Mục đích nghiên cứu Mục đích chính của đề tài nhằm đánh giá tác động của hội nhập kinh tế vùng gần đây của Việt Nam thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do và hiệp định đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THÚY MAI
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KHU VỰC ASEAN + 3
ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐỒ GỖ VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM QUA MÔ HÌNH TRỌNG LỰC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN THÚY MAI
TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP KHU VỰC ASEAN + 3
ĐẾN THƯƠNG MẠI ĐỒ GỖ VIỆT NAM: BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM QUA MÔ HÌNH TRỌNG LỰC
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN ANH THU
XÁC NHẬN CỦA
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
TS Nguyễn Anh Thu
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CHẤM LUẬN VĂN
PGS.TS Hà Văn Hội
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các nội dung trong luận văn thạc sĩ này là công trình nghiên cứu của tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Anh Thu – Trường
ĐH Kinh tế, ĐH Quốc gia Hà Nội Các số liệu, bảng biểu được sử dụng để nghiên cứu, phân tích, nhận xét, đánh giá trong luận văn đều được lấy từ các nguồn chính thống như đã ghi chú và liệu kê trong các tài liệu tham khảo Bên cạnh đó, đề tài có sử dụng các khái niệm, nhận xét, đánh giá của các tác giả, các cơ quan, tổ chức khác và đều được ghi rõ trong nội dung cũng như ở phần tài liệu tham khảo của luận văn
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ và động viên trong quá trình thực hiện Xin được gửi lời cảm ơn chân thành và đặc biệt nhất tới TS Nguyễn Anh Thu – giảng viên hướng dẫn trực tiếp luận văn của tôi Cảm ơn sự hướng dẫn nhiệt tình, đầy trách nhiệm, những góp ý và gợi mở quý báu của cô từ khi tôi bắt đầu thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Khoa Kinh tế và Kinh doanh Quốc tế, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHKT-ĐHQGHN), Phòng Đào tạo của trường ĐHKT-ĐHQGHN, các thầy cô trực tiếp tham gia giảng dạy chương trình cao học về Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế Quốc
tế, khóa K21, năm học 2012-2015, các cán bộ của Khoa và của Phòng tham gia quản lý và hỗ trợ khóa học
Xin được cảm ơn gia đình, các đồng nghiệp, các thành viên của lớp Cao học K21- ĐHKT, ĐHQGHN và những người bạn của tôi, những người đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt thời gian qua
Trang 5MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt i
Danh mục bảng iv
Danh mục hình vi
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế 6
1.1.2 Các nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực đê đánh giá tác động của hội nhập kinh tế 10
1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến ngành đồ gỗ của Việt Nam 17
1.1.4 Nhận xét tình hình nghiên cứu 18
1.2 Cơ sở lý thuyết về hội nhập kinh tế 19
1.2.1 Khái niệm về hội nhập kinh tế 19
1.2.2 Các hình thức hội nhập kinh tế 20
1.2.3 Tác động của hội nhập kinh tế 21
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Mô hình trọng lực 25
2.2 Số liệu 33
CHƯƠNG 3 HỘI NHẬP KHU VỰC ASEAN+3 VÀ THƯƠNG MẠI NGÀNH ĐỒ GỖ VIỆT NAM 34
3.1 Hội nhập khu vực ASEAN+3 34
3.1.1 Khu vực thương mại tự do ASEAN 34
3.1.2 Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc 40
Trang 63.1.3 Hiệp định thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc 42
3.1.4 Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) 46 3.2 Thương mại đồ gỗ của Việt Nam 47
3.2.1 Năng lực ngành đồ gỗ của Việt Nam 49
3.2.2 Tình hình xuất nhập khẩu ngành đồ gỗ của Việt Nam 57
3.3 Một số hạn chế trong xuất khẩu hàng đồ gỗ của Việt Nam 62
CHƯƠNG 4 THẢO LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64
4.1 Kết quả của mô hình trọng lực 64
4.2 Một số hạn chế của mô hình 67
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ACFTA ASEAN-China Free Trade Agreement
(Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc)
2 AEC ASEAN Economic Community
(Cộng đồng Kinh tế ASEAN)
3 AFTA ASEAN Free Trade Area
(Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN)
4 AJCEP ASEAN-Japan Comprehensive Economic Partnership
(Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản)
5 AKFTA ASEAN-Korea Free Trade Agreement
(Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hàn Quốc)
6 ASEAN Association of Southeast Asian Nations
(Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á)
7 ASEAN+3 ASEAN và Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản
8 ASEAN-6 6 nước thành viên của ASEAN, bao gồm Singapore,
Phillipines, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Brunei
9 CGE Computable General Equilibrium
(Mô hình cân bằng tổng thể khả tính)
10 CLMV 4 nước thành viên của ASEAN, bao gồm Campuchia,
Lào, Myanmar và Việt Nam
11 EHP Early Harvest Program
(Chương trình Thu hoạch sớm)
12 EL Exclusion list
(Danh mục loại trừ)
Trang 813 EU European Union
(Cộng động chung châu Âu)
14 FDI Foreign Direct Investment
(Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
15 FE Fix effects
(Các tác động cố định)
16 FTA Free Trade Agreement
(Hiệp định Thương mại Tự do)
17 GDP Gross Domestic Products
(Tổng sản phẩm quốc nội)
18 GEL General Exclusion List
(Danh mục hàng loại trừ tổng quát)
19 HSL Highly Sensitive List
(Danh mục hàng nhạy cảm cao)
20 IL Inclusion List
(Danh mục bao gồm)
21 MERCUSUR Mercado Común del Sur
(Khối thị trường chung Nam Mỹ)
22 MFN Most Favoured Nation
(Nguyên tắc tối huệ quốc)
23 NAFTA North America Free Trade Agreement
Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ
24 NT Normal Track
(Danh mục hàng thông thường)
25 OLS Ordinary Least Square
(Bình phương tối thiểu)
Trang 926 RCA Revealed Comparative advantage)
Lợi thế so sánh hiện hữu
(Ngân hàng thế giới)
31 WTO World Trade Organization
(Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Mô tả các biến số trong mô hình hồi quy 29
2 Bảng 3.1 Tổng kết tình hình cắt giảm thuế trong
3 Bảng 3.2 Tiến độ cắt giảm thuế quan trong AFTA của
4 Bảng 3.3 Các ngoại lệ FTA ASEAN 38
5 Bảng 3.4 Thuế suất trung bình của ASEAN trong
6 Bảng 3.5 FTA ASEAN – Trung Quốc 41
7 Bảng 3.6 FTA ASEAN – Hàn Quốc 43
8 Bảng 3.7 Thuế suất trung bình của Hàn Quốc trong
9 Bảng 3.8 Thuế suất trung bình của Việt Nam trong
10 Bảng 3.9 Tỷ trọng 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất
11 Bảng 3.10 Diện tích trồng rừng của Việt Nam qua các
12 Bảng 3.11 Diễn biến diện tích rừng trồng tập trung và
sản lƣợng gỗ khai thác,2009-201 54
Trang 1113 Bảng 3.12 Tỷ lệ sử dụng nguyên liệu nội địa 56
