1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3

69 799 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong quá trình hoạt động đó, học sinh sẽ dần hình thành các kĩ năng học tập cơ bản để đáp ứng nhu cầu học tập của các bậc học tiếp theo.. Môn Tiếng Việt là môn học hướng tới hình thành,

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s u PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC

Trang 2

L Ờ I C Ả M Ơ N

Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Tiểu học, các thầy cô giáo trong tổ bộ môn tâm lí giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thạc sĩ Lê Xuân Tiến - người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để tôi hoàn thành khóa luận này

Trong khi thực hiện đề tài này, do thời gian và năng lực có hạn nên tôi vẫn chưa đi sâu khai thác hết được, vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế Vì vậy, tôi mong nhận được sự đóng góp tham gia ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè

Tôỉ xỉn chân thành cảm on!

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy

Trang 3

L Ờ I C A M Đ O A N

Tôi xin cam đoan đề tài: “Tìm hiểu k ĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lóp 3” là kết quả mà tôi đã trục tiếp nghiên cứu, tìm hiểu và điều tra

tại trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn, Hà Nội Trong quá trình nghiên cún tôi

có sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên

đó chỉ là cơ sở để tôi rút ra được những vấn đề cần tìm hiểu ở đề tài của mình Đây là kết quả của riêng cá nhân tôi, hoàn toàn không trùng với kết quả của các tác giả khác

Neu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thị Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

PHÀN MỞ Đ À U

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứ u

4 Giả thuyết khoa h ọ c

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

6 Phương pháp nghiên c ứ u

7 Phạm vi nghiên cún

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tà i

9 Cấu trúc của khóa luận

PHẦN NỘI D U N G

CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÍ L U Ậ N

1 Tổng quan các công trình nghiên cún có liên quan đến đề tài khóa luận 1.1 Trên thế giới

1.2 Ở Việt Nam

2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

2.1 Khái niệm kĩ năng trong tâm lỉ h ọ c

2.2 Hoạt động học của học sinh Tiếu học

2.3 K ĩ năng học tập

2.3.1 Khái niệm kĩ năng học tập

2.3.2 Các bước hình thành k ĩ năng

2.3.3 Phân loại kĩ năng học tập ở Tiếu học

2.4 K ĩ năng học tiếng Việt

2.4.1 Khái niệm kĩ năng học tiếng Việt

2.4.2 Phân loại kĩ năng học tiếng Việt

1 1 2 2 2 3 3 4 4 4 5 5 5 5 6 6 6

.8

10 10 10 11

11

11 12

Trang 5

CHƯƠNG 2 THỤC TRẠNG KĨ NĂNG HỌC TIẾNG VIỆT CỦA HỌC

SINH LỚP 3 18

2.1 Khái quát về môn Tiếng Việt lớp 3 18

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cún 20

2.3 Ket quả nghiên cứu kĩ năng n g h e 21

2.3.1 K ĩ năng nhận biết các kiếu câu nhờ phân biệt ngữ đ iệu 21

2.3.2 K ĩ năng ghi nhớ và ghi chép nội dung vãn bản vừa nghe 23

2.3.3 K ĩ năng thông hiên nội dung văn bản vừa nghe 25

2.4 Ket quả nghiên CÚ11 kĩ năng n ó i 26

2.4.1 K ĩ năng nói dựa theo câu hỏi định hướng hoặc trả lời các câu hỏi26 2.4.2 K ĩ năng nói theo dàn bài 28

2.4.3 K ĩ năng kế chuyên 30

2.5 Ket quả nghiên cún kĩ năng đ ọ c 32

2.5.1 K ĩ năng đọc diễn cả m 32

2.5.2 K ĩ năng đọc - hiếu 34

2.5.3 K ĩ năng kế chuyên 36

2.6 Kết quả nghiên cứu kĩ năng v iết 38

2.6.1 K ĩ năng viết chính tả 38

2.6.2 K ĩ năng viết văn bản 40

2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng học Tiếng Việt của học sinh lớp 3 43 2.7.1 Nội dung môn Tiếng Việt 43

2.7.2 Phương pháp dạy học môn tiếng Việt 45

2.7.3 Các quá trình tâm lí của học sinh 47

2.8 Biện pháp phát triển các kĩ năng học tiếng Việt cho học sinh lớp 3 50

2.8.1 Luyện kĩ năng học tiếng Việt không chỉ dừỉĩg lại ở mặt k ĩ thuật mà tiến tới hiếu nội dung 50 2.8.2 Luyện kĩ năng học tiếng Việt ở tất cả các cấp độ từ thấp đen cao 51

Trang 6

2.8.3 Luyện k ĩ năng học tiếng Việt trong các dạng lời nói 53

2.8.4 Luyện k ĩ năng học tiếng Việt trong các dạng hoạt động lòi nói, trong các tình huống giao tiếp đa dạng 53

2.8.5 Luyện k ĩ năng học tiếng Việt trên cơ sở tri thức tiếng Việt 57

PHẢN KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM K H Ả O 61 PHỤ LỤC

Trang 7

P H Ầ N M Ở Đ Ầ U

1 Lý do chọn đề tài

Bất kì một quốc gia nào muốn phát triển bền vũng cũng phải quan tâm, chú trọng đến giáo dục Giáo dục Tiểu học là bậc học cơ sở, nền tảng của hệ thống giáo dục vì đây là lần đầu tiên học sinh được tham gia học tập với tư cách là hoạt động chủ đạo Trong quá trình hoạt động đó, học sinh sẽ dần hình thành các kĩ năng học tập cơ bản để đáp ứng nhu cầu học tập của các bậc học tiếp theo

Vì vậy, bên cạnh hệ thống tri thức khoa học phổ thông, cơ bản cần trang bị cho học sinh, các môn học đều phải hướng tới hình thành cho các em những kĩ năng cơ bản cùng với những kĩ năng đặc trung riêng của từng môn Môn Tiếng Việt là môn học hướng tới hình thành, rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng tiếng Việt để phục vụ cho hoạt động học tập và giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày

Hoạt động chủ đạo của học sinh Tiểu học là hoạt động học tập Trước khi đến trường, trẻ đã được học nhiều điều của cuộc sống thường ngày trong

sự giao lưu, tiếp xúc với cha mẹ, với bạn bè và những người xung quanh Từ

“học ăn”, “học nói” đến “học gói”, “học mở”, bất kì đâu và bất cứ lúc nào trẻ

có thể học Song hoạt động đúng nghĩa tâm lí học chỉ nảy sinh và được hình thành ở trẻ em nhờ có phương pháp nhà trường (nội dung, phương pháp, tổ chức cho trẻ em học từ phía nhà trường) Hoạt động này tạo ra sự biến đổi ngay chính bản thân các em cả về trí tuệ, năng lực, cả về tâm hồn, tình cảm lẫn thể chất

