Giả thuyết khoa học Nếu xác định được thực trạng của mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi, đồng thời đề ra những biện pháp giáo dục phù hợp thì sẽ nâng cao chất l
Trang 1Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Chuyên ngành: Chăm sóc vệ sinh trẻ em
Người hướng dẫn khoa học ThS DƯƠNG THỊ THANH THẢO
HÀ NỘI - 2015
Trang 3Lời Cảm Ơn
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc với cô giáo ThS
Dương Thị Thanh Thảo – Người đã tận tình hướng dẫn, động viên, giúp đỡ
em trong suốt quá trình làm khóa luận
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô Khoa Giáo dục Tiểu học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Xin được cản ơn sự hợp tác, giúp đỡ của Ban Giám hiệu, các cô giáo cùng bạn bè động nghiệp và các cháu lớp 4 tuổi Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên –Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện cho em khảo sát thực trạng và thực nghiệm sư phạm
Cuối cùng em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn nhiệt tình, giúp đỡ động viên, quan tâm tiếp thêm niềm tin và nghị lực cho em trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm
Người thực hiện
Phạm Thị Minh Tâm
Trang 4Lời Cam Đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi với
sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – ThS Dương Thị Thanh Thảo Những
thông tin, số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài cũng chưa được công bố trong bất kì một công trình khoa học nào
Trang 5MỤC LỤC
Phần I: Phần mở đầu 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết khoa học 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp của đề tài 3
Phần II: NỘI DUNG 4
Chương I: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 4
1.1.Cơ sở lý luận 4
1.1.1 Một số khái niệm 4
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá thói quen vệ sinh thân thể 5
1.1.3.Đặc điểm của trẻ 4 tuổi 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 9
1.2.1.Khảo sát sự nhận thức của trẻ 10
1.2.2 Khảo sát việc thực hiện thói quen của trẻ 10
1.3 Một số nghiên cứu về thói quen vệ sinh thân thểError! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÌNH THÀNH THÓI QUEN 11
VỆ SINH THÂN THỂ CỦA TRẺ LỚP 4 TUỔI A Ở TRƯỜNG 11
MẦM NON HOA SEN 11
2.1 Mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi 11
2.1.1 Thói quen rửa mặt 11
2.1.2 Thói quen rửa tay 12
Trang 62.1.3.Thói quen đánh răng 14
2.1.4, Thói quen chải tóc 15
2.1.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 16
2.2 Biện pháp nhằm nâng cao mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ lớp 4 tuổi A ở trường Mầm non Hoa Sen 17
2.2.1 Thông qua hoạt động học tập 18
2.2.2 Thông qua hoạt động vui chơi 19
2.2.3 Thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày 19
2.2.4 Phối hợp với gia đình 20
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM KHOA HỌC 21
3.1 Mục đích thực nghiệm 21
3.2 Đối tượng thực nghiệm 21
3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 21
3.3.1 Hoạt động học tập 21
3.3.2 Hoạt động vui chơi 23
3.3.3 Chế độ sinh hoạt hàng ngày 27
3.3.4 Phối hợp với gia đình 30
3.4 Kết quả thực nghiệm 33
3.4.1 Thói quen rửa mặt 33
3.4.2 Thói quen rửa tay 34
3.4.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ 36
Phần III: Kết Luận 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
Trang 7Chăm sóc sức khỏe trẻ thơ là công việc của toàn xã hội Trẻ em nếu được chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ sẽ ít ốm đau bệnh tật và phát triển tốt Công tác chăm sóc giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ trong độ tuổi mầm non là việc làm thiết thực nhằm giúp trẻ có nề nếp thói quen vệ sinh, phòng tránh bệnh tật, tăng cường sức khỏe, hình thành những kĩ năng sống cơ bản đầu tiên, góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng trong tương lai
