1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam luận văn ths 2015

133 1,3K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,6 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, hệ thống vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhƣ hoạt động của bộ máy KSNB tín dụng chƣa thực sự phát huy hiệu quả; hệ thống quy trình, quy định về kiểm soát r

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG LY

KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

-o0o -

NGUYỄN THỊ HƯƠNG LY

KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG

TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ

VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Bản luận văn này được hoàn thành là quá trình nghiên cứu nghiêm túc của tôi cùng với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Hương Liên Các số liệu, kết quả, trích dẫn trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và trung thực

Hà nội, Ngày 18 tháng 8 năm 2015

Học viên

Nguyễn Thị Hương Ly

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

1 Tên luận văn: “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP

Đầu tư và Phát triển Việt Nam”

2 Tác giả: Nguyễn Thị Hương Ly

3 Chuyên ngành: Tài chính – Ngân Hàng

4 Bảo vệ năm: 2015

5 Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Hương Liên

6 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

 Mục đích nghiên cứu của luận văn:

Phân tích thực trạng KSNB tín dụng tại BIDV, từ đó đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế trong KSNB hoạt động tín dụng tại BIDV Trên cơ sở phân tích nguyên nhân các mặt hạn chế, đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV

 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về hệ thống KSNB và KSNB hoa ̣t đô ̣ng tín dụng tại các NHTM

- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt độngKSNB tín dụng tại BIDV sau thời điểm cổ phần hóa giai đoạn 2012- 2014, từ đó rút ra các đánh giá chung về kết quả, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại

- Qua nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn, đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV cùng một số kiến nghị để các giải pháp đi vào cuộc sống

7 Những đóng góp mới của luận văn

Trên cơ sở tiếp thu kết quả nghiên cứu của một số đề tài điển hình có liên quan hệ thống KSNB và KSNB hoạt động tín dụng, luận văn tiếp tục bổ sung, một

số vấn đề chưa được nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ về KSNB hoạt động tín dụng cụ thể là:

Trang 5

- Luận văn nghiên cứu đầy đủ toàn diện cơ sở lí luận về KSNB NHTM theo hướng tiếp cận hiện đại là Khung KSNB hợp nhất theo COSO và Khung KSNB của

ủy ban Basel Vấn đề này trong một vài luận văn trước có đề cập nhưng chưa mang tính hệ thống mà chỉ mang tính chất giới thiệu là chủ yếu

- Sau thời điểm Thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 về việc quy định hệ thống KSNB và KTNB của TCTD có hiệu lực ( ngày 12/02/2012 ), chưa có

đề tài nào đánh giá kết quả việc thực hiện chuẩn hóa hệ thống KSNB và bộ máy kiểm toán nội bộ theo quy định của NHNN và thông lệ quốc tế tại một Ngân hàng

cụ thể Do đó luận văn lựa chọn đối tượng là KSNB hoạt động tín dụng tại BIDV làm đối tượng nghiên cứu và đánh giá việc triển khai các nguyên tắc và yêu cầu quy định trong Thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 đối với hệ thống KSNB,

bộ phận KTNB trong phạm vi hoạt động tín dụng

Trang 6

MỤC LỤC

Danh mục các từ viết tắt i

Danh mục bảng biểu ii

Danh mục hình iii

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tổng quan nghiên cứu 4

1.2 Cơ sở lí luận về KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM 6

1.2.1 Những vấn đề cơ bản về KSNB NHTM 6

1.2.2 KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM 15

1.2.3 Kinh nghiệm KSNB hoạt động tín dụng của một số NHTM trong nước 25

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Phương pháp chuyên gia 31

2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp 31

2.3 Phương pháp xử lý số liệu thứ cấp 33

Để xử lý được các số liệu thu thập được, luận văn sử dụng các phương pháp tổng hợp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp nghiên cứu tình huống 33

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 35

3.1 Khái quát về ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam 35

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của BIDV 35

3.1.2 Cơ cấu tổ chức của BIDV 37

3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình hoạt động tín dụng của BIDV 39

3.2 Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam 45

Trang 7

3.2.1 Về môi trường kiểm soát 45

3.2.2 Hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro 53

3.2.3 Các hoạt động kiểm soát 56

3.2.4 Hệ thống thông tin và trao đổi 60

3.2.5 Hoạt động giám sát 63

3.3 Đánh giá kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam 69

3.3.1 Những kết quả đạt được 73

3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79

CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 88

4.1 Định hướng phát triển kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2015-2020 88

4.2 Giải pháp hoàn thiện KSNB hoạt động tín dụng tại BIDV giai đoạn 2015-2020 89

4.2.1 Cải thiện môi trường kiểm soát 89

4.2.2 Chuẩn hóa hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro 92

4.2.3 Đồng bộ hóa các thủ tục kiểm soát 94

4.2.4 Phát triển hệ thống trao đổi thông tin 100

4.2.5 Tăng cường hoạt động giám sát 101

4.3 Kiến nghị 104

4.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước 104

4.3.2 Đối với BIDV 107

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT Ký hiệu Nguyên nghĩa

1 BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt

Nam

2 ICB Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

3 KSNB Kiểm soát nội bộ

4 KTKSNB Kiểm tra kiểm soát nội bộ

5 KTNB Kiểm toán nội bộ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

STT Biểu Nội dung Trang

1 Biểu 3.1 Một số chỉ tiêu quy mô, chất lƣợng, hiệu quả tình hình

hoạt động kinh doanh BIDV giai đoạn 2012-2014 38

2 Biểu 3.2 Tổng hợp các chỉ tiêu chất lƣợng, cơ cấu tín dụng

3 Biểu 3.3 Thống kê sai phạm phát hiện trong giai đoạn

2012-2014 qua các cuộc kiểm tra tại BIDV 66

4 Biểu 3.4 Kết quả đánh giá của chuyên gia đối với thực trạng

kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV 68

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

STT Hình Nội dung Trang

2 Hình 3.1 Mô hình tham gia của các phòng/ban vào quy trình

3 Hình 3.2 Mô hình hoạt động kiểm soát nội bộ tín dụng tại BIDV 57

4 Hình 3.3 Quá trình thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin hoạt

5 Hình 3.4 Bộ máy KTKSNB và KTNB tại BIDV qua các thời kì 63

6 Hình 3.5 Mô hình kiểm tra kiểm toán nội bộ tập trung tại

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ với mục đích thu lợi nhuận Trong hoạt động của các NHTM, hoạt động tín dụng được đánh giá là một trong những nội dung quan trọng nhất vì tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho các NHTM Tuy nhiên, là một hoạt động chủ yếu nhưng tín dụng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro, dễ bị tổn thất khi có gian lận và sai sót

Do vậy đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng có tầm quan trọng đặc biệt, là mối quan tâm hàng đầu của các NHTM Nếu không nhận thức được vấn đề đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng thì các NHTM sẽ phải đối mặt với tình trạng thất thoát vốn hoặc gặp khó khăn nghiêm trọng về thanh khoản dẫn đến suy giảm hoạt động kinh doanh, thậm chí có thể dẫn đến sự phá sản của NHTM

Để ngăn ngừa những tổn thất và rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng, ngoài các biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý của Nhà nước trước hết đòi hỏi các NHTM phải xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động tín dụng luôn tuân thủ luật pháp và các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ Hệ thống KSNB được xây dựng căn cứ vào quy mô của từng NHTM, căn cứ vào tình hình và yêu cầu thực tế từng giai đoạn mà tổ chức

hệ thống KSNB cho phù hợp

Trong những năm gần đây, tình hình vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng có diễn biến hết sức phức tạp, đặc biệt khi số vụ việc được đưa ra xét xử đang ngày càng gia tăng đã gióng lên hồi chuông báo động trong hoạt động tại các NHTM Vấn đề này không chỉ phản ánh thực trạng về chất lượng tín dụng, quy trình nghiệp vụ ngân hàng, đạo đức nghề nghiệp của nhân viên Ngân hàng mà còn là minh chứng rõ nét về thực trạng hoạt động của hệ thống KSNB tín dụng còn nhiều bất cập Hệ thống KSNB ở nhiều ngân hàng mới dừng lại ở việc kiểm tra tính tuân thủ, mang nặng tính hậu kiểm, chưa chú trọng vào việc kiểm tra đánh giá rủi ro nhằm phát hiện các rủi ro tiềm ẩn để có thể cảnh báo kịp thời về các khoản tín dụng

có vấn đề hay những điểm yếu trong quy trình hoạt động tín dụng để đề xuất, kiến

Trang 12

nghị sửa đổi, khắc phục sớm Bởi vậy, hoàn thiện hệ thống KSNB tại các NHTM là yêu cầu cần thiết và cấp bách nhằm nâng cao chất lƣợng tín dụng và hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro trong hoạt động tín dụng Ngân hàng

