BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ---o0o--- Họ và tên người hướng dẫn: Hoàng Thị Hồng Lộc Học vị: Thạc sĩ Chuyên ngành: Chính sách Công Cơ quan công tác: Khoa Kinh tế - Q
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ THAM GIA VÀO KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TRÊN
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ THANH TUYỀN
MSSV: 4113966
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ THAM GIA VÀO KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TRÊN
Cần Thơ, tháng 12 – 2014
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Những năm tháng ngồi trên giảng đường với sự chỉ dạy của thầy cô trường Đại Học Cần Thơ là khoảng thời gian mà em được học hỏi rất nhiều kinh nghiệm, tích lũy được khá nhiều kiến thức và đó sẽ là nền tảng cho em hoàn thành tốt bài luận văn này và hơn nữa sẽ giúp em vững bước trên con đường tương lai
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quý Thầy Cô Khoa Kinh Tế và Quản trị kinh doanh – Trường Đại Học Cần Thơ, đã truyền đạt cho em những kiến thức
bổ ích về chuyên ngành, giúp em nền tảng vững chắc hỗ trợ đắc lực cho việc làm của em sau này Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô Hoàng Thị Hồng Lộc, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành tốt quyền luận văn này
Cuối cùng, em xin chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và gặp nhiều may mắn
trong cuộc sống
Cần Thơ, ngày 8 tháng 12 năm 2014
Người thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Trang 5BẢN NHẬN XÉT LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
-o0o -
Họ và tên người hướng dẫn: Hoàng Thị Hồng Lộc
Học vị: Thạc sĩ
Chuyên ngành: Chính sách Công
Cơ quan công tác: Khoa Kinh tế - QTKD
Tên sinh viên: Nguyễn Thị Thanh Tuyền
Mã số sinh viên: 4113966
Chuyên ngành: Kinh tế học
Tên đề tài: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ THAM GIA VÀO KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
NỘI DUNG NHẬN XÉT
1 Tính phù hợp của đề tài với chuyên ngành đào tạo:
Chủ đề nghiên cứu phù hợp với chuyên ngành đào tạo
2 Về hình thức trình bày:
Hình thức trình bày rõ ràng, thẩm mỹ, đúng theo qui định của Khoa
3 Ý nghĩa khoa học, tính thực tiễn và cấp thiết của đề tài:
Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn, cung cấp luận cứ khoa học quan trọng đối với việc quản lý và xây dựng chính sách hỗ trợ người nhập cư và đảm bảo an sinh xã hội đối với người tham gia khu vực kinh tế phi chính thức ở thành phố Cần Thơ
4 Độ tin cậy của số liệu và tính hiện đại của đề tài:
Với cỡ mẫu và các bước tiến hành thu thập số liệu phù hợp, vì thế số liệu
sơ cấp của đề tài mang tính hiện đại và đảm bảo độ tin cậy
5 Nội dung và kết quả đạt được:
Kết quả nghiên cứu giải quyết được các mục tiêu đặt ra
6 Kết luận chung: Đạt yêu cầu của một luận văn tốt nghiệp đại học
Cần Thơ, ngày 10 tháng 12 năm 2014
Người nhận xét
Hoàng Thị Hồng Lộc
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu 3
1.4.3 Giới hạn không gian nghiên cứu 3
1.4.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu 4
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 4
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong khu vực kinh tế phi chính thức 4
1.5.2 Một số phương pháp nghiên cứu cho mô hình hiệu quả kinh doanh trong khu vực KTPCT 10
1.5.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý người lao động trong khu vực KTPCT 13
1.5.4 Định hướng nghiên cứu 16
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 18
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh 18
2.1.2 Khái niệm về tỷ suất lợi nhuận 19
2.1.3 Khái niệm nhập cư 21
2.1.4 Một số khái niệm về kinh tế phi chính thức 21
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 25
2.2.1 Cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu 25
Trang 72.2.2 Mô hình nghiên cứu 26
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3.2 Mô tả cỡ mẫu khảo sát 29
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 30
2.3.4 Quy trình nghiên cứu 30
CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 32
3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 32
3.1.1 Vị trí địa lí 32
3.1.2 Khí hậu 33
3.1.3 Đất đai và sông ngòi 33
3.1.4 Lịch sử hình thành 34
3.1.5 Đơn vị hành chính 34
3.2 TÌNH HÌNH KINH TẾ VÀ XÃ HỘI 35
3.2.1 Tình hình kinh tế 35
3.2.2 Tình hình xã hội 39
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 49
4.1 THỰC TRẠNG CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ THAM GIA VÀO KHU VỰC KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC 49
4.1.1 Thông tin chung của lao động nhập cư 49
4.1.2 Thông tin cá nhân của người nhập cư 51
4.1.3 Thực trạng kinh doanh trong khu vực KTPCT tại TPCT 55
4.1.4 Các kiểm định sự khác biệt trong mô hình nghiên cứu 68
4.2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TRONG KHU VỰC KTPCT 70
4.3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KIH DOANH CỦA NGƯỜI NHẬP CƯ TRONG KHU VỰC KTPCT 73
4.3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao 73
Trang 84.3.2 Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh trong khu vực
KTPCT 81
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
5.1 KẾT LUẬN 86
5.2 KIẾN NGHỊ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC 1 91
PHỤ LỤC 2 96
PHỤ LỤC 3 102
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập trong phương trình hồi qui tuyến tính 25
Bảng 2.2: Thống kê số mẫu quan sát trên địa bàn TPCT 29
Bảng 3.1: Bảng đơn vị hành chính cấp quận, huyện tại TPCT 34
Bảng 3.2: Giá trị sản xuất theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế của TPCT 35
Bảng 3.3: Tổng sản phẩm theo giá hiện hành phân theo khu vực kinh tế của địa bàn TPCT 36
Bảng 3.4: Tổng sản phẩm trên địa bàn TPCT bình quân đầu người 39
Bảng 3.5: Diện tích, dân số trung bình và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện/quận/thị xã/thành phố 39
Bảng 3.6: Dân số trung bình phân theo thành thị, nông thôn trên địa bàn 42
Bảng 3.7: Tỷ suất nhập cư phân theo giới tính và thành thị, nông thôn 44
Bảng 3.8: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo thành thị, nông thôn 44 Bảng 3.9: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo giới tính 45
Bảng 4.1: Thông tin về gia đình của người nhập cư 49
Bảng 4.2: Thông tin cá nhân của người nhập cư trong khu vực KTPCT 52
Bảng 4.3: Độ tuổi và trình độ của người nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT 53 Bảng 4.4: Lí do lao động nhập cư tham gia vào hoạt động KTPCT tại TP.Cần Thơ 55
Bảng 4.5: Hiệu quả kinh doanh phân theo lĩnh vực kinh doanh 56
Bảng 4.6: Hình thức và lĩnh vực kinh doanh của người nhập cư 57
Bảng 4.7: Số giờ kinh doanh của lao động nhập cư trong khu vực KTPCT 58
Bảng 4.8: Nguồn vốn kinh doanh trong hoạt động KTPCT 59
Bảng 4.9: Cơ cấu chi phí, doanh thu và lợi nhuận theo từng lĩnh vực kinh doanh trong KTPCT 60
Bảng 4.10: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của người lao động nhập cư trong khu vực KTPCT 63
Trang 10Bảng 4.11: Xu hướng đổi nghề của người nhập cư trong khu vực KTPCT 66Bảng 4.12 Sự khác biệt trong mô hình nghiên cứu 68Bảng 4.13: Sự khác biệt về hiệu quả kinh doanh giữa các lĩnh vực kinh doanh trong khu vực KTPCT 69Bảng 4.14: Các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh của người nhập cư 70Bảng 4.15: Lợi ích của hoạt động KTPCT đối với người địa phương 74Bảng 4.16: Thống kê ý kiến của người dân về những hành vi vi phạm trong các hoạt động ở khu vực KTPCT 75Bảng 4.17: Tình hình giám sát hoạt động KTPCT của cơ quan quản lý 77Bảng 4.18: Ý kiến của người dân về các hình thức chế tài trong khu vực KTPCT 78
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của người nhập
cư tại Cần Thơ 26
Hình 2.2 Sơ đồ quá trình nghiên cứu 31
Hình 3.1 Bản đồ hành chính địa bàn TPCT 32
Hình 3.2 Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn phân theo khu vực kinh tế 38
Hình 3.3 Dân số trung bình phân theo giới tính trên địa bàn 41
Hình 3.4: Tỷ suất sinh thô, tỷ suất chết thô và tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của TPCT năm 2013 43
Hình 3.5 Tỷ lệ thất nghiệp của TPCT giai đoạn 2009-2013 48
Hình 4.1 Tỷ lệ số người phụ thuộc trong gia đình của người nhập cư 50
Hình 4.2 Tỷ lệ số người tham gia vào hoạt động kinh tế phi chính thức của hộ nhập cư 51
Hình 4.3 Lí do người dân ngoại tỉnh nhập cư vào TPCT 54
Hình 4.4 Đánh giá khách quan của người nhập cư về các yếu tố có mức ảnh hưởng đến HQKD 65
Hình 4.5 Thái độ của người dân địa phương đối với hoạt động KTPCT 76
Bảng 4.17: Tình hình giám sát hoạt động KTPCT của cơ quan quản lý 77
Hình 4.6Đánh giá chung của người dân địa phương về hoạt động KTPCT 79
Hình 4.7 Ý kiến của người dân về việc cấm hoạt động KTPCT 80