Ở trẻ 4 tuổi nói riêng và trẻ ở độ tuổi mầm non khác nói chung mọi phẩm chất và nhân cách được hình thành, phát triển trong những điều kiện ổn định, trên nền tảng thói quen Và phát triển thể chất là một trong những giáo dục toàn diện cho trẻ Vệ sinh thân thể là những hành động rất quan trọng cần hình thành cho trẻ để tạo cho trẻ những kỹ năng, kỹ xảo trong việc tự phục vụ bản thân trẻ
Trên thực tế, thói quan vệ sinh thân thể ở trẻ lên 4 khá ổn định, nhiều trẻ thực hiện đúng và tương đối tốt Tuy nhiên, thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
4 tuổi nói riêng và trẻ ở các lứa tuổi khác nói chung phần lớn vẫn ở mức thấp Trẻ thực hiện không tự giác hoặc thực hiện không đúng, không đảm bảo vệ sinh Mỗi trẻ có sự nhận thức và thực hiện các hành động vệ sinh thân thể là
Trang 82
khác nhau Nếu chúng ta xác định được mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ ở mức nào, thì chúng ta sẽ có những biện pháp giáo dục trẻ để nâng cao dần mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ Là một giáo viên mầm non tương lai với những kiến thức có được trong quá trình học tập và những kinh nghiệm bên ngoài thực tế tại các trường mầm non, tôi nhận thấy việc xác định mức độ thói quen vệ sinh cho trẻ 4 tuổi là việc làm cần
thiết và rất có ý nghĩa Vì vậy, tôi lựa chọn đề tài “Đánh giá mức độ hình
thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ lớp 4 tuổi ở Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc” này để giúp trẻ tăng mức độ hình thành thói
que vệ sinh thân thể
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: thói quen vệ sinh thân thể của trẻ lớp 4 tuổi ở Trường Mầm non Hoa Sen
- Khách thể nghiên cứu: thói quen vệ sinh thân thể của trẻ mầm non
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đánh giá mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi
- Đánh giá mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi
ở Trường Mầm non Hoa Sen được tiến hành theo 5 nội dung sau: Thói quen rửa mặt, thói quen rửa tay, thói quen đánh răng, thói quen chải tóc, thói quen
ăn mặc quần áo sạch sẽ
Trang 93
- Đề xuất những biện pháp để nâng cao mức độ hình thành thói quen
vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi ở Trường Mầm non Hoa Sen
5 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: nghiên cứu thói quen vệ sinh thân thể cuả trẻ lớp 4 tuổi
- Địa điểm: lớp 4 tuổi Trường Mầm non Hoa Sen – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
- Số lượng trẻ nghiên cứu: 30 trẻ
6 Giả thuyết khoa học
Nếu xác định được thực trạng của mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi, đồng thời đề ra những biện pháp giáo dục phù hợp thì
sẽ nâng cao chất lượng thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra, thực nghiệm, thống kê, tổng kết kinh nghiệm
8 Đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá cơ sở lý thuyết liên quan đến việc giáo dục thói quen
vệ sinh cho trẻ 4 tuổi ở Trường Mầm non Hoa Sen-Vĩnh Yên- Vĩnh Phúc
- Phân tích được nội dung và các phương pháp giáo dục thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ 4 tuổi
Trang 10
4
NỘI DUNG Chương1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Thói quen vệ sinh
Thói quen vệ sinh được hình thành từ kĩ xảo vì vậy để xác định khái niệm
“thói quen vệ sinh” và hiểu được quá trình hình thành thói quen này của trẻ cần tìm hiểu về khái niệm kĩ xảo
+ Kĩ xảo là những hành động tự động hóa, nhưng trong quá trình hình thành nhất thiết phải có sự tham gia của ý thức Trong quá trình hoạt động kĩ xảo cần được củng cố và hoàn thiện
Kĩ xảo được hình thành qua 3 giai đoạn
Giai đoạn 1: Hiểu cách làm Trẻ cần hiểu mỗi hành động gồm những thao tác nào? Các thao tác đó diễn ra theo trình tự nào? Cách tiến hành mỗi thao tác cụ thể
Giai đoạn 2: Hình thành kĩ năng Trẻ biết vận dụng những tri thức đã
có để tiến hành 1 hoạt động nào đó, đòi hỏi phải có sự tập trung chú ý, có ý trí
và biết vượt qua khó khăn
Giai đoạn 3: Hình thành kĩ xảo Trẻ biết biến các hành động có ý chí thành các hoạt động tự động hóa bằng cách luyện tập nhiều lần
Như vậy kĩ xảo vệ sinh là những kĩ xảo hướng tới việc bảo vệ sức khỏe