Tại BIDV, KSNB hoạt động tín dụng đã đƣợc xây dựng từ đầu năm 2000 và ngày càng chuẩn hóa theo những khuyến nghị của Basel Có thể nói, sự phát triển và thành công của BIDV trong những năm qua có sự đóng góp rất lớn hệ thống KSNB.Các chỉ số vể nợ xấu, về các lĩnh vực kinh doanh “nhạy cảm”nhƣ bất động sản, sắt thép, tàu biển đã đƣợc hệ thống KSNB khuyến nghị, cảnh báo và giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, hệ thống vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhƣ hoạt động của bộ máy KSNB tín dụng chƣa thực sự phát huy hiệu quả; hệ thống quy trình, quy định về kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng còn chồng chéo; chƣa quan tâm, bố trí đủ nhân lực và thời gian cho công tác kiểm tra, KSNB; việc quản lý, kiểm soát trong dây chuyền hoạt động còn thiếu chặt chẽ, một

số biện pháp triển khai chƣa đạt hiệu quả cao…Do đó cần phải có sự nghiên cứu, tổng kết đầy đủ về KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng của BIDV để đánh giá và đề ra các giải pháp khắc phục những tồn tại của hệ thống trong vai trò kiểm soát và giảm thiểu rủi ro

Xuất phát từ thực tế nói trên và với những kiến thức đã đƣợc học, đề tài “ Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV)” đƣợc chọn nghiên cứu cho bản luận văn

2 Mục tiêu của đề tài

- Nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận về hệ thống KSNB và KSNB hoạt động tín dụng tại các NHTM

- Phân tích thực trạng tổ chức và hoạt động KSNB tín dụng tại BIDV sau thời điểm cổ phần hóa , từ đó rút ra các đánh giá chung về kết quả, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại

- Qua nhận thức lý luận và tổng kết thực tiễn, đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại BIDV cùng một số kiến nghị để các giải pháp đi vào cuộc sống

Trang 13

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng

- Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng

3.2 Phạm vi

- Về không gian: Thực tiễn kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của BIDV

- Về thời gian: Nghiên cứu chuyên sâu về KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng tại BIDV từ năm 2012 đến nay Đây là thời điểm BIDV chính thức chuyển từ hình thức công ty 100% vốn Nhà nước sang hình thức công ty cổ phần Nhà nước nắm cổ phần chi phối ( ngày 23/4/2012) và cũng là thời điểm Thông tư số 44/2011/TT-NHNN quy định về hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ của TCTD có hiệu lực thi hành ( ngày 12/2/2012)

4 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn bao gồm 4 chương, như sau:

CHƯƠNG 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận về Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại

CHƯƠNG 2 Phương pháp nghiên cứu

CHƯƠNG 3 Thực trạng kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam

CHƯƠNG 4 Giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần đầu tư và phát triển Việt Nam

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI 1.1 Tổng quan nghiên cứu

Thời gian gần đây tình hình vi phạm, tội phạm trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng có diễn biến hết sức phức tạp đặc biệt khi số vụ việc được đưa ra xét xử đang ngày càng gia tăng Tình trạng này đang dấy lên hồi chuông cảnh báo về quản trị rủi ro hoạt động tại các NHTM, không chỉ ảnh hưởng đến chính các Ngân hàng này mà còn dẫn theo nhiều hệ lụy cho cả nền kinh tế xã hội Việt Nam, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của các tầng lớp dân cư do NHTM vốn là huyết mạch của nền kinh tế

Bởi vậy, tăng cường quản trị rủi ro hoạt động mà trong đó là xây dựng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các NHTM Việt Nam là yêu cầu cần thiết và cấp bách nhằm đảm bảo hiệu quả quá trình quản trị NHTM, duy trì sự phát triển ổn định và bền vững của NHTM nói riêng, thị trường tài chính Việt Nam nói chung Trong lĩnh vực nghiên cứu, công tác kiểm soát nội bộ tại các NHTM Việt Nam cũng được nhiều học giả quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau, có thể phân thành 2 nhóm vấn đề được nghiên cứu chủ yếu là nghiên cứu về kiểm soát nội bộ ngân hàng và nghiên cứu kiểm soát nội bộ tín dụng Các đề tài được tác giả chọn lọc để tham khảo gồm có:

(1) Luận văn thạc sỹ về “Hoàn thiện hệ thống KSNB tại BIDV” của tác giả Bùi Ngọc Hiếu (2013) chọn đối tượng nghiên cứu là hệ thống kiểm tra, kiểm soát trên tất cả các mảng nghiệp vụ tín dụng bảo lãnh, tài chính kế toán, giao dịch một cửa, an toàn kho quỹ, tại BIDV;

(2) Không đặt phạm vi nghiên cứu là một Ngân hàng cụ thể mà tác giả Nguyễn Thị Minh Loan (2011) Luận văn thạc sỹ về “Giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng TMCP trên địa bàn TP.HCM” đề cập đến hệ thống KSNB của một nhóm ngân hàng TMCP trên địa bàn HCM

(3) Đồ án tiến sỹ của Phạm Thu Thủy (2012) “Một số giải pháp hoàn thiện

hệ thống hoạt động của hệ thống KSNB nói chung và của bộ phận kiểm toán nội bộ nói riêng tại các NHTM ở Việt Nam” đề cập thực trạng, những hạn chế và một số

Trang 15

giải pháp hoàn thiện hệ thống hoạt động kiểm toán nội bộ nói chung và của bộ phẩn kiểm toán nói riêng

(4) Bài báo khoa học của PGS.TS Lương Thị Hồng Ngân (2013) “xây dựng KTNB ngân hàng trong thời kỳ hội nhập” tại Báo Kiểm toán nhà nước phản ánh phương thức, kết cấu xây dựng bộ máy kiểm toán nội bộ tại các tổ chức tín dụng

(5) Luận văn thạc sỹ của Cao Hương Giang (2013) “Đánh giá hệ thống KSNB trong quy trình cho vay tiêu dùng tín chấp tại ngân hàng Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam- Chi nhánh Thừa Thiên Huế” đề tài đã đi sâu phân tích đánh giá hệ thống kiểm soát trong cho vay tiêu dùng tín chấp đó là một trong nhiều hình thức cho vay, và cũng là hình thức cho ít có yếu tố phức tạp hơn các hình thức cho vay khác như cho vay có tài sản bảo đảm,

(6) Bài báo khoa học của TS Nguyễn Huy Hùng (2014) “Hệ thống KSNB trong hoạt đông tín dụng Ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay” tại Báo tạp chí Ngân hàng Bài báo đi sâu phân tích đánh giá hệ thống KSNB chung của hệ thống ngân hàng trong hoạt động cho vay và đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra của nhà quản lý ngân hàng

Qua tham khảo tác giả có một số đánh giá, nhận xét chung như sau:

- Các đề tài nghiên cứu đều thống nhất ở sự cần thiết phải thiết lập và không ngừng phát triển và hoàn thiện hệ thống KSNB nhằm kiểm soát, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng nhất là đối với nghiệp vụ tín dụng

- Cơ sở lí luận của các đề tài liên quan nội dung nghiên cứu hệ thống KSNB NHTM nói chung và hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng nói riêng, tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu thực tiễn, hầu hết dựa trên hệ thống lí luận KSNB của quốc tế và theo nhiều quan điểm khác nhau Nhưng nhìn chung Khung kiểm soát nội bộ của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được nghiên cứu phổ biến nhất

- Kết quả nghiên cứu nhìn chung đều chỉ ra những vấn đề còn hạn chế của KSNB NHTM nói chung hoặc KSNB đối với hoạt động tín dụng và đây là một trong các nguyên nhân tạo ra rủi ro tín dụng cao và nợ xấu tiềm ẩn đe dọa đến sự an toàn, lành mạnh của các NHTM

Trang 16

- Các giải pháp về việc thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ chủ yếu đều được xây dựng định hướng theo thông lệ quốc tế

Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề trong việc nghiên cứu KSNB hoạt động tín dụng cần tiếp tục được bổ sung, hoàn chỉnh:

- Chưa có đề tài nào nghiên cứu đầy đủ toàn diện cơ sở lí luận về KSNB NHTM theo hướng tiếp cận hiện đại là Khung KSNB hợp nhất theo COSO và Khung KSNB của ủy ban Basel, hoặc có đề cập nhưng chỉ mang tính chất giới thiệu

- Thứ nhất, tổng hợp các cơ sở pháp lý, các chuẩn mực và thông lệ liên quan đến hệ thống kiểm soát nội bộ của các ngân hàng thương mại

- Thứ hai, đánh giá kết quả việc thực hiện chuẩn hóa hệ thống KSNB hoạt động tín dụng theo quy định của NHNN và thông lệ quốc tế cũng như những vấn đề còn tồn tại cần khắc phục đối với BIDV

1.2 Cơ sở lí luận về KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM

rô ̣ng rãi trên toàn thế giới là Khung kiểm soát nô ̣i bô ̣ của ủy ban COSO (

Trang 17

Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission ) được ban hành năm 1992

Theo COSO “ Kiểm soát nội bộ là mô ̣t quá trình chịu ảnh hưởng bởi Hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác của một tổ chức, đươ ̣c thiết lâ ̣p để cung cấp mô ̣t sự đảm bảo hợp lý nhằm đa ̣t được các mu ̣c tiêu: Sự hữu hiê ̣u và hiê ̣u quả của hoạt động; Sự tin câ ̣y của báo cáo tài chính ; Sự tuân thủ các luâ ̣t lê ̣ và quy đi ̣nh hiê ̣n hành” Và theo khuyến nghị của COSO, dù đặc điểm hoạt động của mỗi tổ chức có khác nhau thì vẫn có 05 bộ phận cấu thành hệ thống KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giám sát