Trang 12DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
KTPCT : Kinh tế phi chính thức HQKD: Hiệu quả kinh doanh ROS: Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (Return On Sales) TPCT: Thành phố Cần Thơ
BHR: Bán hàng rong UBND: Ủy Ban Nhân Dân SXKD: Sản xuất kinh doanh CNH-HĐH: Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Hiện nay, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh dẫn đến nhiều lao động nông nghiệp rơi vào tình trạng thiếu việc làm hoặc do tính chất công việc nhàn rỗi trong nông nghiệp; nên các dòng di chuyển lao động từ nông thôn ra thành thị diễn ra thường xuyên, với quy mô và tần suất lớn để tìm việc làm với mục đích tăng thu nhập, ổn định cuộc sống Tuy nhiên, khả năng họ tìm được việc làm chính thức ở các nhà máy, xí nghiệp là rất thấp; vì đa số họ là những lao động chưa qua đào tạo tay nghề và có trình độ chuyên môn kém Tác giả nước ngoài Harris và Todaro (1970) cho rằng “Quyết định di chuyển kết hợp những
kỳ vọng của những người di cư tiềm năng về khả năng thu nhập cho phép họ
có thu nhập cao hơn và cuộc sống khá hơn Hai tác giả cũng cho rằng những người di cư mong chờ có thể nhận được việc làm tốt và có thu nhập cao nên
họ chấp nhận thất nghiệp hay thiếu việc để chờ đợi cơ hội việc làm tốt trong tương lai.” 1 Vì thế, những đối tượng nhập cư này có xu hướng tham gia vào khu vực KTPCT ngày càng mạnh mẽ Ở các nước đang phát triển có hơn 900 triệu người được coi là đang làm việc phi chính thức – chiếm hơn một nửa tổng số công việc trong các lĩnh vực phi nông nghiệp (OECD 2009a) Ở một
số vùng, trong đó có khu vực cận Sahara ở Châu Phi và Nam Á, lao động phi chính thức còn chiếm tỷ lệ cao hơn, trên 80% đang làm các công việc phi nông nghiệp trong khu vực phi chính thức (OECD 2009a; Maligalig, ADB 2007) Trong khi đó, nước ta có lực lượng lao động tham gia nền kinh tế phi chính thức chiếm 82% trong số lao động có việc làm và 2/3 lao động phi nông nghiệp2, đóng góp khoảng 20% vào GDP của cả nước3 Mặc dù kinh tế phi chính thức là một khu vực chủ chốt trong nền kinh tế của các nước đang phát triển nhưng cho đến nay ở nhiều quốc gia, khu vực này vẫn chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng về chính sách Thậm chí ở một số nơi, đôi lúc còn có cách nhìn tiêu cực, định kiến và “nặng chính thức, nhẹ phi chính thức” Tuy nhiên, cũng có khá nhiều bài nghiên cứu về khu vực kinh tế phi chính thức ở các
1
Harris, J.R et M.P Todaro, 1970 Migration, Unemployment and Development: a Two-Sector
Analysis American Economic Review 60(1) pp 126-142
2
Jean-Pierre Cling, Mireille Razafindrakoto và François Roubaud (3/2010)
3
Trích trong Hồ Đức Hùng và cộng sự (2012)
Trang 14nước đang phát triển trên thế giới, trong đó có Việt Nam, khẳng định sự đóng góp tích cực của khu vực này vào tăng trưởng kinh tế chung của cả nước Năm 2013,Việt Nam ước tính khoảng 34,2% trong tổng số lao động 15 tuổi trở lên tham gia vào nền kinh tế phi chính thức4, phần lớn họ là những người nhập cư vào các thành phố lớn Chính những việc làm phi chính thức đã giúp họ có được nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống không chỉ cho cá nhân người lao động mà còn hi vọng đóng góp thu nhập cải thiện cuộc sống cho cả gia đình ở quê; hơn thế, thu nhập của họ còn góp phần vào tăng trưởng kinh tế địa phương Bên cạnh những mặt tích cực do người nhập cư mang lại khi họ tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức thì song song đó vẫn còn tồn tại nhiều bất cập như lấn chiếm lòng đường, gây mất trật tự và vệ sinh đường phố, tệ nạn xã hội
Trong cuộc sống hằng ngày, thật dễ dàng bắt gặp hình ảnh những hoạt động KTPCT diễn ra tại TPCT, điển hình là vào mọi lúc người dân đều có thể mua hàng hóa trên đường phố hoặc ăn bát phở hay sửa xe trên vỉa hè, đi xe ôm hay may quần áo ở nhà hàng xóm… Thành phố Cần Thơ – một Thành phố trung tâm của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long đang trên đà phát triển mạnh mẽ với mức chi phí sống không quá cao nên Cần Thơ chính là điểm đến phù hợp nhất cho lao động nhập cư từ các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long
Do đó, trước tình trạng dân nhập cư ồ ạt vào TPCT tham gia vào khu vực kinh
tế phi chính thức để kiếm sống, thu nhập của họ có được cải thiện, đời sống sau khi nhập cư có thực sự được nâng cao và những yếu tố nào tác động đến thu nhập của họ, cần có những giải pháp nào để giải quyết những bất cập vừa được nêu trên và những chính sách thiết thực giúp họ có cuộc sống ổn định đang là những vấn đề cần được quan tâm Chính vì thế, tác giả chọn đề tài
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của lao động nhập cư tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức trên địa bàn Thành phố Cần Thơ” làm luận văn tốt nghiệp
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố tác động đến HQKD của người nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao HQKD và cải thiện đời sống cho người nhập cư trên địa bàn TPCT
Trang 15Các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu cần giải quyết như sau:
+ Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng kinh doanh của người dân nhập cư
tham gia vào khu vực KTPCT trên địa bàn TPCT
+ Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của người
nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT trên địa bàn TPCT
+ Mục tiêu 3: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao HQKD và cải thiện
đời sống cho lao động nhập cư tại TPCT trong thời gian tới
1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
(1) Thực trạng lao động nhập cư tham gia vào các hoạt động KTPCT và
họ kinh doanh ra sao?
(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến HQKD của người nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT?
(3) Cần có những giải pháp nào giúp nâng cao tính hiệu quả trong kinh doanh và cải thiện đời sống cho lao động nhập cư trong khu vực KTPCT tại TPCT?
1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người lao động nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT trên địa bàn TPCT
1.4.2 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, nội dung nghiên cứu tập trung phân tích HQKD của lao động nhập cư trên địa bàn TPCT thông qua chỉ số lợi nhuận trên doanh thu (ROS) Trên lý thuyết kinh tế có rất nhiều chỉ số để đánh giá hiệu quả kinh doanh tìm hiểu và khám phá ra các nhân tố tác động đến HQKD của họ Bên cạnh đó, dựa trên những mẫu quan sát được phỏng vấn trực tiếp
và tiếp cận các nghiên cứu khoa học trước đây cũng như tìm hiểu các thông tin thứ cấp từ các trang mạng có uy tín để hiểu rõ những thuận lợi và khó khăn của người nhập cư khi tham gia vào khu vực KTPCT, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp giúp người nhập cư tham gia vào khu vực kinh tế phi chính thức đạt hiệu quả và mang lại thu nhập cao hơn
1.4.3 Giới hạn không gian nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu tập trung một số quận, huyện TPCT bao gồm: Ninh Kiều, Cái Răng, Bình Thủy, Ô Môn, Cờ Đỏ, Thới Lai và Vĩnh Thạnh Chủ yếu là khu vực thành thị như quận Ninh Kiều, quận Cái Răng là nơi thu hút
Trang 16được nhiều lao động nhập cư di cư đến sinh sống và làm việc Vì quận Ninh Kiều và Cái Răng là hai trung tâm của TPCT nên có dân cư đông đúc và là nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, đặc biệt là những hoạt động KTPCT Bên cạnh
đó, các khu vực còn lại như Bình Thủy, Ô Môn, Cờ Đỏ, Thới Lai và Vĩnh Thạnh cũng có đối tượng nhập cư tham gia vào nền kinh tế phi chính thức nhưng xác suất thấp, tuy nhiên các địa bàn có nhiều đối tượng nhập cư tham gia vào các hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế phi chính thức và phổ biến của thành phố, đa dạng về hình thức Vì thế, việc chọn khu vực khảo sát là 7 quận, huyện trên sẽ có tính đại diện cao cho tổng thể
1.4.4 Giới hạn thời gian nghiên cứu
- Đối tượng trong nghiên cứu là lao động nhập cư tham gia vào các hoạt động
trong khu vực KTPCT từ hai tháng trở lên tính đến thời điểm nghiên cứu
- Số liệu sơ cấp của đề tài phản ánh thực trạng nhập cư và việc làm của lao động nhập cư trong khu vực kinh tế phi chính thức Ngoài ra, đề tài còn thu thập số liệu thứ cấp nhằm phản ánh đặc điểm chung của địa bàn nghiên cứu là TPCT và phản ánh một phần thông tin chung của lao động nhập cư có tham gia khu vực kinh tế phi chính thức trên địa bàn TPCT giai đoạn từ năm
2011 đến năm 2013
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 12 năm 2014
1.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.5.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập trong khu vực kinh tế phi chính thức
