KCN phải có chính sách ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng kĩ thuật đồng bộ, hiện đại
Mô hình KCN mới được xây dựng và phát triển ở Việt Nam nên có nhiều bất cập trong vấn đề quản lý như phân cấp, ủy quyền trong KCN, các thủ tục hành chính trong đầu tư KCN, thuế, hải quan,… Đến nay bộ máy quản lý KCN đã được hình thành từ trung ương đến địa phương bao gồm Bộ Kế hoạch
và Đầu tư là cơ quan quản lý cấp trung ương và Ban quản lý KCN cấp tỉnh Việc phân cấp các Ban quản lý KCN cấp tỉnh trong việc quản lý hoạt động đầu
tư của KCN, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho nhà đầu tư vào KCN
2.1.2 Lao động di cƣ
2.1.2.1 Khái niệm
Di cư là một trong hai bộ phận chủ yếu của biến động dân số: biến động
tự nhiên và biến động cơ học
- Theo nghĩa rộng: Di cư là sự chuyển dịch bất kì của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hoặc vĩnh viễn Với khái niệm này, di cư đồng nhất với sự di động dân cư
- Theo nghĩa hẹp: Di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác nhằm thiết lập một nơi cư trú mới trong một khoảng thời gian nhất định Khái niệm này khẳng định mối liên hệ giữa sự di chuyển với việc thiết lập nơi cư trú mới
Trang 21Di cư gồm hai quá trình trái ngược nhau nhưng lại diễn ra song song Quá trình xuất cư và quá trình nhập cư Nếu xuất cư là quá trình cá nhân rời khỏi nơi đang sinh sống, làm ăn thì nhập cư là sự di chuyển từ một nơi ở bên ngoài vùng lãnh thổ vào lãnh thổ đó, làm thay đổi về mặt xã hội, gắn với không gian và thời gian
2.1.2.2 Phân loại lao động di cư
Theo khoảng cách:
Đây là hình thức phân loại di cư quan trọng nhất Người ta phân biệt di
cư xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di cư giữa các nước gọi là di cư quốc tế,
di cư giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong một nước gọi là di cư nội địa
Theo địa bàn nơi đến:
- Di cư giữa các nước được gọi là di cư quốc tế Gồm có di cư hợp pháp,
di cư bất hợp pháp, chảy máu chất xám, cư trú tị nạn, buôn bán người qua biên giới
- Di cư giữa các vùng miền, các đơn vị hành chính trong một nước gọi là
di cư nội địa Loại hình di cư này bao gồm: di cư nông thôn – thành thị, di cư nông thôn – nông thôn, di cư đô thị - đô thị, di cư đô thị - nông thôn
Theo đặc trưng di cư:
- Di cư có tổ chức (hay di cư có kế hoạch) do Nhà nước tổ chức, đầu tư theo kế hoạch, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nên có nhiều thuận lợi với sự hỗ trợ của hệ thống quản lý và ngân sách Nhà nước Người di
cư và gia đình họ có thể nhận sự giúp đỡ cần thiết có thể tổ chức cuộc sống, giảm bớt hoặc không phải trải qua những thử thách nặng nề tại nơi cư trú
- Di cư tự do là di cư ngoài kế hoạch, sự di chuyển đến nơi cư trú mới hoàn toàn do người dân tự quyết định bao gồm cả việc chọn địa bàn đến, tổ chức di chuyển, trang trải mọi chi phí và tự tạo việc làm tại nơi cư trú mới trên
cơ sở thực hiện một số thủ tục tối thiểu với chính quyền địa phương Hình thức di cư tự do không có sự giúp đỡ của Nhà nước, đang là vấn đề nhạy cảm được xã hội hiện nay đang rất quan tâm vì hình thái di cư này đang đặt ra những đòi hỏi mới về phát triển và chính sách quản lý
Theo độ dài thời gian cư trú:
- Di cư lâu dài: Bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên
và nơi làm việc đến nơi mới với mục đích sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác đến nơi xa nơi ở cũ, thanh niên tìm việc làm mới và tách gia đình,…
- Di cư tạm thời là sự di chuyển vì các mục đích khác nhau trong khoảng thời gian xác định và người di cư không có ý định cư trú lâu dài ở nơi chuyển đến, họ thường là những người làm việc theo mùa vụ
⃰⃰ Các yếu tố ảnh hưởng đến việc người lao động di cư
Trang 22- Yếu tố đẩy: Thu nhập ở quê thấp, cơ hội việc làm thấp, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế xã hội thấp,…
- Yếu tố kéo: Khả năng kiếm được thu nhập cao hơn ở nơi nhập cư, cơ hội tìm kiếm được việc làm cao hơn, khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế xã hội tốt hơn,
⃰ Các ảnh hưởng của việc lao động di cư
- Ảnh hưởng tích cực: Đóng góp tích cực vào tăng trưởng, phát triển sản xuất; Góp phần vào sự phát triển đồng đều ra các vùng của một quốc gia; Tập trung nguồn lực phát triển tại một số vùng nhất định; Góp phần tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống, xóa đói giảm nghèo
- Ảnh hưởng tiêu cực: Thông tin không đầy đủ đưa đến động cơ di chuyển sai lệch, tạo nên nhiều hậu quả xấu; Sự khai thác tài nguyên quá mức làm ô nhiễm môi trường, biến đổi sinh thái, đe dọa nghiêm trọng môi trường;
Di cư nông thôn – thành thị dẫn đến thiếu lực lượng lao động nông nghiệp, quá tải dân cư các thành thị, nhiều tệ nạn xã hội nảy sinh; Gây sức ép lớn cho địa phương trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, gây ra các vấn đề xã hội phức tạp (mất an ninh trật tự, gây xung đột xã hội giữa những người di cư và người địa phương, nạn cờ bạc, nghiện hút, mại dâm,…)
2.1.3 Khái quát chung về công nhân
2.1.3.1 Các định nghĩa về giai cấp công nhân
Khái niệm về công nhân: Công nhân là người lao động phổ thông, theo
nghĩa rộng là người kiếm sống bằng cách làm việc thể xác (lao động chân tay), bằng cách của mình - cung cấp lao động để lãnh tiền công (tiền lương) của chủ nhân (người sử dụng lao động), để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người chủ và thường được thuê với hợp đồng làm việc (giao kèo) để thực hiện các nhiệm vụ
cụ thể được đóng gói vào một công việc hay chức năng
Các định nghĩa về giai cấp công nhân
- Trung tâm nghiên cứu lý luận, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam trong công trình “Đổi mới chính sách xã hội đối với công nhân và thợ thủ công” đã định nghĩa về giai cấp công nhân : “Giai cấp công nhân Việt Nam là một tập đoàn xã hội những người lao động ở Việt Nam có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn liền với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do nắm vững những cơ sở vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân tất yếu có vai trò đi lên tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử hiện đại”