Trên cơ sở lí luận về KSNB của uỷ ban COSO, một số ngân hàng thương mại và viện nghiên cứu tài chính, tiền tệ trên thế giới đã soạn thảo những nguyên tắc, hướng dẫn về KSNB trong các ngân hàng thương mại Đáng chú ý nhất là “ Khuôn khổ cho hệ thống KSNB trong các ngân hàng” ( Framework for Internal Control in Banking Organisations) do Ủy Ban Basel phát hành vào tháng 9/1998, đây được cho là thông lệ tốt nhất và phổ biến nhất, hiện nay được hầu hết các ngân hàng thương mại trên Thế giới áp dụng bởi thực tiễn đã chứng minh tính hiệu quả

và cần thiết của nó

Theo Balse: “Kiểm soát nội bộ là quá trình được thực hiện bởi Hội đồng quản trị, Ban điều hành và toàn thể nhân viên Đó không chỉ là một thủ tục hoặc một chính sách được thực hiện tại một thời điểm nào đó, mà còn tiếp diễn ở tất cả các cấp trong ngân hàng Hội đồng quản trị và Ban điều hành chịu trách nhiệm thiết lập môi trường văn hoá tạo thuận lợi cho quá trình kiểm soát nội bộ được hiệu quả

và việc theo dõi sự hiệu quả đó được diễn ra liên tục Mỗi cá nhân trong một tổ chức phải tham gia vào quá trình đó

Trên cơ sở lý luận KSNB của COSO và KSNB NHTM của Basel, tại Việt Nam đã vận dụng để xây dựng hướng dẫn riêng về KSNB cho các NHTM Khái niệm

hệ thống KSNB được quy định tại Điều 40/Luật các TCTD năm 2010 như sau:

- Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Trang 18

được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra

- TCTD phải xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ để bảo đảm các yêu cầu sau đây: (i) Hiệu quả và an toàn trong hoạt động; bảo vệ, quản lý, sử dụng an toàn, hiệu quả tài sản và các nguồn lực; (ii) Hệ thống thông tin tài chính và thông tin quản

lý trung thực, hợp lý, đầy đủ và kịp thời; (iii) Tuân thủ pháp luật và các quy chế, quy trình, quy định nội bộ

- Hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải được kiểm toán nội bộ, tổ chức kiểm toán độc lập đánh giá định kỳ

Tóm lại, có thể hiểu KSNB NHTM là một quá trình giám sát xuyên suốt và liên tục gắn liền với các hoạt động hàng ngày của một ngân hàng, để đảm bảo tính hiệu quả cho các hoạt động, duy trì sự tuân thủ các quy định, quy chế và đảm bảo

độ tin cậy của các thông tin tài chính trong ngân hàng

* Phân biệt KSNB với KTNB

Một thuật ngữ dễ bị nhầm lẫn với KSNB là KTNB Tuy nhiên KTNB chỉ là một bộ phận cấu thành của hệ thống KSNB và đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống KSNB

Trong hệ thống KSNB, KTNB được coi là chốt kiểm soát thứ tư đối với các giao dịch và hoạt động kinh doanh ( chốt kiểm soát thứ nhất nằm ngay trong quy trình xử lý nghiệp vụ; chốt kiểm soát thứ hai do các bộ phận hỗ trợ back office thực hiện; chốt kiểm soát thứ ba thuộc trách nhiệm của bộ phận chuyên trách và chốt kiểm soát cuối cùng do bộ phận KTNB tiến hành) Vai trò của KTNB là thực hiện đánh giá độc lập, khách quan đối với tính thích hợp và sự tuân thủ các chính sách, thủ tục, quy chế, quy trình đã được thiết lập Qua đó KTNB đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật

Như vậy muốn KSNB hoạt động hiệu quả thì bộ phận KTNB phải phát huy được vai trò tư vấn, tham gia vào quá trình xây dựng, cải tiến và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 19

1.2.1.1.2 Vai trò

* Bảo vệ tài sản và độ tin cậy của các thông tin tài chính

Một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh cho phép bảo vệ khoản đầu tư của các

cổ đông và tài sản của bất kỳ tổ chức nào Kiểm soát nội bộ mang lại sự hiệu quả và hiệu năng cho các hoạt động, đảm bảo sự đáng tin cậy của các báo cáo nội bộ và hỗ trợ việc tuân thủ luật pháp và các quy định Đối với một NHTM, có nhiều nguyên nhân buộc ngân hàng phải đưa vấn đề an toàn tài sản, đặc biệt là an toàn trong hoạt động tín dụng lên hàng đầu

Thứ nhất, ngân hàng có một số lượng chủ nợ khổng lồ, sẵn sàng đòi lại khoản tiền đã gửi vào ngân hàng bất cứ lúc nào nếu không cảm thấy an tâm khi có những thông tin bất lợi về hoạt động của ngân hàng

Thứ hai, ngân hàng cũng là một chủ nợ lớn, sử dụng tới khoảng 2/3 vốn để cho vay Cho vay là khoản mục sinh lời chủ yếu của các NHTM Rủi ro từ những khoản mục cho vay này ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả kinh doanh ngân hàng

Thứ ba, bộ máy tổ chức của ngân hàng cực lớn, bao gồm nhiều đơn vị thành viên phân bố trên một không gian rộng nên sự phân quyền rất mạnh, Ban quản trị rất khó nắm bắt được tổng thể hoạt động ngân hàng để kịp thời ra quyết định

Thứ tư, thông qua hoạt động tín dụng, kinh doanh ngân hàng liên quan tới nhiều lĩnh vực kinh doanh khác trong nền kinh tế Do đó, các ngân hàng phải đối mặt với rất nhiều rủi ro và cực kỳ nhạy cảm khi môi trường kinh tế thay đổi

Hoạt động KSNB được tổ chức tốt và phù hợp, giúp ngân hàng bảo vệ tài sản

và độ tin cậy của các thông tin tài chính, góp phần đem lại hiệu quả cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng

* Bảo đảm việc tuân thủ luật pháp và các quy định

Luật pháp và các quy định được đề cập ở đây bao hàm cả pháp luật do nhà nước đặt ra và những quy định, quy chế nội bộ (bao gồm cả chuẩn mực đạo đức, quy tắc ứng xử) của NHTM Đặc thù về tổ chức mạng lưới dẫn đến sự phân giao quyền mạnh mẽ trong nội bộ ngân hàng Do đó, ngoài việc đòi hỏi phải chấp hành pháp luật của nhà nước thì ban quản trị tối cao của NHTM cũng yêu cầu rất ngặt

Trang 20

nghèo về việc phải tuân thủ các quy chế nội bộ Trong ngân hàng thì hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế phải đảm bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được tuân thủ đúng mức Cụ thể hệ thống KSNB của một NHTM cần:

(i) Duy trì và tuân thủ các chính sách có liên quan đến hoạt động của ngân hàng bao gồm các quy chế, quy định về tín dụng, về nguồn vốn, ngoại hối của nhà nước, ngân hàng nhà nước, và của từng ngân hàng nói riêng

(ii) Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian lận trong mọi hoạt động của ngân hàng

(iii) Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập báo cáo tài chính trung thực và khách quan

* Dự báo và ngăn ngừa rủi ro

Hệ thống KSNB của một tổ chức đóng vai trò chủ chốt trong quản trị rủi ro Như ta đã biết, KSNB không chỉ chú trọng tới công tác hậu kiểm, tức là công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ, tiến hành khi sự việc đã xảy ra Kiểm soát nội bộ mạnh phải ngăn chặn được sai phạm, dự báo và phòng ngừa rủi ro chứ không đơn thuần là tìm ra nguyên nhân để giải quyết hậu quả Đối với hoạt động ngân hàng, hay bất cứ một hoạt động kinh doanh nào khác, dự báo và ngăn ngừa rủi ro đương nhiên sẽ tốt hơn và tốn ít chi phí hơn so với những tổn thất xảy ra Đánh giá rủi ro trong quản trị rủi ro nhằm vào cả những rủi ro có thể lượng hóa (như rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản…) và rủi ro không lượng hóa được (như rủi ro nghiệp vụ, rủi ro luật pháp và rủi ro liên quan đến danh tiếng của ngân hàng) Quá trình đánh giá rủi ro để xác định loại rủi ro nào ngân hàng có thể kiểm soát được, loại nào không, phát hiện nguy cơ rủi ro mới thông qua việc xem xét các lĩnh vực hoạt động mới và các giao dịch mới của ngân hàng Đánh giá rủi ro trong quản trị rủi ro có nghĩa rộng hơn đánh giá rủi ro của KSNB KSNB thường nhằm vào những rủi ro không lượng hoá được, bắt nguồn những nguyên nhân chủ quan từ phía ngân hàng, chủ yếu là rủi ro nghiệp vụ