=> Thói quen vệ sinh: Thường chỉ những hành vi ứng xử của cá nhân
được diễn ra trong những điều kiện ổn định về thời gian, không gian và quan
hệ xã hội nhất định Thói quen có nội dung tâm lý ổn định và thường gắn với nhu cầu cá nhân Khi đã trở thành thói quen, mọi hoạt động tâm lý trở nên cố định, cân bằng và khó loại bỏ[3]
- Vệ sinh thân thể: Là những hành động hướng tới việc vệ sinh thân thể,
đã được tự động một phần trên cơ sở hình thành các định hình động lực bền
Trang 115
vững (thực chất là các phản xạ có điều kiện) trên vỏ não nhờ quá trình lặp lại
1.1.2 Các tiêu chí đánh giá thói quen vệ sinh thân thể
Theo Bloom, mục tiêu giáo dục con người thường thực hiện trên ba lĩnh vực: Nhận thức, Kĩ năng, Thái độ
Trong giáo dục, việc đánh giá không chỉ nhằm mục đích xác định kết quả giáo dục đã đạt được, mà cần phải quan tâm đến những tiến bộ đã đạt được ở trẻ sau một thời gian nhất định, phát hiện những khó khăn của trẻ, đánh giá sự phù hợp của nội dung và việc sử dụng các biện pháp giáo dục
Do vậy, khi đánh giá thói quen văn hoá vệ sinh của trẻ Cần phải tìm hiểu mức độ nhận thức và thực hiện của trẻ để có thể tìm ra những tác động giáo dục phù hợp với chúng
Các tiêu chí được xác định phải bao quát được mọi khía cạnh của vấn đề đánh giá, phải độc lập với nhau nhưng lại cho phép có thể kiểm tra nhiều tiêu chí cùng một lúc
Các tiêu chí đánh giá sự nhận thức:
Nhận biết được hành động vệ sinh
Biết được các yêu cầu của hành động vệ sinh
Hiểu được cách thể hiện hành động vệ sinh
Hiểu được ý nghĩa của hành động vệ sinh
Các tiêu chí đánh giá việc thực hiện:
Trang 12Loại trung bình (3 điểm): Có biết về hành động, biết các yêu cầu đối với hành động trong một số tình huống quen thuộc, chưa hiểu ý nghĩa của hành động
Loại yếu (2 điểm): Có biết về hành động, nêu ra các yêu cầu của hành động không phù hợp với tình huống cụ thể
Loại kém (1 điểm): Không biết các hành động văn hoá vệ sinh
b, Thang đánh giá việc thực hiện
Loại tốt (5 điểm): Thực hiện đúng các yêu cầu của hành động, thực hiện một cách tự giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo
Loại khá (4 điểm): Thực hiện đúng các yêu cầu của hành động,tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, có thể hiện thái độ đúng, thực hiện tương đối thành thạo
Loại trung bình (3 điểm): Thực hiện đúng các yêu cầu cảu hành động, tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên, có cố gắng thể hiện thái độ đúng, thực hiện chưa thành thạo
Loại yếu (2 điểm): Trong những tình huống quen thuộc, khi được giáo viên nhắc nhở, có cố gắng thực hiện một số yêu cầu đối với hành động, nhưng thể hiện thái độ không đúng
Loại kém (1 điểm): Không thực hiện hành động văn hoá vệ sinh[3]
1.1.3 Đặc điểm của trẻ 4 tuổi
* Đặc điểm sinh lý
Trang 137
Sự phát triển tâm lý của trẻ diễn ra chậm hơn so với giai đoạn trước về
số lượng, chiều cao trung bình hàng năm tăng được từ 5-8cm, cân nặng trung bình hằng năm nặng từ 1-1,5kg Có sự thay đổi rõ rệt về chất lượng phát triển
- Hệ tiêu hóa: Ngày càng phát triển, khả năng hoạt động của các tế bào thần kinh tăng lên, quá trình cảm ứng ở vỏ não phát triển, trẻ có thể tiến hành hoạt động trong thời gian lâu hơn
- Hệ thần kinh: Từ lúc sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ
để thực hiện các chức năng của mình Trẻ 4 tuổi quá trình ức chế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích đánh giá, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và phân biệt các hiện tượng xung quanh
- Hệ xương: Trẻ chưa hình thành cốt hóa, thành phần hóa học xương của ter chiếm nhiều nước và chất hữu cơ hơn chất vô cơ so với người lớn, nên
có nhiều sụn xương, xương mềm dễ cong hơn
- Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ nhỏ mảnh, thành phần nước tương đối nhiều, nên sức mạnh của cơ bắp còn yếu,
cơ nhanh mệt mỏi Do vậy trẻ em lứa tuổi này không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp cần xen kẽ giữa vận động và nghỉ ngơi thích hợp trong thời gian luyện tập