- Tiến sĩ Bùi Đình Bôn trong “Một số vấn đề về giai cấp công nhân Việt
Nam hiện nay” định nghĩa về giai cấp công nhân : “Giai cấp công nhân hiện đại là một cộng đồng người lao động hình thành và phát triển cùng với cách mạng công nhân, với nhịp độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại có tính chất xã hội hóa ngày càng cao, là lực lượng sản xuất cơ bản, tiên tiến trong các hoạt động công nghiệp, trực tiếp sản xuất của cải vật chất và cải tạo các quan
Trang 23hệ xã hội, là động lực chính của tiến trình lịch sử từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội”
- G.S Văn Tạo trong bài “Một số vấn đề về giai cấp công nhân và công
đoàn Việt Nam” đã định nghĩa như sau : “Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao động có thu nhập chủ yếu bằng ao động làm công ăn lương và sống làm việc gắn liền với sản xuất, kinh doanh, dịch vụ công nghiệp Do lao động và quản lý một nền công nghiệp hiện đại, then chốt của nền kinh tế quốc dân và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam”
Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa có các đặc điểm sau:
- Là một tập đoàn người
- Làm công ăn lương
- Sống và sản xuất trong quy trình nhất định
- Gắn bó với công nghiệp và dịch vụ
- Trình độ công nghệ và kỹ thuật hiện đại (lực lượng sản xuất tiên tiến)
- Sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần trong xã hội hiện đại
- Là lực lượng tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại
2.1.3.2 Vị trí và vai trò của giai cấp công nhân trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Sự phát triển của một nền kinh tế cần có ba nguồn lực: vốn, khoa học – công nghệ, tài nguyên và nguồn nhân lực; muốn phát triển kinh tế tế cần kết hợp ba yếu tố là áp dụng khoa học kĩ thuật mới, xây dựng kết cấu hạ tầng tiên tiến, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Việc phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và điều kiện, nhưng yếu tố quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người, nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực vẫn có ưu thế hơn Đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay phải gắn liền với việc phát triển kinh tế tri thức và xây dựng đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, tay nghề chuyên môn cao, đáp ứng đòi hỏi của
xã hội
Trải qua các thời kỳ, đến nay giai cấp công nhân Việt Nam đã phát triển không ngừng cả về số lượng lẫn chất lượng (chiếm hơn 11% dân số và hơn 21% lực lượng lao động xã hội, đóp góp hơn 60% tổng sản phẩm xã hội và 70% ngân sách nhà nước) Qua đó ta thấy giai cấp công nhân có vị trí và vai trò rất quan trọng, chính vì thế để phát huy vai trò và vị trí của giai cấp công nhân đòi hỏi phải không ngừng nâng cao chất lượng giai cấp công nhân, mà trước hết là nâng cao trình độ về mọi mặt
Điều này trước hết đòi hỏi tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn – đây là vấn đề quan trọng và cần thiết,
Trang 24một mặt thể hiện vai trò của Đảng, mặt khác khẳng định vai trò, vị trí của giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn trong đời sống xã hội
Thứ hai, Công đoàn Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam phải luôn đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, hoạt động nhằm “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo
vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản
lý nhà nước, quản lý KT – XH; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành luật pháp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam)
Thứ ba, bản thân giai cấp công nhân phải không ngừng nỗ lực nâng cao trình độ, chuyên môn, tay nghề nhằm khẳng định vai trò và vị trí cũng như nâng cao chất lượng sống của chính mình
Đảng ta khẳng định: “Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp,
kỹ thuật lao động, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế Phát huy vai trò của giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo cách mạng cách mạng, thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI)
2.1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn nơi làm việc
Qua quá trình lược khảo tài liệu, đề tài đã chọn ra một số nhân tố ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân tại KCN Bình Hòa:
a) Điều kiện KCN
Môi trường sống, môi trường làm việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc chọn KCN của công nhân (Huỳnh Trường Huy và Ông Thế Vinh, 2009)[9] Môi trường làm việc là những vấn đề liên quan đến nhận thức của nhân viên về an toàn vệ sinh nơi làm việc như văn phòng làm việc, phòng họp, phòng y tế đảm bảo vệ sinh, máy móc trang thiết bị hỗ trợ công việc có đảm bảo an toàn (Trần Kim Dung, 2010)[11]
Dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng tại KCN giúp cho môi trường sống của công nhân tốt hơn cho nên các dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng tốt thì
họ càng gắn bó hơn với KCN (Nguyễn Quốc Nghi, 2010)[9]
Nhà trọ là vấn đề mà công nhân mong muốn tại nơi làm việc, thuận tiện cho việc đi lại làm việc gần nhà, nhà trọ tại KCN càng thoải mái và an toàn thì công nhân càng mong muốn làm việc ở đó và gắn bó lâu dài với công việc của mình
Các vấn đề về công tác ANTT; củng cố trang thiết bị PCCC; công tác quản lý người lao động, tạm trú, tạm vắng đối với các lao động tại KCN;… là những vấn đề mà người lao động quan tâm khi họ muốn làm việc tại KCN
Trang 25Yếu tố an ninh tại khu vực làm việc ảnh hưởng khá lớn đến quyết định làm việc (Guy Lubeigt, 2006)[4]
b) Mức trả công và hình thức trả công
