TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CHĂN NUÔI CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CHĂN NUÔI
CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: KINH TẾ HỌC
Mã số ngành: 52310101
Tháng 12 – Năm 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ - QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN MSSV: 4113969
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CHĂN NUÔI
CỦA NÔNG HỘ Ở HUYỆN PHONG ĐIỀN
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: KINH TẾ HỌC
Mã số ngành: 52310101
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN NGUYỄN THỊ BẢO CHÂU NGUYỄN QUỐC NGHI
Tháng 12 – Năm 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ, em đã nhận được sự giảng dạy nhiệt tình của quý Thầy Cô, đặc biệt là các Thầy Cô khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh để em có thể thực hiện đề tài này
Cám ơn các Thầy Cô đã tận tình giảng dạy và truyền đạt cho em những kiến thức chuyên ngành cũng với những kinh nghiệm thực tiễn quý báu là hành trang để em bước vào đời Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến
Cô Nguyễn Thị Bảo Châu và Thầy Nguyễn Quốc Nghi đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp em sửa chữa những khuyết điểm trong suốt thời gian em làm luận văn tốt nghiệp
Chân thành cảm ơn các cán bộ ở phòng Nông nghiệp các xã đã nhiệt tình giúp đỡ và hỗ trợ cho em trong quá trình đi thu thập số liệu, giúp em hoàn thành được đề tài
Tuy nhiên, do còn hạn hẹp về kiến thức và hạn chế về thời gian nên đề tài khó tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự bỏ qua và đóng góp ý kiến của quý Thầy Cô
Cuối cùng em xin kính chúc quý Thầy Cô khoa Kinh Tế và Quản Trị Kinh Doanh, Cô Nguyễn Thị Bảo Châu và Thầy Nguyễn Quốc Nghi được dồi
dào sức khỏe, luôn thành đạt trong công việc và cuộc sống
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
Trang 4TRANG CAM KẾT
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi và các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào khác
Cần Thơ, ngày … tháng … năm …
Người thực hiện
NGUYỄN THỊ TỐ UYÊN
Trang 5BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
-o0o -
Họ và tên người hướng dẫn: Nguyễn Thị Bảo Châu
Học vị: Cử nhân
Chuyên ngành: Quản trị Marketing
Cơ quan công tác: Khoa Kinh tế - QTKD
Tên sinh viên: Nguyễn Thị Tố Uyên
1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
Chủ đề nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành đào tạo
2 Về hình thức trình bày:
Hình thức trình bày rõ ràng, đúng theo qui định của Khoa
3 Ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn và cấp thiết của đề tài:
Điểm mạnh của đề tài là kế thừa thành quả của các nghiên cứu trước đây
Đề tài có ý nghĩa thực tiễn trong bối cảnh cả nước đang chung tay thực hiện chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, trong đó có ngành chăn nuôi
4 Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của đề tài:
Với cỡ mẫu và các bước tiến hành thu thập số liệu phù hợp, vì thế số liệu
sơ cấp của đề tài mang tính hiện đại
5 Nội dung và kết quả đạt được:
Kết quả nghiên cứu giải quyết được các mục tiêu đặt ra
6 Kết luận chung: Đạt yêu cầu của một luận văn tốt nghiệp đại học
Cần Thơ, ngày 15 tháng 12 năm 2014
Người nhận xét
Nguyễn Thị Bảo Châu
Trang 6MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Không gian nghiên cứu 3
1.4.3 Thời gian nghiên cứu 3
1.4.4 Phạm vi nội dung 3
1.5 Lược khảo tài liệu 4
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 4
1.5.2 Phương pháp phân tích 12
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Phương pháp luận 15
2.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp 15
2.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế 17
2.1.3 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 18
2.1.4 Hiệu quả kinh tế - xã hội 20
2.2 Mô hình nghiên cứu 21
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ huyện Phong Điền 21
2.2.2 Đánh giá mức độ đồng ý của nông hộ đối với các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 23
2.3 Phương pháp nghiên cứu 25
Trang 72.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 25
2.3.2 Phương pháp phân tích 27
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 30
3.1 Giới thiệu chung về huyện Phong Điền 30
3.1.1 Lịch sử hình thành 30
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 31
3.1.3 Dân số và lao động 33
3.2 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Phong Điền, TP Cần Thơ 35
3.2.1 Lĩnh vực kinh tế 36
3.2.2 Lĩnh vực văn hóa – xã hội 39
3.3 Hoạt động chăn nuôi huyện Phong Điền 40
3.3.1 Gia súc 41
3.3.2 Gia cầm 42
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI CƠ CẤU CHĂN NUÔI 45
4.1 Mô tả mẫu khảo sát 45
4.1.1 Nguồn lực sản xuất của từng nhóm nông hộ 45
4.1.2 Nhận thức của nông hộ về nông nghiệp sinh thái (NNST) 52
4.1.3 Tình hình thu nhập của nông hộ 52
4.1.4 Tình hình vay vốn sản xuất của nông hộ 54
4.2 Thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ 56
4.2.1 Nhóm nông hộ không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 56
4.2.2 Nhóm nông hộ chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 57
4.3 Hiệu quả của việc chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 59
4.3.1 Hiệu quả kinh tế 59
4.3.2 Hiệu quả xã hội 62
4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ 64
4.4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 64
Trang 84.4.2 Đánh giá mức độ đồng ý của nông hộ đối với các yếu tố ảnh hưởng đến
quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 69
CHƯƠNG 5 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH CHĂN NUÔI HUYỆN PHONG ĐIỀN 73
5.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 73
5.2 Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của người chăn nuôi 74
5.3 Một số giải pháp góp phần phát triển bền vững ngành chăn nuôi ở huyện Phong Điền 77
5.3.1 Đối với chính quyền địa phương 77
5.3.2 Đối với người sản xuất 78
5.4 Định hướng xu hướng chuyển dịch bền vững 79
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
6.1 Kết luận 81
6.2 Kiến nghị 81
6.2.1 Đối với nông hộ 81
6.2.2 Đối với nhà nước, chính quyền địa phương 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 87
Trang 9DANH SÁCH BẢNG
- -
Bảng 2.1 Mô tả các biến chi tiết 23
Bảng 2.2 Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu 24
Bảng 3.1 Hiện trạng đất nông nghiệp được sử dụng ở huyện Phong Điền 31
Bảng 3.2 Hiện trạng đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng của huyện 32
Bảng 3.3 Dân số trong độ tuổi lao động phân theo giới tính 34
Bảng 3.4 Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm phân theo ngành kinh tế năm 2013 35
Bảng 3.6 Số cơ sở công nghiệp ngoài quốc doanh 38
Bảng 3.7 Giá trị sản xuất chăn nuôi (Giá hiện hành) 40
Bảng 3.8 Số lượng gia súc giai đoạn 2004 - 2013 41
Bảng 4.1 Số nhân khẩu trong gia đình 45
Bảng 4.2 Giới tính của người ra quyết định sản xuất 46
Bảng 4.3 Tuổi của người ra quyết định sản xuất 47
Bảng 4.4 Kinh nghiệm sản xuất của người ra quyết định sản xuất 48
Bảng 4.5 Trình độ học vấn của người ra quyết định sản xuất 48
Bảng 4.6 Trình độ kỹ thuật của người ra quyết định sản xuất 49
Bảng 4.7 Tỷ lệ người phụ thuộc trong gia đình 50
Bảng 4.8 Số lao động nông nghiệp 51
Bảng 4.9 Khoảng cách từ nhà đến chợ gần nhất 51
Bảng 4.10 Nhận thức của nông hộ về nông nghiệp sinh thái 52
Bảng 4.11Thu nhập từ hoạt động nông nghiệp 53
Bảng 4.12 Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp 53
Bảng 4.13 Các loại nông sản của nhóm nông hộ không chuyển đổi cơ cấu 56
Bảng 4.15 Các loại nông sản của nhóm chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 58
Bảng 4.16 Diện tích/Quy mô nông sản trước và sau chuyển đổi 58
Bảng 4.17 Kết cấu chi phí trung bình của các nhóm hộ 60
Bảng 4.18 Kết cấu doanh thu, thu nhập ròng và lợi nhuận trung bình 60
Trang 10Bảng 4.19 Các chỉ số phản ánh khả năng sinh lợi 61 Bảng 4.20 Kết quả hồi quy Probit 65 Bảng 4.21 Kết quả giá trị trung bình cho từng tiêu chí 70
Trang 11DANH SÁCH HÌNH
- -Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 23
Hình 2.3 Các nhóm nông hộ nghiên cứu 26
Hình 3.1 Dân số huyện Phong Điền giai đoạn 2004 - 2013 33
Hình 4.1 Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp 54
Hình 4.2 Tình hình vay vốn sản xuất của nông hộ 55
Hình 4.3 Các nguồn vay vốn của nông hộ 55
Hình 4.4 Hiệu quả xã hội của nhóm hộ không chuyển đổi cơ cấu sản phẩm 63
Hình 4.5 Hiệu quả xã hội của nhóm hộ chuyển đổi cơ cấu sản phẩm 64
Hình 5.1 Khó khăn trong chăn nuôi 74
Trang 12NN & PTNN : Nông nghiệp & Phát triển nông thôn