14 Bảng 3.13 Thị trường nhập khẩu gỗ và sản phẩm gỗ
15 Bảng 3.14 Các thị trường cung cấp và loại gỗ
nguyên liệu nhập khẩu vào Việt Nam 57
16 Bảng 3.15 Giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam và
19 Bảng 4.1 Kết quả ước tính mô hình xuất khẩu đồ gỗ
20 Bảng 4.2 Kết quả ước tính mô hình nhập khẩu đồ gỗ
Trang 12DANH MỤC HÌNH
1 Hình 3.1 Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong
2 Hình 3.2 Kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam
3 Hình 3.3 Phân bố doanh nghiệp ngành chế biến gỗ
theo sản phẩm chủ yếu (năm 2008) 52
4 Hình 3.4 Tổng cầu nguyên liệu cho sản xuất đồ gỗ và
5 Hình 3.5 Các thị truờng xuất khẩu của đồ gỗ Việt Nam
6 Hình 3.6 Xuất khẩu đồ gỗ sang các nước đối tác chính
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Xu hướng tự do hóa thương mại đang ngày càng trở nên phổ biến và trở thành một xu thế tất yếu, điển hình là sự ra đời và phát triển của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) với số lượng thành viên đã lên tới 161 nước1 Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại song phương và đa phương (khu vực) cũng được thực hiện nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại hơn nữa giữa một nhóm nhỏ các quốc gia nhất định
Trong xu thế đó, Việt Nam cũng rất tích cực tham gia hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Năm 1995, Việt Nam tham gia Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN, (AFTA) Năm 2004, hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) được ký kết Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) và Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản (AJCEP) lần lượt được ký kết vào các năm 2006 và 2008 Năm 2009, Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) chính thức có hiệu lực Mới đây, ngày 05/05/2015, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam- Hàn Quốc (VKFTA) chính thức được ký kết Các hiệp định này đều giành những ưu đãi đáng kể đối với việc dỡ bỏ các rào cản đối với sản phẩm đồ gỗ, một ngành mà Việt Nam có thế mạnh trong xuất khẩu
Ngành đồ gỗ chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của Việt Nam Việt Nam hiện là nước xuất khẩu gỗ lớn thứ sáu trên thế giới, với giá trị xuất khẩu tăng bình quân 27,15% trong thời kỳ 2001- 2010 và năm 2014 đạt được con số 6,23 tỷ USD (Bộ Công thương, 2015) Nếu như năm 2004, kim ngạch xuất khẩu gỗ và sản phẩm đồ gỗ lần đầu tiên vượt mốc
1 https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm, truy cập ngày 20/05/2015
Trang 141 tỷ USD, thì đến năm 2014, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã chạm mức 6,23 tỷ USD (riêng sản phẩm đồ gỗ xuất khẩu đạt 4,4 tỷ USD) Năm 2014, các thị trường xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ chính của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc, Australia… Riêng hai thị trường Hoa Kỳ và Nhật Bản kim ngạch xuất khẩu đã chiếm xấp xỉ 50% tổng kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam (trong đó, thị trường Hoa Kỳ đạt 2,235 tỷ USD, Nhật Bản là 952 triệu USD)2
Trước xu hướng hội nhập vùng mạnh mẽ nêu trên, đề tài sẽ tập trung phân tích các tác động của hội nhập vùng tới thương mại đồ gỗ của Việt Nam Trên cơ sở đó có thể đưa ra một số gợi ý cho Việt Nam để tận dụng hơn nữa những lợi ích tiềm năng mà hội nhập vùng mang lại, trong bối cảnh Việt Nam đang hướng đến phát triển ngành sản xuất và xuất khẩu đồ gỗ bền vững
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài nhằm đánh giá tác động của hội nhập kinh tế vùng gần đây của Việt Nam thông qua việc tham gia các hiệp định thương mại tự do và hiệp định đối tác kinh tế với các nước trong khu vực châu Á (ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản) đối với thương mại đồ gỗ của Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu
Đề tài tập trung trả lời câu hỏi: Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do ASEAN+3 có tác động thế nào tới ngành đồ gỗ của Việt Nam?
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đó, đề tài sẽ thực hiện các nhiệm vụ:
- Tổng kết các nội dung về tự do hóa thương mại và hợp tác trong ngành đồ gỗ trong ASEAN và các Hiệp định kinh tế - thương mại của Việt
2 GSO (2015)
Trang 15Nam với các nước đối tác gồm Trung Quốc (ACFTA), Hàn Quốc (AKFTA)
và Nhật Bản (AJCEP)
- Đánh giá các yếu tố tác động đến xuất nhập khẩu đồ gỗ của Việt Nam trong thời gian gần đây, trong đó có các FTAs đã ký kết, bao gồm AFTA, ACFTA, AKFTA, AJCEP
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung phân tích tác động của việc tham gia các hiệp định thương mại tự do, bao gồm Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) và Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)
- Đề tài sử dụng số liệu thương mại đồ gỗ của Việt Nam trong giai đoạn
từ 2001-2013, khi Việt Nam đẩy mạnh hội nhập khu vực và thế giới; cũng như do sự sẵn có của số liệu nghiên cứu
- Đề tài tập trung đánh giá tác động của việc hội nhập vùng đối với thương mại trong ngành đồ gỗ của Việt Nam Các mặt hàng đồ gỗ xem xét trong đề tài bao gồm gỗ và các sản phẩm từ gỗ thuộc Chương 44 (Gỗ và các mặt hàng bằng gỗ; than từ gỗ), và các sản phẩm có mã HS 940330 (Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong văn phòng), 940340 (Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong nhà bếp), 940350 (Đồ nội thất bằng gỗ được sử dụng trong phòng ngủ), 940360 (Đồ nội thất bằng gỗ khác)
4 Phương pháp nghiên cứu
Mô hình trọng lực là một phương pháp kinh tế lượng được sử dụng để phân tích trong thương mại quốc tế Mô hình này lần đầu tiên được Tinbergen (1962) sử dụng để so sánh quy mô của dòng thương mại giữa các nước với các lực hấp dẫn giữa hai nước như trong vật lý học Mô hình đã được nhiều nhà nghiên cứu phát triển và ứng dụng rộng rãi trong phân tích thương mại
Trang 16Một trong những ưu điểm của mô hình là có thể kiểm soát được tác động của các biến khác ngoài FTA đến dòng thương mại, do đó có thể tách biệt riêng ảnh hưởng của FTA (Plummer và các cộng sự (2010)) Bên cạnh FTA, mô hình còn đưa vào các biến khác có ảnh hưởng đến thương mại như quy mô nền kinh tế, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách thu nhập, khoảng cách giữa các nước, tỷ giá hối đoái, khác biệt ngôn ngữ, văn hóa… Ngày nay,
mô hình trọng lực được sử dụng rất nhiều trong phân tích tác động của việc thực hiện FTA nói chung, nhất là đánh giá tác động tạo lập thương mại và chuyển dịch thương mại (Lin và Michael (2010))
5 Cấu trúc của luận văn
Luận văn được chia thành 5 chương, với nội dung như sau:
Chương 1 Tổng quan tài liệu và cơ sở lý luận: Chương này sẽ trình bày