Chế độ lương là sự cụ thể hóa chính sách tiền lương, đó là văn bản quy định của nhà nước mà các tổ chức dựa vào đó để trả lương cho nhân viên của mình Mức trả công và hình thức trả công có ảnh hưởng đến quyết định chọn công việc, những tổ chức cung cấp mức trả công cao, phúc lợi linh hoạt, trả công theo cá nhân và chính sách trả công cố định sẽ thu hút được nhiều người tìm việc hơn (Daniel M.Cable và Timothy A.Jugde, 1994)[3]
Greenberg [9] cho rằng các chính sách về khen thưởng, đãi ngộ, phúc
lợi, bảo hiểm giúp gắn kết người lao động với tổ chức và củng là yếu tố thu hút người tìm việc nộp đơn vào tổ chức
c) Sự hòa hợp giữa cá nhân và tổ chức
Chính sách quản lý con người phải tạo ra những cơ hội cho con người phát triển một cách toàn diện Khi xem xét cuộc đời lao động của một con người có thể thấy, từ lúc bước vào độ tuổi lao động để khi ở độ tuổi trung niên
là thời gian con người có khả năng lao động sáng tạo nhất với năng suất và hiệu quả cao nhất Đồng thời cũng là giai đoạn con người có nhu cầu phát triển toàn diện nhất cả về thể chất lẫn phẩm chất đạo đức, năng lực và nhân cách con người Do vậy, chính sách quản lý con người phải hướng vào việc thỏa mãn những nhu cầu này của con người Daniel M.Cable & Timothy A.Jugde [3] nhận thấy nhận thức về sự phù hợp giữa con người – tổ chức của người tìm việc được dự báo bởi sự phù hợp giữa giá trị của cá nhân với nhận thức của họ
về giá trị của tổ chức Người tìm việc thích lựa chọn tổ chức nơi mà các đặc điểm cá nhân của họ tương đồng với đặc điểm của tổ chức
Quan hệ đồng nghiệp trong công ty tốt sẽ giúp cho công việc không bị căng thẳng và nếu gặp khó khăn cũng có nhiều người hỗ trợ, giúp đỡ; trong công ty tạo ra mối quan hệ tốt giữa các công nhân với nhau thì họ làm việc tốt hơn và trung thành hơn với công ty (Nguyễn Quốc Nghi, 2010)[9] Nguyễn Ngọc Khánh [7] cho rằng có ba yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hài lòng của quyết định làm việc của kĩ sư tại các công ty ở khu Công nghệ cao TP.HCM là
cơ hội đào tạo/phát triển, đãi ngộ và đồng nghiệp trong tổ chức
d) Các nhân tố an toàn
Chính sách hỗ trợ nhà trọ của công ty giúp cho công nhân an tâm hơn về nơi ở và giảm bớt chi phí cho họ nên đây cũng là vấn đề người lao động rất quan tâm khi chọn nơi làm việc (Nguyễn Quốc Nghi, 2010)[9]
Chính sách bảo hộ lao động của công ty, chính sách bảo hiểm đối với lao động của công ty giúp cho người lao động an tâm làm việc nên đây cũng là yếu
tố quan tâm của công nhân khi lựa chọn nơi làm việc (Nguyễn Quốc Nghi, 2010)[9]
Hình ảnh của tổ chức có ảnh hưởng đến dự định ứng tuyển của người xin việc vào tổ chức, thu hút người tìm việc; các lao động luôn mong muốn làm
Trang 26việc tại các tổ chức có danh tiếng và uy tín tốt Cảm nhận về thương hiệu và uy tín của tổ chức càng cao thì người lao động càng mong muốn làm việc cho tổ chức càng cao (Trần Thị Ngọc Duyên và Cao Hào Thi, 2009)[10] Christopher J.Collins [1] cho rằng sự hiểu biết về tổ chức, danh tiếng và hình ảnh tổ chức
có ảnh hưởng đáng kể đến dự định và hành vi xin việc của người tìm việc
e) Công việc và đào tạo
Trình độ học vấn, tay nghề là yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động nên họ quan tâm nơi sắp đến làm việc có đòi hỏi cao về trình độ tay nghề hay không Việc làm và thu nhập ổn định thì người tìm việc mong muốn làm việc tại KCN càng cao (Huỳnh Trường Huy và Ông Thế Vinh, 2009)[9] Lee (1966) [7] đã nhấn mạnh rằng các cá nhân có trình độ học vấn và chuyên môn cao thường chọn nơi làm việc ở khu vực thành thị
Thời gian làm việc càng hợp lý thì người lao động càng muốn chọn KCN làm việc, công nhân sẽ trung thành hơn với việc làm và nơi mình làm việc Các khóa tập huấn kỹ năng nghề nghiệp giúp cho lao động ngày càng nâng cao tay nghề, chất lượng công việc đạt hiệu quả tối đa, có cơ hội thăng tiến trong công việc Ngoài ra còn có các kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sáng tạo,… giúp người lao động có thêm nhiều kỹ năng trong công việc, gắn kết người lao động với công ty
Qua quá trình lược khảo tài liệu tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu bao gồm 22 biến quan sát ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân tại các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang, đó là: Vị trí KCN; Môi trường xung quanh KCN; Cơ sở hạ tầng KCN; Có nhiều nhà trọ cho công nhân thuê; Vấn
đề an ninh, an toàn tại KCN; Các dịch vụ công cộng; Có nhiều chỗ vui chơi giải trí; Chế độ lương của công ty; Chế độ thưởng, phụ cấp của công ty; Chính sách quản lý nhân sự; Yêu cầu trình độ học vấn; Yêu cầu trình độ nghề; Mối quan hệ với đồng nghiệp; Trang thiết bị nơi làm việc; Danh tiếng, uy tín của công ty; Nhà ở cho công nhân; Thời gian làm việc; Tập huấn kỹ năng nghề nghiệp; Các chương trình tập huấn kỹ năng sống; Bảo hiểm cho công nhân; Bảo hộ lao động; Mức an toàn lao động
Trang 27Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả Thông qua lược khảo tài liệu nghiên cứu và tham vấn chuyên gia, tác giả
đã xác định có 22 tiêu chí được cho là ảnh hưởng đến quyết định làm việc của công nhân tại các KCN 22 tiêu chí được chia thành 5 nhóm chính, theo mô hình trên nhóm yếu tố thuộc về điều kiện KCN (Vị trí KCN; Môi trường xung quanh KCN; Cơ sở hạ tầng KCN; Có nhiều nhà trọ cho công nhân thuê; Vấn
đề an ninh, an toàn tại KCN; Các dịch vụ công cộng; Có nhiều khu vui chơi giải trí) Nhóm thứ hai thuộc về mức độ trả công và hình thức trả công (Chế độ lương của công ty; Chế độ thưởng, phụ cấp của công ty); Nhóm thứ ba thuộc
về sự hòa hợp giữa cá nhân và tổ chức (Chính sách quản lý nhân sự; Mối quan
hệ với đồng nghiệp); Nhóm thứ tư là nhóm các yếu tố an toàn (Nhà ở cho công nhân; Bảo hộ lao động; Bảo hiểm cho công nhân; Mức an toàn lao động; Trang thiết bị nơi làm việc; Danh tiếng, uy tín của công ty); Nhóm thứ 5 gồm các yếu tố thuộc về công việc và đào tạo (Yêu cầu trình độ học vấn; Yêu cầu trình độ nghề; Thời gian làm việc; Tập huấn kỹ năng nghề nghiệp; Tập huấn