- Khớp: Khớp của trẻ có đặc điểm là khớp còn nông, cơ bắp xung quanh khớp còn mềm yếu, dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chẳng của khớp tương đối yếu Hoạt động vận động phù hợ với lứa tuổi của trẻ sẽ giúp khớp đươc rèn luyện, từ đó phát triển dần tính vững chắc của khớp
- Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch cấu tạo thành Trẻ 4 tuổi do phát triển lồng ngực, tim ở tư thế thẳng giống người lớn Để tăng cường công năng của tim, khi cho trẻ luyện tập nên đa dạng hóa các bài tập, nâng dần lượng vận động cũng như cường độ vận động phối hợp động và tĩnh một cách nhẹ nhàng
Trang 14- Hệ trao đổi chất: Cơ thể trẻ đang phát triển đói hỏi phải bổ sung liên tục năng lượng tiêu hao và cung cấp các chất tạo hình để kiến tạo các cơ quan
và mô Quá trình hấp thu các chất ở trẻ vượt cao hơn quá trình phân hủy và đốt cháy Tuổi càng nhỏ quá trình lớn lên và hình thành các tế bào và mô của trẻ diễn ra càng nhanh
- Cơ quan phát âm cũng phát triển và hoàn thiện dần Ở giai đoạn này ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc điều khiển hành vi của trẻ
Dựa vào đặc điểm của trẻ tuổi mà người lớn cần có nội dung và phương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, học và vui chơi hợp lý, khoa học giúp cho cơ thể trẻ được phát triển mạnh khỏe Đây chính là điều kiện tốt nhất để giúp trẻ có năng lực tham gia vao quá trình học tập, vui chơi
* Đặc điểm bệnh lý
Bênh tật của trẻ giai đoạn này giảm đi rõ rệt, các bệnh về đường tiêu hóa
ít gặp hơn, tuy nhiên trẻ hay mắc các bệnh nhiễm khuẩn, các bệnh dị ứng, hen Do trẻ luôn muốn khám phá thế giới bên ngoài, vì vậy, trẻ hay nghịch đất, cát, Vì thế, các căn bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ có nguy cơ bị nhiễm cao
* Đặc điểm tâm lý
+ Trẻ bước qua giai đoạn khủng hoảng tuổi lên ba và bắt đầu hình thành
ý thức bản ngã Trẻ tư duy độc lập hơn, không cần thao tác trực tiếp với đồ vật quá nhiều, ở trẻ hình thành tư duy trực quan hình tượng rõ nét
Trang 159
+ Trẻ mong muốn làm được những việc như người lớn nhưng bản thân trẻ lại chưa đủ khả năng để thực hiện, nên trẻ tham gia vào trò chơi đóng vai theo chủ đề và ướm mình vào công việc của người lớn[4]
+ Trẻ có khả năng lao động tự phục vụ bản thân và mong muốn giúp đỡ người khác, hòa nhập với cộng đồng, vui chơi đoàn kết với bạn bè, biết thể hiện tình cảm với người xung quanh một cách đúng mực
+ Trẻ biết nói câu dài, nói lời hay, thích ca hát, nghe hát, nghe nhạc, biểu lộ cảm xúc trước cái đẹp của sự vật hiện tượng xung quanh
Trẻ 4 tuổi có những tiến bộ rõ nét về mọi mặt: thể chất,nhận thức, ngôn ngữ, tình cảm, kĩ năng xã hội và xúc cảm thẩm mỹ so với trẻ 3 tuổi trước đó
* Chăm sóc trẻ
Để tạo điều kiện cho các cơ quan trong cơ thể có thể hoàn thiện vào cuối giai đoạn này trong điều kiện hệ thần kinh chưa hoàn thiện, cần tổ chức chế độ sinh hoạt hợp lý cho trẻ
Cần tăng cường biện pháp rèn luyện cơ thể để giúp trẻ chủ động phòng bệnh, đặc biệt là tăng cường rèn luyện cơ thể Như cho trẻ tập thể dục hàng ngày, chạy thể dục buổi sáng, cho trẻ ăn đủ dinh dưỡng, ăn đúng giờ
và đủ lượng cần thiết ngủ đủ giấc, đúng giờ và ngủ ngon giấc
1.2 Cơ sở thực tiễn
Để đánh giá thói quen vệ sinh thân thể của trẻ, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp thu thập thông tin: phỏng vấn trao đổi với trẻ, quan sát hành vi của trẻ trong các hoạt động hàng ngày, tạo tình huống giáo dục Đồng thời, kết hợp với giáo viên và phụ huynh để biết thêm thông tin về trẻ Kết quả thu được sẽ được xử lý bằng toán thống kê
Trang 1610
1.2.1 Khảo sát sự nhận thức của trẻ
Được tiến hành riêng với từng trẻ Người kiểm tra tạo tâm trạng thoải mái cho trẻ dễ hoà vào công việc sắp thực hiện bằng các câu chào, hỏi thăm trẻ Khi trẻ thoải mái, sẵn sàng mới giới thiệu công việc
Đặt ra các câu hỏi đối với trẻ để xem trẻ hiểu gì về các thói quen vệ sinh thân thể
Các thói quen vệ sinh thân thể của trẻ
- Tại sao cần phải làm việc đó?
- Cách làm việc đó như thế nào?
- Khi nào cần phải làm việc đó?