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
- -
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là một xu hướng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay trong giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH – HĐH), tăng giá trị sản xuất của các sản phẩm, hàng hóa chủ lực của mỗi địa phương, vùng, miền Do chính nhiệm vụ và yêu cầu của quá trình CNH – HĐH đất nước đặt ra, nông nghiệp và nông thôn với tư cách
là bộ phận quan trọng cấu thành nên nền kinh tế, cần phải chuyển đổi nhanh
cơ cấu kinh tế để đạt mục tiêu chung là đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 (Phan Công Nghĩa, 2007) Sự chuyển dịch này góp phần cải thiện bộ mặt đời sống nông thôn, nâng cao thu nhập, mức sống, kèm theo đó là tăng khả năng tiếp cận với các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, thông tin, văn hóa… cho người dân Do vậy, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ xóa dần khoảng cách thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, sau gần 30 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những kết quả nổi bật Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng cao liên tục và khá ổn định của GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2013, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,40%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,30% và khu vực dịch vụ chiếm 43,30% (năm
2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,70%; 38,60% và 41,70%) Bước sang năm
2014, cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm nay vẫn theo hướng tích cực Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 17,69%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,70%; khu vực dịch vụ chiếm 43,61% (cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2013 là: 18,18%; 38,70%; 43,12%)
Trong cơ cấu ngành nông nghiệp, chăn nuôi đóng vai trò không hề nhỏ Năm 2013, chăn nuôi tăng bình quân 10%/năm; tỷ trọng giá trị chăn nuôi trong nông nghiệp được đánh giá là tăng mạnh Trong điều kiện kinh tế đang phát triển, chăn nuôi đã thực sự là một ngành sinh lợi, góp phần tạo ra sự cân bằng trong cơ cấu kinh tế, tránh việc người nông dân chỉ độc canh cây lúa hoặc vài loại cây trồng khác Phong Điền là một huyện thuộc Thành phố Cần Thơ - được biết đến như là vùng du lịch sinh thái miệt vườn sông nước Tuy nhiên, những năm gần đây, nội bộ ngành nông nghiệp đã có sự chuyển dịch cơ
Trang 14cấu rõ nét, ngành chăn nuôi phát triển ngày càng mạnh Theo thống kê của Thành đoàn thành phố Cần Thơ (2013), toàn huyện Phong Điền hiện có 1.496
hộ chăn nuôi gia cầm với tổng đàn là 79.313 con Việc kết hợp trồng cây lúa nước, cây ăn trái với chăn nuôi giúp kinh tế của các hộ dân tăng lên đáng kể, chất lượng cuộc sống được nâng cao và có phần dư giả Tuy nhiên, việc chăn nuôi nhỏ lẻ và tự phát quá nhiều cùng với việc không thực hiện tiêm vắc-xin phòng bệnh đầy đủ đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến công tác phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn huyện Cụ thể, từ ngày 27 - 12 - 2013 đến cuối tháng 2 -
2014, ở Phong Điền xảy ra 5 ổ dịch cúm gia cầm tại 3 xã Trường Long, Tân Thới và Nhơn Nghĩa Bên cạnh đó, nhiều hộ gia đình nuôi heo với số lượng lớn sau nhiều đợt liên tục bị lỗ do giá heo hơi giảm, dịch bệnh… giờ chỉ nuôi vài con để duy trì Nhiều hộ dân dần chuyển sang nuôi các loại gia cầm, gia súc khác nhưng cũng có nhiều hộ dân chọn phương án đổi mới phương pháp chăn nuôi theo hướng sinh thái để bảo vệ môi trường và sức khỏe gia đình như nuôi gà trên đệm lót sinh học giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường, dịch bệnh… thay vì nuôi theo cách truyền thống Xác định được các yếu tố tác động đến sự chuyển đổi cơ cấu trong lĩnh vực chăn nuôi và đánh giá việc chuyển đổi này có thực sự đem lại hiệu quả sẽ giúp các hộ dân có những quyết định đúng đắn và giảm thiểu chi phí đầu tư Xuất phát từ những thực tiễn trên
mà đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ
cấu chăn nuôi của nông hộ ở huyện Phong Điền” là cấp thiết và có ý nghĩa
Những giải pháp được đề xuất sẽ giúp nông hộ hạn chế được những rủi ro và nâng cao năng suất đồng thời sẽ là cơ sở để chính quyền đề ra những chính sách, định hướng góp phần phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện, thành phố
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu chung của đề tài là phân tích thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ trên địa bàn huyện Phong Điền giai đoạn 2004 – 2014 và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi để từ
đó đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành, góp phần nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn huyện
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu 1: Phân tích và đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trong giai đoạn 10 năm (2004 – 2014)
- Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi
cơ cấu chăn nuôi của nông hộ ở huyện Phong Điền
Trang 15- Mục tiêu 3: Đề xuất giải pháp nhằm phát triển bền vững ngành chăn nuôi huyện Phong Điền trong giai đoạn tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ huyện Phong Điền, TP Cần Thơ trong giai đoạn 2004 – 2014 như thế nào?
- Yếu tố nào ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ và việc chuyển đổi này có mang lại hiệu quả cho nông hộ không?
- Những chính sách nào hỗ trợ cho việc chuyển dịch bền vững ngành chăn nuôi huyện Phong Điền trong giai đoạn tới?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Các hộ dân đã và đang có hoạt động chuyển đổi cơ cấu trong chăn nuôi tại huyện Phong Điền
1.4.2 Không gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Phong Điền, TP Cần Thơ cụ thể
là các xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Giai Xuân và Mỹ Khánh Với việc chọn không gian để nghiên cứu như trên, tác giả kỳ vọng rằng các mẫu quan sát có được độ chính xác và tính đại diện cao cho tổng thể
1.4.3 Thời gian nghiên cứu
Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp các nông hộ thuộc không gian nghiên cứu của đề tài trong giai đoạn 2004 – 2014
Số liệu thứ cấp được thu thập từ Niên giám Thống kê huyện Phong Điền trong giai đoạn 2004 – 2013
1.4.4 Phạm vi nội dung
Phạm vi nội dung nghiên cứu của đề tài tập trung vào việc phân tích thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi ở huyện Phong Điền và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ Đề tài chỉ nghiên cứu những hộ đang có hoạt động chăn nuôi theo hướng kinh doanh
và những hộ chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi đã có thu hoạch để dễ dàng trong việc tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội cho từng mô hình
Trang 161.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp
Thông qua lược khảo các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều yếu tố tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Theo Phan Công Nghĩa (2007), yếu tố tác động đến quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn nói riêng rất phức tạp Những yếu tố có thể là lợi thế so sánh, thị trường, các tiến bộ khoa học kĩ thuật, mức tăng nhu cầu tiêu dùng, khả năng tích lũy vốn đầu tư, thể chế hay vai trò của nhà nước, các yếu tố kinh tế - xã hội khác như vấn đề phân phối thu nhập, các giá trị truyền thống, những tác động bất thường từ bên ngoài hay bên trong của nền kinh tế Trong bài nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn tỉnh Bình Dương, Nguyễn Thị Ngọc Anh (2008) cho rằng
có hai nhóm nhân tố tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn Nhóm nhân tố thứ nhất là nhân tố kinh tế, bao gồm vốn sản xuất, lao động (số lượng và chất lượng), tài nguyên thiên nhiên và khoa học – công nghệ Nhóm nhân tố thứ hai là nhân tố phi kinh tế, bao gồm thể chế kinh tế - chính trị và đặc điểm văn hóa – xã hội Tham khảo từ các nội dung trên, tác giả chia các yếu tố tác động đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hay chăn nuôi thành 2 nhóm:
Yếu tố khách quan: bao gồm yếu tố kinh tế - xã hội và điều kiện tự nhiên,
+ Tác động từ sự chuyển đổi mô hình của cộng đồng địa phương hay còn gọi là xu hướng chung của cộng đồng: Theo Phạm Thanh Vũ và ctv (2013) xu hướng chung của cộng đồng được người dân quan tâm nhiều nhất vì khi quyết định mô hình canh tác người dân bị chi phối bởi sự lựa chọn của những hộ lân cận trong cộng đồng đồng thời khi người dân nhận thấy họ có khả năng canh tác mô hình có lợi nhuận cao lúc đó người dân mạnh dạn quyết định canh tác
mô hình đó ngay cả khi không có sự qui hoạch của chính quyền địa phương + Yêu cầu thị trường: Khi nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa thì sự phản ứng của thị trường là nhân tố quan trọng tác động đến việc lựa chọn, phát triển các nông sản có giá trị hàng hóa cao, nhu cầu thị
Trang 17trường lớn và dần loại bỏ các sản phẩm có giá trị thương phẩm thấp Nhu cầu thị trường giúp chúng ta xác định được số lượng, chủng loại và chất lượng của sản phẩm nông nghiệp Những nhu cầu về sản phẩm chất lượng cao, qua chế biến, những sản phẩm mà đô thị cần như hoa, rau sạch, cây cảnh, thịt gia súc, gia cầm, trứng, sữa… ngày một nhiều đòi hỏi phải chuyển đổi hướng sản xuất nông nghiệp (SXNN) (Vũ Thị Kim Cúc, 2011) Đối với yếu tố giá cả và kinh
tế thị trường, mô hình sản xuất có thể chuyển đổi theo nhu cầu thị trường (Lê Thanh Phong và cộng sự, 2007) và vấn đề giá cả, thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu nông sản ra nước ngoài là khâu quyết định quan trọng của nông hộ xem xét có nên thực hiện mô hình sản xuất đó không, vì dù nông hộ thực hiện
mô hình sản xuất thích hợp, có năng suất cao nhưng bán không được giá, không xuất khẩu được thì mô hình sản xuất đó xem như không hiệu quả (Nguyễn Quang Viết, 2013)
+ Lợi nhuận: trong lĩnh vực kinh tế yếu tố lợi nhuận có thứ tự ưu tiên cao nhất và được lựa chọn nhiều nhất qua các mô hình nghiên cứu Khi lựa chọn
mô hình canh tác, người dân chỉ chú trọng đến nguồn tiền lời thu được từ mô hình vì đây là nguồn tiền trang trải chi tiêu cho gia đình và là nguồn vốn đầu
tư tiếp cho mùa vụ sau, do đó người dân sẽ chuyển sang mô hình canh tác khác nếu mô hình canh tác không mang lại lợi nhuận cao (Phạm Thanh Vũ và ctv, 2013) Trong bài nghiên cứu “Phân tích thực trạng nuôi cá tra tự phát ở đồng bằng Sông Cửu Long” của các tác giả Huỳnh Trường Huy, Lê Quang Viết và Huỳnh Nhựt Phương (2007) cho thấy thực tế nếu như các hộ nuôi cá
mà không thu được lợi nhuận lớn thì không hình thành nên phong trào nuôi cá như hiện nay Suy cho cùng thì mục đích chính yếu nhất cũng chỉ là lợi nhuận,
và việc chạy theo lợi nhuận này cũng phù hợp với qui luật kinh tế thị trường
Vì vậy phong trào nuôi cá chỉ là một hiện tượng phản ánh thực trạng này mà thôi Và khi được hỏi nguyên nhân tăng diện tích nuôi cá tự phát thì hơn 77% trong số họ cho rằng lợi nhuận là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Nguyễn Quang Tuyến (2013) cho rằng thu nhập từ mô hình sản xuất có tác động quyết định đến việc chọn lựa và chuyển đổi mô hình sản xuất đối với nông hộ
+ Chính sách hỗ trợ của địa phương: Hệ thống các chính sách nông nghiệp, nông thôn tác động đến quá trình điều chỉnh mối quan hệ giữa các ngành, các vùng trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế Chính sách hỗ trợ giá nhằm làm cho người sản xuất bù đắp được chi phí sản xuất, có lãi để đảm bảo tái sản xuất giản đơn và
mở rộng (Lê Đình Thắng, 2000)
Trang 18+ Điều kiện cơ sở hạ tầng nông nghiệp: Cơ sở hạ tầng như mạng lưới giao thông vận tải tạo điều kiện trao đổi hàng hóa nông nghiệp giữa các địa phương, hình thành cầu nối giữa các tiểu vùng nông nghiệp ven đô thị và với thành phố, với các cơ sở công nghiệp chế biến; hệ thống cung cấp điện tạo điều kiện để sản xuất với qui mô lớn hơn, tạo môi trường tốt, phù hợp với cây trồng, vật nuôi, giúp thu hoạch đúng thời điểm, sản phẩm nông nghiệp có thể
sơ chế, chế biến tại chỗ hoặc được bảo quản tăng giá trị của sản phẩm, thúc đẩy sự chuyển dịch hướng sản xuất và cơ cấu ngành nông nghiệp; hệ thống thông tin liên lạc giúp người nông dân nắm bắt được những thông tin về thị trường, đường lối chính sách của nhà nước cho nông nghiệp, nông thôn, chủ động điều chỉnh hướng và quy mô sản xuất cho phù hợp; hệ thống thủy lợi góp phần quan trọng cho việc đẩy mạnh thâm canh, tăng vụ, đa dạng hóa sản xuất, mở rộng diện tích canh tác cũng như việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp (Vũ Thị Kim Cúc, 2011)
- Điều kiện tự nhiên: tác động của rủi ro (thời tiết, dịch bệnh…) trong sản xuất nông nghiệp, điều kiện đất đai và khí hậu, điều kiện về vị trí sản xuất + Tác động của rủi ro như thời tiết, dịch bệnh… trong sản xuất nông nghiệp: Sở dĩ nông hộ chuyển đổi mô hình chuyên canh lúa sang mô hình sản xuất lúa luân canh hoa màu hoặc mô hình sản xuất lúa kết hợp cá/tôm để tăng tính đa dạng cây trồng và thủy sản, tăng độ phì nhiêu của đất (Nguyễn Bảo Vệ
và Nguyễn Thị Xuân Thu, 2005), nhằm tăng nguồn thu nhập và giảm tính rủi
ro trong sản xuất độc canh có thể xảy ra trong điều kiện thời tiết bất thường do biến đổi khí hậu ở ĐBSCL và giá cả thị trường nông sản không ổn định như hiện nay (Lê Thanh Phong và cộng sự 2007 và Trung tâm Thông tin và Quản trị mạng ĐHCT, 2013) Dịch bệnh trong nông nghiệp là một trong những yếu
tố tác động đến sự lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nông nghiệp nào đó của nông hộ, tình trạng dịch bệnh càng phức tạp, công tác quản lí dịch kém (ví
dụ, dịch cúm gia cầm diễn ra vào năm 2004) thì người dân càng có xu hướng chuyển sang sản xuất loại sản phẩm nông nghiệp khác Lý thuyết về sự chọn lựa mô hình sản xuất nông nghiệp của Eicher và Staatz (1998) cho thấy, dịch bệnh là một trong những yếu tố mà nông dân xem xét đến khi lựa chọn sản xuất một loại nông sản nào đó Khi người nông dân được hỏi rằng, nguyên nhân nào đã khiến cho hộ quyết định tiếp tục hoặc không tiếp tục trồng loại cây trước đó (hoặc con vật) thì đa số các nông hộ đều cho dịch bệnh là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến việc chuyển đổi sản phẩm nông nghiệp của hộ (Trương Ngọc Chi và cộng sự, 2003) Trên thực tế, khi địa phương nào bị ảnh hưởng bởi dịch cúm gia cầm thì việc chăn nuôi gia cầm sẽ
bị kiểm soát chặt chẽ hơn Đồng thời, người tiêu dùng sẽ ngại sử dụng sản
Trang 19phẩm từ loại vật nuôi này dẫn đến khó tiêu thụ sản phẩm Do đó, người chăn nuôi cũng ngại đầu tư mở rộng quy mô sản xuất của họ (Mai Văn Nam và Nguyễn Thị Ngọc Hoa, 2010) Thực tế sản xuất cho thấy trong vùng sinh thái nước ngọt nông hộ gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện mô hình sản xuất
do bị ảnh hưởng từ các yếu tố ngoại cảnh biến đổi khí hậu tác động, năng suất
bị thiệt hại do những thảm họa thiên nhiên như mưa bất thường, lũ lớn, nhiệt
độ cao và hạn hán Người dân đã nhận thức những vấn đề ảnh hưởng quan trọng này đối với việc sản xuất, sức khỏe con người và môi trường (Lê Cảnh Dũng và cộng sự, 2011)
+ Điều kiện tự nhiên như vị trí địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu và tài nguyên thiên nhiên ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng khí hậu khác nhau thì việc lựa chọn cơ cấu cũng phải khác nhau Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi, con người có thể lợi dụng những yếu tố đầu vào miễn phí để lựa chọn những sản phẩm phù hợp với điều kiện, gắn với chất lượng cao và chi phí thấp Điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu tạo tiền đề để hình thành những vùng chuyên canh, những vùng nông nghiệp thương phẩm (chuyên chăn nuôi gia súc, gia cầm) Tuy nhiên, ngày nay với trình độ phát triển của khoa học kỹ thuật càng cao thì điều kiện tự nhiên không còn là yếu tố bất biến (Đỗ Thị Thanh Loan, 2007) Eicher và Staatz (1998); Bosma và cộng sự (2012); Rehima và cộng sự (2013) trong một bài nghiên cứu đã tìm ra rằng, đất đai càng màu mỡ thì người dân có
xu hướng chỉ trồng những loại cây mang lại lợi nhuận cao, khai thác triệt để dinh dưỡng của đất, ít có xu hướng đa dạng hóa Điều đó cũng đúng với sự phát triển cây lúa ở Việt Nam, khi giá lúa giảm thấp và dinh dưỡng đất ngày càng cạn kiệt do người dân trồng lúa quanh năm thì Chính phủ, cũng như người dân, có xu hướng luân canh hoặc xen canh các loại cây trồng để làm tăng độ phì nhiêu của đất, cải tạo đất, nhằm tăng năng suất
+ Điều kiện về vị trí sản xuất: Vị trí sản xuất như gần hay xa các trung tâm, thị trấn, chợ, đường giao thông… có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp tại địa phương Lauwere (2004), Lê Thanh Phong
và cộng sự(2004) tìm thấy rằng khoảng cách từ nhà đến chợ của huyện, xã, thị trấn đã làm thay đổi số hoạt động nông nghiệp của hộ Rehima và cộng sự (2013) xác định rằng khoảng cách từ nhà của hộ đến chợ hoặc thị trấn, xã tác động cùng chiều với sự đa dạng hóa, những hộ càng ở xa chợ họ thường có xu hướng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm để bù đắp cho khoản chi phí giao dịch Bosma và cộng sự (2012) trong nghiên cứu về mô hình lúa – cá cho rằng khoảng cách từ nhà đến thị trấn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn áp dụng mô hình lúa – cá, khoảng cách càng xa, khả năng áp dụng
mô hình càng cao Kết quả nghiên cứu của Abdulai CroleRees (2001) cũng
Trang 20chứng minh được rằng những hộ gia đình ở vùng xa xôi hẻo lánh ít tham gia lĩnh vực phi trồng trọt như là chăn nuôi gia súc và công việc phi nông nghiệp hơn những hộ ở gần trung tâm các địa phương
Yếu tố chủ quan bao gồm: đặc điểm của người ra quyết định sản xuất và
nguồn nhân lực – vật lực của nông hộ
Đặc điểm của người ra quyết định sản xuất như tuổi tác, học vấn, kinh nghiệm, giới tính và nhận thức có ảnh hưởng đến quyết định chuyển dịch cơ cấu chăn nuôi
+ Nhận thức: Nhận thức cũng là một trong những động cơ quan trọng để chuyển đổi canh tác tổng hợp hoặc hữu cơ Nông dân lo ngại đến việc sử dụng cây trồng hóa các sản phẩm bảo vệ, những sự cố xảy ra như bệnh trẻ em hoặc thú nuôi sau khi tiếp xúc với các sản phẩm bảo vệ thực vật hóa học Thái độ của người nông dân, nhận thức của họ đối với những nguy cơ và niềm tin của
họ đối với mô hình mới là tốt hơn (hoặc không) là một trong những động cơ quan trọng khi xem xét chuyển đổi (hoặc không) sang canh tác tích hợp hoặc hữu cơ mà cao hơn là một chuyển đổi để sản xuất nông nghiệp bền vững (Lauwere và cộng sự, 2004)
+ Tuổi tác: Tuổi của người ra quyết định sản xuất có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, đối với những hộ có độ tuổi còn trẻ thì chưa có kinh nghiệm nhiều nhưng ham học hỏi, tìm tòi và mạnh dạn áp dụng khoa học
kĩ thuật hơn nên tham gia những buổi tập huấn của các cán bộ chuyên ngành thường xuyên hơn; ngược lại đối với những hộ có độ tuổi khá cao thì việc áp dụng KHKT và những biện pháp canh tác mới đối với họ là không nhiều (Nguyễn Văn Hăng, 2011) Tuổi của chủ hộ phản ánh kinh nghiệm của người nông dân, những người dân có tuổi thường có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất trồng trọt và họ muốn tránh rủi ro nhiều hơn những nông dân trẻ, ngoài ra nông dân trẻ tuổi có thể muốn tập trung trồng những cây trồng có giá trị cao và
họ chỉ muốn chuyên canh Kết quả nghiên cứu của Mai Văn Nam và Nguyễn Thị Ngọc Hoa (2010) chứng tỏ rằng khi tuổi của chủ hộ càng lớn thì sức khỏe càng kém đi, khi đó nếu mở rộng quy mô thì họ sẽ không kiểm soát nổi đàn gia cầm của mình Tuy nhiên, ở độ tuổi càng cao thì chủ hộ càng có nhiều kinh nghiệm để quyết định các vấn đề trong gia đình, đặc biệt là những vấn đề có liên quan đến thu nhập của hộ, cũng như việc tham gia hay lựa chọn hoạt động mang lại thu nhập của hộ (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2011) + Trình độ học vấn: Ở những vùng người lao động có trình độ tay nghề cao, có trình độ canh tác cao hơn thì sẽ có điều kiện thuận lợi để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhanh hơn và đặc biệt tạo điều kiện thuận lợi cho
Trang 21sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại Kết quả nghiên cứu của Yang (2004) cho thấy nông dân có trình độ học vấn cao sẽ thuận lợi hơn trong việc áp dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, sử dụng phân bón và các đầu vào sản xuất tốt hơn, nắm bắt thông tin tốt hơn, và trình
độ học vấn cao cũng tạo điều kiện cho người dân nông thôn có thêm cơ hội để tham gia hoạt động phi nông nghiệp và tìm việc làm ở vùng đô thị Ngược lại, khi trình độ học vấn của nông dân thấp sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc triển khai và áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất (Phạm Lê Thông, Huỳnh Thị Đan Xuân, Trần Thị Thu Duyên, 2011) Do trình độ học vấn của chủ hộ khá thấp nên khả năng tiếp cận và ứng dụng khoa học – kỹ thuật, nắm bắt thông tin liên quan đến sản xuất của hộ cũng hạn chế (như các thông tin về giống, kỹ thuật sản xuất, thị trường đầu ra, tín dụng phục vụ sản xuất ) Từ
đó, làm giảm xu hướng đa dạng các hoạt động tạo thu nhập hoặc chuyển dịch sản xuất từ cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế thấp sang cây trồng, vật nuôi
có giá trị kinh tế cao và kết hợp với ngành nghề phi nông nghiệp của nông hộ (Nguyễn Công Bằng, 2012) Bên cạnh kinh nghiệm chăn nuôi thì trình độ văn hóa có thể liên quan đến khả năng tiếp nhận thông tin và quyết định hành động của mỗi con người (Nguyễn Xuân Bá và ctv, 2008)
+ Kinh nghiệm sản xuất: Là số năm tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp Khi số năm kinh nghiệm của nông hộ càng thấp sẽ làm giảm khả năng mở rộng mô hình (Lê Nguyễn Trúc Thi, 2009) Nông dân có kinh nghiệm lâu năm có thể đạt hiệu quả sản xuất cao Tuy nhiên, họ cũng khá bảo thủ nên việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật tương đối khó (Phạm Lê Thông, Huỳnh Thị Đan Xuân, Trần Thị Thu Duyên, 2011) Kinh nghiệm của chủ hộ đóng vai trò quan trọng trong sản xuất của hộ, thông thường, hộ có nhiều kinh nghiệm sẽ phòng tránh được những rủi ro do thời tiết, khí hậu, phòng trừ sâu bệnh, lựa chọn thời điểm sản xuất và thu hoạch phù hợp với nhu cầu thị trường… do đó góp phần tăng thu nhập cho nông hộ (Nguyễn Công Bằng, 2012)
+ Giới tính: Có rất nhiều nghiên cứu trên thế giới về sự khác biệt giữa nam và nữ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của kinh tế - xã hội Một trong những đề tài phổ biến đó là sự khác nhau trong thu nhập của nam và nữ, các nghiên cứu cho rằng tỉ lệ hộ nghèo thì thường có chủ hộ là nữ, trong khi những hộ khá giả thì chủ hộ thường là nam, nhưng điều đó vẫn chưa thuyết phục khi một nghiên cứu ở Yên Bái và Huế đã cho thấy, sự giàu nghèo của hộ không phụ thuộc vào giới tính của chủ hộ mà nó tùy thuộc vào các yếu tố kinh
tế, xã hội nhân khẩu và văn hóa ở vùng miền đó Trong một bài nghiên cứu của Rehima và cộng sự (2013) cho thấy về sự khác biệt giữa nam và nữ trong
Trang 22sự đa dạng hóa cây trồng ở Ethiopia, kết quả là những chủ hộ là nữ thì thường quan tâm đến an ninh lương thực và đa dạng hóa nguồn thu nhập hơn nam, cho nên khả năng đa dạng hóa cây trồng nếu chủ hộ là nữ thì sẽ cao hơn Nhưng trong một nghiên cứu ở Zambia thì cho kết quả ngược lại (Kimhi and Chiwele, 2000), những hộ có chủ hộ là nữ thì khả năng đa dạng hóa sẽ thấp hơn chủ hộ là nam Cho nên kì vọng của biến này có thể là mang giá trị âm hoặc dương
+ Trình độ kỹ thuật: Trình độ kỹ thuật là biến phức tạp khi đo lường, trong bài nghiên cứu này, để đơn giản, tác giả đo lường trình độ kỹ thuật bằng các buổi tập huấn Khi hộ được tập huấn kỹ thuật thì họ có đủ tự tin để mở rộng quy mô, khi được trang bị kĩ thuật đầy đủ thì họ có thể yên tâm chăm sóc đàn vật nuôi của mình (Mai Văn Nam và Nguyễn Thị Ngọc Hoa, 2010) Nguồn nhân lực – vật lực của nông hộ:
+ Số lao động nông nghiệp: Trong điều kiện sản xuất ít cơ giới hóa, số lượng lao động là yếu tố quan trọng giúp hộ tăng thu nhập Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động chưa phản ánh hết số lao động thực sự trong hộ Nếu số người trong độ tuổi lao động của hộ là cao nhưng trong số này có quá nhiều lao động phụ thuộc, chưa tham gia lao động thì cũng không tạo nên được thu nhập cho hộ như thành viên của hộ là học sinh, sinh viên (Nguyễn Công Bằng, 2012) Ở hoạt động chăn nuôi mang tính chất gia đình như hiện nay thì nguồn lực lao động gia đình sẽ được tận dụng và đóng góp vào thu nhập thuần của hoạt động chăn nuôi Điều này đặc biệt quan trọng để góp phần gia tăng thu nhập nông hộ nếu trong nông thôn không có một hoạt động kinh tế nào được xem là cơ hội cho lao động gia đình nhàn rỗi tham gia hoạt động (Lê Cảnh Dũng và ctv, 2011)
+ Điều kiện tài chính (vốn đầu tư): Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nguồn vốn đầu tư được dùng để thay đổi giống cây trồng, vật nuôi, vật tư nông nghiệp, hiện đại hóa công cụ lao động, hệ thống thủy lợi, áp dụng các quy trình kĩ thuật sản xuất mới, mở rộng quy mô diện tích cũng như trình độ sản xuất (Vũ Thị Kim Cúc, 2011) Nguồn vốn chủ yếu của nông dân
là vốn tự có và vốn vay mượn Việc được vay mượn dễ dàng tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hộ đa dạng hóa, dễ dàng hơn trong tiếp cận thị trường (Abdulai và CroleRees, 2001) Nghiên cứu thực tế về “Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ chăn nuôi gia cầm ở ĐBSCL” của Xuân và Nam (2011) cho thấy rằng, đa phần hộ chăn nuôi đều thiếu vốn để đầu tư vào sản xuất và khi thiếu vốn họ có thể vay vốn từ các nguồn khác nhau: nguồn phi chính thức như bạn bè, người thân, hàng xóm hay nguồn chính thức như ngân
Trang 23hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng công thương và quỹ tín dụng nhân dân Tuy nhiên, vẫn còn một số nông dân vẫn có quan niệm chỉ sử dụng vốn tự có mặc dầu là hạn hẹp nhưng vẫn e dè khi vay vốn, vì không muốn phải “mắc nợ”, do đó việc đầu tư không hiệu quả Những hộ mạnh dạn vay vốn đầu tư thì sẽ hiệu quả hơn Bất kỳ hoạt động nào để tạo thu nhập cũng cần có nguồn vốn đủ lớn để làm cho hoạt động được thông suốt có như vậy việc đầu tư mới có hiệu quả (Nguyễn Công Bằng, 2012) Theo Phạm Thị Mai
và Đỗ Tường Lâm (2011), đối với nguồn lực vốn, nếu các hộ nông dân không
mở rộng quy mô sản xuất thì nhu cầu vay vốn không lớn, nhưng nếu các hộ nông dân muốn mở rộng quy mô sản xuất thì thường bị thiếu vốn và phải đi vay vốn
+ Điều kiện đất đai, phương tiện sản xuất: Việc đẩy mạnh tốc độ ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ làm tăng năng suất lao động nông thôn, cho phép chuyển đổi nhanh cơ cấu ngành nông nghiệp Đất đai là một trong những nguồn lực quan trọng trong quá trình sản xuất, khi hộ chăn nuôi
có diện tích đất càng nhiều thì càng thuận lợi và chủ động trong việc lựa chọn hay tham gia hoạt động tạo thu nhập mà họ cho là phù hợp với điều kiện gia đình (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2011) Tuy nhiên, do đặc điểm của đất đai trong sản xuất nông nghiệp, nông hộ có thể nâng cao độ phì nhiêu của đất, nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích đất canh tác để tăng mức sản lượng Do đó, đối với những hộ có ít đất sản xuất nhưng nếu họ tăng cường đầu tư vốn, sức lao động, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích, thì sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích ngày càng nhiều hơn, mang lại thu nhập cao hơn cho hộ Trên thực tế, những hộ có ít đất sản xuất mà có nhiều lao động thì họ có xu hướng mở rộng “đa cây, đa con” trên một diện tích đất nhất định hoặc các thành viên trong hộ có xu hướng tham gia các hoạt động lao động sản xuất bên ngoài để có thêm thu nhập Ngược lại, nông hộ có diện tích đất sản xuất lớn thường có xu hướng độc canh một loại cây trồng, vật nuôi hoặc cho thuê một phần hay toàn bộ diện tích đất của mình Vì vậy, mức độ đa dạng các nguồn thu nhập của hộ này thấp nhưng mức thu nhập thì tương đối cao do sản lượng hàng hóa nông sản sản xuất lớn (Nguyễn Công Bằng, 2012)
+ Điều kiện kiến thức và kỹ thuật sản xuất: Khi trình độ học vấn được nâng cao thì đồng nghĩa chủ hộ sẽ có nhiều kiến thức hơn, với kiến thức này, người chủ hộ có thể tìm tòi học hỏi kinh nghiệm từ các phương tiện thông tin đại chúng hiện đại ngày nay (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2011) + Thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp: Hoạt động - việc làm phi nông nghiệp (non-farm activities) là khá rộng, bao gồm toàn bộ các hoạt động sản
Trang 24xuất công nghiệp, dịch vụ tại các cơ sở kinh tế và hộ gia đình, không liên quan trực tiếp đến sản xuất cây trồng và vật nuôi, bao gồm cả các hoạt động chế biến nông sản tại nhà cũng như hoạt động làm thuê tại các nhà máy lớn, không bao gồm các hoạt động làm thuê trong nông nghiệp (Lê Xuân Bá, 2001) Đa dạng hóa từ các hoạt động phi nông nghiệp ở từng hộ gia đình, từng khu vực, từng quốc gia sẽ làm giúp tăng thu nhập Ở cấp quốc gia, điều này là tương đương với việc chuyển đổi cơ cấu, sẽ có sự suy giảm dài hạn trong tỷ trọng ngành nông nghiệp vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và vấn đề việc làm trong nền kinh tế đang phát triển Hay nói cách khác những nông hộ có thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp cao có xu hướng ít tham gia vào sản xuất nông nghiệp Sanzidur Rahman (2008) cho rằng tỷ lệ thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp phản ánh tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệp của nông
hộ Những nông hộ có thu nhập từ hoạt động phi nông nghiệp cao sẽ có hiệu quả kỹ thuật thấp trong sản xuất nông nghiệp (e.g., Ali and Flinn, 1989; Wang
et al., 1996) Ở nông thôn, người ta thường lựa chọn hoạt động tạo thu nhập là trồng trọt và chăn nuôi Tuy nhiên, có nhiều hộ chăn nuôi có ít đất sản xuất lại
là động lực làm cho hộ phải tìm cách đa dạng nguồn tạo thu nhập mà không sử dụng đến đất nông nghiệp như những hoạt động phi nông nghiệp là buôn bán, hoặc đi làm thêm chẳng hạn và có thể từ những hoạt động này mà thu nhập của họ lại được cải thiện (Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam, 2011) + Tỷ lệ người phụ thuộc trong gia đình: Những hộ có thu nhập thấp thì khả năng tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp càng cao, phần lớn thu nhập của họ có được là từ các hoạt động làm thuê, làm công nhận lương (phụ
hồ, phục vụ tại các hàng quán ăn uống giải khát, phụ giúp thu hoạch nông sản, làm cỏ,…) Nguyên nhân là do có sự hạn chế nguồn lực đầu vào trong sản xuất nhưng lại dư thừa lao động nên tận dụng thời gian lúc nông nhàn để làm thuê là lựa chọn mang tính chiến lược của nông hộ Tuy nhiên với những hộ
có tỷ lệ phụ thuộc cao, để tăng thu nhập thì nông hộ buộc phải tham gia thị trường lao động hoặc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng đa dạng hóa cây
trồng, vật nuôi (Võ Thị Mỹ Trang, 2009)
1.5.2 Phương pháp phân tích
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi bằng cách lấy số liệu sơ cấp ở Việt Nam hầu như còn rất ít
Nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Ngọc Hoa và Mai Văn Nam
(2010) về “Hiệu quả chăn nuôi gia cầm ở Đồng bằng sông Cửu Long” cho
thấy hoạt động chăn nuôi gia cầm mang lại hiệu quả cao cho người chăn nuôi
về mặt tài chính Để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng
Trang 25quy mô chăn nuôi của nông hộ, các tác giả trên đã sử dụng mô hình hồi quy Probit với biến nhị phân Y nhận hai giá trị là 0 và 1 (Y = 0: hộ không mở rộng quy mô nuôi gia cầm, Y =1: hộ mở rộng quy mô nuôi gia cầm) Các biến được
sử dụng là số lao động hiện có của chủ hộ, tập huấn, tuổi của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, dịch bệnh, diện tích đất nông nghiệp của hộ và vốn Kết quả hồi quy mô hình Probit cho thấy phần trăm dự báo đúng của mô hình khá cao (73,41%) và các biến tập huấn, tuổi của chủ hộ, dịch bệnh và vốn là các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mở rộng quy mô chăn nuôi của hộ
Mai Văn Nam (2004), với nghiên cứu “Các giải pháp phát triển sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm heo ở Cần Thơ – đồng bằng sông Cửu Long”, phương
pháp phân tích SCP (mô hình cấu trúc thị trường), hàm sản xuất Douglass và hàm Probit được sử dụng trong nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy chăn nuôi heo ở quy mô nhỏ (hộ gia đình) có hiệu quả thấp hơn quy
Cobb-mô lớn tập trung và các yếu tố đầu vào như con giống, thức ăn, chế biến sản phẩm và các thể chế chính sách có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Đào Xuân Kiên (2012) đã có nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu cây trồng,
vật nuôi để phát triển nông nghiệp hàng hóa ở Cao Bằng” Mục tiêu của
nghiên cứu này là nghiên cứu lý luận về chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp, khảo sát thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm phát triển nông nghiệp hàng hóa ở tỉnh Cao Bằng và đề xuất một số phương hướng và giải pháp đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trong nông nghiệp của tỉnh thời gian tới Đề tài sử dụng các phương pháp của khoa học kinh tế chính trị Mác – Lênin kết hợp với các phương pháp phân tích như tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh, điều tra
Phan Anh Thư (2009), Đại học Cần Thơ, trong bài: “Phân tích hiệu quả
chăn nuôi gia cầm và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ chăn nuôi gia cầm tại Long An” Các phương pháp được sử dụng trong đề tài như
phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích nhân tố, hàm thu nhập, chỉ số Simpson và phương pháp hồi quy logitic Hồi qui logistic được sử dụng
để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát triển đa dạng ngành nghề của nông hộ với biến Y là tỷ số xác suất xảy ra đa dạng hóa ngành nghề và không thực hiện đa dạng của hộ Các biến giải thích (Xi) trong mô hình ước lượng bao gồm: giới tính của chủ hộ, độ tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, số năm kinh nghiệm chăn nuôi của chủ hộ, số thành viên trong hộ, diện tích đất canh tác, tỷ lệ lao động, khả năng tiếp cận vốn, tập huấn, ảnh hưởng bởi dịch cúm và hướng đa dạng Kết quả hồi quy logistic cho thấy tỷ lệ
dự đoán đúng của mô hình rất cao (91,40%) và các biến ảnh hưởng bởi dịch
Trang 26cúm, khả năng tiếp cận vốn, tỷ lệ lao động và diện tích đất canh tác là các yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định đa dạng hóa ngành nghề
Qua lược khảo các tài liệu liên quan cho thấy, tuy nghiên cứu trong các lĩnh vực khác nhau nhưng cũng có một số nhân tố chung ảnh hưởng đến quyết định mở rộng quy mô hay đa dạng hóa ngành nghề như: giới tính chủ hộ, trình
độ học vấn, kinh nghiệm sản xuất, tuổi của chủ hộ, tập huấn, dịch bệnh, diện tích đất sản xuất và vốn Hầu hết các nghiên cứu này tập trung sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích tần số, hồi quy Probit và hồi quy Logistic… Đây là cơ sở lý luận khoa học giúp tác giả lập mô hình nghiên cứu, ước lượng các biến số cho mô hình, cách sử dụng các công cụ kiểm định thang
đo và phương pháp phân tích số liệu phù hợp với vấn đề nghiên cứu của đề tài
Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ ở huyện Phong Điền” Nội dung đề tài là nghiên cứu thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi ở huyện Phong Điền và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi bằng phương pháp hồi quy Probit và phương pháp tính điểm trung bình đề từ đó đề xuất giải pháp phát triển bền vững ngành Đề tài là cơ sở giúp chính quyền địa phương và các hộ chăn nuôi tìm ra các phương hướng để phát triển bền vững, góp phần nâng cao thu nhập cho các hộ chăn nuôi trên địa bàn huyện
Trang 27CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- -
2.1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế nông nghiệp
2.1.1.1 Cơ cấu kinh tế
Trong cuốn Chuyển dịch cơ cấu và xu hướng phát triển của kinh tế nông
nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa từ thế kỷ XX đến thế kỷ XXI trong “Thời đại kinh tế tri thức” của tác giả Lê Quốc Sử (2001) có
trích dẫn khái niệm về cơ cấu của nhà khoa học Simon Kuznets như sau: Cơ cấu theo Simon Kuznets là “một khung có mạch lạc của các bộ phận có quan
hệ với nhau, mà mỗi một phần có một vai trò riêng biệt nhưng lại cùng có một
số mục tiêu chung” Như vậy, cơ cấu kinh tế là tổng thể các bộ phận của nền kinh tế, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau về mặt chất (Phan Công Nghĩa, 2007) Các bộ phận kinh tế gắn bó và tương tác chặt chẽ với nhau biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, tương quan về chất lượng trong những không gian
và thời gian nhất định, phù hợp với những điều kiện kinh tế xã hội nào đó, nhằm đạt được hiệu quả kinh tế xã hội cao (Lê Đình Thắng, 1998)
Lê Quốc Sử (2001) cũng cho rằng: “Cơ cấu kinh tế là tổng thể mối quan
hệ tác động lẫn nhau giữa các yếu tố và trong từng yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất với những điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể trong những giai đoạn phát triển nhất định của xã hội” Như vậy cơ cấu kinh tế là tổng thể các quan hệ kinh tế hợp thành nền kinh tế, gắn với vị trí, trình độ công nghệ, qui mô, tỷ trọng tương ứng với từng bộ phận mối quan hệ tương tác giữa tất cả các bộ phận, gắn với điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định
Trong kinh tế học1, cơ cấu kinh tế được hiểu là tập hợp mối quan hệ của các bộ phận cấu thành trong tổng thể nền kinh tế Cơ cấu kinh tế là kết quả của quá trình phát triển kinh tế, được định dạng tại một thời điểm nhất định thông qua mối tương quan giữa các bộ phận kinh tế cấu thành và quan hệ của từng cấu thành với đại lượng tổng Vì vậy để mô tả cơ cấu kinh tế, các tỷ lệ (số tương đối) được sử dụng thay cho các định mức (số tuyệt đối) và có thể sử
1 Khái niệm trích từ Từ điển kinh tế (Erwin Dichtl và Otmar Ising, 1994).
Trang 28dụng các đơn vị đo lường khác nhau để tính các tỷ trọng này như giá cả, số lượng (hoặc khối lượng) và giá trị (bằng tiền)
Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành, hợp thành tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối liên hệ giữa các ngành đó của nền kinh tế quốc dân (Đỗ Hoài Nam, 1996) Cơ cấu ngành phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất của nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế được hiểu theo cả hai phương diện chất và lượng Về chất, đó là các quan hệ gắn bó giữa các yếu tố kinh tế trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố này vừa làm điều kiện cho nhau, vừa tác động thúc đẩy nhau đảm bảo cho nền kinh tế vận động cân đối, nhịp nhàng, đem lại hiệu quả cao Về lượng, đó là quan hệ tỷ lệ giữa các yếu tố cấu thành nền kinh tế, quan
hệ này được xác định trong một thời điểm nhất định theo chỉ số kỹ thuật hoặc chỉ số giá trị nên nó luôn vận động, biến đổi tùy thuộc vào từng giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại (Lê Xuân Bá, 2006)
2.1.1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Cho đến nay đã có nhiều đề tài viết về cơ cấu kinh tế nông nghiệp Phần lớn các tác giả trước đây đưa ra những khái niệm chung như cơ cấu kinh tế nông nghiệp là tổng thể các mối quan hệ theo tỷ lệ về số lượng và chất lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế xã hội liên quan đến sản xuất nông nghiệp trong một khoảng thời gian và không gian nhất định (Trần Anh Hùng, 2013) Định nghĩa trên được hiểu cụ thể hơn là cơ cấu kinh tế nông nghiệp là cấu trúc bên trong của ngành nông nghiệp, bao gồm những bộ phận hợp thành ngành kinh tế nông nghiệp và những mối quan hệ tỷ lệ, hữu cơ về mặt lượng
và chất giữa các bộ phận đó trong thời gian và không gian nhất định, bao gồm các ngành nông nghiệp (trồng trọt và chăn nuôi), thủy sản và lâm nghiệp Chăn nuôi bao gồm gia súc và gia cầm (Lê Thị Dinh, 2012)
Theo Phan Công Nghĩa (2007), đặc trưng của cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn là không cố định mà luôn vận động biến đổi Sự tồn tại của nó mang tính khách quan, phụ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Người ta phân biệt 3 loại cơ cấu kinh tế nông nghiệp:
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành kinh tế
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng lãnh thổ
- Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo thành phần kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất
Trang 29Một số ít tác giả cụ thể hóa vấn đề trong chăn nuôi như cơ cấu vật nuôi là thành phần các giống và loại con được bố trí theo không gian và thời gian trong hệ sinh thái nông nghiệp nhằm tận dụng hợp lý các nguồn lợi về tự nhiên, kinh tế - xã hội sẵn có của vùng Cơ cấu vật nuôi là một phận của cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nó còn là một nội dung chủ yếu của hệ thống canh tác nông nghiệp (Đào Xuân Kiên, 2012)
2.1.2 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi tỷ trọng của các ngành hợp thành nền kinh tế Cùng với quá trình hoạt động kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành diễn ra thường xuyên, liên tục Đó là kết quả của sự di chuyển hay phân bổ nguồn lực như vốn, lao động, công nghệ… giữa các ngành Khi nguồn lực di chuyển đến một ngành sẽ có tác động đến đầu ra của ngành (như sản lượng, năng suất lao động) dẫn đến thay đổi tỷ trọng của ngành so với trước, đồng thời tác động tới tăng trưởng năng suất của tổng thể nền kinh tế Một kết quả nữa của quá trình di chuyển nguồn lực đó là làm thay đổi cơ cấu của chính bản thân nó (vốn, lao động) giữa các ngành Nói cách khác, sự di chuyển một yếu tố sản xuất có thể vừa làm thay đổi cơ cấu ngành, vừa làm thay đổi cơ cấu chính nguồn lực đó (Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2007)
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, theo Lê Quốc Sử (2001) là: “Thay đổi cơ cấu bao gồm sự tích lũy vốn vật chất và con người và sự thay đổi về nhu cầu, sản xuất, buôn bán, việc làm Ngoài ra còn có sự thay đổi về các quá trình kinh
tế xã hội kèm theo như đô thị hóa, thay đổi dân số, thay đổi về phân phối thu nhập”
Theo Phạm Thị Khanh (2010) thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi tỷ trọng, vị trí các ngành, các lĩnh vực, các bộ phận kinh tế trên cơ sở phù hợp với điều kiện khách quan và chủ quan nhằm đảm bảo cho nền kinh tế phát triển
Trong tác phẩm “Cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế”, Phan Công Nghĩa (2007) cho rằng cần hiểu chuyển dịch cơ cấu kinh tế như sau:
- Chuyển dịch cơ cấu là sự thay đổi cơ cấu qua thời gian theo cả chỉ tiêu tuyệt đối và chỉ tiêu tương đối (đặc biệt là chỉ tiêu tương đối)
- Phân tích ảnh hưởng kết cấu là phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi kết cấu đến các chỉ tiêu khác (ví dụ: các chỉ tiêu bình quân và các chỉ tiêu tổng mức có liên quan)
- Cần phân tích chuyển dịch kết cấu và ảnh hưởng kết cấu theo các chỉ tiêu khác nhau (sản lượng, giá trị sản xuất, lao động…)
Trang 302.1.3 Khái niệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi
Bởi vì chăn nuôi là một bộ phận trong kinh tế nông nghiệp nên việc xem xét lý thuyết chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi như chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là có cơ sở và hợp lý
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – công nghiệp – dịch vụ, tăng năng suất lao động tạo tiền đề vật chất cho chuyển dịch nông nghiệp thuần nông tự cung tự cấp, năng suất lao động thấp sang nền nông nghiệp năng suất cao (Phí Ngọc Tiếp, 2011) Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phụ thuộc vào việc chuyển đổi cơ cấu của cả nền kinh tế Ở Việt Nam, khái niệm về chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn là “Việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn thể hiện ở việc đa dạng hóa sản xuất, phát triển nông nghiệp toàn diện để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng lên của xã hội và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp nhằm rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp
và nông thôn, tăng năng suất lao động nông nghiệp và tăng thu nhập của hộ nông dân” (Đào Thế Tuấn, Đào Thế Anh, 2005) Về cơ bản, các tác giả đều phát triển từ khái niệm trên và khái quát hóa chúng theo hiểu biết của mình Theo Trần Anh Hùng (2013) thì chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là quá trình phát triển các ngành kinh tế thuộc lĩnh vực nông nghiệp - nông thôn, dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành và làm thay đổi mối quan hệ tương tác giữa chúng so với một thời điểm trước đó mà thường là so với năm trước Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp còn là quá trình làm biến đổi cấu trúc và các mối quan hệ tương tác trong hệ thống theo những định hướng
và mục tiêu nhất định, nghĩa là đưa hệ thống đó từ một trạng thái nhất định tới trạng thái phát triển tối ưu để đạt được hiệu quả mong muốn, thông qua sự điều khiển có ý thức của con người, trên cơ sở vận dụng đúng đắn các quy luật khách quan Xu hướng chủ yếu trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bao gồm: tỷ trọng lao động và giá trị sản lượng nông nghiệp ngày càng giảm, lao động nông nghiệp được rút bớt để chuyển sang công nghiệp và dịch vụ; giảm tỷ trọng giá trị sản phẩm trồng trọt, tăng tỷ trọng giá trị sản phẩm chăn nuôi, đưa chăn nuôi trở thành một ngành sản xuất chính (Đào Xuân Kiên, 2012); tỷ trọng giá trị sản lượng lương thực giảm (nhưng sản lượng tuyệt đối tăng lên do năng suất lao động và năng suất cây trồng tăng cao), tỷ trọng các loại cây công nghiệp và rau quả tăng lên Trong nông nghiệp, bố trí lại các ngành trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và tạo ra thế cân đối mới nhằm khai thác
và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tại chỗ, chuyển dần các loại cây trồng, vật nuôi có năng suất thấp sang những loại cây trồng, vật nuôi có năng suất
Trang 31cao, sản lượng lớn, tỷ trọng hàng hóa cao (Lê Đình Thắng, 2000) Xu thế chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn phụ thuộc vào điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội và các thể chế ở mỗi nơi và mỗi giai đoạn cụ thể (Phan Công Nghĩa, 2007)
Đa số các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nói chung hay chỉ dừng lại ở chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hiện
có rất ít các tác giả nghiên cứu cụ thể các ngành trong nông nghiệp như chăn nuôi Theo Phí Ngọc Tiếp (2011) chuyển đổi cơ cấu vật nuôi là chuyển từ trạng thái vật nuôi cũ sang trạng thái vật nuôi mới để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, phát triển những vật nuôi có triển vọng về thị trường, có giá trị gia tăng cao Việc chuyển đổi cơ cấu cơ cấu vật nuôi cũng được hiểu là sự thay đổi mối quan hệ số lượng vật nuôi, thay đổi về diện tích, phần trăm tỷ trọng trong cơ cấu, sự thay đổi về giá trị sản xuất và giá trị gia tăng của toàn ngành (Phí Ngọc Tiếp, 2011) Trong những năm qua, mối quan
hệ giữa trồng trọt và chăn nuôi, trồng trọt luôn chiếm ưu thế, được ưu tiên nhiều hơn chăn nuôi Nhưng từ năm 2001 đến năm 2010 trở đi, xu hướng chuyển dịch cơ cấu trong ngành chăn nuôi nói chung là tỷ trọng chăn nuôi phải lớn gấp 3 lần trồng trọt, chăn nuôi phải trở thành ngành mũi nhọn của nông nghiệp thành phố (Lê Quốc Sử, 2001)
Lê Viết Ly (2010) nghiên cứu đặc điểm chung của chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trên thế giới và tại Việt Nam trong điều kiện biến đổi khí hậu:
- Tăng cường đầu tư sâu (thức ăn tinh từ thị trường thế giới, nuôi dưỡng chính xác, giống tốt, sạch mầm bệnh)
- Mở rộng quy mô (số nhà chăn nuôi giảm, mở rộng quy mô sau thu hoạch, nhà giết mổ, nhà máy sữa)
- Sự tập trung địa lý cao (hạ tầng cơ sở)
- Kết hợp dọc, chuỗi thực phẩm dài ra (các Công ty liên kết, chăn nuôi hợp đồng, siêu thị)
- Công nghệ cao được áp dụng, hiệu quả cao
- Thức ăn tinh có ảnh hưởng to lớn đến môi trường (gián tiếp đối với việc sử dụng đất)
- Thực phẩm sạch, nhưng cùng với đầu tư sâu là vấn đề mới xuất hiện: những bệnh mới
- Trang trại lớn, giảm nhu cầu lao động - mất thu nhập, mất việc làm
Trang 32- Tập trung cao dẫn đến ô nhiễm đất và nước - mối lo của sức khoẻ cộng đồng
- Sự kết hợp dọc (chuỗi ngành hàng dài ra) làm giảm chi phí nhưng mang lại nguy cơ: người chăn nuôi nhỏ bị đẩy ra ngoài
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là cần thiết, nhưng vấn đề đặt ra là phải xác định rõ phương hướng chuyển dịch cơ cấu, không nên dập khuôn may móc, hoặc nóng vội muốn thay đổi cơ cấu kinh tế khi những điều kiện và những yếu tố cần thiết để thực hiện nó không đảm bảo CNH – HĐH nông nghiệp và nông thôn đòi hỏi phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nhưng việc thực hiện lại tùy thuộc vào điều kiện và đặc điểm của từng vùng, từng địa phương cũng như chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong thời
kỳ nhất định (Lê Đình Thắng, 2000)
2.1.4 Hiệu quả kinh tế - xã hội
Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra
là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó
Quyền Đình Hà (2005) trong tác phẩm “Kinh tế sử dụng đất” đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế như sau:
Tổng thu = Sản lượng sản phẩm × Giá bản sản phẩm
Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi phí đã sử dụng
Hiệu quả sử dụng chi phí = Lợi nhuận/Tổng chi phí đã sử dụng
Theo đó chi phí sản xuất bao gồm: tiền công lao động tính bằng giá công việc theo mùa tại địa phương, tiền mua vật tư hóa chất, phân bón, tiền vận chuyển, chi phí chế biến (nếu có) và chi phí tiêu thụ tính theo giá thực tế nông dân phải trả… Giá trị sản lượng tính theo thời giá bình quân trong năm của mỗi loại
Doanh thu/Chi phí: Cho biết 1 đồng chi phí nông hộ đầu tư thì thu được bao nhiêu đồng thu nhập Tỷ số này lớn hơn 1 càng nhiều càng tốt (đầu tư có hiệu quả), nhỏ hơn hoặc bằng 1 đầu tư kém hiệu quả hoặc hòa vốn
Trang 33Lợi nhuận/Chi phí (TSLN): Nói lên 1 đồng chi phí bỏ ra thì nông hộ sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận Đây chính là tỷ suất lợi nhuận Tỷ số này lớn hơn 1 càng nhiều thì việc đầu tư càng hiệu quả
Lợi nhuận/Doanh thu: Cho biết 1 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận hay phản ánh mức lợi nhuận so với doanh thu
Hiệu quả xã hội
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) hiệu quả về mặt xã hội của việc sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định thông qua khả năng tạo việc làm trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp Vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề như giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí cho người dân
Theo hội Khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau:
Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân
Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng
Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân
Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật…
Tăng cường sản phẩm hàng hóa, đặc biệt là hàng xuất khẩu
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ huyện Phong Điền
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ huyện Phong Điền nhằm xác định nguyên nhân cơ bản nào khiến nông hộ không chuyển đổi hay chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trong giai đoạn 2004 – 2014
Mô hình hồi qui Probit được xây dựng để nghiên cứu xác suất lựa chọn quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi với các biến độc lập như giới tính của người ra quyết QĐSX, tuổi của người ra QĐSX, trình độ học vấn của người ra QĐSX, trình độ kỹ thuật, tỷ lệ người phụ thuộc trong gia đình, số lao động nông nghiệp, doanh thu phi nông nghiệp, khoảng cách từ nhà đến chợ và vốn đầu tư
Trang 34Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất Biến phụ thuộc Y là biến giả nhận giá trị 0 nếu nông hộ lựa chọn không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi và nhận giá trị 1 nếu nông hộ lựa chọn chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi
Các biến giải thích được diễn giải chi tiết trong bảng sau (bảng 2.1)
SỐ LAO ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN
TỶ LỆ NGƯỜI PHỤ THUỘC
GIỚI TÍNH CỦA NGƯỜI RA QĐSX
Trang 35Bảng 2.1 Mô tả các biến chi tiết
vọng TRINHDOHOCVAN
TYLENGUOIPHUTHUOC Tỷ số giữa tổng số người phụ thuộc
trên tổng số nhân khẩu của hộ
2.2.2 Đánh giá mức độ đồng ý của nông hộ đối với các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi
Dựa vào cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tác giả xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của nông hộ huyện Phong Điền như hình 2.2 Mô hình nghiên cứu này khác với mô hình trên là chỉ nghiên cứu trên những đối tượng đã chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi để xác định những nguyên nhân nào khiến họ phải chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi trong giai đoạn 2004 – 2014 Các tiêu chí trong mô hình sẽ được nông hộ đánh giá bằng thang đo liker 5 mức độ
Trang 36Hình 2.2 Mô hình nghiên cứu quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi Bảng 2.2 Diễn giải các biến của mô hình nghiên cứu
Mã hóa Nội dung Loại biến Tác giả
ĐĐCN2 Có kinh nghiệm tổ chức SXNN Liker 1-5
ĐĐCN3 Nhận thức được vấn đề bảo vệ sức khỏe cho cá nhân và cộng
đồng
Liker 1-5
ĐĐCN4
Nhận thức được vấn đề bảo vệ môi trường và điều kiện sinh thái cho phát triển NNBV
Liker 1-5
ĐĐCN5 Nhận thấy mô hình mới phù hợp với xu hướng, điều kiện
kinh tế thị trường mới
Liker 1-5
Nguyễn Công Bằng (2012), Phạm Thị Mai
và Đỗ Tường Lâm (2011), Abdulai và CroleRees (2001), Huỳnh
NL2 Đảm bảo điều kiện tài chính
cho việc chuyển đổi mô hình Liker 1-5 NL3
Đảm bảo nguồn vật lực (đất đai, phương tiện sản xuất) cho chuyển đổi mô hình
Liker 1-5
QUYẾT ĐỊNH CHUYỂN ĐỔI
ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI RA QUYẾT ĐỊNH SẢN XUẤT (5 tiêu chí)
NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VẬT LỰC CỦA NÔNG HỘ (4 tiêu chí)
Trang 37Mã hóa Nội dung Loại biến Tác giả NL4
Đảm bảo kiến thức và kĩ thuật sản xuất cho việc chuyển đổi
mô hình
Liker 1-5
Thị Đan Xuân
và Mai Văn Nam (2011)
Liker 1-5
Phạm Thanh
Vũ và ctv (2013), Vũ Thị Kim Cúc (2011), Lê Thanh Phong
và cộng sự (2007),
Nguyễn Quang Viết (2013), Huỳnh Trường Huy và cộng
sự (2007), Nguyễn Quang Tuyến (2013),
Lê Đình Thắng, (2000)
KTXH2
Yêu cầu thị trường (chất lượng, chủng loại, giá cả) đối với loại nông sản của mô hình mới
Liker 1-5
KTXH3 Sức hút từ lợi nhuận của mô hình chuyển đổi mang lại Liker 1-5
KTXH4
Nhận được sự hỗ trợ (giống, phân thuốc, đầu ra, kĩ thuật…) của chính quyền địa phương
Liker 1-5
KTXH5
Điều kiện cơ sở hạ tầng nông nghiệp (đường xá, cầu cống, điện nước…)
và cộng sự (2012),
Rehima et al (2013), Phạm Thanh Vũ và ctv (2013)
TN2
Điều kiện đất đai và khí hậu phù hợp với mô hình chuyển đổi
Liker 1-5
TN3
Điều kiện về vị trí sản xuất (đường nước, giao thông, chợ…) thuận lợi cho việc chuyển đổi mô hình
Liker 1-5
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp, 2014
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.3.1.1 Đối với số liệu thứ cấp
Số liệu của đề tài được thu thập, xử lý và tổng hợp từ kết quả tổng kết của Niên giám thống kê huyện Phong Điền năm 2013 Tác giả còn tham khảo các sách báo, tạp chí khoa học và công trình nghiên cứu có liên quan
Trang 382.3.1.2 Đối với số liệu sơ cấp
Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua cuộc phỏng vấn trực tiếp 90 hộ nông dân bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại các xã: Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Giai Xuân và Mỹ Khánh
Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện vì mục đích nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu sự chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi, do đó tác giả chỉ lựa chọn những nông hộ có hoạt động chăn nuôi theo hướng kinh doanh mà đặc biệt là những hộ có sự chuyển đổi cơ cấu trong giai đoạn 2004 – 2014 Việc có chủ định trước khi chọn mẫu giúp tác giả thuận lợi cho việc lựa chọn đáp viên, tiết kiệm được thời gian, tiến hành thu dữ liệu nhanh chóng và do vậy sẽ tiết kiệm được chi phí điều tra Tuy nhiên, phương pháp này cũng có hạn chế là mẫu có tính đại diện không cao
Chi tiết về cỡ mẫu được khảo sát thể hiện dưới hình 2.3 như sau:
Nguồn: Số liệu điều tra trực tiếp của tác giả, 2014
Hình 2.3 Các nhóm nông hộ nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài là các nhóm nông hộ chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi và không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi Trong cơ cấu các nhóm nông hộ cần nghiên cứu thì nhóm nông hộ không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi chiếm đa số với 71 hộ (78,89%), nhóm nông hộ chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi chiếm tỷ lệ nhỏ với 19 hộ (21,11%)
Cỡ mẫu được khảo sát có sự phân bố không đồng đều là do hoạt động chăn nuôi hiện nay của các gia đình chủ yếu là nhỏ lẻ, manh mún nên không phù hợp với đối tượng nghiên cứu của đề tài Bên cạnh đó, chăn nuôi là ngành nghề truyền thống ở nông thôn nên họ thường gắn bó lâu dài với từng vật nuôi
cụ thể và ít có sự thay đổi trong cơ cấu Mặt khác, nhiều trại chăn nuôi có quy
Chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 21,11%
Không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi 78,89%
Trang 39mô chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các dịch bệnh nên bỏ chuồng, do đó làm giới hạn số lượng đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, qua quá trình phỏng vấn trực tiếp các nông hộ, tác giả nhận thấy rằng mỗi xã đều có những đặc trưng, thuận lợi và khó khăn riêng nên tác giả kì vọng rằng số quan sát thu được có thể đảm bảo tính đại diện cho tổng thể và kết quả nghiên cứu có thể suy rộng ra tổng thể
2.3.2 Phương pháp phân tích
Đề tài sử dụng phần mềm thống kê SPSS và STATA để hỗ trợ trong việc phân tích số liệu Phương pháp phân tích được xác định theo từng mục tiêu cụ thể:
Mục tiêu 1: Phương pháp thống kê mô tả và so sánh với các chỉ tiêu như tần số, số trung bình, giá trị nhỏ nhất, lớn nhất, độ lệch chuẩn… được sử dụng
để phân tích và đánh giá thực trạng chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi tại huyện Phong Điền
Mục tiêu 2: Để xác định các nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến xác suất lựa chọn chuyển đổi hay không chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi, tác giả sử dụng
mô hình hồi qui Probit, sau đó sử dụng phương pháp thống kê mô tả tính trị trung bình để xử lý số liệu và xác định mức độ đồng ý dựa vào giá trị khoảng cách để xác định các yếu tố chủ yếu mà nông hộ đồng ý rằng ảnh hưởng đến quyết định chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi của họ
Hồi quy Probit
Hồi quy Probit, đôi khi còn được gọi là mô hình Probit, được sử dụng để ước lượng mô hình có biến phụ thuộc dạng nhị phân Trong hồi quy Probit, nghịch đảo của hàm phân phối xác suất chuẩn hóa là sự kết hợp tuyến tính của các biến giải thích
Mô hình Probit được giới thiệu lần đầu tiên bởi Chester Bliss vào năm
1935 Giả sử theo phân tích đơn vị xác suất là có một phương trình phản ứng
có dạng:
Y*
t = a + βXt + ut
với Xt là biến có thể quan sát được nhưng Y*
t là biến không thể quan sát được
ut/σ có phân phối chuẩn chuẩn hóa Những gì chúng ta quan sát được trong thực tế là Yt, nó mang giá trị 1 nếu Y*
t > 0 và bằng 0 nếu các giá trị khác Do
đó, chúng ta có Yt = 1 nếu a + βXt + ut > 0, Yt = 0 nếu a + βXt + ut < 0 Nếu chúng ta ký hiệu F(z) là hàm xác suất tích lũy của phân phổi chuẩn chuẩn hóa, tức là, F(z) = P(Z ≤ z), thì
Trang 40Trong đó ∅(𝑡) là hàm phân phối chuẩn
Trong nghiên cứu này, mô hình Probit được sử dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc nông hộ có chuyển đổi cơ cấu chăn nuôi hay không Ta có mô hình Probit tổng quát sau:
0: Không chuyển đổi
X1, X2,… X10 là các biến độc lập (biến giải thích) được diễn giải chi tiết trong Bảng 2.1
Mục tiêu 3: Kết hợp kết quả phân tích từ mục tiêu 1 và mục tiêu 2 ma trận SWOT để đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bền vững cho nông hộ, giúp hộ có thêm điều kiện để gia tăng sản xuất và phát triển kinh
tế
Nội dung trong phân tích ma trận SWOT:
- Các điểm mạnh (S): Những ưu điểm từ trong ngành đang được sử dụng
và có tác động tích cực đến hiệu quả chăn nuôi
- Các điểm yếu (W): Các nhược điểm từ trong ngành và có ảnh hưởng không tốt đến chăn nuôi Do đó chúng ta cần phải tìm cách khắc phục và cải thiện
- Các cơ hội (O): Những cơ hội có được từ môi trường vĩ mô nhằm tạo điều kiện phát huy tốt hiệu quả chăn nuôi