kỹ năng sống;)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Đối với số liệu thứ cấp
Quyết định làm việc của công nhân tại KCN Bình Hòa
Điều kiện
KCN
Mức trả công
và hình thức trả công
Trang 28Nguồn số liệu thứ cấp thông qua Ban quản lý KCN tỉnh An Giang, thu thập qua sách báo, cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang (http://www.angiang.gov.vn/) và các trang web đáng tin cậy khác
2.2.1.2 Đối với số liệu sơ cấp
Với số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi được thiết kế sẵn
Nội dung bảng câu hỏi gồm:
Thông tin chung ( tuổi, giới tính, …)
Ý kiến của công nhân
Phương pháp chọn mẫu
+ Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện + Phương pháp chọn mẫu thuận tiện là phương pháp lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay tính dễ tiếp cận của đối tượng Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, hoặc sử dụng trong quá trình khảo sát thử bảng câu hỏi; hay khi muốn ước lượng sơ bộ về vấn đề đang quan tâm Ưu điểm của phương pháp này là thuận lợi cho việc chọn đáp án của đáp viên, tiết kiệm thời gian và chi phí điều tra, tiến hành thu dữ liệu rất nhanh chóng (Lưu Thanh Đức Hải, 2007)
Phương pháp xác định cỡ mẫu: Phương pháp phân tích được sử
dụng trong nghiên cứu này là phân tích nhân tố khám phá (EFA) Trong EFA, kích thước mẫu thường được xác định dựa vào số lượng biến đo lường đưa vào phân tích Hair và ctg (2006) cho rằng để sử dụng EFA, kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ quan sát/biến đo lường là 5:1, nghĩa
là 1 biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát Vì mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất có 22 biến quan sát, do đó số quan sát tối thiểu cần thiết của nghiên cứu
là 22x5 = 120 quan sát Cho nên, cỡ mẫu đề xuất là khoảng 150 quan sát là hoàn toàn phù hợp
- Số liệu sơ cấp được thu thập như sau: 150 mẫu được lấy theo phương pháp thuận tiện, trong đó có 128 mẫu là sử dụng được, còn 32 mẫu là không
sử dụng được do đáp viên bỏ trống hoặc trả lời sơ sài, không xác thực Phạm
vi lấy mẫu là công nhân đang làm việc tại KCN Bình Hòa (huyện Châu Thành)
2.2.2 Phương pháp phân tích số liệu
Mục tiêu 1: sử dụng các phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu
như tỷ lệ, tần suất, trung bình để phân tích thực trạng về đời sống và việc làm của công nhân tại KCN Bình Hòa
Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của công
nhân khi chọn KCN Bình Hòa để làm việc
- Sử dụng hệ số tin cậy Cronbach’ Alpha để kiểm tra sự phù hợp của các biến đưa vào mô hình, sau đó loại bỏ những biến không phù hợp
Trang 29- Dùng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) để gom nhóm các biến, xác định nhân tố ảnh hưởng
Mục tiêu 3: Sử dụng kết quả phân tích từ mục tiêu 1 và mục tiêu 2 để
làm cơ sở cho việc đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút và nâng cao lòng trung thành của công nhân đối với KCN
2.2.3 Lý thuyết phương pháp phân tích
2.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là tổng hợp các phương pháp đo lường, mô tả và trình bày số liệu được ứng dụng vào lĩnh vực kinh tế bằng cách rút ra những kết luận dựa trên số liệu và thông tin thu thập
Các công cụ cơ bản để tóm tắt và trình bày dữ liệu trong thống kê mô tả thường là: bảng tần số, các đại lượng thống kê mô tả
a) Bảng tần số:
Dùng để đếm tần số với tập dữ liệu đang có thì số đối tượng có các biểu hiện nào đó ở một thuộc tính cụ thể là bao nhiêu, nhiều hay ít… có thể thực hiện cho bảng tần số với tất cả các biến kiểu định tính lẫn định lượng
Ý nghĩa: Là tính tần số của từng biểu hiện, được tính bằng cách đếm và
cộng dồn; tần số tính theo tỷ lệ phần trăm (%) bằng cách lấy tần số của từng biểu hiện chia cho tổng số mẫu quan sát; tính phần trăm hợp lệ là tính trên số quan sát có thông tin trả lời; tính phần trăm tích lũy do cộng dồn các phần trăm từ trên xuống, nó cho biết có bao nhiêu phần trăm đối tượng ta đang khảo sát ở mức độ nào đó trở xuống hay trở lên
b) Các đại lượng thống kê mô tả:
Các đại lượng thống kê mô tả chỉ được tính đối với các biến định lượng Nếu tính các đại lượng này đối với các biến định tính thì kết quả sẽ không có ý nghĩa
Các đại lượng thống kê mô tả thường được dùng là:
- Mean (trung bình cộng): Trong tổng số mẫu quan sát người ta tính trung bình xem được bao nhiêu trong mẫu chúng ta quan sát
- Std Deviation (độ lệch chuẩn): Cho biết mức độ phân tán của các giá trị quanh giá trị trung bình
- Minimum (giá trị nhỏ nhất): Biểu hiện giá trị nhỏ nhất của biến trong mẫu khảo sát được
- Maximum (giá trị lớn nhất): Biểu hiện giá trị lớn nhất của biến trong các mẫu quan sát được
2.2.3.2 Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
Hệ số Cronbach's Alpha là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau, được sử dụng để loại các biến "rác" (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008), các biến có
hệ số tương quan biến - tổng (Corrected item total correlation) nhỏ hơn 0,3 sẽ
Trang 30bị loại (Nunnally, 1978; Peterson, 1994; Slater, 1995) và thang đo sẽ được chọn khi hệ số Cronbach's Alpha lớn hơn 0,6 (Nunnally & Bernstein, 1994)
Hệ số Cronbach Alpha như sau: 0,9> alpha ≥ 0,8 sử dụng tốt; 0,8> alpha ≥ 0,7
chấp nhận được (George, D., & Mallery, 2003)
2.2.3.3 Phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phân tích nhân tố là tên chung của một nhóm các thủ tục được sử dụng chủ yếu để thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu Trong nghiên cứu chúng ta có thể thu thập một số lượng biến khá lớn và hầu hết các biến này có liên hệ với nhau và
số lượng của chúng phải được giảm bớt xuống đến một số lượng mà chúng ta