Từ những câu hỏi trên để đánh giá khả năng nhận thức của trẻ ở mức độ nào
Khi đặt các câu hỏi đối với trẻ không nhất thiết phải đặt nhiều câu hỏi cùng một lúc ngay mà tùy thuộc vào khả năng và thái độ của trẻ để hỏi
1.2.2 Khảo sát việc thực hiện thói quen của trẻ
Được thực hiện bằng cách quan sát hoạt động và sinh hoạt hàng ngày của trẻ tại trường mầm non
Mỗi loại thói quen cần tạo điều kiện cho trẻ thực hiện ít nhất 3 lần Nếu không có cơ hội quan sát đủ số lần, người kiểm tra tạo ra các tình huống cho trẻ tự giải quyết
Ngoài ra, kết quả khảo sát còn được xem xét thêm thông qua trao đổi với giáo viên và phụ huynh
Đánh giá việc thực hiện của trẻ qua thang đánh giá việc thực hiện
Trang 17
11
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HÌNH THÀNH THÓI QUEN
VỆ SINH THÂN THỂ CỦA TRẺ LỚP 4 TUỔI Ở TRƯỜNG
MẦM NON HOA SEN 2.1 Mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ 4 tuổi
Qua quá trình nghiên cứu về mức độ hình thành thói quen vệ sinh thân thể cho trẻ tôi đã thu được kết quả về các thói quen của trẻ như sau:
2.1.1 Thói quen rửa mặt
Qua quá trình nghiên cứu thói quen rửa tay cho trẻ chúng tôi đã thu được kết quả thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Kết quả điều tra về thói quen rửa mặt của trẻ 4 tuổi
8/30 26,7%
12/30 40%
4/30 13,3%
0%
Khả năng
thực hiện
5/30 13,3%
8/30 26,7%
13/30 43,3%
4/30 13.3%
0%
- Nhận thức: Theo như đặc điểm tâm lý của trẻ 4 tuổi thì trẻ ở giai đoạn
này nhận thức khá tốt, việc nhận thức về thói quen rửa tay của trẻ đã được giáo dục từ 3 tuổi Trẻ biết khi nào cần rửa tay: Trước khi ăn, sau khi ăn, khi chơi đồ chơi, Tuy nhiên, qua bảng 2.1 ta thấy được khả năng nhận thức của trẻ ở mức tốt chỉ được 20% đó là những trẻ hiểu ý nghĩa của hành động, hiểu cách thực hiện hành động Khả năng ở mức khá của trẻ chiếm 26,7% là trẻ có biết về hành động, biết các yêu cầu đối với hành động đó, hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, hoặc khi được giáo viên gợi
Trang 1812
trẻ có biết về hành động, biết các yêu cầu đối với hành động, và hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, chưa hiểu ý nghĩa của hành động 13.3% là trẻ lệ phần trăm của trẻ ở mức độ yếu, con số này cho ta thấy trẻ ở mức độ yếu khá cao, trẻ có biết hành động nhưng nêu ra các yêu cầu của hành động không phù hợp với tình huống cụ thể Không có trẻ nào ở mức kém Từ bảng trên cho ta thấy khả năng nhận thức về thói quen rửa mặt của trẻ con thấp
- Thực hiện: Ở giai đoạn này trẻ đã biết tự phục vụ bản thân, làm những công việc như người lớn nhưng trẻ mới chỉ dừng lại ở khả năng nhận thức hành động, còn khả năng thực hiện các hành động chưa được tốt Nhiều trẻ nhận thức tốt nhưng khả năng thực hiện của trẻ lại kém vì thế mà khả năng thực hiện ở mức độ tốt chỉ đạt 13,3% là những trẻ thực hiện đúng các yêu cầu của hành động, thực hiện một cách tự giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo 26,7% là trẻ đạt loại khá tự giác thực hiện trong một tình huống quen thuộc, có thể hiện thái độ đúng, thực hiện tương đối thành thạo 43,3%
số trẻ đạt trung bình tự giác thực hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên, thực hiện chưa thành thạo 13,3%
số trẻ đạt loại yếu, có cố gắng thực hiện yêu cầu với hành động, nhưng thể hiện thái độ không đúng Không có trẻ nào kém
2.1.2 Thói quen rửa tay
- Qua quá trình nghiên cứu về khả năng nhận thức và việc thực hiện thói quen rửa tay của trẻ 4 tuổi, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 2
Trang 1918/30 60%
4/30 13,3%
0% 0%
Khả năng
thực hiện
10/30 33,3%
15/30 50%
2/30 6,7%
3/30 10%
0%
- Nhận thức: Trẻ ở độ tuổi này nhận thức về thói quen rửa tay chưa cao,
và thường do gia đình, giáo viên nhắc nhở trẻ rửa tay, trẻ đạt loại tốt chỉ chiếm 26,7% là biết rõ các yêu cầu đối với hành động đó, hiểu cách thể hiện, hiểu ý nghĩa của hành động Phần lớn trẻ đạt loại khá 60% hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, có thể hiểu được ý nghĩa của hành động khi được giáo viên gợi ý 13,3% số trẻ đạt loại trung bình là hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, chưa hiểu ý nghĩa của hành động 0% số trẻ đạt loại yếu, đưa ra các hành động không phù hợp với tình huống cụ thể 0% số trẻ bị kém, không biết các hành động văn hoá vệ sinh
- Thực hiện: Trẻ ở độ tuổi này khả năng thực hiện các thói quen còn
chậm 33,3% số trẻ đạt loại tốt là thực hiện hành động một cách tự giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo 50% số trẻ đạt loại khá biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, có thể hiện thái độ đúng, thực hiện tương đối thành thạo Số trẻ trung bình chiếm tỉ lệ cao tới 6,7% , tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có mặt của giáo viên,
cố gắng thể hiện thái độ đúng, nhưng thực hiện chưa thành thạo 10% số trẻ
Trang 2014
đạt loại yếu, cố gắng thực hiện một số yêu cầu, nhưng thể hiện thái độ không đúng 13,3% số trẻ bị kém, không thực hiện hành động văn hoá vệ sinh
2.1.3 Thói quen đánh răng
- Qua quá trình nghiên cứu về quá trình nhận thức và thực hiện của trẻ 4 tuôi về thói quen đánh răng, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 3
Bảng 3 Kết quả điều tra về thói quen đánh răng của trẻ 4 tuổi
8/30 26,7%
15/30 50%
1/30 3,3%
0%
Khả năng
thực hiện
6/30 20%
9/30 30%
11/30 36,7%
2/30 6,7%
2/30 6,7%
- Nhận thức: Trong giai đoạn này khả năng nhận thức về thói quen đánh
răng của trẻ đã được nhận thức từ lứa tuổi trước, vì thế mà trẻ thực hiện tốt hơn các lứa tuổi trước, loại tốt đạt 20% là biết rõ các yêu cầu đối với hành động đó, hiểu cách thể hiện, hiểu ý nghĩa của hành động Trẻ đạt loại khá chiếm 26,7% hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi giáo viên gợi ý Loại trung bình chiếm tỉ lệ 50%, biết các yêu cầu đối với hành động trong một số tình huống quen thuộc, nhưng chưa hiểu
ý nghĩa của hành động, trẻ ở mức trung bình cao Số trẻ đạt loại yếu chiếm 3,3%, nêu ra các hành động không phù hợp với tình huống cụ thể không có loại kém
- Thực hiện: Trẻ đạt loại tốt chiếm 20% trẻ thực hiện hành động một cách tự
giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo Tỉ lệ trẻ đạt loại khá chiếm 30% khá trẻ biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, có thể
Trang 2115
hiện thái độ đúng, thực hiện tương đối thành thạo Phần lớn trẻ đạt loại trung bình chiếm 36,7%, tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có giáo viên gợi ý Số trẻ đạt loại yếu chiếm 6,7% có cố gắng thực hiện một số yêu cầu đối với hành động, nhưng thể hiện thái độ không đúng 6,7%số trẻ bị loại kém là những trẻ không thực hiện hành động văn hóa vệ sinh
2.1.4 Thói quen chải tóc
- Qua quá trình nghiên cứu về khả năng nhận thúc và thực hiên của trẻ 4 tuổi về thói quen chải tóc, chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4
Bảng 4 Kết quả điều tra về thói quen chải tóc của trẻ 4 tuổi
10/30 33,3%
10/30 33,3%
2/30 6,67%
0%
Khả năng
thực hiện
5/30 16,7%
8/30 26,7%
14/30 46,7%
2/30 6,7%
1/30 3,3%
- Nhận thức: Từ những độ tuổi trước, trẻ đã có ý thức về thói quen chải tóc,
biết khi nào cần chải tóc, chải tóc để làm gì? và đa số các trẻ gái nhận thức rất tốt về việc chải tóc Nhưng số trẻ đạt loại tốt chỉ chiếm 26,7%, hiểu cách thể hiện, hiểu ý nghĩa của hành động Số trẻ đạt loại khá chiếm 33,3%, hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, hoặc khi có sự gợi ý của giáo viên Loại trung bình chiếm 33,3%, biết các yêu cầu đối với hành động trong một số tình huống quen thuộc, nhưng chưa hiểu ý nghĩa của hành động.trẻ đạt loại yếu chiếm 6,67% Không có loại kém
Trang 2216
- Thực hiện: Trẻ đã nhận thức được về thói quen chải tóc, nhưng về khả
năng thực hiên của trẻ còn lóng ngóng, chưa thành thạo 16,7% số trẻ đạt loại tốt thực hiện một cách tự giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo 26,7% số trẻ đạt loại khá biết tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, thể hiện tương đối thành thạo Số trẻ đạt mức trung bình chiếm tỉ lệ 46,7%, biết thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi có gợi ý của giáo viên, thực hiện chưa thành thạo 6.7% số trẻ đạt loại yếu có cố gắng thực hiện một số yêu cầu đối với hành động, nhưng thể hiện thái độ không đúng 3,37% số trẻ đạt loại kém
2.1.5 Thói quen mặc quần áo sạch sẽ
- Kết quả việc khảo sát sự nhận thức và việc thực hiện thói quen mặc quần áo sạch sẽ của trẻ 4 tuổi được thể hiện qua bảng 5
Bảng 5 Kết quả điều tra về thói quen mặc quần áo sạch sẽ của trẻ 4 tuổi
10/30 33,3%
4/30 13,3%
0% 0%
Khả năng thực
hiện
12/30 40%
10/30 33.3%
8/30 26,7%
0% 0%
- Nhận thức: Đa số trẻ ở độ tuổi này đều có nhận thức về thói quen mặc
quần áo sạch sẽ, nhận thức được khi nào cần mặc, thay quần áo, mặc như thế nào? Đặc biệt trẻ ở lứa tuổi này rất thích mặc đẹp như người lớn Vì vậy, trẻ đạt mức tốt khá cao chiếm 53,3% Trẻ đạt loại khá hiểu cách thể hiện hành động trong một số tình huống quen thuộc, hoặc khi có sự gợi ý của giáo viên
Trang 2317
chiếm 33.3% Số trẻ đạt loại trung bình chiếm 13,3% 0% số trẻ bị yếu và kém
- Thực hiện: Trẻ ở độ tuổi này đã biết tự thay quần áo cho bản thân sao
cho phù hợp với thời tiết và nhiệt độ cơ thể Khả năng thực hiện thói quen của trẻ ở mức tốt chiếm 40% trẻ thực hiện một cách tự giác, thể hiện thái độ đúng, thực hiện thành thạo 33,3% số trẻ đạt loại khá, tự giác thực hiện trong một số tình huống quen thuộc, thực hiện tương đối thành thạo Số trẻ đạt loại trung bình chiếm 26,7% biết thực hiện trong một số tình huống quen thuộc hoặc khi
có mặt của giáo viên, thực hiện chưa thành thạo 0% số trẻ đạt loại yếu và kém
thân thể của trẻ lớp 4 tuổi Trường Mầm non Hoa Sen tôi thấy được: Mức độ chung về thói quen vệ sinh thân thể của trẻ ở mức trung bình Nhiều trẻ chưa nhận thức được ý nghĩa của hành động cũng như cách thực hiện hành động như thế nòa cho đúng Có nhiều trẻ biết về thói quen nhưng khi thực hiện nó thì lại kém, hầu như thực hiện hành động vệ sinh không đúng quy trình Trẻ thực hiện còn lóng ngóng, cẩu thả Nhiều trẻ thực hiện cho xong lần không cần biết là mình làm như thế có sạch hay không Trẻ chưa tự giác thực hiện các hành động vệ sinh, khi thực hiện thì chưa thoải mái, có nhiều trẻ khi thực hiện tỏ thái độ không thích như: rửa cho xong lần hoặc chỉ cho tay ướt là ra không sát xà bông
quen rửa mặt, thói quen chải tóc và thói quen đánh răng ở trẻ thấp hơn so với thói quen mặc quần áo sạch sẽ và thói quen rửa tay Những thói quen đó thấp hơn là vì những hành động đó thực hiện khó hơn, đòi hỏi trẻ phải có kĩ năng tốt Chính vì thế khi áp dụng các biện pháp để nâng cao mức độ hình thành
Trang 242.2.1 Thông qua hoạt động học tập
Đối với trẻ 4 tuổi do các trẻ đã biết được các yêu cầu hành động vệ sinh, hiểu được cách hành động nên giáo dục thói quen vệ sinh chủ yếu là việc thực hiện hành động vệ sinh Do đó, nội dung các thói quen vệ sinh thân thể được lồng ghép phụ thuộc vào nội dung cụ thể của hoạt động học tập, cần tránh các biện pháp khai thác hoạt động học tập một cách máy móc, quá sơ sài mang tính hình thức hoặc quá tải làm rối loạn nội dung chính của hoạt động học tập Việc giáo dục thói quen vệ sinh không nên tiến hành trên một tiết học riêng biệt, mà phải tiến hành dưới phương thức lồng ghép, tích hợp vào các tiết học ở các mức độ khác nhau (liên hệ, lồng ghép, tích hợp) Thực ra, việc liên hệ, lồng ghép, tích hợp không có sự khác nhau về bản chất mà chỉ là sự khác nhau về mức độ đưa các nội dung giáo dục vệ sinh vào tiết học
Cần phải đảm bảo các yêu cầu sau đây khi lồng ghép tích hợp giáo dục
vệ sinh vào hoạt động học tập:
- Đảm bảo tính tự nhiên, hợp lý, khách quan của tri thức môn học Nội dung giáo dục phải là một bộ phận không tách rời của hoạt động học tập Đó
là những tri thức khách quan, xuất phát tự nhiên từ hoạt động học tập, có tác dụng làm tăng ý nghĩa thực tiễn của hoạt động học tập và gắn với cuộc sống
Trang 2519
- Đảm bảo tính hệ thống, trọn vẹn của nội dung hoạt động học tập Các tri thức được lồng ghép không được làm biến dạng, rối loạn nội dung hoạt - động học tập
- Nội dung các thói quen vệ sinh được lồng ghép phụ thuộc vào nội dung
cụ thể của hoạt động học tập Cần tránh hiện tượng khai thác hoạt động học tập 1 cách máy móc, quá sơ sài, mang tính hình thức hoặc hiện tượng quá tải làm rối loạn nội dung chính của hoạt động học tập
- Đảm bảo tính vừa sức cho trẻ Bên cạnh đó nội dung đưa ra phải hấp dẫn, thiết thực gần gũi đối với trẻ
2.2.2 Thông qua hoạt động vui chơi
Vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo và nó có vai trò quan trọng đối với việc hình thành nhân cách trẻ nói chung, giáo dục thói quen vệ sinh nói riêng Tham gia vào trò chơi là quá trình trẻ tiếp nhận tri thức một cách tự nhiên, không bị ép buộc Do vậy, khi chơi trẻ có thể lĩnh hội tri thức,
kĩ năng và tạo được những xúc cảm, tình cảm nhất định
Nội dung giáo dục phụ thuộc vào chủ đề chơi Dựa vào chủ đề chơi và mức độ hình thành thói quen của trẻ có thể xác định nội dung giáo dục thói quen vệ sinh trong trò chơi của trẻ
2.2.3 Thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày
Tổ chức chế độ sinh hoạt chính là tổ chức cuộc sống của trẻ và bằng chính cuộc sống đó mà giáo dục trẻ em Do vậy, cần phải tổ chức cuộc sống của trẻ như một chỉnh thể, nhằm phát triển trẻ theo phương hướng và mục tiêu
mà xã hội đòi hỏi Hơn nữa, cuộc sống của trẻ luôn vận động và phát triển, nên những gì giáo dục trẻ phải mới mẻ, thân thiết với cuộc sống hiện tại và cần thiết cho tương lại của chúng
Nội dung giáo dục thói quen vệ sinh trong cuộc sống hàng ngày phụ thuộc vào nội dung hoạt động và sinh hoạt của trẻ Muốn xác định nội dung
Trang 2620
giáo dục cụ thể cần phân tích cuộc sống trẻ thành hệ thống các hoạt động, các mối quan hệ Từ đó phân tích thành việc làm, cách cư xử và các thao tác,
2.2.4 Phối hợp với gia đình
Phối hợp nhằm nâng cao hiểu biết cho phụ huynh, thống nhất yêu cầu, nội dung, phương pháp giáo dục, tạo ra các điều kiện giáo dục cần thiết ở trường và gia đình
Trao đổi thường xuyên với gia đình được tiến hành thường xuyên trong thời gian đón và trả trẻ Có thể sử dụng biện pháp trao đổi với gia đình như: thông báo cho gia đình biết tình hình của trẻ ở lớp và qua gia đình có thể nắm được hành vi của trẻ ở nhà Từ đó tìm ra biện pháp tác động đến trẻ có hiệu quả; tìm hiểu điều kiện sống của trẻ ở nhà và giúp gia đình cải thiện điều kiện sống của trẻ nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục
Tổ chức các cuộc họp với gia đình vào các kì họp đầu năm,giữa năm và cuối năm; trao đổi với gia đình về nội dung biện pháp giáo dục trẻ ở trường, các yêu cầu đối với trẻ, thông báo về tình hình giáo dục của trẻ và cùng thảo luận tìm biện pháp khắc phục; định hướng những nội dung giáo dục tiếp theo
Tổ chức chuyên đề giáo dục thói quen vệ sinh cho gia đình nhằm nâng cao hiểu biết của gia đình về việc giáo dục vệ sinh cho trẻ; học tập kinh nghiệm điển hình về giáo dục thói quen vệ sinh cho trẻ; cùng trao đổi về các nội dung và biện pháp giáo dục
Trang 27khẳng định tính khả thi của biện pháp đã đề xuất
3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm
Khả năng hình thành thói quen vệ sinh thân thể của trẻ còn kém vì vậy
để trẻ thực hiện tốt thói quen vệ sinh này tôi tiến hành giáo dục trẻ thông qua các hoạt động sau
3.3.1 Thói quen rửa mặt
Tôi đã sử đụng các biện pháp sau để giáo dục thói quen rửa mặt cho trẻ:
+ Trong bài hát nói đến con gì?
+ Bạn ấy rửa mặt có dùng đến khăn không?