Trang 21

Kiểm soát đối với khách hàng là một trong những biện pháp tốt để hạn chế rủi ro này Ngoài ra, như đã phân tích trong phần trước, tổn thất xảy ra với ngân hàng không chỉ xuất phát từ khách hàng Ngân hàng có thể phải gánh chịu tổn thất

từ chính nội bộ ngân hàng đem lại do việc không tuân thủ các chính sách và quy trình đã đặt ra trước đó Rủi ro cũng xảy ra do quy trình các hoạt động nghiệp vụ chưa được xây dựng chặt chẽ KSNB là một bộ phận hữu hiệu giúp ban giám đốc ngân hàng phát hiện việc không tuân thủ chính sách, điểm chưa phù hợp của chính

sách để kịp thời chấn chỉnh, bổ sung, hạn chế nguy cơ tổn thất cho ngân hàng

1.2.1.2 Các nguyên tắc hoạt động của KSNB NHTM

* Các nguyên tắc theo Basel

Để thực hiện được mục tiêu và vai trò của KSNB ngân hàng, Balse đề ra 13 nguyên tắc thiết kế và đánh giá hệ thống KSNB ngân hàng Về cơ bản, các nguyên tắc này tương tự như các yếu tố cấu thành hệ thống KSNB theo báo cáo của COSO

Cụ thể như sau:

(1) Giám sát điều hành và văn hóa kiểm soát

Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị có trách nhiệm xét duyệt và kiểm tra định

kỳ toàn bộ chiến lược kinh doanh và những chính sách quan trọng của ngân hàng, hiểu rõ những rủi ro trọng yếu của ngân hàng, xây dựng những mức độ có thể chấp nhận được đối với các rủi ro này và đảm bảo rằng Ban điều hành đã thực hiện các công việc cần thiết để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm tra những rủi ro này; xét duyệt cơ cấu tổ chức; đảm bảo rằng Ban điều hành đang giám sát sự hiệu quả của hệ thống KSNB Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm sau cùng về việc thiết lập và duy trì một hệ thống KSNB đầy đủ và hiệu quả

Nguyên tắc 2: Ban điều hành chịu trách nhiệm thực hiện những chiến lược

và chính sách mà Hội đồng quản trị đã phê duyệt; nâng cao việc xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát những rủi ro phát sinh trong hoạt động của ngân hàng; duy trì một cơ cấu tổ chức trong đó có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm, quyền hạn và các mối quan hệ giữa các bộ phận; đảm bảo rằng đã thực hiện nhiệm vụ một cách hiệu quả; thiết lập những chính sách KSNB thích hợp; kiểm tra sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống KSNB

Trang 22

Nguyên tắc 3: Hội đồng quản trị và Ban điều hành chịu trách nhiệm nâng cao đạo đức và tính liêm chính, thiết lập văn hóa trong đó nhấn mạnh và làm cho tất cả nhân viên thấy rõ tầm quan trọng của KSNB Tất cả nhân viên ngân hàng cần hiểu vai trò của mình trong quá trình KSNB và thực sự tham gia vào quá trình đó

(2) Nhận dạng và đánh giá rủi ro

Nguyên tắc 4: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi rằng phải nhận dạng và đánh giá liên tục những rủi ro trọng yếu có thể ảnh hưởng đến việc hoàn thành kế hoạch của ngân hàng Sự đánh giá này phải bao trùm tất cả các rủi ro trong hoạt động của ngân hàng (rủi ro tín dụng, rủi ro chính sách quốc gia, rủi ro thị trường, rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro vận hành, rủi ro pháp lý và rủi ro thương hiệu) KSNB cần xem lại những rủi ro chưa được kiểm soát trước đây cũng như mới phát sinh

(3) Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm

Nguyên tắc 5: Hoạt động kiểm soát phải là một công việc quan trọng trong các hoạt động hàng ngày của ngân hàng Một hệ thống kiểm soát hiệu quả đòi hỏi thiết lập một cơ cấu kiểm soát thích hợp, trong đó sự kiểm soát được xác định ở mỗi mức độ hoạt động Những điều này bao gồm kiểm tra ở mức độ cao nhất, kiểm tra hoạt động đối với các bộ phận, phòng ban khác nhau, kiểm kê, kiểm tra sự tuân thủ những qui định ban hành và theo dõi sự không tuân thủ; một hệ thống đã được phê duyệt; một hệ thống kiểm tra và đối chiếu

Nguyên tắc 6: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi phân công hợp lý, các công việc của một nhân viên không mâu thuẫn nhau Những xung đột về quyền lợi phải được nhận dạng, giảm thiểu tối đa và tùy thuộc vào sự kiểm soát độc lập và thận trọng

(4) Thông tin và truyền thông

Nguyên tắc 7: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi có dữ liệu đầy đủ và tổng hợp về sự tuân thủ, về tình hình hoạt động và tình hình tài chính, cũng như là những thông tin về thị trường bên ngoài có thể ảnh hưởng đến việc đưa ra quyết định Thông tin phải đáng tin cậy, kịp thời, có thể sử dụng được và được trình bày theo biểu mẫu

Trang 23

Nguyên tắc 8: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi một hệ thống thông tin đáng tin cậy, có thể đáp ứng cho hầu hết các hoạt động chủ yếu của ngân hàng Hệ thống này phải lưu trữ và sử dụng dữ liệu bằng máy tính, an toàn, được theo dõi độc lập và được kiểm tra đột xuất, đầy đủ

Nguyên tắc 9: Một hệ thống KSNB hiệu quả đòi hỏi kênh trao đổi thông tin hiệu quả để đảm bảo rằng tất cả nhân viên đã hiểu đầy đủ và tuân thủ triệt để các chính sách và các thủ tục có liên quan đến trách nhiệm và nhiệm vụ của họ và đảm bảo rằng những thông tin cần thiết khác cũng đã được phổ biến đến các nhân viên

có liên quan

(5) Giám sát và sửa chữa những sai sót

Nguyên tắc 10: Hiệu quả toàn diện của hệ thống KSNB là việc theo dõi, kiểm tra phải liên tục Việc theo dõi những rủi ro trọng yếu phải là công việc hàng ngày của ngân hàng, cũng như là việc đánh giá định kỳ của bộ phận kinh doanh và kiểm toán nội bộ

Nguyên tắc 11: Phải có kiểm toán nội bộ toàn diện, hiệu quả và được thực hiện bởi những người có năng lực, được đào tạo thích hợp và có thể làm việc độc lập Công việc kiểm toán nội bộ, cũng là việc theo dõi hệ thống KSNB, phải được báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị hoặc Ban kiểm soát và Ban điều hành

Nguyên tắc 12: Những sai sót của hệ thống kiểm soát được phát hiện bởi bộ phận kinh doanh, kiểm toán nội bộ, hoặc các nhân viên khác thì phải được báo cáo kịp thời cho cấp quản lý thích hợp và ghi nhận ngay lập tức Những sai sót trọng yếu của KSNB phải được báo cáo cho Ban điều hành và Hội đồng quản trị Đánh giá hệ thống KSNB thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng

Nguyên tắc 13: Cán bộ thanh tra đòi hỏi rằng tất cả các ngân hàng cần có hệ thống KSNB hiệu quả, phù hợp với bản chất, sự phức tạp, rủi ro vốn có của hoạt động ngân hàng và thích nghi được với sự thay đổi môi trường, điều kiện của ngân hàng Các thanh tra sẽ xác định hệ thống KSNB của ngân hàng có hiệu quả và đầy

đủ hay không, khi đó các thanh tra ngân hàng sẽ đưa ra cách xử lý thích hợp

* Các nguyên tắc theo quy định của Việt Nam

Trang 24

Theo hướng dẫn của NHNN tại Thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 về hoạt động KSNB của TCTD quy định trong Luật các TCTD năm

2010 phải đảm bảo 09 nguyên tắc cơ bản sau:

(1) Khi có sự thay đổi về mục tiêu kinh doanh, sản phẩm, dịch vụ và hoạt động kinh doanh mới, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải rà soát, nhận dạng rủi ro liên quan để xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy trình, quy định kiểm soát nội bộ phù hợp;

(2) Kiểm soát nội bộ được thiết kế, cài đặt, tổ chức thực hiện ngay trong mọi quy trình nghiệp vụ;

(3) Phân cấp ủy quyền phải được thiết lập, thực hiện hợp lý, cụ thể, rõ ràng, tránh xung đột lợi ích; bảo đảm một cán bộ không đảm nhiệm cùng một lúc những cương vị, nhiệm vụ có mục đích, quyền lợi mâu thuẫn hoặc chồng chéo với nhau;

(4) Bảo đảm chấp hành chế độ hạch toán, kế toán theo quy định và phải có

hệ thống thông tin nội bộ về tài chính, về hoạt động, về tình hình tuân thủ trong tổ chức tín dụng;

(5) Hệ thống thông tin, công nghệ thông tin phải được giám sát, bảo vệ hợp

lý, an toàn và phải có cơ chế quản lý dự phòng độc lập;

(6) Bảo đảm cán bộ, nhân viên của tổ chức tín dụng đều phải hiểu được tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát nội bộ và phải thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quy định, quy trình kiểm soát nội bộ liên quan;