có thể sử dụng được Trong phân tích nhân tố không có sự phân biệt biến phụ thuộc và biến độc lập Mối quan hệ giữa nhiều biến được xác định và đại diện bởi một vài nhân tố (hay nói cách khác một nhân tố đại diện cho một số biến) Phân tích nhân tố được sử dụng trong trường hợp người nghiên cứu cần nhận diện một tập hợp gồm một số lượng biến mới tương đối ít, không có tương quan với nhau để thay thế tập hợp biến gốc có tương quan với nhau để thực hiện một phân tích đa biến tiếp theo sau như hồi qui hay phân tích biệt số
Mô hình phân tích nhân tố
Nếu các biến được chuẩn hóa mô hình nhân tố có dạng như sau:
Xi = Ai1F1+ Ai2F2+…+ AimFm+ ViUi
Trong đó:
Xi: biến được chuẩn hóa thứ i
Aij: hệ số hồi quy bội của biến được chuẩn hóa i trên nhân tố chung j F: nhân tố chung
Vi: hệ số hồi quy của biến chuẩn hóa i trên nhân tố duy nhất i
Ui: nhân tố duy nhất của biến i
m: số nhân tố chung
Các nhân tố đặc trưng có tương quan với nhau và với các nhân tố chung Bản thân các nhân tố chung cũng có thể được diễn tả như những kết hợp tuyến tính của các biến quan sát:
Trang 31- Factor scores: Là các điểm số nhân tố tổng hợp được ước lượng cho từng quan sát trên các nhân tố được rút ra (còn được gọi là nhân số)
- Kaiser-Meyer-Olkin (KMO) measure of sampling adequacy: Là một chỉ
số dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị số của KMO giữa 0,5 và 1 là điều kiện đủ để phân tích nhân tố là thích hợp, còn nếu nhỏ hơn 0,5 thì không phù hợp
- Cumulative (phương sai trích): Cho biết mức độ giải thích đúng của mô hình
- Eigenvalue: Đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân
tố
Trong mô hình nghiên cứu của đề tài này, khi tiến hành phân tích nhân tố khám phá (EFA), tác giả sử dụng phương pháp trích Principle Components với phép xoay giữ gốc Varimax Theo phương pháp này, hệ số tải nhân tố (Factor loading) là chỉ tiêu để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực của EFA Hệ số tải nhân tố > 0,3 được xem là đạt đƣợc mức tối thiểu, hệ số tải nhân tố > 0,4 được xem là quan trọng và hệ số tải nhân tố ≥ 0,5 được xem là có ý nghĩa thực tiễn (Hair, J F., Black, W C., Babin, B J., Anderson, R E & Tatham, R L., 2006)
KMO là một chỉ tiêu dùng để xem xét sự thích hợp của EFA, 0,5 ≤ KMO
≤ 1,0 thì phân tích nhân tố là thích hợp Kiểm định Bartlett’s xem xét giả thuyết về độ tương quan giữa các biến quan sát bằng không trong tổng thể Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê khi Sig < 0,05 thì các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Ngoài ra, theo Gerbin và Anderson (1988) thì tổng phương sai trích phải ≥ 50% thì EFA mới phù hợp
2.2.4 Khung nghiên cứu
Để khái quát về quá trình nghiên cứu, tôi đã thiết lập khung nghiên cứu khái quát như sau:
Trang 32Nguồn: Khung nghiên cứu đề xuất của tác giả
Hình 2.2 Khung nghiên cứu
Phỏng vấn trực tiếp 150 công nhân đang làm việc tại KCN Bình Hòa (huyện
Trang 33CHƯƠNG 3 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HUYỆN CHÂU THÀNH VÀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP BÌNH HÒA
- - 3.1 Khái quát chung về huyện Châu Thành
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Châu Thành được thành lập trên cơ sở tách huyện Châu Thành X thành 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn theo Quyết định số 300/CP ngày 23/8/1979 của Hội đồng Chính phủ ( nay là Chính phủ ), về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số huyện và thị xã thuộc tỉnh An Giang Huyện Châu Thành nằm tiếp giáp Thành Phố Long Xuyên, với tổng diện tích tự nhiên 34.682 ha, diện tích đất sản xuất nông nghiệp 29.252 ha, huyện Châu Thành
có 13 xã - thị trấn với 63 ấp; tiếp giáp với 4 huyện và thành phố, đó là huyện Tịnh Biên, Châu Phú, Chợ Mới, Thoại Sơn và TP Long Xuyên
- Phía Bắc Giáp huyện Châu Phú
- Phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Chợ Mới
- Phía Đông - Đông Nam giáp TP Long Xuyên
- Phía Nam giáp huyện Thoại Sơn
- Phía Tây giáp huyện Tri Tôn
- Phía Tây Bắc giáp huyện Tịnh Biên
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
3.1.2.1 Địa hình
An Giang có 2 địa hình chính là đồng bằng và đồi núi Đồng bằng chiếm khoảng 82% diện tích tự nhiên của tỉnh, là nơi sinh sống của 89% dân cư toàn tỉnh Đồng bằng cũng được phân thành 2 loại: đồng bằng phù sa và đồng bằng ven núi Huyện Châu Thành thuộc dạng đồng bằng phù sa, đây là dãy đất ở hữu ngạn sông Hậu Địa hình hơi nghiêng, thấp dần về phía Tây – Tây Nam, nơi thấp nhất chỉ cao khoảng 0,7 – 1,0 m so với mực nước biển Đất chuyển từ thịt nhẹ đến đất sét, thích hợp cho cây lúa, cây công nghiệp ngắn ngày và cây
ăn quả
3.1.2.2 Khí hậu
Huyện Châu thành ảnh hưởng của 2 mùa gió là: gió mùa Tây nam và gió mùa Đông bắc Gió Tây nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa Gió mùa Đông bắc thổi vào An Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc nên có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn hơn, không tạo ra rét mà chỉ hanh khô, có phần nắng nóng
3.1.2.3 Dân số - Dân tộc
Dân số là 171.480 người với 34.018 họ, có các dân tộc Kinh, Khome, Chăm và Hoa, Châu Thành là nơi có đạo hòa hảo phát triển
Trang 343.1.3 Tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội trên địa bàn huyện Châu Thành năm 2013
3.1.3.1 Cơ cấu lao động
Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn là chủ trương của Đảng, của Nhà nước, của các cấp, các ngành và của toàn xã hội, nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Số người trong độ tuổi lao động là 103.144 người, chiếm 60,64% tổng dân số
Số lao động có nhu cầu đào tạo qua ngắn hạn, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng
là 2.089 người, chiếm 2,19% so với tổng số người trong độ tuổi lao động
Số lao động có nhu cầu đào tạo qua ngắn hạn là 1.328 người
Số lao động có nhu cầu đào tạo qua sơ cấp là 670 người
Số lao động có nhu cầu đào tạo qua trung cấp là 81 người
Số lao động có nhu cầu đào tạo qua cao đẳng là 10 người
Dự báo cơ cấu lao động nông thôn có nhu cầu học nghề theo nhóm điều tra nhu cầu lao động nông thôn
Giai đoạn 2011 - 2015: <50%
Lao động nông thôn làm nông nghiệp: 50.000 lao động