những nghiên cứu đánh giá tác động của các FTA đến thương mại nói chung, đến thương mại ngành cụ thể; cũng như những nghiên cứu về ngành đồ gỗ của Việt Nam Chương 1 cũng sẽ hệ thống hóa những lý thuyết về hội nhập kinh tế
và những tác động của FTA tới nền kinh tế
Chương 2 Phương pháp nghiên cứu : Trên cơ sở lý thuyết ở Chương
1, chương này trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài, quá trình xây dựng mô hình trọng lực để đánh giá tác động của các FTA ASEAN+3 cũng như các yếu tố riêng rẽ khác tới dòng thương mại chung cũng như thương mại đồ gỗ của Việt Nam
Chương 3 Hội nhập khu vực ASEAN+3 và thương mại ngành đồ gỗ Việt Nam Chương này sẽ đưa ra những phân tích chi tiết về tiến trình hội nhập
khu vực của ASEAN và Việt Nam với tư cách là thành viên của ASEAN, bao gồm những cam kết cắt giảm thuế quan chung cùng những ưu đãi thuế quan đối với các sản phẩm đồ gỗ Việt Nam Chương 3 cũng sẽ nêu lên thực trạng của thương mại đồ gỗ Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Trang 17Chương 4 Kết quả của mô hình: Trên cơ sở mô hình trọng lực cho xuất
khẩu và nhập khẩu đồ gỗ đã được trình bày ở chương 2, chương này trình bày chi tiết kết quả ước lượng của mô hình trọng lực Từ đó đưa ra những kết luận về tác động của các yếu tố riêng rẽ, đặc biệt là FTA ASEAN+3 tới thương mại đồ
gỗ Việt Nam Trên cơ sở đó đưa ra một số khuyến nghị và đề xuất nhằm thúc đẩy thương mại đồ gỗ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ASEAN+3
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tình hình nghiên cứu
1.1.1 Các nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế
Có rất nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của các Hiệp định thương mại tự do FTA trước khi ký kết và sau khi hiệp định có hiệu lực đối với các nước liên quan, sử dụng các phương pháp khác nhau Mô hình cân bằng tổng thể (CGE) và mô hình thương mại toàn cầu (GTAP) là hai phương pháp thường được sử dụng phổ biến để đánh giá những tác động đó Ngoài ra, mô hình SMART còn được sử dụng trong nhiều bài nghiên cứu đánh giá tác động tiềm năng của các FTA Một số nghiên cứu tiêu biểu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế có thể được kể tên dưới đây :
Albert (2012) sử dụng mô hình SMART để đánh giá tác động của các FTA giữa ba liên kết kinh tế khu vực ở châu Phi (bao gồm cộng đồng Đông Phi - EAC, thị trường chung của các nước ở Đông và Nam Phi – COMESA, cộng đồng Phát triển Nam Phi - SADC) đối với phúc lợi và an ninh lương thực của các nước trong khu vực Các kết quả ước lượng cho thấy giá trị thương mại tạo lập ước tính gần 2 tỷ đô la Mỹ, và giá trị thương mại chuyển hướng là khoảng 454 triệu đô la Mỹ Đối với an ninh lương thực, sản lượng ngô của các nước sẽ tăng lên trong khi sản lượng gạo và lúa mì giảm sút
ATPC (2011) sử dụng mô hình SMART nghiên cứu tác động của hiệp định đối tác kinh tế EU và châu Phi Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những nhượng bộ thương mại giữa hai khu vực có thể khiến Châu Phi phải trả giá đắt, bởi đi kèm theo đó là những nguy cơ về điều chỉnh chi phí đi kèm với quá trình giảm công nghiệp hóa (de-industrialization); và những lợi ích thương mại mà EU có được lại phần lớn do tác động chuyển dịch thương mại với các nước khác trên thế giới và trong nội bộ các nước châu Âu
Trang 19Chandrima và Biswajit (2011) đánh giá tác động của FTA giữa Ấn Độ
và ASEAN, sử dụng mô hình CGE và mô hình SMART Với các kịch bản đưa ra, kết quả ước lượng cho thấy thương mại giữa Ấn Độ và các nước ASEAN tăng lên đáng kể, trong đó nước được lợi lớn nhất là Ấn Độ, Singapore và Philippines Tuy nhiên, tác giả cũng nhận thấy tác động chuyển hướng thương mại, với việc giảm tỷ trọng thương mại của các nước khác ở khu vực này
Hiro Lee và Michael G Plummer (2011) đánh giá tác động của việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN đối với phúc lợi kinh tế, thương mại
và sản lượng ngành của các nước ASEAN, sử dụng mô hình CGE Theo đó, nếu các rào cản thương mại và vận chuyển giảm 10%, phúc lợi của các nước ASEAN sẽ tăng đáng kể, với Singapore là 37% và gấp 6 lần đối với các nước ASEAN khác Các nước CLMV sẽ được hưởng lợi từ việc cải thiện cơ sở hạ tầng Thương mại trong nội khối có thể tăng đến 54%, thương mại thế giới tăng 0,4%, tác động tạo lập thương mại lớn hơn chuyển hướng thương mại Tác động đối với sản lượng của 20 ngành trong ASEAN
Ando (2010) đánh giá tác động tiềm năng của các FTAs giữa ASEAN +3, CEPEA (Hiệp định thương mại tự do của ASEAN và Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, New Zealand) Tác giả chỉ ra rằng việc tạo thuận lợi thương mại và trợ giúp kỹ thuật cho các nước đang phát triển làm tăng phúc lợi của các nước trong khu vực, và tự do hóa thương mại nông nghiệp có tác động tích cực tới các nước thành viên
Plummer và Chia (2009) ước lượng tác động của việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sử dụng mô hình CGE Nghiên cứu chỉ ra rằng việc hình thành một thị trường thống nhất ở Đông Nam Á sẽ mang lại những lợi ích to lớn cho các nước tham gia, bao gồm cả Campuchia, Lào và Việt Nam Phúc lợi kinh tế mà Việt Nam, Campuchia, Lào thu được lần lượt là
Trang 202,8% ; 6,3% và 3,6% Ngoài ra, nếu mở rộng AEC với một hiệp định thương mại với các nước láng giềng, tổng phúc lợi của ASEAN có thể tăng lên 2/3,
và tăng 1/3 nếu mở rộng thêm với Mỹ và EU.Trong kịch bản này, Việt Nam
Kenichi K (2003) sử dụng mô hình CGE để đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do của Nhật Bản ở châu Á tới thương mại toàn cầu Tác động của các FTAstới phúc lợi và chuyển dịch cơ cấu của các nền kinh tế khác nhau là khác nhau FTAs có tác động mạnh tới năng suất kinh tế của Nhật Bản, nhưng lại mang lại lợi ích lớn hơn từ các dòng vốn đổ vào nền kinh
tế đối với nhiều nước ASEAN
Các nghiên cứu liên quan đến đánh giá tác động của hội nhập kinh
tế tới thương mại của Việt Nam
Trần Công Thắng và các công sự (2011) nghiên cứu những thay đổi trong thương mại nông sản Việt Nam – Trung Quốc kể từ sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Bên cạnh việc xem xét các số liệu về thương mại nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhóm tác giả sử dụng
mô hình thương mại toàn cầu (GTAP) phân tích những tác động của việc thực hiện Khu vực Thương mại Tự do ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) Kết quả của mô hình chỉ ra sự gia tăng đáng kể của các mặt hàng xuất khẩu của Việt
Trang 21Nam như rau quả, dầu và sản phẩm chế biến khác Các mặt hàng lâm nghiệp, gạo, thủy sản và nông sản khác cũng tăng lên nhưng không cao như các mặt hàng trên Trong khi đó nhập khẩu nông sản của Việt Nam từ Trung Quốc có
sự tăng lên mạnh đối với rau quả, sản phẩm nông sản chế biến, nước ngọt, lúa giống, sản phẩm chăn nuôi, nông sản chế biến
MUTRAP III (2010) thực hiện nghiên cứu đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do tới nền kinh tế Việt Nam Nghiên cứu đánh giá các tác động sau khi hình thành FTAs, sử dụng mô hình trọng lực; đánh giá tác động tiềm năng của các FTAs này trong tương lai, sử dụng mô hình cân bằng tổng thể; và tác động sâu và tiềm năng tới một số ngành cụ thể trong nền kinh tế, sử dụng mô hình cân bằng bộ phận Các mô hình trọng lực được áp dụng cho xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với các nước đối tác, với biến giả về FTA đối với AFTA Kết quả ước lượng cho thấy các biến như quy mô của nền kinh tế, khoảng cách địa lý, biến động của tỷ giá hối đoái và mức độ
dễ dàng khi thực hiện các hoạt động kinh doanh đều có ý nghĩa giải thích quan trọng Biến giả FTA có dấu dương ở trong cả mô hình xuất khẩu và nhập khẩu Việc thành lập AFTA dẫn đến tăng trưởng thương mại không chỉ trong khối ASEAN mà cả thương mại của ASEAN với các nước ở ngoài khối
Từ Thúy Anh và Tô Minh Thu (2010) sử dụng mô hình Cân bằng Tổng thể Động (dynamic general equilibrium model) đánh giá tác động của hội nhập kinh
tế ở khu vực Đông Á tới thay đổi phúc lợi, tổng sản phẩm, thương mại và cơ cấu sản xuất của Việt Nam Nghiên cứu nhận thấy cơ cấu sản xuất của Việt Nam sẽ thay đổi theo hướng tăng dần tỉ trọng của ngành công nghiệp, giảm dần tỉ trọng của ngành nông nghiệp và dịch vụ Trong quá trình đó, nông nghiệp của Việt Nam cần phải được đặc biệt chú ý vì sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh cao
Roland-Holst và các cộng sự (2002) sử dụng mô hình cân bằng động,
đa ngành và Bảng chào ban đầu (Initial Offer) để đánh giá tác động kinh tế trong dài hạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO
Trang 22Nguyễn Chân và Trần Kim Dung (2001) sử dụng mô hình CGE để đánh giá tác động của tự do hóa thương mại của Việt Nam với vị thế là một nền kinh
tế mở, nhỏ/chập nhận giá Sau khi chia 97 lĩnh vực trong bảng cân đối liên ngành của Việt Nam (I/O: input/output) năm 1996 chia thành 33 khu vực sản xuất (17 cho sản xuất trong nước, và 16 cho xuất khẩu), các tác giả đã phân tích tác động của thương mại và các cải cách thuế quan đối với xuất khẩu
1.1.2 Các nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực đê đánh giá tác động của hội nhập kinh tế
Tác động của các FTA đến thương mại đã được nghiên cứu bởi Tinbergen (1962) lần đầu tiên và đã chỉ ra tác động tích cực đáng kể giữa những nước thành viên trong Khối thịnh vượng chung Anh Để phân tích tác động, các nhà nghiên cứu vào những năm 1970 và 1980 đã thêm vào các biến giả mà hai nước trong cùng một FTA sẽ nhận được cùng một giá trị thống nhất Đặc biệt là ở trong các nghiên cứu như EEC (European Economic Community), EFTA (European Free Trade Association) và LAFTA (Latin America Free Trade Agreement) (Aitken (1973) và Brada Mendez (1983) Từ
đó thì phương pháp sử dụng biến giả đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu
A.A Hatab, E Romstad, X Huo (2010) phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới xuất khẩu nông sản của Ai cập với 50 nước đối tác chính trong giai đoạn
1994 – 2008, sử dụng mô hình trọng lực Nghiên cứu cho thấy các nhân tố có tác động quan trọng thúc đẩy xuất khẩu hàng nông sản Ai Cập bao gồm GDP của nước nhập khẩu, nước nhập khẩu sử dụng ngôn ngữ chung Ả Rập, sự giảm giá đồng pound của Ai Cập và khoảng cách địa lý gần gũi Tuy nhiên các yếu tố như nước nhập khẩu là thành viên của các liên kết khu vực với Ai Cập hay GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu lại không tác động đáng kể đến xuất khẩu nông sản của Ai Cập
Trang 23Laetitia Gulhot (2010) đánh giá tác động của các FTA chính ở khu vực Đông Á đã đánh giá tác động của 3 hiệp định thương mại tự do: ASEAN (AFTA) và ASEAN-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc (AKFTA) đến dòng thương mại ở khu vực Đông Á Mô hình trọng lực được tác giả sử dụng bao gồm các biến số cơ bản như GDP, GDP bình quân đầu người, khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách địa lý và các biến giả đại diện cho các FTA chính ở khu vực Đông Á AFTA, AKFTA, ACFTA Tác giả sử dụng dữ liệu bảng (panel data) hồi quy mô hình trọng lực để đánh giá tác động của những yếu tố riêng rẽ lên dòng thương mại của 12 nền kinh tế (10 thành viên ASEAN, Hàn Quốc, Trung Quốc) với 22 đối tác thương mại chính trong giai đoạn 1985 tới 2007 Mặc dù, xét về tổng quan AFTA có tác động tích cực đối với thương mại đa phương trong khu vực Các kết quả nghiên cứu còn chỉ ra rằng AFTA có tác động tích cực thúc đẩy thương mại nội ngành trong khu vực, mang lại hiệu ứng tạo lập thương mại lớn đối với xuất khẩu và hiệu ứng chệch hướng thương mại đối với nhập khẩu ngoài khu vực Ngoài ra, ACFTA và AKFTA chưa thể hiện tác động tới dòng thương mại ở Đông Á do thời gian hiệu lực ngắn Nghiên cứu đã xây dựng mô hình trọng lực hoàn chỉnh đánh giá tác động của các FTA đa phương tới dòng thương mại trong khu vực, tuy nhiên, chưa đánh giá được tác động đến dòng thương mại chung hay thương mại ngành của một quốc gia thành viên của các FTA
đa phương đó
E Erdem và S Nazlioglu (2008) sử dụng mô hình trọng lực nghiên cứu các yếu tố tác động đến xuất khẩu nông sản của Thổ Nhĩ Kỳ sang Cộng đồng chung châu Âu (EU) trong giai đoạn 1996-2004, sử dụng cách tiếp cận các tác động ngẫu nhiên (random-effects model REM) Kết quả ước lượng cho thấy xuất khẩu nông sản của Thổ Nhĩ Kỳ sang thị trường này có quan hệ thuận chiều với quy mô của nền kinh tế, dân số của nước nhập khẩu, biến dân số
Trang 24Thổ Nhĩ Kỳ sống ở nước thành viên EU (biến giả bằng 1 nếu có hơn 100.000 người Thổ Nhĩ Kỳ sống ở một nước thành viên EU), nước có chung kiểu khí hậu Địa Trung Hải và nước là thành viên của Liên minh thuế quan Thổ Nhĩ
Kỳ - EU Tuy nhiên, lượng xuất khẩu có quan hệ tỷ lệ nghịch với diện tích đất nông nghiệp và khoảng cách địa lý tới nước nhập khẩu
N Malhotra và A Stoyanov (2008) phân tích tác động của Hiệp định Thương mại tự do Canada-Chile tới thương mại nông nghiệp của hai nước trong giai đoạn 1998-2005, sử dụng mô hình trọng lực Bên cạnh các biến truyền thống của mô hình, tác giả đưa thêm biến về diện tích đất canh tác và lượng phân bón cho sản xuất Kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng Chile là nước được lợi nhiều hơn đối với xuất khẩu các sản phẩm nông sản, trong khi lợi ích thu được của Canada từ các chương trình cắt giảm thuế quan là không đáng kể
Nowark-Lehmann D.et all (2007) đánh giá tác động tiềm năng của hiệp định thương mại tự do giữa Chile và EU, mức độ cạnh tranh về giá, thu nhập thực tế, khác biệt về thu nhập trung bình và chi phí vận chuyển đến xuất khẩu một số ngành hàng của Chile sang EU trong giai đoạn 1988-2002 Theo đó, FTA giữa Chile và EU sẽ thúc đẩy mạnh mẽ xuất khẩu lương thực thực phẩm của Chile sang EU
Vollrath và các cộng sự (2006) nhận thấy thu nhập bình quân đầu người có tác động đến thương mại đối với thực phẩm chế biến (manufactured food) nhưng không tác động đến (commodity food) khi sử dụng mô hình trọng lực để phân tích thương mại của các mặt hàng thực phẩm chế biến và các mặt hàng nông sản phổ biến giữa 9 nước trong giai đoạn 1996-2002 Và điều này nhất quán với lý thuyết HO về thương mại quốc tế: tỉ lệ đất đai/lao động là một yếu tố quan trọng tác động đến thương mại nông sản và EU, NAFTA, MERCUSOR đều làm tăng thương mại nội ngành về nông sản
Trang 25Jason và Dayton (2005) sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động của hội nhập vùng tới thương mại trong nông nghiệp của thế giới đã đưa thêm các biến giải thích cho thương mại nông nghiệp bao gồm: tỉ giá hối đoái thực, diện tích đất nông nghiệp, biến giả thể hiện nước đối tác có chung đường biên giới, ngôn ngữ, là nước không có biển (landlock) Mô hình ước lượng có đưa thêm các biến giả về thời gian và biến tác động cố định (fixed effects) đại diện cho các yếu tố riêng biệt của từng nước có ảnh hưởng tới thương mại mà không được đưa vào trong mô hình (ví dụ như thay đổi về chế
độ chính trị, các cú sốc về kinh tế vĩ mô, và các yếu tố đặc trưng khác) Các
số liệu được lấy cho 9 mặt hàng nông nghiệp trong thương mại giữa 89 nước trong giai đoạn 1985-2002, và xem xét với 8 hiệp định thương mại khu vực Kết quả ước lượng cho thấy, việc thực hiện NAFTA giúp tăng thương mại nông nghiệp của nội khối lên tới hơn 75%, và tác động chuyển hướng thương mại của NAFTA và CER rất hạn chế EU-15 và các hiệp định thương mại tự
do của châu Phi lại có những tác động chệch hướng thương mại rõ rệt
Những kết quả ước lượng tác động của các FTA tới dòng thương mại không giống nhau mà có sự pha trộn đã được chứng minh trong các nghiên cứu trong những năm của thập niên 1990 Các nghiên cứu như Frankel, Stein and Wei (1995) and Frankel (1997) đã xem xét tác động của một số FTA chính như EU, NAFTA, MECOSUR, AFTA, chỉ ra những tác động tích cực trong trường hợp MECOSUR và AFTA tuy nhiên ngược lại đối với trường hợp EU và NAFTA Solaga và Winters (2000) giải thích tác động tạo thương mại và tác động chệch hướng thương mại của một số FTA đa phương Tác giả
đã chỉ ra tác động tạo thương mại chỉ ở những nước Mỹ Latinh và tác động chuyển hướng thương mại đối với trường hợp EU và EFTA Endoh (1999) phân tích tác động tạo thương mại và chệch hướng thương mại của EEC,
Trang 26LAFTA và CMEA, và họ thấy cả hai tác động đối với những FTA này, đồng thời cũng chỉ ra những tác động này giảm dần trong những năm 1990
Baier và Bergstrand (2002) đã thêm vào mô hình các biến giả FTA và chỉ ra rằng các FTA đã làm cho dòng thương mại tăng lên gấp bốn lần Carrere (2003) đã áp dụng nghiên cứu của Baier và Bergstrand vào phân tích
dữ liệu bảng, kết quả chỉ ra rằng các FTA đã tạo ra sự gia tăng đáng kể trong thương mại so sánh với các kết quả trước đây Chen và Tsai (2005) thay đổi
mô hình trọng lực và so sánh các kết quả bằng việc sử dụng dữ liệu bảng Nghiên cứu cho thấy giữa những giá trị ước lượng khác nhau giữa những FTA khác nhau
Gilbert, Scollay, và Bora (2004) phân tích tác động của những FTA chính và những khối thương mại ở Đông Á theo khu vực, đưa ra kết quả là những khối thương mại ở Đông Á tồn tại trong khu vực hàng hóa và sản xuất Endoh (2005) từ đánh giá tác động của quy định xuất xứ ưu đãi GSTP (Generalized System of Trade Preferences) của những nước đang phát triển
đã chỉ ra thương mại giữa các nước trong GSTP đã tăng lên đáng kể
Urata, S và M Okabe (2007) sử dụng khi nghiên cứu tác động của các FTA đến dòng thương mại Thứ nhất, tác giả phân tích những thay đổi trong
cơ cấu thương mại trước và sau khi FTA được ký kết thông qua việc tính toán hai chỉ số là tỷ trọng của thương mại nội ngành trong tổng thương mại của các thành viên FTA và chỉ số tập trung thương mại Kết quả chỉ ra rằng thương mại nội ngành trong FTA chiếm tỷ trọng lớn đối với EU và NAFTA Thứ hai, tác giả sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động của các FTA đến dòng thương mại song phương bằng cách hồi quy bộ dữ liệu tổng hợp và phân tách Các biến được đưa vào mô hình bao gồm GDP, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách địa lý Các biến giả bao gồm biến Adjacency và Language, nhận giá trị là 1 lần lượt nếu hai quốc gia có cùng chung đường
Trang 27biên giới hay ngôn ngữ và ngược lại nhận giá trị là 0, và các biến giả đại diện cho các FTA Dữ liệu ước lượng cho 178 quốc gia trong giai đoạn 1950 –
2005 Kết quả ước lượng cho thấy các biến số về GDP, thu nhập bình quân đầu người hay biến giả cho các quốc gia có chung biên giới và ngôn ngữ đều
có tác động tích cực tới thương mại đúng với phân tích của lý thuyết kinh tế Hầu hết các FTA được đưa vào mô hình đều mang lại tác động tạo lập thương mại lớn Tác động làm chệch hướng thương mại xảy ra ở một số mặt hàng trong các FTA như EU, NAFTA, MERCOSUR Một số FTA chưa thể hiện đươc tác động trong mô hình do thời gian hiệu lực ngắn
Các nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực đánh giá tác động của hội nhập kinh tế tới thương mại của Việt Nam
Nguyen Anh Thu (2012) đã đánh giá tác động của hội nhập kinh tế của Việt Nam theo Hiệp dịnh Thuong mại Tự do ASEAN (AFTA) và Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) tới thương mại Việt Nam, sử dụng mô hình trọng lực Số liệu về thương mại trong nghiên cứu được lấy từ
39 nước đối tác trong giai doạn 2004 – 2011 Các biến phụ thuộc được đưa vào mô hình như GDP, khoảng cách giữa các quốc gia, thu nhập bình quân đầu người, tỷ giá hối đoái thực và 2 biến giả VJEPA, AFTA Kết quả cho thấy việc tham gia AFTA (cùng với các yếu tố khác như GDP, khoảng cách dịa lý, tỉ giá hối đoái thực) có tác động tích cực tới thương mại của Việt Nam Tuy nhiên, tác động của VJEPA chưa rõ ràng do hiệp định mới được ký kết
và lộ trình cắt giảm thuế cần có thời gian để có tác động mạnh hơn tới thương mại Nghiên cứu mới dừng lại ở việc nghiên cứu 2 FTA mà Việt Nam tham gia AFTA và VJEPA chưa đánh giá được hết các FTA ASEAN+3 tới dòng thương mại của Việt Nam
Nguyễn Tiến Dũng (2011) sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá tác động của khu vực thương mại tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) tới dòng
Trang 28thương mại của ViệtNam, với số liệu thương mại giữa Việt Nam và 18 nước đối tác từ năm 2001– 2009 Tác giả đã phân tích khái quát về AKFTA , đi sâu trình bày chiều hướng và cơ cấu thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc và các nước ASEAN cũng như cấu trúc bảo hộ trong các nước thành viên Đồng thời tác giả sử dụng mô hình trọnglực để đánh giá tác động của AKFTA đến thương mại Việt Nam, với các biến số thông thường trong mô hình trọng lực như GDP, khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đoái, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách thu nhập giữa các nước và các biến giả được bổ sung đại điện cho các khu vực thương mại tự do Ngoài AKFTA, tác giả cũng xem xét AFTA, ACFTA, AJCEP để so sánh những tác động của các hiệp định này lên dòng thương mại của Việt Nam Bài nghiên cứu xây dựng phương trình riêng cho xuất khẩu và nhập khẩu nhằm phân tích tác động của AKFTA tớixuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng AKFTA thúc đẩy tăng trưởng thương mại giữa Việt Nam với Hàn Quốc, trong khi AFTA có tác động tích cực tới xuất khẩu của Việt Nam nhưng có tác động không rõ ràng tới nhập khẩu của Việt Nam với các nước ASEAN Tác động của ACFTA và VJEPA tới thương mại Việt Nam là chưa rõ ràng Tuy nhiên, bài nghiên cứu chưa phân tích được tác động của các FTA này tới thương mại một ngành cụ thể và mô hình trọng lực trong bài nghiên cứu có thể làm cơ sở
áp dụng để đánh giá tác động đến một ngành
Từ Thúy Anh và Đào Nguyên Thắng (2008) cho rằng có ba nhóm yếu
tố ảnh hưởng đến luồng thương mại như nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cung (GDP và dân số của nước xuất khẩu), nhóm yếu tố ảnh hưởng đến cầu (GDP
và dân số của nước nhập khẩu) và nhóm yếu tố hấp dẫn hay cản trở (khoảng cách địa lý) Nhóm tác giả sử dụng mô hình trọng lực để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tập trung thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN+3, với số liệu thống kê thương mại của Tổng Cục Hải Quan từ 1998-
Trang 292005 Mô hình được xây dựng riêng cho xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam Kết quả ước lượng OLS chỉ ra rằng sự gia nhập và thực hiện các cam kết ASEAN+3 của Việt Nam chưa hiệu quả nên không có tác động lớn đến tăng trưởng thương mại của Việt Nam với các nước ASEAN Tuy nhiên, bài nghiên cứu chỉ đi sâu phân tích mức độ tập trung thương mại tổng hợp
mà không phân tích mức độ tập trung thương mại theo từng ngành
Do Tri Thai (2006) phân tích thương mại giữa Việt Nam và 23 nước châu
Âu, với chuỗi số liệu từ năm 1993-2004, sử dụng mô hình trọng lực Nghiên cứu cho thấy các yếu tố như quy mô nền kinh tế, quy mô thị trường, tỉ giá hối đoái có tác động mạnh tới thương mại giữa Việt Nam và các nước EU Tuy nhiên, thương mại của Việt Nam với các nước này vẫn ở dưới mức tiềm năng
1.1.3 Các nghiên cứu liên quan đến ngành đồ gỗ của Việt Nam
MUTRAP (2014), với sự phối hợp của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã công bố Báo cáo Nghiên cứu chiến lược phát triển ngành chế biến gỗ Nghiên cứu đã đưa ra cái nhìn tổng quan và định hướng phát triển của ngành chế biến gỗ Việt Nam, cũng như đưa ra một số khuyến nghị phương án đàm phán trong FTA Việt Nam – EU liên quan tới sản phảm gỗ chế biến Nghiên cứu chỉ ra rằng ngành chế biến đồ gỗ Việt Nam là ngành có nhiều triển vọng phát triển, cả trong định hướng xuất khẩu lẫn tiêu dùng nội địa Quy mô thị trường nội địa đang mở rộng theo sự gia tăng thu nhập của người dân Thị trường xuất khẩu đã ổn định trở lại sau khủng hoảng và tiếp tục hứa hẹn một giai đoạn tăng trưởng mới, đặc biệt với các sản phẩm mới từ lâm sản ngoài gỗ
MUTRAP III, (2013) sử dụng nhiều phương pháp để đánh giá tác động của các FTAs đến kinh tế Việt Nam, trong đó có phân tích cấp ngành dựa trên các chỉ số tiềm năng GR, RCA, vv đã cho thấy tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam vào các đối tác FTA khác nhau rất tương đồng nhưng không giống nhau
Trang 30Với ngành đồ gỗ, các FTA được coi là lợi ích tổng hợp đối với ngành Thương mại với Nhật Bản được coi là một cơ hội, nhưng ACFTA với Trung Quốc lại ít được ưa thích Nghiên cứu chỉ ra rằng ngành đồ gỗ có tiềm năng
có thể mở rộng Tuy nhiên, cần lưu ý các chứng chỉ xác nhận nguồn v.v Các hóa chất trong ngành này cũng đang được giám sát ở các thị trường nhập khẩu MUTRAP cũng đưa ra các thách thức cho ngành này, ví dụ như phải đối mặt với hạn chế tài chính trong nước và thị trường lao động có kỹ năng, cũng như là cạnh tranh quốc tế khi mà mức thuế đang giảm dần
Huỳnh Thị Thu Sương (2012) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến
sự hợp tác trong chuối cung ứng đồ gỗ của Việt Nam Tác giả dùng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua việc thảo luận với các chuyên gia để đưa
ra bảng câu hỏi chính thức dùng cho nghiên cứu định lượng Kết quả nghiên cứu chỉ ra có 6 nhân tố có tác động nhất định đến hợp tác chuỗi cung ứng, gồm: quyền lực, sự thân quen, tín nhiệm, tần suất, văn hóa và chiến lược
1.1.4 Nhận xét tình hình nghiên cứu
Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập kinh tế đến thương mại Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng phổ biến là mô hình cân bằng tổng thể hoặc cân bằng bộ phận, cùng với mô hình trọng lực ngày càng được sử dụng rộng rãi trong phân tích thương mại Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho thấy hội nhập kinh tế
có tác động thúc đẩy mạnh mẽ tới thương mại của các nước thành viên Dòng thương mại bị tác động bởi các yếu tố như quy mô của nền kinh tế, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý, dân số, các yếu tố tương đồng về địa lý, văn hóa
Ở Việt Nam gần đây cũng có nhiều nghiên cứu đánh giá tác động của hội nhập thương mại đến nền kinh tế nói chung, phúc lợi xã hội, thương mại, đầu tư, nhất là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 31(WTO) Bên cạnh các đánh giá định tính, có nhiều nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp định lượng, trong đó phổ biến nhất là phương pháp Cân bằng Tổng thể Khả tính (CGE), Mô hình Thương mại Toàn cầu (GTAP) và gần đây
là Mô hình Trọng lực Các nghiên cứu đều chỉ ra những tác động tích cực của hội nhập tới thương mại
Tuy nhiên, các đánh giá về tác động hội nhập vùng của Việt Nam còn hạn chế, nhất là đánh giá tác động của hội nhập vùng tới ngành thương mại nói chung, và thương mại ngành đồ gỗ nói riêng còn hạn chế Do vậy, nghiên cứu này sẽ tập trung đánh giá tác động của một số hội nhập vùng tới thương mại trong ngành đồ gỗ của Việt Nam
1.2 Cơ sở lý thuyết về hội nhập kinh tế
1.2.1 Khái niệm về hội nhập kinh tế
Balassa (1987) coi hội nhập kinh tế vừa là một quá trình, vừa là một trạng thái Là một quá trình, hội nhập kinh tế bao gồm các biện pháp kinh tế
và chính trị được sử dụng để xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa các thể nhân kinh tế thuộc các quốc gia và vùng lãnh thổ khác nhau Là một trạng thái, hội nhập kinh tế quốc tế thể hiện sự thiếu vắng của các hình thức phân biệt đối xử giữa các nền kinh tế Quá trình hội nhập kinh tế có thể được coi như là một quá trình xóa bỏ các hình thức phân biệt kinh tế giữa các nước
Theo Charles, hội nhập kinh tế khu vực hàm ý các thỏa thuận và hiệp định giữa các nước ở cùng một khu vực địa lý nhằm giảm bớt, và cuối cùng là xóa bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với các dòng hàng hóa, thương mại, và nhân tố sản xuất giữa các nước với nhau
Chu Văn Cấp (2014) cho rằng hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình chủ động thực hiện đồng thời: một mặt, gắn nền kinh tế và thị trường trong nước với thị trường khu vực và thế giới thông qua sự nỗ lực thực hiện mở cửa và thúc đẩy tự do hóa nền kinh tế quốc dân, mặt khác, gia nhập và góp phần xây
Trang 32dựng các thể chế kinh tế khu vực và toàn cầu (APEC, ASEAN, IMF, WB, WTO…) Là sự thiết lập các mối quan hệ song phương, và đa phương về thương mại, đầu tư, tài chính, khoa học, công nghệ
1.2.2 Các hình thức hội nhập kinh tế
Có nhiều hình thức hội nhập kinh tế khác nhau Mỗi hình thức bao gồm các mức độ phân biệt đối xử khác nhau giữa các nước cùng là thành viên và giữa các nước thành viên với các nước ở ngoài khối Các hình thức hội nhập căn bản nhất bao gồm :
Các Hiệp định Ưu đãi Thương mại (PTAs – Preferential Trade
Agreements): Đây là các hiệp định trong đó các nước thành viên thực hiện cắt giảm thuế quan hoặc đưa ra mức đối xử ưu đãi đối với các hạn chế định lượng trong thương mại với nhau; trong khi vẫn duy trì các rào cản thương mại của
họ với các nước không tham gia hiệp định Hình thức hội nhập này thường được áp dụng đối với chỉ một nhóm hàng hoá nhất định và thường được trao đơn phương
Khu vực Mậu dịch Tự do (FTAs – Free Trade Areas): Đây là hình thức
hội nhập trong đó các nước thành viên xóa bỏ rào cản thương mại với các nước trong khu vực, trong khi vẫn duy trì các chính sách thương mại của mình với các nước khác
Liên minh thuế quan (CUs - Custom Unions): Trong CUs, các nước
thành viên xóa bỏ tất cả rào cản thương mại với các nước thành viên và áp dụng một chính sách thuế quan chung đối với các nước ở ngoài khối
Thị trường chung (Common Markets – CMs): Đây là các thỏa ước bao
gồm tất cả các đặc điểm của CUs, bên cạnh đó CMs còn cho phép dự dịch chuyển tự do của các yếu tố sản xuất trong khối Tất nhiên các nước này vẫn duy trì chính sách của riêng mình đối với sự chuyển dịch của yếu tố sản xuất với các nước ở ngoài khối
Trang 33Liên minh kinh tế (Economic Unions):Đây là cấp độ hội nhập kinh tế
quốc tế cao hơn thị trường chung Bên cạnh các đặc điểm của CMs, các nước trong EUs còn áp dụng các chính sách tiền tệ, tài khóa, công nghiệp và phúc lợi xã hội chung, cũng như áp dụng các chính sách đối ngoại chung với các nước ở ngoài khối
Liên minh tiền tệ (Monetary Unions): Đây là hình thức liên kết kinh tế
cao nhất, tiến tới thành lập một “quốc gia kinh tế chung” của nhiều nước với nhiều đặc điểm như xây dựng chính sách kinh tế chung, xây dựng chính sách đối ngoại, trong đó có các chính sách ngoại thương chung Bên cạnh đó còn quy định chính sách lưu thông tiền tệ thống nhất, hình thức một đồng tiền chung thống nhất thay thế cho đồng tiền riêng của các nước hội viên và xây dựng Ngân hàng chung thay thế Ngân hàng Trung ương của các nước, xây dựng quỹ tiền tệ chung, xây dựng chính sách quan hệ tài chính tiền tệ chung đối với các nước đồng minh và các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế tiến tới thực hiện liên minh về chính trị
1.2.3 Tác động của hội nhập kinh tế
Tác động tĩnh của hội nhập: Theo Amr (2013), Viner (1950) đã lần đầu
tiên đưa ra cách tiếp cận “tĩnh” trong phân tích tác động của hội nhập kinh tế dưới hình thức liên minh thuế quan Viner đưa ra hai tác động quan trọng của hội nhập kinh tế bao gồm tạo lập thương mại (trade creation) và chuyển hướng thương mại (trade diversion) Tác động tạo lập thương mại xảy ra khi dòng thương mại trong khối chuyển từ các nguồn cung ứng với chi phí cao hơn sang nguồn cung ứng có chi phí rẻ hơn, do tác động của việc cắt giảm thuế quan đối với các nước thành viên Tác động chuyển dịch thương mại xảy
ra khi dòng thương mại trong khối chuyển từ các nguồn cung ứng ở ngoài khối với chi phí thấp hơn sang các nguồn cung ứng ở trong khốicó chi phí cao
Trang 34hơn nhưng lại được hưởng ưu đãi thuế quan Trong trường hợp này, nguồn lực bị phân bổ kém hiệu quả hơn
Tác động động của hội nhập: Amr (2013), Balassa (1962) và Cooper và
Massel (1965) có lẽ là những người đầu tiên đưa ra khái niệm tác động động của hội nhập kinh tế Balassa với lý thuyết động về hội nhập kinh tế cho rằng phân tích tĩnh về tạo lập thương mại và chuyển dịch thương mại chưa đủ để phân tích những phúc lợi đạt được nhờ hội nhập.Balassa (1962) và Allen (1963) liệt kê các tác động động cơ bản của hội nhập bao gồm: tính kinh tế theo quy mô, thay đổi công nghệ, thay đổi cấu trúc thị trường và cạnh tranh, tăng trưởng năng suất, rủi ro và bất ổn, và các hoạt động đầu tư Schiff và Winter (1998) đã tổng kết định nghĩa của các tác động động của hội nhập kinh tế là bất cứ điều gì đó tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia trong trung và dài hạn
Tính kinh tế nhờ quy mô: Theo Corden (1972), tính kinh tế nhờ quy mô
xảy ra khi càng tăng quy mô của sản lượng thì chi phí sản xuất càng giảm – kết quả của việc sử dụng các yếu tố đầu vào hiệu quả hơn Hội nhập mang lại
cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng sản lượng của doanh nghiệp, từ đó có thể tận dụng lợi ích kinh tế nhờ quy mô Balassa và Stoutjesdijk (1975) cho rằng các thị trường nhỏ làm tăng chi phí, giới hạn mức độ chuyên môn hóa sản xuất, giảm cạnh tranh, và thu hẹp các động lực cho đổi mới công nghệ
Tác động tới cạnh tranh: Theo Balassa (1961), hội nhập kinh tế mở rộng
thị trường hơn so với thương mại bảo hộ, khiến các doanh nghiệp phải đối mặt với nhiều đối thủ cạnh tranh hơn Điều này thúc đẩy họ phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng suất và hiệu quả để tồn tại và mở rộng thị phần.Hội nhập cũng làm giảm tính chất độc quyền của các thị trường đóng cửa do có sự tham gia của nhiều doanh nghiệp hơn đến từ các thị trường bên ngoài Thông qua cạnh tranh, các nguồn lực sẽ được phân bổ và sử dụng hiệu quả hơn
Trang 35Tác động đối với đầu tư: Các nghiên cứu của Baldwin, Forlid và
Haaland (1995), Dunning và Robson (1998) đã đưa ra các khái niệm về tạo lập và chuyển dịch đầu tư, mở rộng từ lý thuyết của Viner Nghiên cứu của Baldwin, Forslid và Haaland (1995), Dee và Gali (2003), Kalotay (2007) đã
áp dụng các khái niệm này vào trường hợp của EU Khi mà các rào cản đầu tư
bị giảm bớt hoặc xóa bỏ, tác động tạo lập đầu tư theo như Dee và Gali (2003) xảy ra khi sản xuất được chuyển từ nơi có chi phí sản xuất cao sang nơi có chi phí sản xuất thấp trong khối hội nhập Tác động chuyển dịch đầu tư xảy ra khi sản xuất chuyển từ một nước ở ngoài khối có chi phí sản xuất cao hơn sang một nước thành viên có chi phí sản xuất cao hơn ở trong khối do tác động của các ưu đãi dành cho các nước trong khối hội nhập
Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay, theo như Ethier (1998), tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với thương mại Đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là một trong những động lực chính của hội nhập giữa các nước, nhất là giữa các nước đang phát triển, bởi nó gắn liền với hai biến số vĩ mô quan trọng là xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế Shams (2003) cho rằng FDI có thể thúc đẩy các hình thức hội nhập hướng đến thị trường bởi nó mở rộng phạm
vi cho trao đổi thương mại và tăng mức độ thâm nhập thị trường
Tác động thay đổi chính sách và cải cách: Bên cạnh các chính sách thuế
quan, các hiệp định hội nhập song phương và đa phương còn bao hàm nội dung về các vấn đề khác như: các cam kết liên quan đến quản trị công, thủ tục
và quy trình hải quan, đối xử quốc gia với nhà đầu tư của nước đối tác, chính sách cạnh tranh, bao gồm cả cải cách doanh nghiệp nhà nước, và những vẫn
đề khác Plummer (2007) chỉ ra rằng, hội nhập khu vực giúp cho các nước xác định được những vấn đề này để cải thiện môi trường cạnh tranh bằng cách giảm chi phí, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các nhà đầu tư nước ngoài, và thúc đẩy cải cách chính sách để tăng hiệu quả của nền kinh tế
Trang 36Tác động tới tăng trưởng kinh tế: Theo Plummer (2010), các tác động
của hội nhập như mở rộng thị trường, tạo cơ hội cho doanh nghiệp tận dụng lợi thế kinh tế nhờ quy mô, tăng tính cạnh tranh, thúc đẩy sử dụng và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, về lâu dài, sẽ có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn
Trang 37CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở lý thuyết ở Chương 1, Chương 2 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài Để đảm bảo tính khoa học và khả thi trong khuôn khổ bài nghiên cứu, đề tài này sử dụng kết hợp đồng thời hai phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Tác giả nghiên cứu định tính thông qua việc tìm đọc các tài liệu nghiên cứu, các bài báo tạp chí và các dự án nghiên cứu trong và ngoài nước để có thể phát huy các phương pháp đánh giá tác động của FTA từ các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, so sánh để đánh giá thương mại ngành đồ gỗ Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả
đã phát triển và xây dựng mô hình trọng lực để đánh giá các tác động của FTA trong khuôn khổ hội nhập thương mại hàng hóa ASEAN+3 tới thương mại ngành đồ gỗ Việt Nam
2.1 Mô hình trọng lực
Mô hình trọng lực là một công cụ hữu hiệu trong việc giải thích khối lượng và chiều hướng thương mại song phương giữa các nước, được sử dụng ngày càng rộng rãi trong phân tích thương mại quốc tế Mô hình này phân tích thương mại song phương giữa các nước dựa trên các biến số như GDP, dân số và khoảng cách địa lý giữa các nước, tỷ giá hối đoái, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách thu nhập giữa các nước Mô hình trọng lực cũng có thể được mở rộng để phân tích tác động của hội nhập kinh tế đối với một quốc gia, cho phép đánh giá liệu một khu vực thương mại tự do làm tăng hay giảm thương mại giữa các nước so với mức thương mại thông thường Ưu điểm của mô hình trọng lực là có thể đánh giá ảnh hưởng của nhiều yếu tố riêng rẽ lên thương mại quốc tế, do đó có thể tách riêng ảnh hưởng của các FTAs
Trang 38Mô hình trọng lực ban đầu được Tinbergen (1962) và Pöynöhen (1963) nghiên cứu một cách độc lập, với ý tưởng ban đầu được xuất phát từ lý thuyết
về Lực hấp dẫn của Newton Theo đó, lực hấp dẫn giữa hai vật thể tỉ lệ thuận với khối lượng của chúng và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai vật đó Mô hình Trọng lực cơ bản nhất cho rằng thương mại giữa hai nước i và j tỉ lệ thuận với quy mô nền kinh tế của hai nước và tỉ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai nước Mô hình này được diễn giải ở công thức sau:
i j ij
kỳ vọng có dấu dương, khi quy mô của nền kinh tế các nước tăng lên sẽ dẫn đến tăng trao đổi thương mại Hệ số 3 được kỳ vọng có dấu âm, khoảng cách giữa các nước càng tăng sẽ càng làm tăng chi phí giao dịch, và do đó có tác động cản trở thương mại
Trang 39Xem xét thêm yếu tố về thời gian trong mô hình, ta có các số liệu dưới dạng bảng chứa đựng thông tin về các biến của các nước theo từng năm Phương pháp ước lượng với số liệu dạng bảng giúp kiểm soát tác động của từng năm cụ thể lên thương mại Khi đó phương trình (2) trở thành :
ln t ln t ln t ln t
M G Y Y D u (3) Trong đó :
t chỉ thời gian
u t ijlà biến ngẫu nhiên
Để xem xét tác động của việc gia nhập FTA, biến giả FTA được đưa vào phương trình, nhận giá trị bằng 1 nếu nước nhập khẩu và xuất khẩu cùng ở trong FTA trong năm t và có giá trị bằng 0 trong các trường hợp khác
Ngoài các yếu tố về quy mô nền kinh tế và khoảng cách địa lý, còn có nhiều yếu tố khác có tác động đến thương mại giữa hai nước Các biến giải thích được lựa chọn đưa thêm vào mô hình, tổng hợp từ các nghiên cứu sử dụng mô hình trọng lực đã nêu ở chương 2, bao gồm: Tỷ giá hối đoái thực giữa các đồng tiền (REER), Thu nhập bình quân đầu người, Chênh lệch thu
nhập bình quân đầu người giữa hai quốc gia
Đưa các biến vào phương trình, khi đó phương trình sẽ có dạng:
Trang 40Dij là khoảng cách giữa Việt Nam đến nước j được chuẩn hóa dân số
Yti/Pti, Ytj/ Ptj tương ứng là thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam
khẩu đồ gỗ của Việt Nam Trong mô hình này, k nhận giá trị bằng 1, 2, 3, 4 cho
các hiệp định thương mại AFTA, ACFTA, AKFTA và AJCEP Các biến giả của FTA có giá trị bằng 1 nếu nước xuất khẩu và nước nhập khẩu cùng là thành viên của FTA trong năm t, và có giá trị bằng 0 trong trường hợp khác
REERij là tỷ giá hối đoái thực giữa các đồng tiền
u t ij là biến ngẫu nhiên