Đến thời điểm này, các nghiên cứu về thu nhập trong khu vực kinh tế phi chính thức ở trong và ngoài nước là khá nhiều, tuy nhiên, việc thu thập số liệu sơ cấp về tình hình hoạt động kinh tế trong khu vực này còn nhiều hạn chế bởi giới hạn về thời gian và quy mô của nghiên cứu Trong điều kiện nghiên cứu cụ thể của mình, tác giả đã tiếp cận các nghiên cứu trước đây để tìm ra các yếu tố có ảnh hưởng đến thu nhập của lao động nhập cư trong khu vực phi chính thức
Trong một nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chí (2010) cũng gần như đưa ra kết quả tương tự khi các yếu tố vừa nêu trên đều có ảnh hưởng đến lựa chọn công việc và tạo thu nhập của người lao động Kết quả của nghiên cứu cho thấy nhìn chung người lao động trong khu vực phi chính thức đều chịu thiệt thòi, cho dù họ có phải là người lao động ngoại tỉnh hay không và người lao động từ các vùng nông thôn thường là người chịu thiệt thòi nhiều nhất Ngoài
ra, một nghiên cứu khác của nhóm tác giả Hồ Đức Hùng, Nguyễn Duy Tâm và
Trang 17Mai Thị Nghĩa (2008) đã sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống dân cư năm
2008, thông qua bộ số liệu, bài nghiên cứu cho thấy phần lớn lao động (69,09%) là tự làm việc cho gia đình không phải là doanh nghiệp, trong số lao động đang làm việc cho nền kinh tế vẫn có nhiều đối tượng làm việc trong khu vực chính thức và cả phi chính thức, ngoài việc làm chính thì việc làm thêm cũng thu hút rất nhiều đối tượng lao động tham gia Tác giả đã nêu ra các đặc điểm của người lao động làm việc trong nền kinh tế phi chính thức, lao động trong khu vực phi chính thức và việc làm phi chính thức rất phong phú và đa dạng Những người tham gia công việc làm thêm thường tập trung nhiều ở những đối tượng làm việc trong khu vực chính thức hơn những người làm trong lĩnh vực phi chính thức Điều đó làm cho lực lượng lao động phi chính
thức ngày càng tăng Các đặc điểm tác nhân bao gồm: giới tính, độ tuổi, tình
trạng hôn nhân, công chức, quy mô hộ và tín dụng trong nghiên cứu cũng có ảnh hưởng đến quyết định đăng ký hay không đăng ký kinh doanh trong lĩnh vực phi nông nghiệp và ảnh hưởng đến quyết định làm công trong lĩnh vực phi chính thức Một tác giả nước ngoài, Fernando Groisman (2004-2007) cho rằng
có một sự suy giảm trong chế độ phúc lợi được đo bằng thời gian thất nghiệp đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình thất nghiệp và chuyển đổi lao động Thời gian thất nghiệp là cao hơn đối với những người có trình độ cao, điều này cho thấy những người có trình độ thấp có mức lương thấp hơn Kết quả này cũng tương
tự đối với phụ nữ và nam giới Kết quả chuyển dịch lao động cho thấy, những người có trình độ rất dễ dàng gia nhập vào thị trường lao động chính thức Điều này cho thấy rằng, những người có trình độ có xu hướng điều chỉnh mức lương của họ và đẩy ra khỏi thi trường những người kém trình độ Những mô hình chuyển dịch lao động không phản ảnh được sự linh hoạt trong thị trường lao động Có thể kết luận được tính hai mặt của hai khu vực kinh tế chính thức
và phi chính thức ở thị trường lao động Argentina mà dường như để phản ánh
sự khác biệt trong sự tiếp cận nguồn lực sản xuất bên ngoài thị trường lao động là xác định việc hội nhập vào thị trường lao động và chuyển dịch lao động sau này của một lượng lớn số lao động
Theo Manfred Kuhn (1990), thì “tính hiệu quả được xác định bằng cách
lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” Như vậy,
theo quan điểm của các nhà quản trị thì Manfred Kuhn (1990) cho rằng việc xác định HQKD phải dựa trên tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra
để đạt được kết quả đó Chính vì vậy việc có đạt được HQKD hay không còn
Trang 18phụ thuộc rất nhiều vào vai trò quản trị của người đứng đầu tổ chức kinh doanh đó biết cách tính toán hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đã bỏ
ra Theo Ngô Kim Thanh (2011) , yếu tố thị trường đầu vào và đầu ra có tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bên cạnh
đó, người bán cần phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư Những yếu
tố này tác động một cách gián tiếp lên quá trình sản xuất Đối với hoạt động kinh doanh phi chính thức, đa số là người lao động không có nơi buôn bán ổn định, nên nó phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu, mùa vụ và địa điểm kinh doanh…Ngày nay chất lượng của sản phẩm trở thành một công cụ cạnh tranh quan trọng trên thị trường, vì chất lượng của sản phẩm nó thoả mãn nhu cầu của khách hàng về sản phẩm, chất lượng sản phẩm càng cao sẽ đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng Những đặc tính mang hình thức bên ngoài của sản phẩm như : Mẫu mã, bao bì, nhãn hiệu…trước đây không được coi trọng nhưng ngày nay nó đã trở thành những yếu tố cạnh tranh quan trọng không thể thiếu được trong chiến lược kinh doanh Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Trọng Hậu với bài viết về các nhân tố xã hội trong lý thuyết tăng trưởng hiện đại, tác giả đã nhắc tới một định nghĩa về tương tác xã hội do Brock và Durlauf (2001) đưa ra như sau: Khi nói đến các mối tương tác xã hội
là chúng ta muốn nói đến việc lợi ích hoặc sự trả giá mà từng cá nhân nhận được do hành động của mình phụ thuộc vào sự lựa chọn trực tiếp của các cá nhân khác trong nhóm xã hội mà các nhân đó thuộc vào Các mối tương tác này có ý nghĩa kinh tế quan trọng vì sự lựa chọn của cá nhân này có ảnh hưởng đến sự lựa chọn của các cá nhân khác mà họ có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp, cần nhấn mạnh là sự tương tác này hoạt động không thông qua thị trường, một cá nhân sẽ điều chỉnh sự lựa chọn của mình thông qua quan sát hành động của cá nhân khác và nó ảnh hưởng rất nhiều đến việc kinh doanh của riêng mỗi cá nhân
Kết quả nghiên cứu của Dipak Bahadur Adhikari (2011) cho thấy mức
độ thu nhập và lợi nhuận từ khu vực KTPCT thì thấp hơn so với các hình thức kinh doanh khác, có nhiều người đang tham gia bán hàng rong Đó là bởi vì sự thiếu cơ hội việc làm trong những lĩnh vục kinh doanh khác trong nền kinh tế
Số lượng người tham gia rộng rãi vào hoạt động bán hàng rong đa số là người nông dân, trình độ dân trí thấp Ông cũng cho rằng số người có khả năng lao động trong gia đình càng đông thì việc tạo ra thu nhập ở các hộ bán hàng rong tại thành phố Kathmandu Metropolitan thuộc đất nước Nepal sẽ mang lại thu
Trang 19nhập cao hơn vì mỗi cá nhân sở hữu một diện tích nhỏ đất nông nghiệp nên nó trở nên khó khăn để duy trì đời sống gia đình, vì thế, một lượng lớn dân số tham gia vào hoạt động thương mại bán hàng rong để kiếm sống Kinh nghiệm
là một trong những nhân tố quan trọng cho việc kinh doanh và buôn bán, nhân
tố này đã được một vài chuyên gia nghiên cứu chứng minh sự tác động của kinh nghiệm đến thu nhập Theo Murad, Md Wahid (2007) và Huỳnh Trường Huy (2009) đều cho rằng kinh nghiệm có tác động rất lớn đến thu nhập của đối tượng nghiên cứu, người càng có kinh nghiệm về lĩnh vực chuyên môn của mình, hay kinh nghiệm về một việc làm cụ thể nào đó sẽ mang lại kết quả tốt hơn những người chưa có nhiều kinh nghiệm Ngoài ra tác giả Murad, Md Wahid (2007) còn cho rằng cách nắm bắt tâm lý khách hàng tác động rất lớn đến thu nhập của người kinh doanh, đặc biệt là những người bán hàng rong trên các đường phố, ông cũng cho rằng trình độ học vấn của người chủ hộ sẽ
có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của cả hộ và nếu như số năm đi học của người chủ hộ càng gia tăng thì nguy cơ thu nhập thấp và vấn đề nghèo đói của
hộ sẽ giảm Ông đã lập luận rằng giáo dục là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy bình đẳng thu nhập lớn hơn trong lịch sử phát triển của các nước đang phát triển Ông cũng đã lập luận rằng trình độ học vấn của người đứng đầu gia đình có thể quan trọng không chỉ trong việc xác định thu nhập hiện tại,
mà còn ảnh hưởng đến thu nhập và cuộc đời của họ cũng như thu nhập tương lai của con em họ Theo đó, một kết quả khác từ nghiên cứu của Nguetse Tegoum Pierre (2009) cũng cho thấy tác động của giáo dục đối với kinh tế phi chính thức như sau: giáo dục cơ bản đóng vai trò quan trọng đối với lao động phi khu vực phi chính thức Cameroom, điều này chứng tỏ tầm quan trọng của nguồn nhân lực đối với thu nhập, xóa đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế Hiệu quả cho đầu tư giáo dục không chắc chắn Giáo dục đóng vai trò quyết định trong tình trạng nghề nghiệp của người dân Xác suất bị thất nghiệp và tham gia vào khu vực chính thức tăng cùng chiều với trình độ học vấn Trái lại, xác suất tham gia khu vực kinh tế phi chính thức giảm khi trình độ học vấn tăng Ngoài ra, trong mô hình tác giả còn cho thấy các biến: kinh nghiệm làm việc, giới tính, tuổi tác, tôn giáo, nhập cư, khu vực, trình độ tay nghề, tình trạng hôn nhân đều có tác động đến việc lựa chọn làm việc trong khu vực kinh
tế phi chính thức