Học sinh lớp 3, đây là giai đoạn thứ nhất của bậc Tiểu học, việc hình thành kĩ năng học môn Tiếng Việt là rất quan trọng vì nó là cơ sở cho những lớp học tiếp sau Và việc tìm hiếu về vấn đề kĩ năng của học sinh Tiếu học và đặc biệt là kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3 là rất cần thiết

Trang 8

Là một giáo viên Tiểu học tương lai, quá trình tìm hiếu thực trạng các

kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh tiểu học sẽ giúp cho tôi có được thêm những kiến thức về đặc điếm tâm lí học sinh và kinh nghiệm trong thực

tế giảng dạy Những điều đó sẽ trở thành hành trang hữu ích và thiết thực cho tôi bước vào nghề nay mai

Với tất cả nhũng lí do trên, tôi chọn đề tài: “Tìm hiểu k ĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3 Trên cơ sở đó, đề ra một số biện pháp thử nghiệm nhằm nâng cao kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên C Ú M

Kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3

Khách thế nghiên cứu

39 học sinh lóp 3B trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Son, Hà Nội

4 Giả thuyết khoa học

Các kĩ năng học môn Tiếng Việt đã được hình thành và phát triển ở học sinh lớp 3 và đạt được mức độ trung bình Tuy nhiên, các mức độ phát triển các kĩ năng là không đồng đều giữa các loại học sinh Kĩ năng hiểu nội dung văn bản, kĩ năng nói theo dàn bài và kĩ năng viết văn bản đạt mức độ chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên chưa chủ động hướng dẫn học sinh thực hành, luyện tập các kĩ năng này Vì vậy, vai trò của người giáo viên rất quan trọng trong việc tìm ra các biện pháp tác động vào học sinh nhằm nâng cao kĩ năng học môn Tiếng Việt của các em

Trang 9

6 Phương pháp nghiên cứu

6.7 Phương pháp nghiên cứu lí luận

Tìm hiểu các khái niệm kĩ năng, kĩ năng học tập và các kĩ năng học Tiếng Việt của học sinh

6.4 Thực nghiệm phát hiện

Xây dựng hệ thống bài tập để đo các mức độ của các kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3

6.5 Phương pháp phân tích sản phẩm của học sinh

Phân tích các sản phẩm của học sinh: vở bài tập, các bài kiểm tra để có thêm thông tin về các kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh

6.6 Phương pháp xử tí số liệu

Dùng toán thống kê để xử lí số liệu, phân tích, tổng hợp và khái quát để rút

ra kết luận

Trang 10

7 Phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu thực trạng kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lóp 3 ở trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn, Hà Nội

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Việc tìm hiểu, phát hiện, nghiên cứu thực trạng kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh là rất quan trọng và cần thiết Trên cơ sở tìm hiểu, phát hiện

đó sẽ cung cấp những kiến thức, những hiểu biết thực trạng về kĩ năng nghe, nói, đọc, viết của học sinh lớp 3 Từ đó nêu ra được một số biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh

9 Cấu trúc của khóa luận

PHẦN MỞ ĐẦU

PHÀN NỘI DƯNG

Chương 1 Cơ sở ỉí luận

Chưong 2 Thực trạng kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lóp 3 PHẢN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Trang 11

PHÀN NỘI DƯNG CHƯƠNG 1 C ơ SỞ LÍ LUẬN

1 Tống quan các công trình nghiên cún có liên quan đến đề tài khóa luận

1.1 Trên thế giới

Có rất nhiều công trình nghiên cứu kĩ năng ở các góc độ, các lĩnh vực khác nhau và có các quan điếm khác nhau giữa nhiều nhà nghiên cứu

Cụ thể về vấn đề kĩ năng và kĩ năng học tập có các quan điểm như sau:

• Kĩ năng được nghiên cứu trên ba phương hướng cơ bản

- Hướng thứ nhất: Các công trình nghiên cứu kĩ năng ở mức độ đại cương, khái quát về bản chất kĩ năng, các giai đoạn, các quy luật, các điều kiện hình thành kĩ năng, mối quan hệ qua lại giữa kĩ năng, kĩ xảo và năng lực, tiêu biểu là các tác giả như: A.V.Petrovski, V.A.Cruchetxki, A.G.CovaLiov

- Hướng thứ hai: Các công trình nghiên cứu kĩ năng ở góc độ tâm lí học lao động và giáo dục lao động, xem xét vấn đề kĩ năng trong mối quan hệ con người với máy móc, công cụ Hướng nghiên cứu này có các tác giả như: V.V.Tebuseva, V.G.Loox,

- Hướng thứ ba: Các công trình nghiên cún kĩ năng trong hoạt động sư phạm kĩ năng hoạt động học tập của học sinh, sinh viên, đại diện cho hướng này là: N.D.Levitov, N.A.Menchinxkaia,

• Vận dụng kĩ năng vào trong các lĩnh vực đã có một số hướng nghiên cún sau:

- Nghiên cứu kĩ năng học tập

+ Nghiên cứu kĩ năng hành động với mô hình đại diện có các tác giả: D.B.Enconhin, V.V.Đavưđov,

+ Nghiên cún về kĩ năng học tập, điều kiện hình thành các kĩ năng như

kĩ năng độc lập học tập, kĩ năng vận dụng sáng tạo tri thức vào thực tiễn đại diện có các tác giả như: N.A.Menchinxkaia, A.V.Petrovski,

Trang 12

+ Công trình của Nguyễn Phụ Thông Thái về hình thành kĩ năng học tập cơ bản cho học sinh lóp một thông qua một số môn học.