(7) Phải thường xuyên xem xét, đánh giá về tính hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ; các tồn tại, bất cập của hệ thống kiểm soát nội bộ phải được báo cáo kịp thời với cấp quản lý trực tiếp;

(8) Cá nhân, bộ phận ở các cấp của tổ chức tín dụng phải thường xuyên, liên tục kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các quy định, quy trình nội bộ có liên quan và phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện hoạt động nghiệp vụ được giao;

(9) phải báo cáo về kết quả tự đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn

vị mình; đề xuất biện pháp xử lý đối với những tồn tại, bất cập (nếu có)

Trang 25

Nhìn chung các nguyên tắc về KSNB trong Thông tư số 44/2011/TT-NHNN

đã tiến gần đến chuẩn mực quốc tế Với cơ sở pháp lý nêu trên hoạt động KSNB được khẳng định rõ ràng, được hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động, nhằm giúp cho hoạt động ngân hàng đi đúng hướng, an toàn và hiệu quả

1.2.2 KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM

Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng chủ yếu trong nền kinh tế thị trường, nó đáp ứng nhu cầu về vốn cho mọi thành phần kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời Đối với ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh truyền thống bên cạnh hoạt động huy động vốn, chiếm tỷ trọng lớn nhất trên bảng tổng kết tài sản và đem lại phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng Mặt khác hoạt động tín dụng cũng chứa đựng rủi ro rất lớn vì vậy vấn đề quản lý chất lượng tín dụng có vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ mạnh và hữu hiệu đối với hoạt động tín dụng sẽ mang lại sự đảm bảo hợp lý về sự an toàn và lành mạnh trong hoạt động của NHTM

Để thực hiện được mục tiêu này, theo thông lệ tốt nhất hiện nay là khung KSNB của COSO, KSNB hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại được xây dựng theo 05 cấu phần là Môi trường kiểm soát; hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; hệ thống thông tin và trao đổi; hoạt động giám sát

1.2.2.1 Môi trường kiểm soát

Môi trường kiểm soát là các nhân tố xung quanh tác động đến sự hữu hiệu của các chính sách, thủ tục kiểm soát của ngân hàng như quan điểm của nhà quản

lý, cơ cấu tổ chức, chính sách nhân sự, công tác kế hoạch liên quan đến hoạt động tín dụng của ngân hàng

Một là, Quan điểm của nhà quản lý ngân hàng

Quan điểm điều hành đề cập tới các tư duy khác nhau trong điều hành hoạt động của các nhà quản trị NHTM Các quan điểm đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, các quy định và cách thức tổ chức kiểm tra, kiểm soát trong tín dụng Bởi vì chính các nhà quản lý và đặc biệt là các nhà quản lý cấp cao nhất áp đặt thủ

Trang 26

tục kiểm soát sẽ được áp dụng tại ngân hàng phù hợp với “khẩu vị rủi ro” của họ trong từng thời kỳ Thông thường, nhà quản lý sẽ yêu cầu chi phí cho kiểm soát nội

bộ hoạt động tín dụng không được vượt quá lợi ích mà nó đem lại Lợi ích do kiểm soát nội bộ hoạt động NHTM nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng đem lại thường là những lợi ích vô hình Vì lợi ích của kiểm soát nội bộ không thể lượng hoá được và khó nhận thấy trong khi những chi phí để xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ thường khá lớn nên đôi khi kiểm soát nội bộ không có điều kiện và khả năng thực hiện tốt chức năng của mình Ví dụ, nhà quản lý có thể cho là không cần thiết, rườm rà và sẵn sàng từ bỏ một số thủ tục kiểm soát khi cho rằng nó làm mất thời gian khi nhân viên thực hiện trong quy trình cấp tín dụng Ở một khía cạnh khác, thành viên ban lãnh đạo có thể lạm dụng quyền hạn quản lý của mình Ví dụ, một thành viên của ban giám đốc có thể sử dụng quyền của mình để buộc bộ phận kiểm soát nội bộ không thực hiện một số thủ tục kiểm soát hoặc loại trừ một số phần hành khi tiến hành công việc kiểm soát Xét cho cùng, kiểm soát nội bộ là một công cụ của nhà quản lý Mọi quyết định cuối cùng thuộc quyền hạn của nhà quản

lý Do yêu cầu của quản lý, các thủ tục kiểm soát có thể bị vi phạm Kiểm soát nội

bộ sẽ không đạt đến mức độ hiệu quả nhất nếu nhà quản lý bảo thủ, không ưa thích

sự thay đổi và không thực sự cầu tiến

Hai là, cơ cấu tổ chức: cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý sẽ tạo điều

kiện cho môi trường kiểm soát tốt hơn Một cơ cấu tổ chức hợp lý từ trên xuống dưới đảm bảo cho việc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định cũng như việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quyết định đó trong toàn bộ ngân hàng Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải được thiết lập để kiểm soát được toàn bộ hoạt động của ngân hàng và thực hiện sự phân chia chức năng quyền hạn giữa các bộ phận không bị chồng chéo hay bỏ trống, tạo khả năng kiểm tra kiểm soát lẫn nhau trong từng bước công việc cụ thể Đối với hoạt động tín dụng, một bộ máy hoạt động tốt phải đảm bảo được sự phân tách nhiệm vụ giữa người đề xuất tín dụng và người thẩm định Một người không được đảm trách một giao dịch từ đầu đến cuối, đảm bảo sự độc lập tương đối và tránh chồng chéo công việc giữa các bộ phận Để thiết

Trang 27

lập một cơ cấu tổ chức tín dụng thích hợp và hiệu quả, các nhà quản lý phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

Thiết lập được sự điều hành và sự kiểm soát các hoạt động trước, trong và sau khi cho vay trên toàn bộ hoạt động tín dụng

Phải có sự phân chia rõ ràng ba chức năng: xử lý nghiệp vụ tín dụng, ghi chép sổ và bảo quản tài sản Chẳng hạn như việc xử lý nghiệp vụ do phòng khách hàng doanh nghiệp thẩm định và thực hiện, việc hạch toán vào chương trình phần mềm do bộ phận kế toán tiền vay phòng kinh doanh dịch vụ thực hiện, còn việc bảo quản tài sản cầm cố thế chấp do bộ phận của phòng ngân quỹ thực hiện

Đảm bảo sự độc lập tương đối giữa các bộ phận nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động của các bộ phận chức năng

Ba là, chính sách nhân sự: Sự phát triển của mọi doanh nghiệp luôn gắn

liền với đội ngũ nhân viên và họ luôn là nhân tố quan trọng trong môi trường kiểm soát cũng như chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của ngân hàng Nếu nhân viên có năng lực và tin cậy nhiều quá trình kiểm soát có thể không cần thực hiện mà vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra của kiểm soát nội bộ Ngược lại mặc dù ngân hàng có thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong công việc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì hệ thống kiểm soát nội bộ không thể phát huy được hiệu quả Do vậy các nhà quản lý cần có những chính sách cụ thể rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, khen thưởng, kỷ luật nhân viên cho phù hợp

Bốn là, công tác kế hoạch: hệ thống kế hoạch và dự toán bao gồm các kế

hoạch về tình hình tài chính của ngân hàng như dự thu dự chi, kế hoạch huy động vốn và sử dụng vốn, kế hoạch dư nợ tín dụng… là những yếu tố rất quan trọng trong môi trường kiểm soát Nếu việc lập và thực hiện kế hoạch được tiến hành khoa học

và nghiêm túc hệ thống kế hoạch và dự toán đó sẽ trở thành công cụ kiểm soát rất hữu hiệu Vì vậy đối với hoạt động tín dụng, các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch dư nợ như thế nào, theo dõi những biến động của nền

Trang 28

kinh tế, tốc độ tăng hay giảm của nguồn vốn huy động được để từ đó có những điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với kế hoạch của cả hệ thống

Năm là các nhân tố bên ngoài: Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm

soát của các nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành của họ cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm soát nội

bộ Thuộc nhóm các nhân tố này bao gồm sự kiểm soát của các cơ quan chức năng của nhà nước, ảnh hưởng của các chủ nợ, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất nước Ngoài ra, những tiến bộ công nghệ làm thay đổi quy trình vận hành; thói quen của người tiêu dùng về các sản phẩm/dịch vụ; xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn ảnh hưởng đến giá cả và thị phần; đạo luật hay chính sách mới Các yếu tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các nhà quản lý nhưng lại có

sự ảnh hưởng rất lớn đến phong cách làm việc điều hành của nhà quản lý cũng như việc thiết kế vận hành của hệ thống kiểm soát nội bộ Để tránh bị thiệt hại do các tác động từ yếu tố bên trong lẫn bên ngoài, cần thường xuyên xác định mức độ rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn, phân tích ảnh hưởng của chúng, kể cả tần suất xuất hiện, từ đó vạch ra các biện pháp quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng

Môi trường kiểm soát đặt ra nền tảng ý thức của ngân hàng và có tác động đến ý thức kiểm soát của cán bộ nhân viên trong ngân hàng Môi trường kiểm soát cũng phản ánh phần nào văn hóa của một ngân hàng Môi trường kiểm soát là nền tảng cho các cấu phần khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu hoạt động phù hợp