Bên cạnh đó, tác giả Cling et al (2010) đã được thực hiện dựa trên bộ dữ liệu thống kê điều tra việc làm của tổng cục thống kê năm 2007 và cuộc điều tra dân số ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, trên cơ sở phân tích các yếu tố
Trang 20về giới tính, khu vực, tuổi tác, trình độ tay nghề và kinh nghiệm trong công việc, bằng phương pháp tiếp cận hai mặt kép của thị trường lao động tác giả đã nhấn mạnh những đặc điểm chính của khu vực phi chính thức cho thấy có sự tương đồng sâu sắc giữa các nước đang phát triển bao gồm: lao động trình độ tay nghề thấp, việc làm bấp bênh; điều kiện làm việc không đảm bảo, thu nhập thấp; phân tán và thu nhỏ các cơ sở sản xuất, thiếu kết nối với khu vực kinh tế chính thức; v.v Do người lao động không được đáp ứng đủ nhu cầu về việc làm nên khu vực phi chính thức trở thành cứu cánh cho những người đang phải tìm việc hoặc rời bỏ nông nghiệp Trong khi đó, một nghiên cứu khác của
R Maurizio (2010) với dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này dựa trên các cuộc điều tra hộ gia đình thường xuyên của mỗi quốc gia được nghiên cứu bao gồm: Argentina (nữa cuối năm 2006), Brazil (năm 2006), Chile (năm 2006), Peru (năm 2007) cho rằng những người lao động phi chính thức có trình độ học vấn trung bình thấp hơn người lao động trong khu vực chính thức Đặc điểm chính của lao động trong khu vực này là số lượng lao động trẻ (tuổi tác) và lao động nữ (giới tính) nhiều hơn, chủ yếu làm việc nhiều hơn trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, xây dựng và giúp việc “Việc phân bổ thành phần” như vậy có tác động tiêu cực tới thu nhập của việc làm phi chính thức Chênh lệch về mức lương giữa hai khu vực còn có nguyên nhân là sự chênh lệch trong năng suất giữa người lao động thuộc hai khu vực tính theo mỗi đặc điểm được sử dụng cho phân tích so sánh, điều này đặc biệt đúng ở hai nước Argentina và Peru
Ngoài ra, Đặng Văn Rỡ (2009) với nghiên cứu của mình thì tác giả cho rằng tuổi tác và số nhân khẩu có ảnh hưởng tích cực đến thu nhập của người BHR trên địa bàn nghiên cứu Khi độ tuổi lao động càng tăng thì thu nhập của
hộ cũng tăng theo và ngược lại Người BHR trên địa bàn TPCT tham gia vào khu vực phi chính thức do có quá nhiều con hoặc phải nuôi thêm cha mẹ già Như vậy, số thành viên trong hộ gia đình, đặc biệt là số người phụ thuộc từng được nhiều tác giả chứng minh là có tác động đến thu nhập của hộ gia đình Độ tuổi lao động được chứng minh là có tác động đến thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cũng như tác động đến thu nhập/người/tháng của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long Một nghiên cứu tương tự, Nguyễn Quốc Nghi (2010, 2011) cho thấy khi độ tuổi lao động tăng cho thấy mức thu nhập của hộ gia đình ở khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tăng lên, ngược lại mức thu nhập/người/tháng của người dân tộc thiểu số đồng bằng sông Cửu Long giảm
Trang 21khi độ tuổi lao động tăng lên Điều này được lý giải rằng, hầu hết các hoạt động tạo thu nhập của lao động nông thôn và người dân tộc thiểu số là những việc chủ yếu sử dụng sức khỏe để tạo thu nhập, trong khi lao động của hộ gia đình nông thôn phần đông còn rất trẻ ở huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long thì lao động của người dân tộc thiểu số ở đồng bằng sông Cửu Long lại có độ tuổi lao động cao, dẫn đến sức khỏe yếu đi và tác động đến thu nhập theo hướng tương quan nghịch Trong nghiên cứu của mình, tác giả đã chứng minh rằng số hoạt động tạo ra thu nhập/người/tháng của hộ gia đình khu vực nông thôn huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long càng nhiều thì thu nhập/người/tháng của hộ càng cao
Số hoạt động tạo thu nhập là yếu tố rất quan trọng đối với bất cứ đối tượng nào tham gia vào kinh doanh, việc có nhiều hoạt động tạo thu nhập sẽ mang lại nhiều nguồn thu nhập hơn cho người lao động, đặc biệt là những người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức Thêm vào đó, là nghiên cứu của
Trần Tiến Khai & Nguyễn Ngọc Danh, (2014) được in trong Tạp chí Phát
triển Kinh tế (284), 22-41 Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu khảo sát mức sống
hộ gia đình VN 2010, để tìm ra những yếu tố quyết định sự đa dạng hoá thu nhập ở các hộ gia đình nông thôn VN và đánh giá ảnh hưởng đối với thu nhập của hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn con người về mặt chất lượng lẫn số lượng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích hộ gia đình đa dạng hoá các hoạt động tạo ra thu nhập Các hộ nông thôn có trình độ học vấn cao hơn và có năng lực nhiều hơn thì thường có nguồn thu nhập đa dạng hơn Vốn tài chính, tiếp cận tín dụng, và vốn xã hội tốt hơn cũng giúp hộ cải thiện sự đa dạng thu nhập Trong nghiên cứu của Nguyễn Bích Ngọc và Phan Văn Phùng (2013)5 đã xác định được các yếu tố tác động đến thu nhập của người bán hàng rong trên địa bàn quận Ninh Kiều, TPCT bao gồm: giới tính chủ hộ, số người phụ thuộc, trình độ chủ hộ, số giờ bán, kinh nghiệm, hình thức bán và nguồn vốn Các biến này có mối tương quan thuận chiều với thu nhập của người bán hàng rong Một nghiên cứu khác của Trần Thị Minh Đức và Bùi Thị Hồng Thái đã khảo sát 300 người bán hàng rong trên các đường phố ở Hà Nội, tìm hiểu đặc điểm tâm lý, đánh giá mức độ hài lòng với nghề và các nguyên nhân nhập cư cũng như chọn nghề bán hàng rong làm nghề chính để
mưu sinh Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như giới tính, tuổi tác, trình độ học
vấn, trình trạng hôn nhân, nguồn vốn, chi tiêu, mặt hàng buôn bán, thời gian bán, địa điểm kinh doanh, kinh nghiệm, số hoạt động tạo thu nhập có ảnh
5
Nguyễn Bích Ngọc và Phan Văn Phùng (2013) – Hội thảo nghiên cứu khoa học của sinh viên
Trang 22hưởng trực tiếp đến thu nhập của người BHR Tác giả nhấn mạnh, hầu hết những người làm việc trong khu vực phi chính thức, đặc biệt là phụ nữ bán hàng rong trên đường phố tại hai thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Phụ nữ tham gia BHR hầu hết đều lập gia đình và có con nhỏ, vì cuộc sống ngày càng vất vả, thiếu ruộng đất canh tác nên họ cùng chồng và người thân di
cư vào khu vực thành thị nhằm cải thiện cuộc sống tích cực hơn, có nguồn thu nhập ổn định lo cho con và trang trãi cuộc sống
Nguồn lực xã hội được thể hiện ở khả năng hỗ trợ của các tổ chức xã hội trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình Người lao động nếu có thể tận dụng được nguồn lực này thì dễ dàng bắt kịp thông tin, hỗ trợ từ các Hội nhóm, Câu lạc bộ cùng giúp đỡ nhau làm kinh tế gia đình Vấn đề tiếp cận chính sách hỗ trợ từ địa phương có ý nghĩa rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người lao động Trong một nghiên cứu của mình, Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2010, 2011) đã cho rằng người dân tộc ở ĐBSCL tham gia trực tiếp vào các hoạt động đoàn thể còn khá ít, tuy nhiên họ rất hăng hái tham gia vào các công việc xã hội Đây là một lợi thế lớn cho việc phát triển và định hướng sinh kế vì nhờ các tổ chức hội đoàn này, chính quyền địa phương có thể tuyên truyền các kế hoạch phát triển kinh tế gia đình, cũng như hỗ trợ vay vốn lãi suất thấp, tạo động lực làm việc gia tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho người lao động nghèo Việc tiếp cận được sự hỗ trợ từ nhà nước và chính quyền địa phương sẽ làm tăng thu nhập của hộ người dân tộc thiểu số Chăm
và Khmer ở ĐBSCL Vốn vay là một hình thức tín dụng, là đòn bẩy hỗ trợ kinh doanh khá hữu hiệu cho bất kỳ người buôn bán hay hộ kinh doanh nào,
dù kinh doanh mặt hàng nào thì cũng cần có nguồn vốn vay nhằm hỗ trợ tốt hơn cho hoạt động kinh doanh bên cạnh nguồn vốn tự có của bản thân Có thể thấy vốn kinh doanh là một trong những yếu tố quan trọng không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, việc tiếp cận được nguồn vốn vay sẽ tạo
cơ hội phát triển thu nhập của hộ gia đình
1.5.2 Một số phương pháp nghiên cứu cho mô hình hiệu quả kinh doanh trong khu vực KTPCT
Trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chí (2010) cũng gần như đưa ra kết quả tương tự khi các yếu tố giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, công chức, quy mô hộ và tín dụng đều có ảnh hưởng đến lựa chọn công việc và tạo thu nhập của người lao động Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê mô tả và hồi quy logistic với mô hình được đưa ra bao gồm: mô hình 1 chỉ bao gồm các
Trang 23biến giả phân định người lao động theo tình trạng di cư và khu vực của việc làm hiện tại, mô hình 2 các biến đặc điểm cá nhân được bổ sung thêm, mô hình 3 đưa vào thêm các biến đặc điểm công việc, mô hình 4 đưa vào các biến phúc lợi và mô hình 5 là phân tích giới hạn mẫu, qua đó tác giả đã so sánh thực tế trong việc lựa chọn lĩnh vực hoạt động và thu nhập của người lao động ngoại tỉnh với người lao động nội tỉnh ở các đô thị thuộc đồng bằng sông Hồng Ngoài ra, Murad, Md Wahid (2007) trong bài nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả và mô hình hồi qui tuyến tính nhiều biến đã chỉ ra rằng địa điểm làm việc, thu nhập mỗi tháng của người đứng đầu trong gia đình, số thành viên trong gia đình, tuổi của chủ hộ, số năm đi học và kinh nghiệm làm việc của chủ hộ có tác động tích cực đến thu nhập của cả hộ, riêng số trẻ em trong gia đình lại có mối tương quan nghịch đảo với thu nhập của hộ gia đình hàng tháng Một nghiên cứu của tác giả Hồ Đức Hùng và Nguyễn Duy Tâm và Mai Thị Nghĩa (2008) đã sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống dân cư năm 2008, bằng phương pháp định lượng xử lý thống kê mô tả và
mô hình logic tác giả đã nêu ra các đặc điểm của người lao động làm việc trong nền kinh tế phi chính thức, lao động trong khu vực phi chính thức và số lượng việc làm phi chính thức rất phong phú và đa dạng, không loại trừ một đối tượng nào hay bất kỳ ai cũng có thể tham gia làm việc phi chính thức Kể
cả khu vực nhà nước hay có vốn đầu tư nước ngoài, việc làm phi chính thức vẫn thu hút người lao động với nhiều trình độ khác nhau Tương tự một số tác giả như Adhikari (2011) và Indrajit Bairagya (2010), cả hai tác giả đều dựa trên những số liệu sơ cấp và số liệu thứ cấp cùng với phương pháp thống kê
mô tả kết hợp với phương pháp hồi quy tuyến tính để chỉ ra các biến như các nhân tố đầu tư, số lao động mỗi hộ bán hàng rong, trình độ học vấn có tác động mạnh và thuận chiều đến thu nhập của hộ gia đình bán hàng rong Khác với những tác giả trên, nhà nghiên cứu của R Maurizio (2010) thông qua việc
sử dụng phương trình Mincer dựa trên hồi quy OLS và phương pháp phân tách Oaxaca Blinder để phân tích, tác giả đưa ra kết luận là có mối tương quan tỉ lệ thuận giữa phi chính thức và nghèo đói Người lao động phi chính thức có trình độ học vấn trung bình thấp hơn người lao động trong khu vực chính thức Đặc điểm chính của lao động trong khu vực này là số lượng lao động trẻ (tuổi tác) và lao động nữ (giới tính) nhiều hơn, chủ yếu làm việc nhiều hơn trong lĩnh vực kinh doanh buôn bán, xây dựng và giúp việc Trong một nghiên cứu của Nguetse Tegoum Pierre (2009) được thực hiện dựa trên nguồn số liệu khảo sát về việc làm và khu vực kinh tế phi chính thức do viện quốc gia
Trang 24Cameroon thực hiện năm 2005, có tổng cộng 8.540 mẫu đã được điều tra, với phương pháp được sử dụng là hồi quy OLS và đối sánh, điểm mới được kể đến trong nghiên cứu là việc mô hình mà tác giả lựa chọn có tính đến các đặc điểm không thể quan sát được Trong nghiên cứu của Nguyễn Quốc Nghi và Bùi Văn Trịnh (2011) số liệu sử dụng cho đề tài này được thu thập từ cuộc điều tra trực tiếp 150 hộ Khmer ở tỉnh Trà Vinh và 90 hộ Chăm ở tỉnh An Giang bằng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp với ngẫu nhiên Tác giả
đã sử dụng hai mô hình hồi quy tuyến tính được sử dụng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người Khmer ở Trà Vinh và người Chăm ở An Giang Mô hình 1 sử dụng biến trình độ học vấn của chủ hộ và mô hình 2 sử dụng biến trình độ học vấn trung bình của lao động trong hộ để so sánh, kiểm chứng mức
độ tác động của trình độ học vấn đến thu nhập của hộ dân tộc thiểu số
Ngoài ra, hai tác giả Huỳnh Trường Huy và Ông Thế Vinh (2009) thông qua phương pháp thống kê mô tả và mô hình tương quan giữa thu nhập và các yếu tố giải thích đến thu nhập, sau đó tác giả chuyển thành mô hình logarit Thông qua nghiên cứu, tác giả nghiên cứu này chỉ ra rằng bên cạnh các yếu tố giới tính, hợp đồng lao động và loại hình công ty có tác động đến thu nhập của
hộ nhập cư thì hai yếu tố chuyên môn và kinh nghiệm có tác động tích cực đến thu nhập của hộ nhập cư Huỳnh Thị Đan Xuân và Mai Văn Nam (2009) kết luận từ nghiên cứu là tuổi tác, kinh nghiệm và số nhân khẩu trong hộ sẽ ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến thu nhập của hộ, đồng thời thông qua phương pháp hồi quy và tương quan được sử dụng trong nghiên cứu đã xác định các yếu tố như tổng diện tích của hộ, vay vốn, kiểm dịch, thu nhập từ chăn nuôi gia cầm, thu nhập từ chăn nuôi khác và thu nhập từ phi nông nghiệp các ảnh hưởng đến thu nhập bình quân/lao động của mỗi hộ Bên cạnh hai phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy được các nhà nghiên cứu sử dụng khá phổ biến, có một số tác giả sử dụng những phương pháp mới như Trần Thị Tuấn Anh (2013) nghiên cứu này vận dụng phương pháp hồi quy phân vị trên số liệu về thu nhập khảo sát được trên địa bàn TP.HCM để đo lường mức độ chênh lệch thu nhập theo giới tính ở thành phố này Kết quả phân tích cho thấy thực sự có chênh lệch thu nhập giữa hai nhóm lao động nam và lao động nữ trên địa bàn TP.HCM và Trần Tiến Khai & Nguyễn Ngọc Danh, (2014) trong nghiên cứu đã áp dụng mô hình Tobit hai giới hạn để xem xét ảnh hưởng của những đặc điểm của hộ gia đình và cộng đồng đối với chỉ
số HHI; sau đó dùng phương pháp GMM để kiểm định ảnh hưởng của chỉ số
Trang 25HHI đối với thu nhập của hộ Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn con người về mặt chất lượng lẫn số lượng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích
hộ gia đình đa dạng hoá các hoạt động nâng cao thu nhập
1.5.3 Cơ sở pháp lý liên quan đến việc quản lý người lao động trong khu vực KTPCT
1.5.3.1 Kinh nghiệm quản lý khu vực KTPCT tại Việt Nam
Hoạt động bán hàng rong càng phát triển thì những vấn đề liên quan đến các mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ngày càng phát sinh Trước ngày 16/03/2007, khi chưa có quy định của chính phủ, bán hàng rong còn chưa được công nhận là hoạt động thương mại Nghị định số 39/2007/NĐ-CP của chính phủ ra đời, quy định về cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng kí kinh doanh; cá nhân hoạt động thương mại
là cá nhân tự mình hàng ngày thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động được pháp luật cho phép về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác nhưng không thuộc đối tượng phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về đăng ký kinh doanh và không gọi là thương nhân theo quy định của Luật Thương mại Theo đó, bán hàng rong đã được xem xét như một loại hình kinh doanh mà nhưng người bán hàng rong không phải đăng ký kinh doanh nhưng vẫn chịu quản lý ở cấp xã, phường Theo Nghị định này, UBND xã, phường, thị trấn lập sổ theo dõi hoạt động thương mại và việc tuân thủ pháp luật của những người bán hàng rong, buôn bán vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động tại địa phương và từ các nơi khác thương xuyên lui đến địa bàn Đồng thời, các cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm thông báo với các cá nhân về các khu vực được phép buôn bán, thực hiện quy định về thuế, phí và lệ phí hoạt động thương mại, báo cáo về quản lý hoạt động thương mại trên địa bàn
Nghị định cũng đã quy định chi tiết về hàng hóa, dịch vụ được phép kinh doanh không thuộc những nhóm hàng quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-
CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ và không bao gồm “Hàng lậu, hàng giả, hàng không rõ xuất xứ, hàng quá thời hạn sử dụng, hàng không đảm bảo yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật; hàng không đảm bảo chất lượng bao gồm hàng mất phẩm chất, hàng kém chất lượng, hàng nhiễm độc và động thực vật bị nhiễm bệnh” Bên cạnh đó Nghị định cũng nêu
rõ phạm vi và địa điểm kinh doanh của cá nhân hoạt động thương mại và yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự, vệ sinh, an toàn trong hoạt động của cá nhân hoạt
Trang 26động thương mại, trách nhiệm cụ thể của Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong quản lý nhà nước đối với cá nhân hoạt động thương mại cũng như phạm vi xử phạt cụ thể
Riêng với Thành phố Hà Nội, UBND Thành phố đã ban hành quy định
số 46/2009/QĐ-UBND “Quy định về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn thành phố Hà Nội”, thay thế quyết định số 02/2008/QĐ-UBND ngày 09/01/2008 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành “Quy định về quản lý hoạt động bán hàng rong trên địa bàn Thành phố Hà Nội” Đây là quy định riêng áp dụng cho thành phố Hà Nội- nơi tập trung rất nhiều người bán hàng rong Việc ban hành các quy định cụ thể giúp việc thực hiện đi vào thống nhất
và toàn diện Ngoài những quy định về phạm vi, trách nhiệm của cá nhân hoạt động thương mại cũng như trách nhiệm của các cơ quan chức năng, Quy định còn nêu rõ các khu vực được phép bán hàng rong- trong đó liệt kê 63 tuyến phố không được phép thực hiện hoạt động bán hàng rong
1.5.3.2 Kinh nghiệm quản lý khu vực KTPCT tại một số quốc gia khác
a) Theo Đạo Luật quy định về quyền và nghĩa vụ của người bán hàng rong ở Ấn Độ
Ấn Độ là quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam, là quốc gia đang phát triển với nền văn hóa phong phú Cũng giống như Việt Nam, hoạt động trong khu vực phi chính thức, cụ thể là hình thức bán hàng rong được hình thành từ khá lâu và hiện đang phát triển mạnh mẽ Lực lượng lao động tham gia vào công việc này rất đông đảo nên thu nhập mà họ tạo ra đóng góp không nhỏ vào GDP hàng năm của đất nước.Vì thế Chính phủ gặp nhiều khó khăn trong việc thống kê và tính toán mức đóng góp vào nền kinh tế chung của đất nước từ hoạt động phi chính thức này Do đó, ngày 05/03/2014 Quốc hội nước Cộng hòa Ấn Độ đã ban hành Đạo luật áp dụng cho những đối tượng bán hàng rong Nội dung của Đạo Luật cho thấy được kinh nghiệm quản lí chặt chẽ, cụ thể là “Tất cả các đối tượng thực hiện hoạt động bán hàng rong nằm trong khu vực của một địa phương sẽ được cấp giấy chứng nhận bán hàng rong do Ủy ban thị trấn bán hàng rong cấp phép, những người BHR phải nộp một mức phí do Ủy ban thị trấn BHR quy định, để thực hiện việc kinh doanh của bán hàng rong , hoạt động phù hợp với các điều khoản và điều kiện nêu trong Giấy chứng nhận bán hàng rong Giấy chứng nhận bán hàng rong, sau khi hết thời hạn quy định trong thông báo, người bán hàng rong có trách nhiệm trả tiền cho mỗi ngày mặc định như vậy, một lần phạt có thể lên đến
Trang 27250 rupee hoặc mức phạt được xác định bởi chính quyền địa phương, nhưng không được nhiều hơn giá trị của hàng hóa bị thu giữ Khi người bán hàng rong muốn dời địa điểm kinh doanh thì phải thông qua ý kiến của Ủy ban thị trấn bán hàng rong” Ông Deshpande, Giám đốc Viện nghiên cứu thay đổi
kinh tế và xã hội (ISEC) cho biết “Họ được công nhận quyền bán hàng và
được phép kinh doanh tại những khu vực nhất định Tất cả đều nằm trong sự quản lý của chính quyền” Những điều luật cụ thể được ban hành như Chính
sách quốc gia về bán hàng rong tại đô thị tại Hindu năm 2004, Chính sách quốc gia về bán hàng rong tại đô thị năm 2009 Ngoài ra, Chính phủ còn thành lập Hiệp hội những người bán hàng rong Ấn Độ (NASVI- National Association of Street Vendors of India) để đưa hoạt động bán hàng rong vào quy mô có tổ chức
b) Theo chính sách Quy hoạch môi trường tại Singapore từ năm 1972
Chính quyền Singapore đánh giá cao sự đóng góp của bán hàng rong vào nền kinh tế của đất nước Hàng rong giữ vai trò là nhà cung cấp các nhu cầu yếu phẩm, những bữa ăn hàng ngày cho những người có thu nhập thấp, đồng thời đã giữ cho giá cả sinh hoạt của thành phố không tăng cao Tuy nhiên, việc bán hàng rong cũng gây ra không ít phiền toái như lấn chiếm lòng đường, gây mất trật tự an ninh và vệ sinh đường phố…Nhằm giải quyết những vấn đề bất cập từ việc bán hàng rong, thay vì loại bỏ loại hình kinh doanh này, từ đầu những năm 80 của thế kỷ 20, chính quyền Singapore đã có kế hoạch điều chỉnh hệ thống quản lí bán hàng rong Vấn đề này được Chính phủ Singapore khéo léo đưa vào trong chính sách Quy hoạch môi trường từ năm 1972 cho đến nay; mà điều này được nhắc đến trong bài báo cáo “Lồng ghép môi trường trong phát triển đô thị: Singapore là một mô hình thực hành tốt”6 do Josef Leitmann công bố cho Ban Phát triển đô thị của Ngân hàng Thế giới, Hoa Kỳ Một trong những giải pháp được chính phủ Singapore đưa ra là cấp phép và kiểm soát người bán hàng rong; thực hiện chương trình xây dựng các khu trung tâm mua bán thực phẩm, chợ… để tập trung những người bán hàng rong vào đó
Ở đây, người bán hàng rong có nơi bày bán hàng tử tế, có điện, nước để
sử dụng, có chổ bỏ rác và xử lí rác nên không phải vứt rác bừa bãi, làm bẩn môi trường Singapore được biết tới là quốc gia duy nhất trên thế giới nơi mà
6
Lồng ghép môi trường trong phát triển đô thị tại Singapore
http://www.ucl.ac.uk/dpu-projects/drivers_urb_change/urb_environment/pdf_Planning/World%20Bank_Leitmann_Josef_Integr ating_Environment_Singapore.pdf
Trang 28những người bán hàng rong được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh và có Đơn vị Y tế công cộng môi trường để kiểm tra thực phẩm, dịch tễ học, kiểm dịch Tại Singapore có một số phòng ban chuyên trách quản lý hoạt động bán hàng rong trực thuộc Chính phủ, là nơi cấp phép cũng như quản lý những đối tượng bán hàng rong không có giấy phép kinh doanh Ngoài ra, cơ quan quản
lý này còn xây dựng các khóa học về vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm và dinh dưỡng cho những người bán hàng rong Năm 1998, xấp xỉ 24 nghìn người bán hàng rong buôn bán tại 184 trung tâm mua bán
1.5.4 Định hướng nghiên cứu
+ Ưu điểm và khuyết điểm từ những nghiên cứu lược khảo
Từ lược khảo nghiên cứu cho thấy, những nghiên cứu về khu vực KTPCT ở một số quốc gia trên thế giới có cùng ưu điểm về quy mô, địa bàn nghiên cứu trên diện rộng, số liệu nghiên cứu mang tính đại diện cao Nghiên cứu tập trung tìm ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động trong khu vực KTPCT trên thế giớ cũng như ở Việt Nam, từ đó giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, nêu ra được phương hướng và giải pháp cải thiện tình hình bất cập trong hoạt động trong khu vực KTPCT Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu trên rất đa dạng đáp ứng việc giải quyết và xử lý số liệu một cách hiệu quả Tuy nhiên những nghiên cứu trên gặp một số hạn chế là chưa nghiên cứu chuyên về một khía cạnh của KTPCT và phương pháp nghiên cứu thường chạy hồi quy tuyến tính với biến phụ thuộc là dựa trên doanh thu hoặc lợi nhuận, chưa nghiên cứu về mặt HQKD của người lao động trong khu vực kinh
tế này
+ Phát hiện mới trong nghiên cứu
Kế thừa những ưu điểm trong các nghiên cứu trước và nhận thấy chưa có nghiên cứu nào để cập đến tính hiệu quả trong kinh doanh của đối tượng nhập
cư tham gia vào khu vực KTPCT Trong nghiên cứu này tác giả tiến hành nghiên cứu về hiệu quả kinh doanh của người lao động nhập cư trong khu vực KTPCT thông qua chỉ số tài chính ROS và xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của lao động nhập cư tham gia vào khu vực KTPCT trên địa bàn TPCT
Trang 30CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh của cá thể nhằm đạt kết quả cao nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí thấp nhất Hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ là thước đo trình độ tổ chức sản xuất của cá thể mà còn là vấn đề sống còn của cá thể trong hoạt động kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh được chia thành 2 loại: hiệu quả kinh doanh cá biệt và HQKD xã hội
- Hiệu quả kinh doanh cá biệt được thể hiện qua hiệu quả sản xuất kinh doanh thu được của từng cá thể, biểu hiện là lợi nhuận của từng cá thể
- Hiệu quả kinh doanh xã hội là sự đóng góp của hoạt động SXKD trong lĩnh vực mà cá thể hoạt động vào việc phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng NSLĐ, tăng thu cho ngân sách…
Hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác định bằng mối tương quan giữa đại lượng kết quả đạt được từ hoạt động kinh doanh và chi phí bỏ ra để thực hiện các hoạt đó
Theo P Samuelson và Nordhaus (1991)7 thì “hiệu quả sản xuất diễn ra khi
xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng một loại hàng hóa khác” Điều này cho thấy rằng, những tác giả trên muốn nhắc đến vấn đề phân bổ các nguồn lực trong nền kinh tế sản xuất của
xã hội và nền kinh tế sản xuất này đã phân bổ và sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất một cách tối ưu nhằm làm cho nền kinh tế đạt hiệu quả cao nhất mà mỗi nền kinh tế có thể đạt được
Theo Manfred Kuhn (1990)8, thì “tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh” Như vậy, theo quan điểm của các nhà quản trị thì cho rằng việc xác định hiệu quả kinh doanh phải dựa trên tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó Chính vì vậy việc có đạt được hiệu quả kinh doanh hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào vai trò quản trị của người đứng đầu tổ chức kinh doanh
đó biết cách tính toán hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đã bỏ ra
Trang 31Từ các quan điểm trên, có thể hiểu rằng hiệu quả sản xuất- kinh doanh
sẽ được phản ánh thông qua việc sử dụng các nguồn lực (vật lực, nhân lực và tài lực) nhằm đạt được mục tiêu trong sản xuất-kinh doanh, tuy nhiên để biết được hoạt động sản xuất-kinh doanh đó có hiệu quả không thì cần so sánh giữa kết quả đạt được so với những nguồn lực đã bỏ ra và thông thường đối với các hộ kinh doanh thì mục tiêu quan trọng nhất là đạt được lợi nhuận, và công thức chung tính cho hiệu quả kinh doanh:
Trong đó: H - Hiệu quả kinh doanh
K - Kết quả đạt được
C - Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó
2.1.2 Khái niệm về tỷ suất lợi nhuận
Tỷ suất lợi nhuận là những chỉ tiêu tương đối cho phép so sánh hiệu quả sản xuất kinh doanh giữa các thời kỳ khác nhau của cá thể kinh doanh hay giữa các chủ thể tham gia kinh doanh khác nhau trong một thời kỳ
Dựa vào tỷ suất lợi nhuận mà người ta có thể đánh giá được hiệu quả sản xuất kinh doanh của một chủ thể có hoạt động kinh doanh Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao và ngược lại
Việc xác định tỷ suất lợi nhuận cũng có nhiều cách khác nhau, mỗi cách mang một nội dung kinh tế khác nhau tùy thuộc vào cá thể kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh mà sử dụng tỷ suất lợi nhuận cho phù hợp Ta có thể xem xét một số tỷ suất lợi nhuận như sau:
+ Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
Là một chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ giữa tổng mức lợi nhuận đạt được trong kỳ với tổng doanh thu bán hàng trong kỳ
Trang 32Công thức tính:
Ý nghĩa:
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu phản ánh kết quả hoạt động SXKD của
cá thể, cho thấy cứ một đồng doanh thu sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận Nếu tỷ suất lợi nhuận càng cao thì chứng tỏ hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả tốt, chi phí cho sản xuất kinh doanh là hợp lệ và ngược lại
+ Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
Là quan hệ tỷ lệ giữa lợi nhuận đạt được trong kỳ so với số vốn bình quân sử dụng trong kỳ bao gồm vốn cố định và vốn lưu động
Công thức tính:
Ý nghĩa:
Chỉ tiêu kinh tế này phản ánh trình độ sử dụng tài sản vật tư tiền vốn của chủ thể kinh doanh, hay nói cách khác phản ánh mức sinh lời của vốn kinh doanh, tức là một đồng vốn bỏ ra trong kỳ sẽ thu được bào nhiêu đồng lợi nhuận, Tỷ suất lợi nhuận trên vốn càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của chủ thể kinh doanh càng tốt và ngược lại
+ Tỷ suất lợi nhuận trên chi phí kinh doanh
Là chỉ tiêu tương đối phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận đạt được với tổng chi phí kinh doanh trong kỳ (là tổng mức chi phí kinh doanh phân bổ cho hàng hóa và dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ)
Công thức tính:
Trang 33Ý nghĩa:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận, chỉ tiêu này càng lớn thì chứng tỏ với một mức chi phí thấp cũng cho phép mang lại lợi nhuận cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ thể tham gia kinh doanh
2.1.3 Khái niệm nhập cư
Nhập cư là hành động di chuyển chỗ ở đến vào một vùng hay một quốc gia mới Số người nhập cư là những người thay đổi nơi thực tế thường trú, tức
là số người thực tế thường trú của đơn vị hành chính cấp huyện khác (nơi xuất cư) để nhập cư đến đơn vị hành chính đang nghiên cứu (nơi nhập cư) trong kỳ báo cáo (một năm lịch) để ở
Dân nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để sinh sống, tạm trú Nhập cư ngược với xuất cư và cả hai đều là di cư Khái niệm này không bao gồm những người chuyển đến tạm thời (như đến thăm người thân, đến để du lịch hoặc chữa bệnh,…) hoặc loại “di chuyển con lắc” (như từ nơi làm việc trở về nhà riêng)9
Theo V.I.Xtaroverov (1975): “Di dân là sự thay đổi vị trí của con người
về mặt địa lí, do có sự di chuyển thường xuyên hoặc tạm thời của họ từ một cộng đồng kinh tế này sang một cộng đồng kinh tế khác, trở về hoặc có sự thay đổi vị trí không gian của toàn bộ cộng đồng nói chung”
Năm 1985 Liên Hợp Quốc có đưa ra khái niệm: “ Di dân là sự di chuyển trong không gian của con người giữa một đơn vị địa lí hành chính này vào một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng di dân xác định”
2.1.4 Một số khái niệm về kinh tế phi chính thức
Hiện nay, trên thế giới đang phổ biến một số tên gọi như: khu vực phi chính quy (Informal sector); kinh tế bóng đen (Shadow economy); kinh tế ngầm (Underground economy)…Dù tên gọi được dùng khác nhau, chung quy lại các thuật ngữ trên đều phản ánh bản chất các hoạt động của một khu vực kinh tế phi chính thức (KTPCT), trái ngược với khu vực kinh tế chính thống
9
Theo Tổng Cục Thống Kê https://gso.gov.vn/danhmuc/HTCT_xa.aspx?ma_nhom=X010601
Trang 34Thuật ngữ “Khu vực kinh tế phi chính thức” đầu tiên do Hart (1973)10
đề xuất để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống ở các nền kinh tế đang phát triển Nguyên gốc, sự phân biệt giữa khu vực kinh tế chính thức và phi chính thức là dựa trên sự phân biệt giữa lao động được trả lương và lao động tự làm Phạm trù này dần dần được mở rộng để bao quát tất cả các sự thay đổi về công việc do toàn cầu hóa gây ra, do đó đã chuyển từ khái niệm “Khu vực kinh tế phi chính thức” sang khái niệm “Kinh tế phi chính thức” Một khái niệm bao trùm cả khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức - xuất hiện ở cả hai khu vực KTPCT và chính thức (ILO, 2002), hay:
Kinh tế phi chính thức = Khu vực KTPCT + Việc làm PCT
Theo quan điểm của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO)
Theo ILO 1993 và 2002, OECD 2002, SNA 1993 và 2008 thì “kinh tế chưa được giám sát” bao gồm 3 thành tố:
• Nền kinh tế phi chính thức: thoát khỏi (một phần hoặc hoàn toàn) các
quy định của Nhà nước (nhưng không cố ý) – đặc biệt là ở các nước đang phát triển: lao động tự làm; điều tra trực tiếp
• Kinh tế ngầm: tránh các quy định của Nhà nước (cố ý khai thấp doanh
số); tiếp cận gián tiếp: chợ đen (tránh kiểm toán thuế)
• Kinh tế bất hợp pháp : sản phẩm bất hợp pháp (sản phẩm và dịch vụ:
buôn bán ma túy…)
Theo đó thì:
- Kinh tế phi chính thức (KTPCT) là khu vực mà ở đó tồn tại việc làm
phi chính thức, là một tập hợp các đơn vị sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch
vụ với mục tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm và thu nhập cho những người có liên quan, đóng góp vào GDP mà khu vực kinh tế chính thức không với tới được KTPCT bao gồm nhiều khu vực, nhiều loại hình, nhiều hình thức
và đối tượng hoạt động
- Đơn vị sản xuất kinh doanh (SXKD) thuộc khu vực KTPCT mang những đặc điểm của hộ SXKD, không có tư cách pháp nhân, hoạt động của các đơn vị SXKD thuộc khu vực KTPCT không nhằm để lảng tránh nghĩa vụ nộp thuế, bảo đảm xã hội, vi phạm luật lao động hay vi phạm luật pháp hoặc
10
Trích trong Indrajit Bairagya (2010)
Trang 35bất kì quy định quản lý nào khác (Hệ thống Tài khoản Quốc gia – SNA, Tái
bản lần thứ tư) Những đơn vị này thường được tổ chức đơn giản, quy mô nhỏ,
với không hoặc rất ít sự phân chia giữa lao động và vốn là các yếu tố đầu vào của sản xuất Các mối liên hệ việc làm (nếu có) chủ yếu dựa trên sự tình cờ, quan hệ họ hàng, hoặc quan hệ cá nhân, sự quen biết hơn là các thỏa thuận hợp đồng với sự bảo đảm chính thức
Như vậy, khái niệm về các hoạt động của khu vực KTPCT khác với các
hoạt động tương tự của kinh tế giấu giếm hay kinh tế ngầm
Quan điểm của Viện Khoa học Thống kê (Tổng cục Thống kê)
Năm 2007, Viện Khoa học Thống kê (KHTK) và Đơn vị nghiên cứu Phát triển, Thể chế và Phân tích Dài hạn (DIAL) đã thiết kế một lược đồ điều tra để thu thập thông tin về khu vực KTPCT và việc làm phi chính thức ở Việt Nam Lược đồ này được xây dựng có sự tham khảo các khuyến nghị của các
tổ chức quốc tế, có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam:
- Khu vực KTPCT được định nghĩa là “tất cả các doanh nghiệp không
có tư cách pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ
để bán hoặc trao đổi, không đăng kí kinh doanh (không có giấy phép kinh doanh) và không thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản” (gọi tắt là ngành
nông nghiệp) Các doanh nghiệp như vậy được gọi là “các hộ SXKD phi
chính thức”, phù hợp với từ dùng chính thức về loại hình SXKD này Việc
loại hoạt động SXKD trong lĩnh vực nông nghiệp ra khỏi định nghĩa là do đặc trưng hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp có sự khác nhau, ví dụ như tính thời vụ, tổ chức lao động, mức thu nhập, và công cụ điều tra khác nhau ở
2 khu vực này Các hộ SXKD chính thức (có đăng ký kinh doanh) thuộc vào khu vực kinh tế chính thức
- Việc làm phi chính thức được định nghĩa là việc làm không có bảo
hiểm xã hội (đặc biệt là bảo hiểm y tế) Ở Việt Nam, tất cả các doanh nghiệp
và hộ SXKD có đăng ký kinh doanh, bất kể có quy mô như thế nào đều bắt buộc phải đăng ký lao động thường xuyên (có hợp đồng lao động ít nhất là từ
3 tháng trở lên) của đơn vị mình với Cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam Tất
cả các việc làm thuộc khu vực KTPCT được coi là việc làm phi chính thức
Trang 36 Theo một số quan điểm của học thuyết Keynes
Có ba cách tiếp cận chính:
+ Học thuyết kinh tế Keynes: đưa ra khái niệm khu vực phi chính thức
từ những năm 1970 Theo cách tiếp cận này, khu vực phi chính thức bắt nguồn
từ chiến lược của các hộ gia đình nhằm tự tạo thu nhập để sống và tồn tại Trong khuôn khổ này, đó là những đơn vị sản xuất vi mô sử dụng rất nhiều nhân lực và có kỹ thuật sản xuất truyền thống
+ Cách tiếp cận tự do: được phát triển chủ yếu bởi tác giả Hernando de
Soto vào cuối những năm 1980, coi khu vực phi chính thức là cách để thoát khỏi những chính sách can thiệp của Nhà nước hoặc những quy định công bị cho là quá khắt khe Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến tính năng động và mong muốn làm chủ của các đơn vị sản xuất vi mô vốn tìm cách thoát khỏi những quy định quá ràng buộc
+ Theo cách tiếp cận “tân Mác-xít”: khu vực phi chính thức được bắt
nguồn từ chiến lược của các doanh nghiệp hoặc các công ty đa quốc gia nhằm giảm chi phí lao động và phát triển hình thức thầu phụ mà không phải tuân thủ những quy định pháp luật
Trong các nghiên cứu kinh tế đã được thực hiện, có thể thấy có ba phương pháp tiếp cận chủ đạo đã được sử dụng để tìm hiểu về nguồn gốc và nguyên nhân của tính phi chính thức (Roubaud, 1994; Bacchetta và những người khác, 2009)
• Phương pháp tiếp cận “hai mặt/kép” được sử dụng trong các nghiên cứu
của Lewis (1954) và Harris-Todaro (1970) Phương pháp này dựa trên mô hình thị trường lao động kép, trong đó khu vực phi chính thức được coi như một thành phần còn sót lại của thị trường lao động và không có liên hệ với khu vực kinh
tế chính thức; khu vực kinh tế mưu sinh này tồn tại chỉ bởi vì khu vực kinh tế chính thức không có khả năng tạo đủ việc làm cho người lao động
• Phương pháp tiếp cận “cơ cấu”, khác với phương pháp thứ nhất, phương
pháp tiếp cận này nhấn mạnh quan hệ phụ thuộc qua lại giữa hai khu vực chính thức và phi chính thức (Moser, 1978; Portes và những người khác,1989), dựa trên tinh thần của chủ nghĩa Marx, theo đó, khu vực phi chính thức tham gia vào hệ thống tư bản chủ nghĩa theo quan hệ phụ thuộc Khu vực này cung cấp lao động và sản phẩm giá rẻ cho các doanh nghiệp thuộc khu vực chính thức, đồng thời làm tăng tính linh hoạt và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế
Trang 37• Phương pháp tiếp cận mang tính “pháp lí”, theo đó, khu vực phi chính thức
được tạo nên từ các doanh nghiệp siêu nhỏ, hoạt động phi chính thức nhằm thoát khỏi các biện pháp điều chỉnh về kinh tế (de Soto, 1994) Cách tiếp cận theo trường phái tự do này trái ngược với hai cách tiếp cận ở trên, vì cho rằng việc lựa chọn vị thế phi chính thức là tự nguyện và có nguyên nhân là do chi phí để chính thức hóa
và đăng ký kinh doanh quá tốn kém
2.2 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.2.1 Cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu
Thông qua lược khảo thông tin từ một số nghiên cứu có liên quan đến khu vực KTPCT và hỏi ý kiến chuyên gia, tác giả đề xuất một số biến để phù hợp với
đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của lao động nhập cư tham gia vào các hoạt động KTPCT trên địa bàn TPCT
Bảng 2.1: Diễn giải các biến độc lập trong phương trình hồi qui tuyến tính
Đơn vị tính
Cơ sở chọn biến Kỳ
vọn
g
KINHNGHIEM Kinh nghiệm làm việc của
người nhập cư, nhận giá trị tương ứng là số năm tham gia vào khu vực KTPCT tính tới thời điểm nghiên cứu
(năm) Huỳnh Trường Huy,
2009; Dipak Bahadur Adhikari 2011; Murad,
+
TGIANNC
Thời gian nhập cư, nhận giá trị tương ứng với số năm người nhập cư chuyển đến tính tới thời điểm hiện tại
(1000 đồng/ngày)
Nguyễn Bích Ngọc và Phan Văn Phùng ,2013 -
TONGGIO
Số giờ bán trong ngày của lao động nhập cư trong khu vực KTPCT
Giờ Nguyễn Bích Ngọc và
Phan Văn Phùng ,
2013
+
Trang 38HAILONG
Đánh giá của người nhập
cư về mức độ hài lòng với công việc hiện tại qua 5 mức độ 1 Rất không hài lòng, 2 Không hài lòng, 3
Bình thường, 4 Hài lòng,
5 Rất hài long
Thang đo Likert
và có giá trị là 0 nếu là lưu
động
1/0 Nguyễn Bích Ngọc và
Phan Văn Phùng
2.2.2 Mô hình nghiên cứu
Từ cơ sở lý luận, dựa vào tình hình thực tế sau khi khảo sát và quá trình lược khảo tài liệu các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nhiều tác giả nước ngoài và trong nước, với các mô hình nghiên cứu và phương pháp phân tích khác nhau sao cho phù hợp với từng đối tượng và mục tiêu nghiên cứu Vì thế, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến HQKD của người nhập cư tham gia vào khu vực phi chính thức tại TPCT như sau:
Nguồn: Mô hình tác giả đề xuất,năm 2014
Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến HQKD của
người nhập cư tại Cần Thơ
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập của người dân nhập
cư, tác giả xây dựng mô hình như sau:
Kinh nghiệm lao động
Tình trạng hôn nhân
Thời gian nhập cư
Thời gian nhập cư
Trang 39ROS = β 0 + β 1 KNGHIEMLD + β 2 HONNHAN + β 3 TGIANNC + β4TGIANNCbinhphuong + β5TONGCHIPHI + β6TONGGIO + β7HAILONG + β8HINHTHUCBAN (1)
Trong mô hình (1), biến ROS là biến phụ thuộc biểu diễn HQKDcủa người dân nhập cư trong một ngày (lần/ngày) Các biến KNGHIEMLD,
HONNHAN, TGIANNC, TGIANNCbinhphuong, TONGCHIPHI, TONGGIO, HAILONG, HINHTHUCBAN là các biến độc lập (biến giải thích)
Ý nghĩa các biến độc lập và kỳ vọng về dấu của các hệ số βi (i 1,8)
KNGHIEMLD: là biến định lượng,cho biết số năm kinh nghiệm làm
việc của người nhập cư (năm) Kinh nghiệm làm việc là một trong những vấn
đề cần xem xét khi phân tích về hiệu quả kinh tế, nó được xem như là một trong các yếu tố góp phần tăng thu nhập cho lao động vì thời gian làm việc càng lâu thì tay nghề càng được nâng cao, kinh nghiệm được tích lũy làm việc
sẽ đạt hiệu quả hơn.Vì vậy hệ số β1 được kỳ vọng mang dấu dương
HONNHAN: là biến giả, cho biết tình trạng hôn nhân của đối tượng
nhập cư Biến tình trạng hôn nhân có giá trị là 1 nếu người nhập cư đã kết hôn
và có giá trị là 0 nếu người nhập cư đang độc thân Vì vậy hệ số β2 được kỳ vọng mang dấu âm hoặc dấu dương
TGIANNC: là biến định lượng, cho biết thời gian người nhập cư sinh
sống tại nơi chuyển đến tính đến thời điểm hiện tại (năm) Biến số thời gian nhập cư tác động trực tiếp đến khả năng tạo ra thu nhập của người nhập cư Vì đối tượng nhập cư cư trú càng lâu thì họ sẽ thích nghi với môi trường sống và nhanh nhạy tiếp cận các thông tin tìm việc làm Vì vậy hệ số β3 được kỳ vọng mang dấu dương
CHIPHI: là biến định lượng, cho biết các khoản tiền mà người nhập cư
phải bỏ ra để duy trì hoạt động buôn bán hằng ngày Khi chi phí kinh doanh càng tăng thì sẽ làm giảm đi lợi nhuận của họ và mức sinh lời sẽ giảm Vì vậy
hệ số β5 được kỳ vọng mang dấu âm
TONGGIO: là tổng số thời gian bán hàng trong ngày, tác giả sử dụng
thang đo tỷ lệ để đo lường biến này Số giờ bán có mối quan hệ tương quan thuận với thu nhập của người kinh doanh, họ tham gia vào nhiều hoạt động kinh doanh và số giờ bán càng lớn thì thu nhập của gia đình sẽ càng cao Vì vậy, hệ số β6 trong mô hình được kỳ vọng có giá trị dương
Trang 40HAILONG: là biến định tính, thể hiện mức độ đánh giá sự hài lòng của
người nhập cư đối với công việc và cuộc sống hiện tại, được đo lường thông qua thang đo Likert 5 mức độ 1 Rất không hài lòng, 2 Không hài lòng, 3 Bình thường, 4 Hài lòng, 5 Rất hài lòng Khi người nhập cư cảm thấy hài lòng với công việc hiện tại thì họ sẽ có tinh thần và động lực để làm việc tốt hơn Vì vậy hệ số β7 được kỳ vọng mang dấu dương
HINHTHUCBAN: là biến giả, cho biết hình thức kinh doanh của đối
tượng nhập cư là cố định hay lưu động Biến hình thức bán có giá trị là 1 nếu người nhập cư có hình thức kinh doanh là cố định và là 0 là hình thức lưu động Vì vậy hệ số β8 được kỳ vọng mang dấu âm hoặc dấu dương
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được sử dụng trong đề tài để thu thập
số liệu từ đồi tượng nghiên cứu Vì đây là phương pháp lấy mẫu dựa trên sự thuận lợi hay tính dễ tiếp cận của đối tượng Lấy mẫu thuận tiện thường được dùng trong nghiên cứu khám phá, xác định ý nghĩa thực tiễn của vấn đề nghiên cứu, hoặc sử dụng trong quá trình khảo sát thử bảng câu hỏi; hay khi muốn ước lượng
sơ bộ về vấn đề đang quan tâm Ưu điểm của phương pháp này là thuận lợi cho việc chọn đáp án của đáp viên, tiết kiệm thời gian và chi phí điều tra, tiến hành thu
dữ liệu rất nhanh chóng (Lưu Thanh Đức Hải, 2007)11
+ Phương pháp xác định cỡ mẫu:
Phương pháp phân tích được tác giả sử dụng trong bài nghiên cứu là
phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính đa biến Theo Tabachnick và
Fidell (1996) đối với phân tích hồi quy đa biến thì cỡ mẫu tối thiểu cần đạt
được tính theo công thức là n ≥ 8m + 50 (n: cỡ mẫu, m: số biến độc lập) Vì
mô hình nghiên cứu tác giả đề xuất có 8 biến quan sát, do đó số quan sát tối thiểu cần thiết của nghiên cứu là 8*8+50 = 114 quan sát Thực tế, cỡ mẫu được tác giả đã thu thập là 148 quan sát là đảm bảo yêu cầu về cỡ mẫu trong phương pháp nghiên cứu
+ Số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp trong bài bao gồm: điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế
- xã hội và những đặc điểm liên quan đến tình hình dân số và việc làm trên địa
11
Giáo trình Nghiên cứu Marketing – Lưu Thanh Đức Hải (8/2007)