Lao động nông thôn làm lĩnh vực phi nông nghiệp: 20.000 lao động Lao động nông thôn chuyển sang làm việc ở các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động: 18.000 lao động
Giai đoạn 2016 – 2020
Lao động nông thôn làm nông nghiệp: 59.912 lao động
Lao động nông thôn làm lĩnh vực phi nông nghiệp: 22.000 lao động Lao động nông thôn chuyển sang làm việc ở các khu đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất và xuất khẩu lao động: 16.000 lao động
3.1.3.2 Kinh tế - Xã hội
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2013 đạt 13,47% (Năm 2012 là
12,08%), trong đó: khu vực I là 5,03% (Năm 2012 là 4,21%), khu vực II là 15,96% (Năm 2012 là 14,9%), khu vực III là 18,59% (Năm 2012 là 17,37%)
Về cơ cấu kinh tế, khu vực I là 37,4% (Năm 2012 là 36,77%), khu vực II
là 15,42% (Năm 2012 là 15,46%), khu vực III là 47,18% (Năm 2012 là 47,77%)
Trang 35Khu vực I 37,4%
Khu vực II 15,42%
Khu vực III 47,18%
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang
Hình 3.1 Cơ cấu kinh tế huyện Châu Thành năm 2013
GDP bình quân đầu người đạt 31,3 triệu đồng (Năm 2012 là 26,7 triệu)
Có 18/23 chỉ tiêu đạt và vượt, 03/23 chỉ tiêu gần đạt và 02/23 chỉ tiêu không đạt kế hoạch Nghị quyết HĐND huyện.Lĩnh vực nông nghiệp, diện tích sản xuất lúa chất lượng cao chiếm 80,3%, thực hiện chương trình “3 giảm, 3 tăng” chiếm 96% và “1 phải 5 giảm” chiếm 43% diện tích xuống giống; sản xuất lúa giống được 4.417 ha (chiếm khoảng 5,4% DTXG); có khoảng 6.883 ha được
tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn Thực hiện Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao huyện Châu Thành từ nay đến năm
2015 Trong năm, đã hoàn thành công tác lập quy hoạch chi tiết các vùng và sản phẩm, dịch vụ nông nghiệp công nghệ cao (CNC) gồm: (01) Quy hoạch vùng sản xuất lúa giống, lúa chất lượng cao, (02) Quy hoạch vùng sản xuất nấm ăn, nấm dược liệu, (03) Quy hoạch vùng sản xuất hoa màu an toàn, (04) Quy hoạch vùng sản xuất thủy sản ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2013–
2015, 2016–2020 và tầm nhìn đến 2030 Công tác phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm đạt hiệu quả cao, không để xảy ra dịch bệnh
Về xây dựng nông thôn mới, sau gần 04 năm (2010 – 2013) tập trung
nguồn lực xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn huyện đã đạt 03/20 tiêu chí (1, 3, 16) với 21/59 chỉ tiêu đạt và vượt so với quy định đến năm 2020; tăng
02 tiêu chí, 05 chỉ tiêu và giảm 01 chỉ tiêu so với năm 2012 Trong đó, xã Vĩnh Thành đạt 13 tiêu chí (42 chỉ tiêu), Vĩnh Nhuận đạt 10 tiêu chí (44 chỉ tiêu), Bình Hòa đạt 10 tiêu chí (44 chỉ tiêu), thị trấn An Châu đạt 11 tiêu chí (43 chỉ tiêu), các xã còn lại đạt 4 - 9 tiêu chí Trong năm, huyện đã thực hiện
03 hạng mục công trình với tổng vốn đầu tư 11.626 triệu đồng (ngân sách trung ương 4.000 triệu, ngân sách huyện 1.398 triệu, vốn dân 6.232 triệu đồng) gồm: nâng cấp đường GTNT cầu Tầm Du – UBND xã Vĩnh Nhuận (đoạn từ UBND xã Vĩnh Thành – cầu Dây); Xây dựng tuyến bờ tây kênh ông Quỳnh nối liền bắc ngọn Chung Rầy; xây dựng tuyến giao thông bờ bắc kênh Tân Phú 2 và bờ tây kênh Núi Chóc – Năng Gù
Lĩnh vực công nghiệp và TTCN, giá trị sản xuất (giá cố định) đạt 927 tỷ
đồng (trong đó các hộ kinh doanh cá thể đạt 477 tỷ), đạt 102% KH, tăng
Trang 3614,2% so cùng kỳ; một số ngành nghề chiếm tỷ trọng lớn như: chế biến lương thực, thực phẩm, gạch ngói, cơ khí, may mặc là những ngành có lợi thế của địa phương Phát triển mới 23 cơ sở, thu hút 76 lao động, số tiền 3,8 tỷ đồng (hiện toàn huyện có 1.036 cơ sở, thu hút 6.914 lao động, tổng vốn 127 tỷ đồng) Hoạt động thương mại diễn ra bình thường, tình hình giá cả thị trường các tháng đầu năm tăng nhẹ không biến động bất thường, lượng hàng hóa phong phú và đa dạng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường
Phát triển mới 226 cơ sở, thu hút 412 lao động với số tiền 21,4 tỷ đồng (toàn huyện có 5.464 cơ sở, thu hút 9.274 lao động, tổng vốn 187 tỷ đồng) Thực hiện Kế hoạch chuyển đổi mô hình quản lý chợ trên địa bàn huyện Châu Thành giai đoạn 2012 - 2016; huyện đã tập trung củng cố các chợ, đồng thời thực hiện tuyên truyền công tác chuyển đổi mô hình chợ trên địa bàn; tổ chức tham quan học tập kinh nghiệm tại Chợ Bình Đức (TP Long Xuyên) và chợ Bình Thủy (thành phố Cần Thơ)
Về tài chính - ngân sách: Tổng thu ngân sách nhà nước là 454,6 tỷ đồng
(trong đó các khoản phát sinh ngoài dự toán là 76,5 tỷ đồng); nếu loại trừ các khoản phát sinh ngoài dự toán thì tổng thu ngân sách nhà nước là 378,1 tỷ đồng, đạt 147,7% so dự toán tỉnh giao, đạt 127,3% so dự toán huyện giao, trong đó thu ngân sách trên địa bàn là 74,3 tỷ đồng, đạt 110,6% so dự toán tỉnh giao và huyện giao Tổng chi ngân sách địa phương là 445,2 tỷ đồng, đạt 145,1% dự toán năm tỉnh giao, đạt 132,9% so dự toán huyện giao, trong đó chi đầu tư XDCB là 30,8 tỷ đồng đạt 176,1% so dự toán tỉnh giao và 97,3% so với
dự toán huyện giao
Về giáo dục, năm học 2012-2013, ngành giáo dục và đào tạo tiếp tục
triển khai nhiều biện pháp thực hiện công tác chống bỏ học, tỷ lệ học sinh bỏ học được khống chế dưới mức kế hoạch, cụ thể: tiểu học là 0,58% (cùng kỳ năm trước 0,60% - kế hoạch không quá 1%); THCS là 2,37% (cùng kỳ năm học trước 2,76% - kế hoạch không quá 3%) Tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 100% Đạt chuẩn Phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập mầm non cho trẻ
05 tuổi năm 2013 (đang hoàn chỉnh hồ sơ kiểm tra công nhận phổ cập THCS)
Về y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, do thực hiện tốt các biện pháp
phòng chống nên tình hình dịch bệnh ở người giảm so với cùng kỳ; nhất là sốt xuất huyết và tay chân miệng Trong năm, xảy ra 57 ca sốt xuất huyết (giảm
274 ca so với cùng kỳ), 66 ca tay chân miệng (giảm 134 ca so với cùng kỳ);