1.2.2.2 Hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro

Hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro trong kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng được thực hiện ở mọi cấp và trong từng chuỗi hoạt động nghiệp vụ Hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục các hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng (khoảng 67%) nên hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro trong kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng thường được tổ chức khá chặt chẽ, gồm hai

hệ thống: hệ thống chuyên trách về quản lý rủi ro và hệ thống quản lý tín dụng

Trang 29

Hệ thống chuyên trách quản lý rủi ro thường được lập thành một phòng ban hay bộ phận riêng biệt Bộ phận này chịu trách nhiệm xây dựng các tiêu chí đánh giá đối với khách hàng và đối với chi nhánh Các tiêu chí được xây dựng dựa vào nghiên cứu thực tiễn hoạt động tín dụng của ngân hàng, qua đó phản ánh cả rủi ro bắt nguồn từ phía khách hàng vay và từ phía ngân hàng đối với từng loại cho vay nhất định Trong phạm vi kiểm soát nội bộ, hệ thống tiêu chí này được sử dụng để đánh giá lại định kỳ đối với khách hàng và đối với chi nhánh, xem xét khả năng thực hiện các kế hoạch đã được đặt ra từ trước Đối với khách hàng, đó là khả năng thực hiện đúng những cam kết trong hợp đồng tín dụng Đối với chi nhánh, đó là khả năng thực hiện các mục tiêu tín dụng đã được xác định cho năm tài chính hiện tại Nhóm đối tượng mà hệ thống này hướng tới thường là các khoản vay có vấn đề, các chi nhánh có tăng trưởng tín dụng cao hơn mức bình quân toàn ngành, các chi nhánh có sự thay đổi bất thường về cơ cấu tổ chức bộ máy và trưởng bộ phận trong thời gian ngắn Những yếu tố này thường được đánh giá định kỳ hàng quý hoặc cuối năm với sự tham gia của bộ phận kiểm toán nội bộ

Bộ phận tín dụng cũng có nhiệm vụ đánh giá rủi ro, nhưng chỉ giới hạn trong việc đánh giá đối với khách hàng vay thông qua việc thu thập thông tin và kiểm tra đối với khách hàng sau khi cho vay (sau khi giải ngân) nhằm kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, đánh giá lại khả năng trả nợ và có biện pháp xử lý kịp thời đối với những trường hợp có ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích của ngân hàng

1.2.2.3 Hoạt động kiểm soát

Các hoạt động kiểm soát đối với hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại được thiết kế và thực hiện nhằm vào rủi ro mà ngân hàng đã nhận diện được thông qua quá trình đánh giá rủi ro

(-) Quy trình kiểm soát

Xét một cách tổng quát, các hoạt động kiểm soát được tiến hành theo một quy trình cụ thể gồm 3 bước:

(1) thiết lập các chính sách cho những mục tiêu kiểm soát

(2) thực hiện các thủ tục kiểm soát tương ứng với các chính sách đó

Trang 30

(3) xác minh việc các chính sách này có được tuân thủ hay không

Thông thường, một ngân hàng có nhiều hoạt động nghiệp vụ, được phân chia thành những mảng (phần hành hay chu trình) riêng biệt Quan điểm chung hiện nay trên thế giới đều cho rằng quy trình kiểm soát nên được thiết kế sao cho trở thành một phần trong các quy trình hoạt động thường ngày của ngân hàng Trong các quy trình được thiết kế cho các hoạt động nghiệp vụ, ngân hàng sẽ gắn các nút kiểm soát

và theo đó, thực hiện chức năng kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ này

(-) Mục tiêu kiểm soát

Mục tiêu kiểm soát tổng quát đối với bất kỳ mảng hoạt động nào trong doanh nghiệp thường hướng tới ba khía cạnh sau đây: Sự đáng tin cậy của các thông tin tài chính; Sự tuân thủ luật pháp và các quy định hiện hành; Tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động

Cụ thể hoá các mục tiêu này, hoạt động kiểm soát đối với hoạt động tín dụng trơng ngân hàng thương mại nhằm vào các yêu cầu sau:

- Tính có thực: cơ cấu kiểm soát không cho phép ghi chép những nghiệp vụ không có thực vào sổ sách của ngân hàng, như các hợp đồng cho vay khống, tài sản đảm bảo không có thực…

- Sự phê chuẩn: đảm bảo mọi nghiệp vụ có liên quan đến hoạt động tín dụng phải có sự phê chuẩn hợp lý của kiểm soát viên và Giám đốc

- Tính đầy đủ: bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, không bỏ ngoài sổ sách, đặc biệt là nghiệp vụ thu nợ, giải chấp đối với tài sản đảm bảo…

- Sự đánh giá: bảo đảm không có sai phạm trong việc tính toán các khoản giá

và phí trong khâu thẩm định (đối với phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư của người vay), đánh giá giá trị của tài sản đảm bảo

- Sự phân loại: đảm bảo các nghiệp vụ được ghi chép đúng theo sơ đồ tài khoản và ghi nhận đúng đắn ở các loại sổ sách kế toán

- Tính đúng kỳ: bảo đảm việc ghi sổ các nghiệp vụ phát sinh được thực hiện kịp thời theo quy định

Trang 31

- Quá trình chuyển sổ và tổng hợp chính xác: số liệu kế toán được ghi vào sổ phải được cộng và chuyển sổ đúng đắn, tổng hợp chính xác trên các Báo cáo tài chính của ngân hàng

- Tính hiệu quả: hoạt động tín dụng phải đem lại thu nhập cho ngân hàng, làm gia tăng giá trị tài sản cho các chủ sở hữu ngân hàng

(-) Thủ tục kiểm soát

Các thủ tục kiểm soát do Ban giám đốc ngân hàng thiết lập và thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu quản lý cụ thể, phù hợp với luật pháp và đặc thù hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Các thủ tục kiểm soát trong hoạt động tín dụng chủ yếu bao gồm:

- Lập, so sánh, soát xét các số liệu, phê chuẩn tài liệu liên quan đến hợp đồng tín dụng

- Kiểm tra tính chính xác của các số liệu tính toán đã qua quá trình thẩm định

- Kiểm soát các ứng dụng và môi trường của hệ thống thông tin máy tính được sử dụng trong quản trị thông tin tín dụng, như việc thiết lập sự kiểm soát đối với những thay đổi trong các chương trình máy tính và truy cập vào các hồ sơ dữ liệu về khoản vay và về khách hàng vay

- Kiểm tra số liệu giữa sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết mỗi khi có

sự thay đổi trong hạch toán dữ liệu tín dụng (gốc và lãi đến hạn phải thu, giải ngân, thu nợ gốc và lãi, xuất nhập giá trị tài sản đảm bảo)

- Kiểm tra và phê duyệt các tài liệu về khoản vay có liên quan đến việc xuất tiền khỏi quỹ của ngân hàng

- Đối chiếu số liệu tín dụng nội bộ với nguồn thông tin bên ngoài: Thủ tục này không giống như quá trình nhận diện và đánh giá rủi ro đối với khách hàng vay

do hệ thống nhận diện và đánh giá rủi ro thực hiện Đây là quá trình kiểm tra lại đối với các thông tin đã có nhằm chứng minh tính có thật của các thông tin này

Trang 32

- So sánh, đối chiếu kết quả kiểm kê thực tế với số liệu trên sổ sách: thủ tục này thường được tiến hành đối với tài sản đảm bảo cho khoản vay (có thể là sản phẩm hàng hoá, máy móc thiết bị…)

- Yêu cầu báo cáo định kỳ và phân tích, so sánh giữa số liệu tính toán thực tế với dự toán, kế hoạch

Các thủ tục kiểm soát này được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; nguyên tắc

uỷ quyền và phê chuẩn

Nguyên tắc phân công, phân nhiệm yêu cầu trách nhiệm và công việc cần được phân chia cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận Việc phân công phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hoá trong công việc, sai sót ít xảy

ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện do có sự kiểm tra chéo

Nguyên tắc bất kiêm nhiệm quy định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm và hành vi lạm dụng quyền hạn

Nguyên tắc uỷ quyền và phê chuẩn cho phép theo sự uỷ quyền của các nhà quản lý, các cấp dưới được giao cho quyết định và giải quyết một số công việc trong một phạm vi nhất định Bên cạnh đó, để tuân thủ tốt các quá trình kiểm soát, mọi nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn Sự phê chuẩn được thực hiện qua hai loại: phê chuẩn chung và phê chuẩn cụ thể Phê chuẩn chung được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách chung chỉ đạo và hướng dẫn những mặt hoạt động cụ thể cho cán bộ cấp dưới tuân thủ Sự phê duyệt cụ thể được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh tế riêng

1.2.2.4 Hệ thống thông tin và trao đổi

Hệ thống thông tin quản trị được thiết lập trong ngân hàng thương mại gồm hai phân hệ chủ yếu: phân hệ báo cáo bằng văn bản và phân hệ quản trị bằng máy tính Các ngân hàng thương mại sử dụng hệ thống này để ghi nhận và lưu trữ thông tin, phục vụ cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định Đồng thời, nó cũng được sử dụng như một phương tiện hỗ trợ hoạt động kiểm soát