Nghiên cứu về kĩ năng trong giảng dạy tiếng Việt như Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh

Trên đây là các công trình nghiên cún về kĩ năng của nhiều nhà nghiên

cứu

Như vậy là đã có nhiều công trình nghiên cứu về kĩ năng học tiếng Việt của học sinh tiểu học Nhưng thực trạng kĩ năng học môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3 ở trường Tiểu học Thị trấn Sóc Sơn, Hà Nội thì chưa có ai nghiên cún Vì thế mà tôi sẽ đi tìm hiểu, nghiên cún vấn đề này tại trường Tiểu học Thị trấn Sóc Sơn, Hà Nội

2 Những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

2.1 Khái niệm kĩ năng trong tâm lí học

Hằng ngày con người sống, phát triển và học tập tất cả đều gắn với việc hình thành và thực hiện kĩ năng Thành công trong việc thực hiện các kĩ năng quyết định thành công trong cuộc sống Chính vì thế kĩ năng nói chung và kĩ năng trong học tập nói riêng từ lâu đã trở thành đối tượng quan trọng của khoa học Tâm lí

Trang 13

Các quan niệm về kĩ năng:

Theo Lê Văn Hồng trong cuốn Tâm lí học lứa tuổi và Tâm lí học sư phạm cho rằng: “Kĩ năng - khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp ) để giải quyết một nhiệm vụ mới”.[4,131 ]

Theo Bùi Văn Huệ trong Giáo trình tâm lí học Tiểu học đã khẳng định:

“Kĩ năng là sự vận dụng tri thức vào thực hiện một hành động”.[3,242] Theo ông, kĩ năng còn là hành động ý chí đòi hỏi phải “động não”, suy xét, tính toán, phải có nỗ lực ý chí thì mới hoàn thành được Chỉ khi nào kĩ năng được củng cố vững chắc, trở nên tự động hóa, hoặc nửa tự động hóa thì mới biến thành kĩ xảo

Trong cuốn tâm lí học cá nhân A.G.Côvaliôv quan niệm: “Kĩ năng là phương thức thực hiện hành động thích hợp với mục đích và những điều kiện hành động” Ông không đề cập đến kết quả của hành động Theo ông, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, quan trọng hơn cả là năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm được cách thức hành động thì đem lại hiệu quả tương ứng

Qua các quan niệm trên, ta có thể khái quát một số đặc điểm chung về

kĩ năng như sau:

- Kĩ năng bao giờ cũng gắn với một hành động hay một hoạt động nào

đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có thể thực hiện hành động đó phù hợp với mục tiêu và điều kiện thực tế đã cho

- Mọi kĩ năng xét về mặt cấu trúc bao gồm các thành phần:

+ Các cá nhân phải hiểu mục đích của hành động

+ Biết cách thức đi đến kết quả

+ Hiểu được nhũng điều kiện cần thiết để triển khai cách thức đó

- Kĩ năng chính là mặt kĩ thuật của hành động, biểu hiện mức độ đúng đắn của hành động Kĩ năng không có đối tượng riêng mà đối tượng của nó

Trang 14

chính là đối tượng của hành động, không có kĩ năng chung chung mà kĩ năng bao giờ cũng là kĩ năng của một hoạt động cụ thể.

Giữa việc tiếp thu kiến thức và việc hình thành kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tiếp thu kiến thức sẽ tạo cơ sở, nền tảng cho việc hình thành kĩ năng Cho nên kĩ năng cũng được hiểu là sự thể hiện của kiến thức trong hành động Ngược lại, khi kĩ năng được hình thành và phát triển sẽ làm sâu sắc hơn về kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tiếp thu kiến thức mới Đồng thời, để hình thành kĩ năng bao giờ con người cũng cần triển khai hành động ở dạng khái quát nhất, đầy dủ nhất và luyện tập trong những tình huống khác nhau đến mức có thể nắm được quy tắc, quy luật chung của hành động cũng như có thể triển khai nó ở dạng xa hơn dạng ban đầu Từ đây

có thể rút ra nhũng dấu hiệu bản chất của một hành động đạt đến mức kĩ năng bao gồm:

Cá nhân phải có tri thức về hành động

Thực hiện hành động theo đúng yêu cầu

Đạt được kết quả phù hợp với mục đích, yêu cầu

Có thể thực hiện hành động có hiệu quả trong những điều kiện khácnhau

2.2 Hoạt động học của học sinh Tiếu học

• Khái niệm hoạt động học

- Hoạt động học là hoạt động có ý thức của học sinh nhằm lĩnh hội tri thức, kĩ năng và kĩ xảo, do hoạt động dạy tổ chức Trên cơ sở đó, hình thành

và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu Giáo dục Tiểu học

- Đối tượng của hoạt động học là hệ thống tri thức khoa học thuộc các môn học và hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng

- Chủ thể của hoạt động học là học sinh Nhò’ thực hiện hoạt động học

mà làm thay đổi chính chủ thể của hoạt động này

Trang 15

- Hoạt động học tiếp thu những tri thức về hoạt động này: học cáchhọc.

- Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của học sinh Tiếu học

Cấu trúc của hoạt động học

Cấu trúc của hoạt động học bao gồm:

Động cơ học

Nhiệm vụ học

Hành động học

• Sự hình thành hoạt động học

Hình thành hoạt động học cho học sinh là hình thành ở các em các yếu

tố trong cấu trúc của hoạt động học: hình thành động cơ học, hình thành nhiệm vụ học, hình thành các hành động học Đe hình thành hoạt động học, giáo viên phải tiến hành hai loại tiết học:

+ Tiết hình thành: Là tiết học có mục đích hình thành ở học sinh cái mới Đe tiến hành tiết học này, giáo viên cần xác định rõ mục đích và phương tiện đạt mục đích đó Nghĩa là tạo ra bài toán hay còn gọi là nhiệm vụ học, tổ chức học sinh giải quyết bài toán bằng các hành động học và cũng chính là quá trình hình thành động cơ học

+ Tiết luyện tập: Là tiết học có mục đích nhằm định hình cái mới và hình thành kĩ năng, kĩ xảo, cái đã được hình thành ở tiết học trên Để thực hiện tiết học này, giáo viên cần chuẩn bị kĩ, cần xác định được cái mới hình thành ở loại tiết trên, cần được luyện tập để định hình và hình thành kĩ năng,

kĩ xảo cho học sinh

Trang 16

2.3 K ĩ năng học tập

2.3.1 Khái niệm k ĩ năng học tập

Kĩ năng học tập là khả năng của học sinh thực hiện một cách có kết quả tốt các hành động học bằng cách lựa chọn và thực hiện các phương thức hành động cho phù họp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định trong quá trình học tập Hay nói cách khác, kĩ năng học tập là sự vận dụng tri thức vào thực hiện một hành động học đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra

+ Kĩ năng có nội dung là những quá trình tâm lí: hiểu mục đích hành động, biết cách thức đi đến kết quả, hiểu những điều kiện cần thiết để thực hiện cách thức đó

+ Kĩ năng là thực hiện hành động học theo một quy trình xác định để tạo ra sản phẩm học tập đạt được các chỉ tiêu đã định trước

+ Kĩ năng học tập là tổ họp cách thức hành động được học sinh nắm vững thể hiện năng lực học tập của học sinh

+ Kĩ năng luôn luôn gắn với một hành động cụ thể

Bước 2: Học sinh quan sát mẫu và làm thử theo mẫu, theo sự định hướng ở bước trên

Bước 3: Học sinh luyện tập hành động theo đúng yêu cầu, điều kiện của hành động nhằm đạt được kết quả đề ra

Trang 17

Trong thực tế, không có sự tách rời giữa bước 1 và 2 trong việc hình thành kĩ năng nào đó Bởi vì, sự nhận thức của học sinh về mục đích, cách thức và điều kiện hành động chỉ diễn ra trong quá trình thực hành, luyện tập.