xử lý kịp thời 09 ổ dịch Triển khai 05 đợt thực hiện chiến dịch diệt lăng quăng phòng, chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng Tổ chức phun xịt hóa chất vệ sinh, phòng chống dịch bệnh tại các điểm trường và cấp Cloramin B cho các Trạm Y tế để cấp cho các điểm trường nhà trẻ, mẫu giáo Phát hiện mới 12 ca nhiễm HIV/AIDS, hiện đang quản lý 89 ca (31 ca HIV, 58 ca AIDS), đang điều trị ARV 76 ca Lũy kế đã phát hiện 398 ca nhiễm HIV, 284
ca AIDS, chết 211, chuyển đi 40, số mất dấu 58 Tổ chức truyền thông cho 6.989 lượt người
3.2 Tổng quan tình hình phát triển các KCN ở ĐBSCL
3.2.1 Khái quát chung về tình hình hoạt động của các KCN
Trang 37ĐBSCL hiện đang phấn đấu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển kinh tế vùng đi lên bằng việc hình thành các KCN, KKT với những bước chuyển kinh tế quan trọng
Lũy kế đến tháng 7/2014, cả nước có 295 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên 83.626 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt 55.691
ha, chiếm khoảng 66% tổng diện tích đất tự nhiên Đến nay, 207 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 61.601 ha và 88 KCN đang trong giai đoạn đền bù giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ bản với tổng diện tích đất tự nhiên 22.025 ha Tổng diện tích đất công nghiệp đã cho thuê của các KCN đạt 25.370 ha, tỷ lệ lấp đầy các KCN đạt 47%, riêng các KCN đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy đạt trên 65% 6 tháng đầu năm, đầu tư nước ngoài vào các KKT, KCN đạt 303 dự án cấp mới và 218 lượt dự án tăng vốn với tổng số vốn 5,56 tỷ USD; lũy kế đến nay, các KCN đã thu hút 5.290 dự án FDI với tổng vốn đăng ký 77,1 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 48% vốn đăng ký Tổng doanh thu các KKT, KCN đạt 47,4 tỷ USD và 76.600 tỷ đồng, tăng 34%; kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 27,1 tỷ USD, chiếm 40% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nước
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2014, khu vực ĐBSCL hiện nay có 74 KCN đã được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên gần 24.000 ha, diện tích đất cho thuê tại các KCN trong vùng ĐBSCL chỉ 39,7% và tại các cụm công nghiệp tỷ lệ này chỉ là 27,47% so với tổng diện tích được quy hoạch Số KCN có tỷ lệ lấp đầy tập trung tại những tỉnh có số lượng KCN nhiều như : Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ Long An là địa phương dẫn đầu trong vùng ĐBSCL với số lượng 36 KCN 7 tháng đầu năm 2013 , các KCN ĐBSCL thu hút được 353 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 3,5 tỷ đồng, trong đó vốn thực hiện đạt 1,5 tỷ đồng, tạo việc làm cho 200 ngàn lao động Bên cạnh đó, vùng ĐBSCL còn có 3 khu kinh tế là: Định An (trà Vinh), Năm Căn (Cà Mau) và Phú Quốc (Kiên Giang) với tổng diện tích 4.374 ha, cả 3 khu kinh tế đang đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng, các khu kinh tế này đã thu hút được 22 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đạt 2 tỷ USD, vốn thực hiện 37 triệu USD, tạo việc làm cho 43.894 lao động
Các ngành công nghiệp có lợi thế phát triển trong các KCN vùng ĐBSCL như: công nghiệp chế biến nông sản (chế biến lương thực, thực phẩm và thủy sản); gia công hàng dệt, may, da giày phục vụ trong nước và xuất khẩu; sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất hàng tiêu dùng; sản xuất hóa chất, sản phẩm nhựa (PE, PP); sản xuất thiết bị điện, điện tử; công nghiệp cơ khí và lắp ráp thiết bị cơ khí phục vụ cho chế biến nông sản và sửa chữa tàu thuyền vận tải thủy
Tuy nhiên có một thực trạng hiện nay là đa số các KCN, CCN đang trong tình trạng quy hoạch treo, dự án treo kéo dài nhiều năm hoặc triển khai ì ạch, không giải phóng được mặt bằng, nên khó thu hút nhà đầu tư; ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sản xuất của người dân Bên cạnh đó, nhiều KCN, CCN đã chiếm diện tích đất tốt ven sông Tiền, sông Hậu nhiều năm qua
nhưng làm ì ạch dẫn đến lãng phí rất lớn gây ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống
Trang 383.2.2 Những thuận lợi của các KCN ĐBSCL
Ưu thế của các KCN là giá thuê đất khá thấp (dao động từ 0,6 – 0,9 USD/m2/năm, như KCN Mỹ Tho 0,8 USD/m2/năm, Vĩnh Long từ 0,6 – 0,8 USD/m2/năm trong khi giá thuê đất của các KCN Đông Nam Bộ trung bình trên 30 USD/m2/năm) Bên cạnh đó ĐBSCL có nguồn tài nguyên phong phú
và đa dạng, nguồn lao động dồi dào và giá nhân công rẻ, các tỉnh có nhiều ưu đãi trong việc thu hút vốn đầu tư vào các KCN Như:
3.2.2.1 Vốn
ĐBSCL có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp và thủy sản lớn nhất cả nước (90% lượng gạo xuất khẩu cả nước, 70% hàng nông sản và 52% hàng thủy sản) do đó đa số các dự án đầu tư vào KCN chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, chế biến nông – lâm – thủy sản Báo cáo của Bộ Kế hoạch – Đầu tư 7 tháng đầu năm 2013, các KCN thuộc vùng ĐBSCL thu hút được 353 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đa ̣t 3,5 tỷ USD, trong đó vốn thực hiê ̣n đa ̣t 1,5 tỷ USD
3.2.2.2 Cơ sở hạ tầng
Năm 2010, ĐBSCL có hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vận tải tương đối hoàn chỉnh về đường bộ, đường biển, đường sông, đường hàng không
- Đường bộ: dài 40.932 km, trong đó có 1.799 km đường quốc lộ, 3.385
km tỉnh lộ, 35.748 km hương lộ Hệ thống giao thông đường bộ được xây dựng đồng bộ, có nhiều loại hình vận tải sẽ tạo thuận lợi cho kinh tế phát triển
- Đường thủy: có bờ biển dài hơn 700 km, có hệ thống sông, kênh, rạch chằng chịt với tổng chiều dài hơn 28.000 km, trong đó có 13.000 km có thể khai thác vận tải, chiếm 70% chiều dài đường sông của cả nước
- Đường hàng không: hiện trong vùng có 4 cảng hàng không là: Cần Thơ, Rạch Giá, Phú Quốc và Cà Mau nhưng hiện tại chỉ có sân bay Trà Nóc Cần Thơ và sân bay Phú Quốc đang hoạt động
- Hệ thống cảng: theo quy hoạch đến năm 2020 tổng số cảng trong vùng
là 20 cảng, với tổng năng suất 12 – 14 triệu tấn/năm
3.2.2.3 Nguồn nhân lực
ĐBSCL là vùng có nguồn nhân lực dồi dào, là vùng cung cấp lao động cho Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh với dân số ĐBSCL 17478,9 nghìn người, trong đó số người trong độ tuổi lao động chiếm 59% và chiếm 19,38% so với lao động cả nước Số lượng nhà máy, xí nghiệp trong các KCN tại vùng nổi lên ngày càng nhiều, thu hút nhiều lao động làm việc như KCN Trà Nóc có quy mô 300 ha, các KCN ở Long An có diện tích quy hoạch hơn 8.000 ha và nhiều KCN khác ở các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, đã và đang được hình thành Do đó nhu cầu lao động ngày càng tăng, đặc biệt các lao động có tay nghề và chuyên môn
3.3 Giới thiệu chung các KCN tỉnh An Giang
3.3.1 Các KCN tỉnh An Giang
Trang 39- KCN Bình Hòa: với diện tích 250 ha, nằm tại khu vực ngã ba lộ tẻ, thuộc huyện Châu Thành, tỉnh An Giang, cách thành phố Long Xuyên 15 km, Cảng Mỹ Thới 20 km và Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên 67 km KCN Bình Hòa nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, hệ thống giao thông thuận lợi nằm cặp quốc lộ 91 và tỉnh lộ 941, gần sông Hậu là tuyến giao thông chính phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa trong khu vực và đến các trung tâm kinh tế khác trong tỉnh và ngoài nước Kết cấu hạ tầng đáp ứng tốt yêu cầu hoạt động của các nhà đầu tư: đường giao thông; hệ thống cấp nước, điện, xử
lý nước thãy; giá thuê đất 0,3 - 0,35 USD/m2/năm
- KCN Vàm Cống: với diện tích 200 ha, nằm gần quốc lộ 91, cạnh tuyến đường Hồ Chí Minh, thuộc thành phố Long Xuyên, cách thành phố HCM khoảng 180 km và cách Phnom Pênh khoảng 150 km, hệ thống giao thông thuận lợi nằm gần Cảng Mỹ Thới và cách cầu Vàm Cống khoảng 1 km Mạng lưới điện quốc gia, hệ thống cấp nước và xử lý nước thãy đáp ứng nhu cầu hoạt động của các nhà đầu tư
- KCN Bình Long: diện tích 100 ha, thuộc huyện Châu Phú, cách thành phố Long Xuyên 30 km và Khu kinh tế cửa khẩu Tịnh Biên 49 km KCN có vị trí thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thủy và nằm ngay trung tâm vùng nguyên liệu nông thủy sản tứ giác Long Xuyên KCN nằm cạnh trục quốc lộ
91 và sông Hậu là hai tuyến giao thông chính của KCN, thuận lợi cho việc vận chuyển máy móc thiết bị và hàng hóa đi và đến KCN Đặc biệt trong KCN có Cảng sông do Bộ Giao thông – Vận tải đầu tư xây dựng, hiện nay cảng sông Bình Long được cảng Mỹ Thới quản lý sử dụng
Ngoài ra còn có các KCN như: KCN Hội An với diện tích 100 ha ( huyện Chợ Mới), KCN Tân Trung với diện tích 19 ha (huyện Phú Tân), KCN Phú Hòa với diện tích 20 ha (huyện Thoại Sơn), KCN TTCN Tây Huề 1 với diện tích 55 ha (Long Xuyên), KCN Khánh Bình tại Khu kinh tế cửa khẩu Khánh Bình và KCN Tân Châu tại cửa khẩu Tân Châu
3.3.2 Những chính sách khuyến khích và ƣu đãi đầu tƣ vào các KCN trên địa bàn tỉnh An Giang
3.3.2.1 Những ƣu đãi cho nhà đầu tƣ kinh doanh hạ tầng
Quyền của nhà đầu tƣ kinh doanh hạ tầng
- Xây dựng các nhà xưởng, văn phòng, kho bãi trong KCN để bán hoặc
cho thuê;
- Định giá cho thuê đất, giá cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng
kỹ thuật; định mức phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật và các công trình dịch vụ khác trong khu công nghiệp; định giá cho thuê, giá bán nhà xưởng, văn phòng, kho bãi và định mức phí dịch vụ;
- Thu phí sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ và tiện ích công cộng trong khu công nghiệp theo quy định pháp luật hiện hành;
- Chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất và cho thuê lại đất đã xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong khu công nghiệp cho Nhà đầu tư khác
Trang 40theo quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về đầu tư và pháp luật về kinh doanh bất động sản
Hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các KCN
- UBND tỉnh An Giang có nhiệm vụ đầu tư các kết cấu hạ tầng thiết yếu
như: hệ thống điện, nước, thoát nước,
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào KCN;
- Trường hợp nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng bỏ vốn xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào các khu công nghiệp, sẽ được UBND tỉnh thanh toán lại bằng cách khấu trừ dần vào tiền thuê đất mà nhà đầu tư còn phải nộp hoặc trả dần giá trị đầu tư công trình cho nhà đầu tư trong thời hạn 5 năm kể từ ngày công trình hoàn thành, được nghiệm thu cùng với lãi suất cho vay kỳ hạn
5 năm (lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh ở thời điểm công trình hoàn thành, được nghiệm thu)
Điều chỉnh quy hoạch chi tiết KCN
Nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng có trách nhiệm đầu tư xây dựng kết cấu
hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp đúng theo quy hoạch chi tiết xây dựng khu công nghiệp đã được cấp thẩm quyền phê duyệt Trường hợp nhà đầu tư muốn điều chỉnh quy hoạch chi tiết khu công nghiệp theo nhu cầu, nhà đầu tư phải được sự chấp thuận của UBND tỉnh An Giang
Đền bù giải phóng mặt bằng
- Nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng được UBND tỉnh An Giang hỗ trợ khâu
tổ chức xác định chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo chính sách chung và tổ chức giải phóng mặt bằng KCN
- Về chi phí:
a) UBND tỉnh An Giang hỗ trợ :
- 100% chi phí lập Phương án bồi thường giải phóng mặt bằng KCN (kể
cả khu tái định cư);
- 50% chi phí lập Dự án đầu tư hạ tầng kỹ thuật KCN (kể cả khu tái định cư)
b) Nhà đầu tư kinh doanh hạ tầng trực tiếp chi trả toàn bộ chi phí đền bù, giải phóng mặt bằng KCN (kể cả khu tái định cư).
Ƣu đãi về tiền thuê đất
Đơn giá thuê đất một năm đối với các dự án đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN được tính bằng tỷ lệ % trên giá đất theo mục đích sử dụng đất thuê
do UBND tỉnh An Giang ban hành hàng năm:
- Tại địa bàn thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc: 0,5%;
- Tại các địa bàn còn lại: 0,25%
Ƣu đãi về thuế