Trang 33

Đối với hệ thống thông tin của bất kỳ một doanh nghiệp nào, phần quan trọng nhất chính là hệ thống kế toán Mục đích hệ thống kế toán của một ngân hàng

là sự nhận biết, thu thập, phân loại, ghi sổ và báo cáo các nghiệp vụ kinh tế tài chính của tổ chức đó, thoả mãn chức năng thông tin và kiểm tra Hệ thống thông tin và trao đổi chịu trách nhiệm thu thập và ghi nhận tất cả các thông tin về các hoạt động đang diễn ra trong và ngoài có ảnh hưởng tới lợi ích của ngân hàng Các thông tin này phải đáng tin cậy, thích hợp và được cung cấp kịp thời

1.2.2.5 Hoạt động giám sát

Theo liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), kiểm toán nội bộ là “một hoạt động đánh giá được lập ra trong một doanh nghiệp như là một loại dịch vụ cho doanh nghiệp đó, có chức năng kiểm tra, đánh giá và giám sát sự thích hợp và hiệu quả của

hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ”

Kiểm toán nội bộ là một phần quan trọng trong công tác giám sát của kiểm soát nội bộ bởi nó đánh giá một cách độc lập về sự phù hợp và sự tuân thủ các hoạt động kiểm soát được thiết lập Kiểm toán nội bộ thường được tổ chức thành một bộ phận độc lập trực thuộc cấp quản trị cao nhất (Đại hội đồng cổ đông mà đại diện là Hội đồng quản trị) Là một trong những nhân tố cơ bản trong hệ thống kiểm soát nội

bộ, bộ phận kiểm toán nội bộ quan sát và đánh giá thường xuyên về toàn bộ hoạt động của ngân hàng, bao gồm cả tính hiệu quả của việc thiết kế và vận hành các chính sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ, báo cáo trực tiếp cho Hội đồng quản trị những thông tin không thiên vị một cách độc lập và khách quan Trong ngân hàng,

do sự đa dạng và phức tạp của các hoạt động nên bộ phận kiểm toán nội bộ thường được tổ chức theo các phòng chuyên trách, đảm nhiệm kiểm toán nội bộ trong từng mảng nghiệp vụ của ngân hàng Theo Liên đoàn kế toán quốc tế, kiểm toán nội bộ tiến hành theo quy trình kiểm toán cụ thể Các bước thực hiện theo thứ tự từ 1 đến 5 thành một vòng khép kín - đặc trưng của kiểm toán nội bộ

Trang 34

Hình 1.1 Quy trình kiểm toán nội bộ

Phân tích rủi ro trong kiểm toán nội bộ nhằm vào tất cả các rủi ro có thể ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán Dựa trên những đánh giá này, kiểm toán viên nội bộ sẽ xây dựng kế hoạch kiểm toán, quyết định áp dụng các thủ tục kiểm toán để giảm bớt rủi ro phát hiện (rủi ro kiểm toán viên không phát hiện được sai phạm)

Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán: Đây là bước chuẩn bị mọi nguồn lực, mọi yếu tố cần thiết cho cuộc kiểm toán và lập chương trình kiểm toán trong đó liệt kê các thông tin cần phải kiểm tra trong quá trình kiểm toán

Thực hiện kiểm toán: thực hiện kiểm toán là quá trình áp dụng các phương pháp kiểm toán nhằm kiểm tra thực tế thu thập các bằng chứng kiểm toán đầy đủ làm cơ sở cho các ý kiến, các kiến nghị của kiểm toán viên nội bộ

Kết thúc kiểm toán: Sau khi kết thúc một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên nội

bộ phải lập báo cáo kiểm toán

Theo dõi sau kiểm toán và đánh giá công việc kiểm toán: Sau kết luận kiểm toán, kiểm toán nội bộ thực hiện kiểm tra việc khắc phục các sai phạm đã được phát hiện và giám sát thực hiện khuyến nghị của kiểm toán nội bộ

Tóm lại, kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng có vị trí rất quan trọng trong quản trị quản trị rủi ro ngân hàng nên việc hệ thống này hoạt động có hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng lớn tới hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng Để có thể tăng

Phân tích rủi ro

Lập kế hoạch

Thực hiện kiểm toán Báo cáo kiểm toán

Kiểm tra lại

Bước 1

Bước 2

Bước 5

Trang 35

cường kiểm soát nội bộ, các nhà quản trị cần phải biết hoạt động kiểm soát nội bộ trong ngân hàng của họ đang phát huy hiệu quả tới mức độ nào

1.2.3 Kinh nghiệm KSNB hoạt động tín dụng của một số NHTM trong nước

1.2.3.1 KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam ( ICB)

Hệ thống kiểm soát nội bộ tín dụng tại ICB thời gian qua có nhiều điểm chuyển biến rõ rệt về tổ chức và hoạt động trong đó có sự thay đổi về quy trình phê duyệt tín dụng, công tác giám sát nội bộ và bộ phận thực hiện chức năng kiểm tra kiểm toán nội bộ

Từ đầu năm 2013, ICB đã thực hiện cải tiến mạnh mẽ với việc định hướng tập trung toàn bộ việc phê duyệt rủi ro tín dụng và xếp hạng tín dụng về Hội sở chính (bao gồm bộ phận đặt tại HSC và bộ phận HSC kéo dài đặt tại TP HCM), lộ trình thực hiện đổi mới sẽ từng phần đối với từng cụm chi nhánh trong toàn hệ thống Thẩm quyền phê duyệt của các chi nhánh rất thấp, chi nhánh không thực hiện phê duyệt cấp tín dụng/hạn mức tín dụng, phê duyệt giải ngân từng lần theo hạn mức với khách hàng tổ chức, chỉ thực hiện phê duyệt cấp tín dụng đối với cá nhân/hộ gia đình với giá trị tối đa đến 1 tỷ đồng ICB cũng thực hiện việc thành lập các Cụm xác minh thông tin tại các khu vực (theo địa bàn địa lý và mật độ chi nhánh, PGD trên địa bàn) để thực hiện chức năng xác minh thông tin, phục vụ cho bộ phận phê duyệt của HSC

Công tác giám sát cũng được đổi mới nhờ việc tăng cường ứng dụng tin học

đã cho phép ICB thực hiện cơ chế giám sát tự động, thường xuyên và liên tục, hoạt động thống nhất tại Hội sở chính và có khả năng phát hiện và ngăn chặn kịp thời những sai sót phát sinh Cụ thể ICB đã nghiên cứu xây dựng chương trình giám sát nội bộ (Sysmon) và đến nay với hơn 90 chức năng giám sát hệ thống bao gồm hầu hết các mảng nghiệp vụ chính của ngân hàng như: tiền gửi, tiền vay, chuyển tiền, tài trợ thương mại, quản lý ngân quỹ, kinh doanh ngoại tệ, sổ cái và các chỉ tiêu kế hoạch tài chính,… đã được đưa vào vận hành Chương trình đã hỗ trợ công tác giám sát trong việc đưa ra thông tin liên quan cho việc khoanh vùng trọng điểm các giao

Trang 36

dịch hoạt động có dấu hiệu gian lận hoặc tác nghiệp sai, giúp phát hiện sớm dấu hiệu rủi ro, chấn chỉnh nhanh chóng, hiệu quả nhưng lại tiết kiệm tối đa lao động và chi phí

Mặt khác thời gian qua, Bộ máy KTKSNB và KTNB cũng được kiện toàn để phù hợp với tổng thể quá trình hoạt động và phát triển của VietinBank trong từng thời kì đồng thời đảm bảo tuân thủ quy định của NHNN tại Thông tư 44/2011/TT-NHNN Từ ngày 15/04/2013, ICB đã chuyển đổi từ mô hình cũ gồm Phòng KTNB, Ban KTKSNB tại Trụ sở chính ICB và 115 Phòng KTKSNB tại các Chi nhánh ICB thành mô hình mới gồm Bộ máy KTNB trực thuộc sự quản lý, chỉ đạo điều hành của Ban kiểm soát với Phòng Kiểm toán tuân thủ, Phòng Kiểm toán giám sát hoạt động tại Trụ sở chính; 2 phòng KTNB tại Văn phòng đại diện ở TP Hồ Chí Minh,

Đà Nẵng; 26 Phòng KTNB khu vực và Bộ máy KTKSNB trực thuộc Ban điều hành với Phòng kiểm tra KSNB tại Trụ sở chính; 150 bộ phận KTKSNB tại các Chi nhánh trên toàn hệ thống

Với mô hình trên, ICB đã đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết lập đầy đủ; phân định rõ chức năng KSNB và KTNB theo quy định; bộ máy kiểm tra, kiểm toán nội bộ độc lập với bộ phận nghiệp vụ Mặt khác Bộ phận KTNB trực thuộc Ban kiểm soát cũng đảm bảo tính khách quan cho hoạt động kiểm tra, kiểm toán nội bộ