2.3.3 Phân loại k ĩ năng học tập ở Tiêu học

Theo Nguyễn Kế Hào, các kĩ năng học tập cần có ở học sinh tiểu học:

- Kĩ năng lĩnh hội tri thức là loại kĩ năng được hình thành từ nội dung

giáo dục quy định trong chương trình học như kĩ năng đọc, kĩ năng viết, kĩ

năng tính toán (công, trù', nhân, chia), những kĩ năng này được đọng lại

trong mỗi học sinh như một bộ phận góp phần tạo nên năng lực của học sinh

- Kĩ năng vận dụng tri thức là loại kĩ năng làm cho những kĩ năng tiềm

ẩn trong học sinh sống lại trong quá trình thực hiện hoạt động học

- Kĩ năng thực hiện các thao tác học tập như thao tác phân tích, thao tác tổng h ợ p [10, 227]

Theo Bùi Văn Huệ, kĩ năng học tập của học sinh tiểu học được chia làm

2.4 K ĩ năng học tiếng Việt

2.4.1 Khái niệm k ĩ năng học tiếng Việt

Theo chúng tôi, kĩ năng học Tiếng Việt là sự vận dụng vốn kinh nghiệm, tri thức tiếng Việt vào thực hiện các hành động học tiếng Việt đạt được kết quả phù hợp với mục đích đề ra

- Kĩ năng học tiếng Việt là một hệ thống các kĩ năng bao gồm: kĩ năng nghe, kĩ năng nói, kĩ năng đọc, kĩ năng viết Mỗi kĩ năng học tiếng Việt là bao gồm một hệ thống các kĩ năng thành phần Chẳng hạn, kĩ năng nghe bao gồm:

Trang 18

Kĩ năng nhận biết các kiểu câu nhò’ phân biệt ngữ điệu, kĩ năng ghi nhớ và ghi

chép nội dung văn bản vừa nghe, kĩ năng hiểu nội dung văn bản vừa nghe

- Kĩ năng tiếng Việt gắn liền với văn hóa ứng xử của học sinh, gắn liền với vốn kinh nghiệm, vốn hiểu biết của học sinh, gắn liền với các dạng

lời nói, các tình huống giao tiếp [9, 74]

2.4.2 Phân loại k ĩ năng học tiếng Việt

a K ĩ năng đọc

• Mục đích yêu cầu rèn kĩ năng đọc:

Đối với học sinh tiểu học, ngay từ khi tới trường các em đã bắt đầu tiếp

xúc với sách vở, chữ viết, tức là bắt đầu làm quen với một hình thức giao tiếp

mới: giao tiếp bằng chữ viết Đó là một bước ngoặt lớn trong cuộc đời các

em Ở nhà trường, công việc giảng dạy và giáo dục phần lớn dựa vào sách

Thông qua đọc sách, học sinh được mở rộng hiểu biết về thiên nhiên, về cuộc

sống con người, về văn hóa, về phong tục tập quán của các dân tộc trên thế

giới Vì vậy việc đọc đối với học sinh mang ý nghĩa giáo dục, giáo dưỡng

và phát triển lớn

• Luyện kĩ năng đọc thành tiếng

Muốn đọc đúng, đọc diễn cảm, học sinh phải nắm được các kĩ thuật

sau:

+ Đọc rõ tiếng, rõ lời, đúng chính âm

Đọc đúng chính âm tức là phát âm theo đúng hệ thống âm chuẩn của

tiếng Việt đã được quy định, bao gồm:

Hệ thống phụ âm đầu: gồm 22 phụ âm

Hệ thống nguyên âm giữa vần: 11 nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi

Hệ thống âm cuối vần: 6 phụ âm cuối và 2 bán âm cuối

Hệ thống thanh điệu: 6 thanh

+ Ngắt giọng đúng chỗ

Trang 19

Neu ngắt giọng tùy tiện sẽ không thể hiện được đầy đủ nội dung của văn bản, có khi còn dẫn đến hiểu sai, hiểu lầm.

+ Ngữ điệu đọc phù họp

Ngữ điệu đọc bao gồm những dấu hiệu biến đổi về ngữ âm trong khi đọc như: Tiết tấu của giọng đọc, nhịp điệu đọc, cường độ đọc, cao độ, sắc thái

+ Nét mặt, điệu bộ khi đọc

Tư thế, nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt của người đọc là những yếu tố kèm ngữ điệu, được sử dụng kết họp với giọng đọc, tạo nên sự giao cảm giữa người đọc và người nghe, tạo nên hiệu quả tiếp nhận tốt hơn ở người nghe.+ Tốc độ đọc và âm lượng đọc

Vấn đề cuối cùng của kĩ thuật đọc thành tiếng là việc điều chỉnh tốc độ

và âm lượng đọc phù họp Đọc chậm quá, đọc ấp úng, ê a hoặc ngược lại đọc liến thoang đọc nhanh quá đều làm cho người nghe khó theo dõi, không hiểu đúng và đầy đủ nội dung của bài học

+ Tự kiểm tra kết quả đọc thầm

• Các loại bài luyện tập kĩ năng đọc trong trường tiểu học

+ Loại bài luyện tập kĩ năng đọc thành tiếng

Luyện đọc các dấu câu đúng ngữ điệu

Luyện đọc đúng các phụ âm, vần, thanh địa phương thường dễ lẫn lộn

Trang 20

+ Loại bài luyện năng lực đọc hiểu

Loại bài đọc hiểu văn bản thuộc các phong cách khác

Loại bài tập nắm được cảm xúc bao trùm hay chủ đạo, xác định đầu

đề cho đoạn hoặc b ài

Loại bài tập hệ thống hóa, xác định sự kiện chính và phụ

Loại bài tập khôi phục dàn ý đại cương của bài văn, đoạn văn

b K ĩ năng viết

• Mục đích yêu cầu của việc rèn kĩ năng viết chữ

Nội dung giáo dục trong nhà trường được bắt đầu từ việc dạy chữ, học chữ, tập đọc, tập viết chữ cái đầu tiên: a, b, c, Chữ viết là một phương tiện

để giao tiếp giữa con người với con người bên cạnh lòi nói Vì thế trong nhà trường phải có môn Tập Viết và phải rèn luyện kĩ năng viết chữ cho học sinh

• Nhũng quy định về cách viết và kĩ năng viết

+ Tư thế ngồi viết và cách cầm bút

Ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào bàn

Đầu hơi cúi, cự li giữa mắt và vở từ 25- 30 cm

Tay trái đặt lên phía trước bên trái cuốn vở ( hoặc giấy viết)

Tay phải cầm bút và điều khiển nét viết bằng 3 ngón tay ( ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa)

+ Tên gọi các nét cơ bản

Nét ngang ( - ) có trong các chữ như : đ, t,

Nét sổ ( I) có trong các chữ như: h, 1,

Trang 21

Nét xiên ( / \ ) có trong các chữ như: r, s, .

+ Vị trí dấu thanh trong chữ viết

Trong mỗi chữ, dấu thanh bao giờ cũng được đặt ở chữ ghi âm chính của vần (riêng thanh ngang không ghi dấu)

Tập tô theo mẫu

Tập viết từng chữ cái khi học âm vần và trong vở Tập Viết

+ Loại bài viết chính tả

Trang 22

Loại bài tập diễn đạt thành đoạn và bài theo các loại văn bản.

c K ĩ năng nghe - nói

• Mục đích yêu cầu của việc rèn kĩ năng nghe - nói

Trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết chúng ta không thể quá coi trọng

kĩ năng này mà coi nhẹ kĩ năng khác Chúng luôn luôn hỗ trợ, bổ sung cho nhau Việc rèn luyện kĩ năng nghe, nói cho học sinh không chỉ bó hẹp trong môn Tiếng Việt mà ở tất cả các bộ môn, các hoạt động trong nhà trường

• Dạy kĩ năng nghe - nói

- Dạy kĩ năng nghe

+ Trong trường tiểu học, không có phân môn nào trong môn Tiếng Việt đặt trọng tâm rèn kĩ năng nghe Chang hạn môn Tập đọc rèn kĩ năng đọc, môn tập viết rèn kĩ năng viết còn riêng kĩ năng nghe được rèn một cách tự phát qua việc học các phân môn từ Tập đọc, Chính tả đến Ke chuyện

+ Các loại bài luyện tập kĩ năng nghe ở trường tiểu học

Loại bài rèn luyện khả năng nhận biết kiểu câu nhờ phân biệt ngữđiệu

Loại bài tập rèn khả năng ghi nhó’ và ghi chép nội dung bài văn vừanghe

Loại bài tập rèn khả năng thông hiểu nội dung bài văn vừa nghe

- Dạy kĩ năng nói

Chính việc dạy nói giúp cho học sinh biết cách nói năng có văn hóa, thể hiện trình độ văn minh lịch sự của một người có học

Trang 23

+ Các loại bài luyện kĩ năng nói ở trường tiểu học

Loại bài luyện tập phát âm theo chuẩn

Loại bài tập tình huống

Loại bài luyện cách nói dựa theo câu hỏi định hướng và trả lời câuhỏi

Loại bài tập luyện cách nói theo dàn bài

Loại bài tập kể chuyện ( kể chuyện đã nghe, đã đọc, kể chuyện về bản thân và những người xung quanh )

Trên đây là những mục đích yêu cầu và những kĩ năng cơ bản của học sinh tiếu học khi học phân môn Tiếng Việt Từ những cơ sở nêu trên giáo viên

sẽ đưa ra được những biện pháp, những phương pháp chủ yếu để giúp học sinh học tốt môn học này Bởi lẽ tiếng Việt đã được coi là công cụ đắc lực cho

sự phát triển kinh tế xã hội, cho sự phát triển giáo dục Cho nên, việc dạy tiếng Việt phải nhằm vào cả hai chức năng của ngôn ngữ (công cụ tư duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết); phải hướng tới sự giao tiếp và sử dụng phương pháp giao tiếp

Trang 24

CHƯƠNG 2

TH Ụ C TRẠNG KĨ NĂNG HỌC TIÉNG VIỆT CỦA HỌC SINH LỚ P 3

2.1 Khái quát về môn Tiếng Việt lóp 3

Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 được xây dựng theo hai trục là chủ điểm và

kĩ năng, trong đó chủ điểm được lấy làm khung cho cả cuốn sách, còn kĩ năng được lấy làm khung cho từng tuần, từng đơn vị học

v ề cấu trúc chung của sách:

Sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (hai tập) gồm 15 đơn vị học, mỗi đơn vị gắn với một chủ điểm, học trong 2 tuần (trù’ chủ điểm Ngôi nhà chung học trong 3 tuần), cụ thể như sau:

Tập một gồm 8 chủ điểm:

- Tuần 1, 2: Măng non (thiếu nhi)

- Tuần 3, 4 : Mái ấm (gia đình)

- Tuần 5, 6 : Tới trường (trường học)

- Tuần 7, 8 : Cộng đồng (sống với những người xung quanh ta)

- Tuần 9 : Ôn tập giữa học kì I

- Tuần 10, 11 : Quê hương

- Tuần 12, 13 : Bắc - Trung - Nam (các vùng, miền trên đất nước ta)

- Tuần 14, 15 : Anh em một nhà (các dân tộc anh em trên đất nước ta)

- Tuần 16, 17 : Thành thị và nông thôn (sinh hoạt ở đô thị, nông thôn ; công nhân, nông dân)

- Tuần 18 : Ôn tập cuối học kì I

Tập hai gồm 7 chủ điểm :

- Tuần 19, 20 : Bảo vệ Tổ quốc (gương chiến đấu xưa, nay ; bộ đội, công

an, dân quân, tự vệ)

- Tuần 21, 22 : Sáng tạo (hoạt động khoa học ; trí thức)

- Tuần 23, 24 : Nghệ thuật

Trang 25

- Tuần 35 : Ôn tập cuối học kì II

v ề cấu trúc của từng đơn vị học

Mỗi đơn vị học được triến khai thành các bài học theo 6 phân môn, mỗi phân môn chịu trách nhiệm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng nhất định :

- Phân môn Tập đọc rèn cho học sinh các kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiếu, đọc diễn cảm), nghe và nói Bên cạnh đó, thông qua hệ thống bài đọc theo chủ điểm và những câu hỏi, những bài tập khai thác nội dung bài đọc, phân môn Tập đọc cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên,

xã hội và con người, cung cấp vốn từ, vốn diễn đạt, những hiểu biết về tác phẩm văn học (như đề tài, cốt truyện, nhân vật, ) và góp phần rèn luyện nhân cách cho học sinh

- Phân môn Từ ngữ - Ngữ pháp, được gọi bằng tên mới là Luyện từ và câu, cung cấp những kiến thức sơ giản về tiếng Việt bằng con đường quy nạp và rèn luyện kĩ năng dùng từ, đặt câu (nói, viết), kĩ năng đọc cho học sinh

- Phân môn Chính tả rèn các kĩ năng viết, nghe và đọc Trong giờ chính tả, nhiệm vụ của học sinh là viết một đoạn văn (nhìn - viết, nghe - viết, nhó’ - viết) và làm bài tập chính tả, qua đó rèn luyện các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Các bài chính tả nhiều khi cũng cung cấp cho học sinh vốn từ, vốn hiếu biết

về các mảng khác nhau của đời sống

- Phân môn Tập viết chủ yếu rèn kĩ năng viết chữ

Trang 26

- Phân môn Ke chuyện rèn các kĩ năng nói, nghe và đọc Trong giờ kể chuyện, học sinh kế lại những câu chuyện phù hợp với chủ điếm mà các em

đã học trong bài tập đọc, nghe thầy cô kể rồi kể lại một câu chuyện bằng lời của mình hoặc trả lòi câu hỏi về nội dung câu chuyện đó

- Phân môn Tập làm văn rèn cả bốn kĩ năng nghe, nói, viết và đọc Trong giờ tập làm văn, học sinh được cung cấp kiến thức và thực hành các bài tập (nói, viết) xây dựng các loại văn bản và các bộ phận cấu thành của văn bản

2.2 Khái quát về khách thể nghiên cứu

a Kết quả học tập

Lớp 3B trường Tiểu học Thị Trấn Sóc Sơn, Hà Nội, có 39 học sinh, trong

đó có 19 học sinh nam và có 20 học sinh nữ Qua việc kiểm tra đánh giá và căn cứ vào điểm trung bình cuối học kì I, cho biết kết quả học tập của lớp 3B như sau: Lớp 3B có 17 học sinh xếp loại giỏi (đạt điểm 9; 10), có 20 học sinh xếp loại khá (đạt điểm 7; 8), và có 2 học sinh xếp loại trung bình (đạt điểm 5; 6) và không có học sinh nào xếp loại yếu kém

Từ kết quả trên cho thấy học sinh xếp loại khá, giỏi của lớp 3B là tương đối cao, điều này chứng tỏ chất lượng học của học sinh lớp 3B khá đông đều Các

em có khả năng nhận thức tri thức tương đối tốt

b Kết quả học tập môn Tiếng Việt

Điểm của môn Tiếng Việt được tính bằng điểm trung bình cộng của hai hình thức kiếm tra là đọc bài tập đọc và viết chính tả

Ket quả kiếm tra kĩ năng đọc của học sinh lóp 3B như sau: Có 19 học sinh xếp loại giỏi (đạt điểm 9, 10), có 18 học sinh xếp loại khá (đạt điểm 7; 8), và

có 2 học sinh xếp loại trung bình (đạt điểm 5; 6) và không có học sinh nào xếp loại yếu kém

Ket quả kiểm tra kĩ năng viết của học sinh lóp 3B như sau: Có 11 học sinh xếp loại giỏi (đạt điểm 9; 10), có 12 học sinh xếp loại khá (đạt điểm 7; 8), và

Trang 27

còn 6 học sinh xếp loại trung bình (đạt điểm 5; 6) và không có học sinh nào xếp loại yếu kém.

Từ kết quả kiểm tra kĩ năng đọc và viết của học sinh lớp 3B cho thấy các em

có kĩ năng đọc tốt hơn là kĩ năng viết

Lớp 3B có kết quả học tập môn Tiếng Việt như sau: Có 19 học sinh xếp loại giỏi (đạt điểm 9; 10), có 16 học sinh xếp loại khá (đạt điểm 7; 8), và có 4 học sinh xếp loại trung bình (đạt điểm 5; 6) và không có học sinh nào xếp loại yếu kém

Từ các kết quả trên cho thấy kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh lớp 3B là tương đối cao

2.3 Kết quả nghiên cứu kĩ năng nghe

2.3.1 K ĩ năng nhận biết các kỉếu câu nhờ phân biệt ngữ điệu

Mục đích của kiểu bài Đặt và trả lời các câu hỏi Vì saol là dạy học sinh

cách dùng trạng ngữ của câu

Đe nắm được tình hình cụ thể về cách dùng trạng ngữ của câu của học sinh, chúng tôi đưa ra bài tập sau :

Bài tập : Tìm bộ phận câu trả lời cho câu hỏi “Vì sao?”

a, Cả lóp cười 0 lên vì câu thơ vô lí quá

b, Những chàng man-gát rất bình tĩnh vì họ thường là nhũng người phi ngựa giỏi nhất

c, Chị em Xô-phi đã về ngay vì nhớ lời mẹ dặn không được làm phiền người khác

(Tiếng Việt lóp 3- tập 2)Các kết quả được đánh giá theo các mức độ:

Mức độ 1: Học sinh trả lời đúng cả 3 câu hỏi và nói được cách dùng trạng ngữ của câu

Trang 28

Mức độ 2: Học sinh trả lời đúng cả 3 câu hỏi, nhung chưa nói đủ cách dùng trạng ngữ của câu.

Mức độ 3 : Học sinh chỉ trả lời được 3 câu hỏi mà chưa nói được cáchdùng trạng ngữ của câu

Các kết quả thu được trên đối tượng là 39 học sinh như sau:

Bảng 1: Kĩ năng nhận biết các kiểu câu nhờ phân biệt ngữ điệu

Phần lớn là học sinh đã tìm được bộ phận câu trả lời cho câu hỏi “Vì sao?”, nhung chủ yếu là các em chưa trả lời đúng và đầy đủ được cách dùng trạng ngữ của câu

Nguyên nhân của thực trạng này là do học sinh lóp 3 mới làm quen với thành phần trạng ngữ chính vì vậy các em còn lúng túng khi nói về cách dùng trạng ngữ của câu

Đe khắc phục thực trạng này, giáo viên nên nói rõ cho học sinh biết về

ý nghĩa và hình thức của trạng ngữ trong câu:

về ý nghĩa, trạng ngữ được thêm vào câu để xác định thời gian, nơi chốn, cách thức, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, thực hiện những điều được nói trong câu

Trang 29

v ề hình thức, trạng ngữ có các đặc điếm: Nhìn chung, trạng ngữ không phải là thành phần bắt buộc có mặt trong câu như chủ ngữ và vị ngữ Chỉ có một số trường hợp không thể bỏ được trạng ngữ là:

Trạng ngữ được dùng để chuyển ý từ câu này sang câu khác

Trạng ngữ nói một điều mới mẻ hay cần được nhấn mạnh

Trạng ngữ được dùng để xác định rõ phạm vi không gian, thời gian của nhũng điều được nói trong câu, làm cho nội dung của câu đầy đủ, chính xác hơn

Trong các tài liệu ngữ pháp tiếng Việt, trạng ngữ thường được phân biệt với phụ ngữ của cụm từ Nhung ở cấp Tiếu học, chúng ta chưa đặt vấn đề phân biệt trạng ngữ của câu với phụ ngữ của cụm từ Giáo viên lớp 3 càng không cần sử dụng các thuật ngữ này Có thể coi tất cả các bộ phận câu bổ sung ý nghĩa thời gian, nơi chốn, cách thức, nguyên nhân, mục đích, phương tiện đều là trạng ngữ

2.3.2 K ĩ năng ghi nhở và ghi chép nội dung văn bản vùn nghe

Ghi nhớ và ghi chép nội dung bài văn vừa nghe tức là học sinh nghe giáo viên đọc bài, học sinh ghi nhớ và chi chép nội dung cơ bản của bài văn vừa nghe vào vở

Đe khảo sát thực trạng khả năng ghi nhớ và ghi chép nội dung bài văn vừa nghe của học sinh, chúng tôi đưa ra đề bài sau:

Giáo viên đọc bài thơ “Bẻ thành phi công”(Tiếng Việt lóp 3- tập 2- trang

91); học sinh nghe, ghi nhớ và trả lời các câu hỏi:

1 Bài thơ trên có tên là gì?

2 Mỗi dòng thơ có mấy chữ?

3 Cậu bé trong bài thơ trên chơi trò chơi gì?

4 Em thấy chú bé trong bài thơ có dũng cảm không? Vì sao?

5 Những câu thơ nào cho thấy chú bé rất ngộ nghĩnh, đáng yêu?

Trang 30

Các kết quả được đánh giá theo các mức độ:

Mức độ 1: Học sinh trả lời nhanh và đúng cả 5 câu hỏi

Mức độ 2: Học sinh trả lời đúng cả 5 câu hỏi, nhưng thời gian trả lời hơi lâu

Mức độ 3: Học sinh chưa trả lời đúng cả 5 câu hỏi

Ket quả thu được như sau:

Bảng 2: Kĩ năng ghi nhớ và ghi chép nộỉ dung văn bản vừa nghe

Nguyên nhân của thực trạng học sinh ở mức độ 2 và mức độ 3 còn chiếm số lượng cao là do khi giáo viên đọc bài, học sinh chưa chú ý lắng nghe Chính vì chưa chú ý nghe giáo viên đọc, chưa lắng nghe giáo viên hướng dẫn các câu hỏi, nên các em chưa nhó’ được rõ nội dung của bài Các

em phải cần nhiều thời gian suy nghĩ để trả lời các câu hỏi đơn giản - chỉ cần chú ý nghe giáo viên đọc và nhìn vào sách giáo khoa là các em có thể trả lời luôn được

Để khắc phục thực trạng này, giáo viên cần tổ chức bài dạy sôi nổi, hấp dẫn hơn để thu hút sự chú ý lắng nghe của học sinh Và giáo viên cũng cần chuẩn bị bài thật kĩ đế có một giọng đọc tốt, thực sự thu hút sự chú ý của học sinh vào bài đọc Bên cạnh đó, giáo viên cũng nên nhấn mạnh các câu thơ có

Trang 31

liên quan đến các câu hỏi, và có thể giải thích những từ ngữ khó mà các em chưa hiểu.

2.3.3 K ĩ năng thông hiếu nội dung văn bản vỉrn nghe

Thông hiểu nội dung bài văn vừa nghe có vai trò rất quan trọng trong dạy tập đọc Học sinh có hiểu nội dung của bài thì các em mới có thể nắm chắc và ghi nhớ được lâu nội dung của bài vừa học

Đe nắm được tình hình cụ thể về khả năng thông hiểu nội dung bài văn vừa nghe, chúng tôi đưa ra đề bài sau:

Giáo viên đọc bài “Lời kêu gọi toàn dân tập thế dục ’’(Tiếng Việt lớp 3- tập

2- trang 94) và yêu cầu học sinh trả lời các câu hỏi sau:

1 Sức khỏe cần thiết như thế nào trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc?

1 Vì sao tập thể dục là bổn phận của mỗi người yêu nước?

2 Em hiếu ra điều gì sau khi nghe bài “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục”

3 Em sẽ làm gì sau khi học bài “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” của BácHồ?

Các kết quả được đánh giá theo các mức độ:

Mức độ 1: Học sinh trả lời tốt cả 4 câu hỏi

Mức độ 2: Học sinh trả lời cả 4 câu hỏi, nhưng câu hỏi số 3 trả lời chưa được rõ ý

Mức độ 3: Học sinh chưa trả lời hết 4 câu hỏi

Các kết quả thu được như sau:

Bảng 3: Kĩ năng thông hiểu nội dung văn bán vừa nghe

Trang 32

Từ kết quả trên ta thấy, học sinh ở mức độ 1 và mức độ 2 không chênh lệch nhau nhiều Học sinh đạt mức độ 1: Học sinh trả lời tốt cả 4 câu hỏi là 19 học sinh; học sinh đạt mức độ 2: Học sinh trả lời 4 câu hỏi, nhưng câu hỏi số

3 trả lời chưa rõ ý là 18 học sinh; và học sinh ở mức độ 3: Học sinh chưa trả lời hết cả 4 câu hỏi là 2 học sinh

Nguyên nhân của thực trạng học sinh đạt mức độ 2 và mức độ 3 chiếm số lượng một nửa lóp là do: Trong lóp học sinh chưa chú ý khi giáo viên đọc bài

và hướng dẫn trả lời các câu hỏi Do ngôn ngữ của các em còn hạn chế, và khả năg phân tích, tổng hợp của các em còn hạn chế, nên đối với những câu hỏi cần phải suy nghĩ trả lời độc lập như câu hỏi số 3: Em hiểu ra điều gì sau khi nghe bài “Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục” thì học sinh còn lúng túng, chưa nghĩ ra được câu trả lời nhanh và chính xác nhất

Đe khắc phục thực trạng này, giáo viên nên nêu câu hỏi để định hướng cho học sinh đọc thầm và trả lời đúng nội dung Giáo viên nên căn cứ vào các câu hỏi trong sách giáo khoa để hướng dẫn học sinh tìm hiểu nội dung bài Bằng nhiều hình thức tố chức khác nhau, tạo điều kiện cho học sinh trả lời câu hỏi 1 cách tích cực, khuyến khích học sinh tích cực suy nghĩ để học sinh nắm chắc được nội dung của bài

2.4 Kết quả nghiên cún kĩ năng nóỉ

2.4.1 K ĩ năng nói dụu theo câu hỏi định hướng hoặc trả lòi cấc câu hỏi

Nói dựa theo câu hỏi định hướng hoặc trả lời các câu hỏi, tức là học sinh sẽ dựa vào các câu hỏi có sẵn để trả lời các câu hỏi có liên quan đến bài, hoặc dựa vào các câu hỏi có sẵn để nói theo các chủ điểm

Đe nắm được tình hình cụ thể về kĩ năng nói dựa theo câu hỏi định hướng, chúng tôi đưa ra đề bài sau

Đe bài: Ke lại một trận thi đấu thể thao

Gợi ý

Trang 33

a, Đó là môn thể thao nào?

b, Em tham gia hay chỉ xem thi đấu?

c, Buổi thi đấu được tổ chức ở đâu?Tổ chức khi nào?

d, Em cùng xem với những ai?

e, Buổi thi đấu diễn ra như thế nào?

g, Ket quả thi đấu ra sao?

(Tiếng Việt lóp 3- tập 2 - trang 88)Đây là kiểu bài nói theo chủ điểm dựa theo các câu hỏi định hướng, đúng như tên gọi của kiểu bài, kể lại một trận thi đấu thể thao là bài trong chủ điểm Thể thao

Các kết quả được đánh giá theo các mức độ:

Mức 1: Ke về một trận thi đấu thể thao theo đúng thứ tự các gợi ý trên với giọng kể sôi nổi, đầy hứng thú

Mức 2: Ke được về một trận thi đấu thể thao với giọng kể khá tốt, nhung chưa theo đúng thứ tự các gợi ý

Mức 3: Ke về một trận thi đấu thể thao không theo những gợi ý trên.Các kết quả thu được trên đối tượng là 39 học sinh như sau:

Bảng 4: Kĩ năng nói dựa theo câu hỏi định hướng

Trang 34

trận đấu, nhung kể không theo đúng thứ tự các gợi ý cũng chiếm số lượng khá cao (43,5%) Học sinh đạt ở mức 3: Kẻ về trận thi đấu thể thao không theo gợi ý trên chỉ có 2 học sinh (chiếm 5,3%).

Nhìn chung các em đã biết kể về một trận thi đấu thể thao là như thế nào Hầu như các em đều kể về trận thi đấu với giọng sôi nổi, đầy hứng thú, thể hiện được kịch tính của trận thi đấu Tuy nhiên vẫn còn tình trạng học sinh

kể không theo đúng thứ tự gợi ý của sách giáo khoa, hay không kể theo các gợi ý của sách giáo khoa là do các em còn lúng túng khi kể và chưa nhớ được thứ tự đúng của các câu hỏi gợi ý Và vẫn còn một số học sinh còn ấp úng khi

kể, có thể là do các em còn ngại và chưa tự tin khi đúng trước lóp và có thể

do các em chưa được trực tiếp chứng kiến một trận thi đấu thể thao nào

Đe các em rèn kĩ năng nói theo các câu hỏi định hướng tốt hơn, giáo viên cần cho học sinh đọc nhiều các câu hỏi gợi ý để các em nhớ các câu hỏi gợi ý, và giáo viên cần tạo không khí gần gũi và sôi nổi khi các em kể cần gọi các học sinh nhút nhát lên bảng thường xuyên để các em tự tin hơn khi đứng trước đám đông

2.4.2 K ĩ năng nói theo dàn bài

Dàn bài là cách sắp xếp các nội dung chủ yếu của bài theo một chiến lược giao tiếp nhất định Đó là cách tổ chức các ý lớn, ý nhỏ của bài theo một hệ thống nhất định Nói theo dàn ý giúp các em sắp xếp các ý tưởng trước và giúp các em dễ trình bày theo cách nói chuyện

Đe khảo sát thực trạng kĩ năng nói theo dàn bài, chúng tôi yêu cầu học sinh nói theo dàn bài sau:

Đề b à i: Kể về một ngày hội mà em biết

Gợi ý:

a, Đó là hội gì?

b, Hội được tổ chức khi nào, ở đâu?

Ngày đăng: 16/10/2015, 11:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2:  Kĩ năng ghi nhớ và ghi chép nộỉ dung văn bản vừa nghe - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
Bảng 2 Kĩ năng ghi nhớ và ghi chép nộỉ dung văn bản vừa nghe (Trang 30)
Bảng 3:  Kĩ năng thông hiểu nội dung văn bán vừa nghe - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
Bảng 3 Kĩ năng thông hiểu nội dung văn bán vừa nghe (Trang 31)
Bảng 5  :  Kĩ năng nói theo dàn  bài - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
Bảng 5 : Kĩ năng nói theo dàn bài (Trang 35)
Bảng 6  :  Kết quả kĩ năng kế chuyện - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
Bảng 6 : Kết quả kĩ năng kế chuyện (Trang 37)
Bảng 8:  Kết quả kĩ năng đọc -  hiếu - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
Bảng 8 Kết quả kĩ năng đọc - hiếu (Trang 41)
Bảng  10:  Kết quả kĩ năng viết chính tả - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
ng 10: Kết quả kĩ năng viết chính tả (Trang 45)
Bảng  11:  Ket quả kĩ năng viết văn bản hành chính - Khoá luận tốt nghiệp tìm hiểu kỹ năng học môn tiếng việt của học sinh lớp 3
ng 11: Ket quả kĩ năng viết văn bản hành chính (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w