1.2.3.2 KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam (VCB)

Trong quá trình phát triển, VCB luôn ở vị trí đứng đầu về hiệu quả kinh doanh và uy tín trên trường quốc tế so với các ngân hàng khác Để bắt kịp với sự phát triển về quy mô hoạt động, VCB luôn chú trọng kiện toàn hệ thống kiểm soát nội bộ về mọi mặt với định hướng mục tiêu là ngân hàng đầu tiên trong nước áp dụng chuẩn mực Basel II

Trong vài năm gần đây, VCB bên cạnh việc tiếp tục nâng cao chất lượng các công cụ nhận dạng, đánh giá, đo lường và quản lý rủi ro tín dụng như rà soát thẩm quyền phê duyệt tín dụng của các chi nhánh, đảm bảo phù hợp với khả năng quản trị

Trang 37

rủi ro; tăng cường kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua việc lập báo cáo ngành làm căn cứ định hướng chính sách tín dụng; xây dựng mô hình ước tính tổn thất tín dụng dựa trên hệ thống cơ sở dữ liệu đánh giá nội bộ; đã và đang trong quá trình rà soát nhằm sửa đổi bổ sung các chính sách, chương trình hỗ trợ tự động để quản lý nhóm khách hàng liên quan Mặt khác VCB còn tiếp tục tăng cường triển khai các khóa đào tạo về quản lý rủi ro hoạt động nhằm tăng cường nhận thức về rủi ro hoạt động, giúp Chi nhánh tự rà soát, bổ sung thêm các chốt kiểm soát để giảm thiểu rủi ro, khóa đào tạo về kiểm soát nội bộ theo chuẩn quốc tế COSO và ICI cho các cán bộ quản lý cấp cao thuộc phòng Kiểm toán và Quản lý rủi ro để áp dụng triển khai xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngân hàng

Đối với việc cơ cấu lại bộ máy kiểm tra, kiểm toán nội bộ một mặt đáp ứng quy định của Thông tư 44/2011/TT-NHNN và cũng đảm bảo khắc phục cơ bản các tồn tại của bộ máy tổ chức trước đó Mô hình tổ chức bộ máy kiểm tra, kiểm toán nội bộ VCB hiện tại bao gồm:

- Bộ máy KTNB của VCB ngoài Phòng KTNB đặt tại Hội sở chính còn có 2

bộ phận kiểm toán khu vực được bố trí tại Văn phòng đại diện miền Trung và miền Nam (hiện tại gồm 69 cán bộ) Nội dung công việc chủ yếu của Phòng kiểm toán nội bộ là thực hiện nhiệm vụ kiểm toán nội bộ theo quy định của pháp luật; kế hoạch kiểm toán được lập trên cơ sở tự phân tích đánh giá, kết hợp theo yêu cầu của HĐQT và Ban Điều hành Cũng trực thuộc Ban kiểm soát, còn có Phòng Giám sát hoạt động đặt tại Hội sở chính (gồm 15 cán bộ) thực hiện nhiệm vụ giám sát, giúp việc cho Ban kiểm soát

- Bộ máy kiểm tra giám sát tuân thủ trực thuộc Ban Điều hành( gồm ~200 cán bộ) bố trí tại Trụ sở chính và các chi nhánh

1.2.3.3 Bài học kinh nghiệm rút ra về hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại trong giai đoạn hiện nay

Qua việc nghiên cứu mô hình hệ thống kiểm soát nội bộ tại ICB và VCB, cho thấy việc triển khai các nguyên tắc và yêu cầu quy định trong Thông tư 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 của NHNN đã được tiến hành tại các NHTM,

Trang 38

cơ bản đã đảm bảo tính thích hợp, đầy đủ, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng nhu cầu phát hiện và phòng ngừa rủi ro Mặt khác từ việc ý thức được tầm quan trọng của hệ thống KSNB đối với việc giám sát, kiểm tra, kiểm soát các mặt hoạt động của ngân hàng, đặc biệt là đối với hoạt động tín dụng mà tại mỗi ngân hàng đều tổ chức bộ máy kiểm tra kiểm toán nội bộ vừa tuân theo quy định của NHNN và đảm bảo theo yêu cầu quản trị của Ngân hàng

Ngoài ra, một số kinh nghiệm rút ra từ hệ thống KSNB nghiệp vụ tín dụng của các Ngân hàng này như sau:

(-) Một mô hình giám sát chất lượng tín dụng không thể được gọi là tốt nhất và tuân theo các thông lệ quốc tế nếu không xây dựng được một qui trình quản lý rủi ro tín dụng phù hợp để quản lý chặt chẽ mối quan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận và kiểm soát, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong nhiều khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, loại tiền tệ, thời gian đáo hạn, các hình thức bảo đảm và các loại công cụ tín dụng

(-) Qua kinh nghiệm hoạt động, kiểm soát nội bộ được thiết kế một cách khoa học đồng bộ, có hệ thống văn bản, quy định rõ ràng Hoạt động kiểm soát nội bộ hình thành các tổ chức chuyên nghiệp có trách nhiệm nghiên cứu, đào tạo một cách bài bản về kiểm soát nội bộ ngân hàng Các tổ chức này được thành lập và hoạt động một cách độc lập và không tham gia vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Bộ phận kiểm tra giám sát nội bộ được quyền kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của ngân hàng, mọi đối tượng nhằm phát hiện các gian lận, sai sót và cảnh báo nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro

(-) Hoạt động kiểm soát nội bộ được xây dựng thành những chuẩn mực tổ chức, hoạt động, quy định, phương pháp kiểm soát nội bộ ngân hàng Quá trình kiểm soát được cụ thể hóa bằng văn bản, các bước các khâu kiểm soát được cụ thể hóa và gắn liền với quy trình nghiệp vụ hàng ngày của ngân hàng Hệ thống chuẩn mực trong tổ chức, hoạt động và phương pháp kiểm soát nội bộ là cơ sở cho bộ phận kiểm soát nội bộ thực hiện nhiệm vụ của mình

Trang 39

(-) Có các quy định chặt chẽ các tiêu chuẩn của các cán bộ kiểm tra Đội ngũ nhân lực thực hiện công tác kiểm soát nội bộ đều phải là những kiểm soát viên được đào tạo bài bản, qua các trường lớp và đạt được các chứng chỉ quốc gia, quốc tế liên quan đến hoạt động kế toán, kiểm toán và có sự hiểu biết về hệ thống, quy định pháp luật của quốc gia mình Kiểm soát viên đòi hỏi là những người đã có kinh nghiệm, đã từng tham gia, thực hiện trong quy trình, nghiệp vụ hoạt động kinh doanh hàng ngày của ngân hàng

Trang 40

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương I luận văn trình bày về tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí luận về KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM Phần tổng quan nghiên cứu, tác giả tổng hợp một số vấn đề đã được nghiên cứu liên quan KSNB NHTM nói chung và KSNB hoạt động tín dụng qua một số đề tài luận văn, đề tài tiến sĩ và bài viết trên tạp chí ngành Đồng thời qua đó rút ra những nội dung chưa được nghiên cứu đầy

đủ, cần tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh và đây cũng là cơ sở để tác giả thực hiện đề tài luận văn này Phần cơ sở lí luận tập trung trình bày những vấn đề lý thuyết về KSNB NHTM theo Khung KSNB hợp nhất của COSO, Khung KSNB của Ủy ban Basel và những quy định về KSNB NHTM tại Việt Nam Theo thông lệ tốt nhất hiện nay là khung KSNB của COSO, tác giả nghiên cứu KSNB hoạt động tín dụng trong NHTM theo 5 cấu phần là môi trường kiểm soát, hệ thống nhận diện đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin trao đổi và hoạt động giám sát Trong phần cơ sở lí luận, tác giả cũng đề cập đến các kinh nghiệm tổ chức KSNB tín dụng của hai NHTM có đặc điểm tương đồng với BIDV là ICB và VCB Trên cơ

sở lý luận về KSNB hoạt động tín dụng của NHTM, tại phần tiếp theo của Luận văn cùng với việc đánh giá đúng thực trạng kiểm soát nội bộ tại BIDV để đưa ra các giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng

Ngày đăng: 15/10/2015, 19:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1  Hình 2.1  Quy trình kiểm toán nội bộ  24 - Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam  luận văn ths 2015
1 Hình 2.1 Quy trình kiểm toán nội bộ 24 (Trang 10)
Hình 1.1 Quy trình kiểm toán nội bộ - Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam  luận văn ths 2015
Hình 1.1 Quy trình kiểm toán nội bộ (Trang 34)
Hình 3.1 Mô hình tham gia của các phòng/ban vào - Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam  luận văn ths 2015
Hình 3.1 Mô hình tham gia của các phòng/ban vào (Trang 56)
Hình 3.2 Mô hình hoạt động kiểm soát nội bộ tín dụng tại BIDV - Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam  luận văn ths 2015
Hình 3.2 Mô hình hoạt động kiểm soát nội bộ tín dụng tại BIDV (Trang 67)
Hình 3.3 Quá trình thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin hoạt động tín dụng - Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam  luận văn ths 2015
Hình 3.3 Quá trình thu thập, xử lý và lưu trữ thông tin hoạt động tín dụng (Trang 70)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm