KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA THEO CEFR CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH KHOA NGOẠI NGỮMỤC LỤCKHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA THEO CEFR CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH KHOA NGOẠI NGỮ1MỤC LỤC1DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT4DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ1Phần Mở Đầu2GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI2I.VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU2II.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI3III.MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU5IV.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU5V.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI5VI.CÁI MỚI CỦA NGHIÊN CỨU9VII.Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU10CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỀN TẢNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN11I.LUẬN ĐỀ12II.XÂY DỰNG LUẬN CHỨNG12III.LUẬN CỨ20PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU21I.PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN21II.CÁCH THU THẬP SỐ LIỆU21III.CÁCH XỬ LÝ SỐ LIỆU25PHẦN NỘI DUNG26CHƯƠNG 124I.NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CHUẨN ĐẦU RA MỚI THEO CEFR24II.NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ NĂNG LỰC ANH NGỮ CỦA HỌ DỰA TRÊN CÁC BẬC CỦA CEFR29CHƯƠNG 231I.NĂNG LỰC ANH NGỮ HIỆN TẠI CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ31II.KHẢ NĂNG ĐẠT ĐƯỢC CHUẨN ĐẦU RA MỚI THEO CEFR CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ35CHƯƠNG 340I.CÁC ĐỀ XUẤT CỦA SINH VIÊN ĐƯỢC KHẢO SÁT40II.ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU43PHẦN KẾT LUẬN54PHẦN PHỤ LỤC55PHỤ LỤC A56DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO63 DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTCÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTCỤM TỪ ĐẦY ĐỦALTE The Association of Language TestersCEFRCommon European Framework of Reference for LanguagesEFEducation FirstIELTSThe international English language testing systemKNLNNVNKhung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt NamSPSSStatistical Package for the Social SciencesTOEICTest of English for International CommunicationTOEFL iBTTest of English as a Foreign Language DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊHÌNH ẢNHHình 1.1 Sơ đồ xác định nhu cầu thông tin của nghiên cứu 22BẢNG BIỂUBảng 1.1 Mô tả của các cấp độ của CEFR 12Bảng 1.2 Số giờ học cần thiết để đạt các cấp bậc trên CEFR 18Bảng 2.1 Hiểu biết về CEFR của sinh viên Khoa Ngoại Ngữ Đại học Sài Gòn24Bảng 2.2 Hiểu biết về mức độ thành thạo Anh ngữ tương đương với bậc C1 trên CEFR của các sinh viên cho rằng chuẩn đầu ra là bậc C127Bảng 3.1 Tổng số câu trả lời đúng của mỗi câu trong bài kiểm tra33Bảng 3.2 Số giờ học cần thiết để đạt các cấp bậc trên CEFR 36Bảng 3.3 Khả năng đạt được chuẩn đầu ra mới theo CEFR của sinh viên Khoa Ngoại ngữ 37Bảng 4.1 Các đề xuất cải thiện chương trình đào tạo của sinh viên 41BIỂU ĐỒBiểu đồ 2.1 Hiểu biết về mức chuẩn đầu ra mới theo CEFR của sinh viên Khoa Ngoại Ngữ Đại học Sài Gòn 26Biểu đồ 2.2 Tự đánh giá năng lực Anh ngữ của sinh viên dựa trên các bậc của CEFR 29Biểu đồ 3.1 Năng lực Anh ngữ của sinh viên trên CEFR 32Biểu đồ 3.2 Thang điểm và thang cấp độ CEFR tương ứng của bài kiểm tra 34Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả bài kiểm tra với các bậc tự đánh giá của sinh viên...35
Trang 1KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA THEO CEFR CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH
KHOA NGOẠI NGỮ
MỤC LỤ
KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA THEO CEFR CỦA SINH VIÊN
NGÀNH NGÔN NGỮ ANH KHOA NGOẠI NGỮ 1
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ ĐỒ THỊ 1
Phần Mở Đầu 2
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
I VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
II LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 3
III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5
IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5
V TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 5
VI CÁI MỚI CỦA NGHIÊN CỨU 9
Trang 2VII Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỀN TẢNG PHƯƠNG PHÁP LUẬN 11
I LUẬN ĐỀ 12
II XÂY DỰNG LUẬN CHỨNG 12
III LUẬN CỨ 20
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
I PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN 21
II CÁCH THU THẬP SỐ LIỆU 21
III CÁCH XỬ LÝ SỐ LIỆU 25
PHẦN NỘI DUNG 26
CHƯƠNG 1 24
I NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ CHUẨN ĐẦU RA MỚI THEO CEFR 24
II NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ NĂNG LỰC ANH NGỮ CỦA HỌ DỰA TRÊN CÁC BẬC CỦA CEFR 29
CHƯƠNG 2 31
I NĂNG LỰC ANH NGỮ HIỆN TẠI CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ 31
II KHẢ NĂNG ĐẠT ĐƯỢC CHUẨN ĐẦU RA MỚI THEO CEFR CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ 35
CHƯƠNG 3 40
Trang 3I CÁC ĐỀ XUẤT CỦA SINH VIÊN ĐƯỢC KHẢO SÁT 40
II ĐỀ XUẤT CẢI THIỆN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA NHÓM NGHIÊN CỨU 43
PHẦN KẾT LUẬN 54
PHẦN PHỤ LỤC 55
PHỤ LỤC A 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTCÁC KÝ HIỆU, CHỮ
Languages
Trang 5BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Hiểu biết về mức chuẩn đầu ra mới theo CEFR của sinh viên Khoa Ngoại Ngữ Đại học Sài Gòn 26 Biểu đồ 2.2 Tự đánh giá năng lực Anh ngữ của sinh viên dựa trên các bậc của CEFR 29 Biểu đồ 3.1 Năng lực Anh ngữ của sinh viên trên CEFR 32 Biểu đồ 3.2 Thang điểm và thang cấp độ CEFR tương ứng của bài kiểm tra 34 Biểu đồ 3.3 So sánh kết quả bài kiểm tra với các bậc tự đánh giá của sinh viên 35
Trang 6Phần Mở Đầu GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu: Khả năng đạt được chuẩn đầu ra theo Khung tham
chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu (CEFR) (trong phạm vi bàinghiên cứu, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung vào yêu cầu chuẩn đầu ra vềAnh ngữ của sinh viên khoa Ngoại Ngữ hệ đại học trường Đại học SàiGòn)
Vấn đề nghiên cứu: Trong giới hạn bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu
chỉ quan tâm đến những vấn đề sau đây:
1 Nhận thức của sinh viên về chuẩn đầu ra mới theo CEFR
2 Tự đánh giá của sinh viên về năng lực Anh ngữ theo CEFR của bảnthân
3 Năng lực Anh ngữ hiện tại của sinh viên so với cấp độ (C1) cần đạt
4 Thời gian học tập để đạt được cấp độ được yêu cầu
5 Khả năng đạt được chuẩn đầu ra theo CEFR
6 Các đề xuất cải thiện chương trình đào tạo hiện nay để giúp sinh viênđạt được chuẩn đầu ra mới dễ dàng hơn
Khách thể nghiên cứu: Sinh viên hệ đại học ngành Ngôn ngữ Anh khoa
Ngoại Ngữ trường Đại học Sài Gòn (Nhóm nghiên cứu tập trung vào sinhviên năm cuối – khóa 11 - vì họ là đối tượng cần phải đạt được chuẩn đầu
ra trong thời gian ngắn sắp tới, do đó sự hiểu biết về chuẩn đầu ra mới và
Trang 7khả năng Anh ngữ của họ cho việc đáp ứng chuẩn đầu ra sẽ được thể hiện
rõ ràng và chính xác hơn)
Không gian: Trường Đại học Sài Gòn
Thời gian: năm 2014
Từ đó cho thấy, nâng cao trình độ năng lực ngoại ngữ quốc dân là một nhiệm vụcần thiết của Việt Nam hiện nay Ngày 30 tháng 9 năm 2008 trong Quyết định số1400/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữtrong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020” Ngày 24 tháng 01 năm
2014, bộ trưởng Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành thông tư số BGDĐT về Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (KNLNNVN)
01/2014/TT-1 Education First, 2013 Báo cáo chỉ số thông thạo Anh ngữ http://www.ef-vietnam.com.vn/ /~/media/efcom/epi/ 2014/full-reports/ef-epi-2013-report-vn.pdf
Trang 8từ Bậc 1 đến Bậc 6 và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 theo Khung thamchiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu (CEFR) (thông tư này có hiệu lực từngày 16 tháng 3 năm 2014).
Do vậy, một số trường đại học trên cả nước đã điều chỉnh chuẩn đầu ra của cácngành cho phù hợp với yêu cầu năng lực về ngoại ngữ của Việt Nam trong giaiđoạn mới cũng như bắt kịp xu thế phát triển ngoại ngữ của thế giới Trong đótrường Đại học Sài Gòn cũng đã thay đổi chuẩn đầu ra dựa trên Khung năng lựcngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (KNLNNVN) và CEFR, trước mắt áp dụngcho các ngành đào tạo chuyên Anh ngữ
Mặt khác, nhóm nghiên cứu lại đặt ra nhiều vấn đề về khả năng thực sự của sinhviên chuyên Anh trường Đại học Sài Gòn so với yêu cầu chuẩn đầu ra mới, vàchương trình đào tạo hiện nay của ngành đã tập trung vào mục tiêu giúp sinh viênđạt được chuẩn đầu ra mới hay chưa
Để có câu trả lời xác đáng cho các vấn đề trên, nhóm nghiên cứu quyết định thựchiện nghiên cứu về đề tài “KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨN ĐẦU RA THEOCEFR CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH KHOA NGOẠI NGỮTRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN VÀ” Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu mongmuốn bài viết này có thể góp phần đáng kể trong việc định hướng và cải tiếnphương pháp đào tạo và học tập để sinh viên có thể tự tin đạt được chuẩn đầu ratheo yêu cầu của Bộ Giáo dục – Đào tạo và đó cũng là yêu cầu năng lực ngoạingữ của quốc tế hiện nay
Trang 9III MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Cung cấp cái nhìn khách quan về năng lực Anh ngữ thực tế của sinh viên nămcuối ngành Ngôn ngữ Anh khoa Ngoại ngữ trường Đại học Sài Gòn so vớichuẩn đầu ra mới dựa trên CEFR
Tìm hiểu nhận thức chủ quan về chuẩn đầu ra mới dựa theo CEFR và về nănglực Anh ngữ thực tế dựa trên các bậc của CEFR của sinh viên
Khảo sát năng lực hiện tại của sinh viên qua bài kiểm tra ngắn về năng lựcngoại ngữ theo CEFR
Xác định khả năng đạt được chuẩn đầu ra theo CEFR theo đúng thời hạn xéttốt nghiệp của trường quy định
Đề xuất phương án cải thiện chương trình đạo tạo nhằm giúp sinh viên đạtđược chuẩn đầu ra mới dễ dàng hơn
Với việc công bố gần đây của Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung củaChâu Âu (CEFR) và việc áp dụng ngày càng rộng rãi của nó trên toàn cầu, nhiềunghiên cứu đã được thực hiện xoay quanh các vấn đề về CEFR Tuy nhiên, đa sốcác nghiên cứu chỉ tập trung vào việc áp dụng CEFR vào phương pháp đào tạo vàđánh giá năng lực ngoại ngữ ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới (phần lớn là
ở các nước Châu Âu) chứ chưa thật sự tìm hiểu và đánh giá về khả năng củangười học để đạt được các cấp độ (từ A1 đến C2) của Khung tham chiếu này, đặcbiệt là đối với sinh viên đại học ở các nước không sử dụng Tiếng Anh là ngônngữ chính
Trang 10Tác giả Wander Lowie thuộc Đại học Groningen trong bài nghiên cứu "TheCEFR and the Dynamics of Second Language Learning: Trends and Challenges",tạm dịch “Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu và các độnglực của việc học ngôn ngữ thứ hai: những xu hướng và thách thức” đặt câu hỏi vềviệc liệu có thể xác định được cấp độ hiệu quả của người học một cách đơn giản
và rõ ràng hay không, và nếu được thì CEFR có thể xác định được như vậykhông Bài viết kết luận rằng quá trình học ngôn ngữ thứ hai là một quá trình lặp
đi lặp lại và phải có khoảng thời gian phù hợp để hoàn thành mỗi giai đoạn từ cấp
độ A1 đến C2 trên Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu.Ngoài ra, tác giả cũng đề cập đến việc Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữchung của Châu Âu giúp người học theo dõi tiến độ cũng như những tiến bộ tronghọc tập và giúp giáo viên trong việc hướng dẫn người học đạt được mục tiêu.2
Tuy nhiên, bài viết lại chưa đề cập đến việc phải cải thiện chương trình học ở cáctrường đại học như thế nào để giúp sinh viên đạt được mục tiêu của mình (các cấp
độ mong muốn theo CEFR), cụ thể là đạt được chuẩn đầu ra trong một khoảngthời gian nhất định
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu "The CEFR and Language Teaching/Learning", tạmdịch " Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu về việc giảng dạy
và học tập ngôn ngữ" của tác giả David Little đã đưa ra hướng giải quyết chonhững vấn đề chính là: những điều CEFR đề cập về việc giảng dạy và học tậpngôn ngữ; những phương pháp tiếp cận và định hướng hành động của CEFR ngụ
ý gì về việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ; thử thách mà CEFR đặt ra cho những
hệ thống giáo dục quốc dân; và những hệ thống giáo dục quốc dân đáp ứng lại
2 Lowie, W., 2012 The CEFR and the dynamics of second language learning: trends and challenges
http://www.researchgate.net/profile/Wander_Lowie/publication/235724848_The_CEFR_and_the_dynamics_of_se cond_language_learning_trends_and_challenges/links/0c960516753d6511d0000000.pdf
Trang 11chuẩn CEFR như thế nào và triển vọng trong tương lai3 Tuy bài nghiên cứu này
đề cập đến rất nhiều khía cạnh, từ lý thuyết nhìn nhận về vấn đề ngôn ngữ củaCEFR và từ đó đặt ra những thách thức cho đến những phương pháp mà các hệthống giáo dục quốc gia đưa ra để vượt qua những thách thức đó, nhưng phạm viđược đề cập đến trong bài nghiên cứu hầu như chỉ trong khu vực các nước Châu
Âu, nơi mà họ dễ dàng tiếp cận với Tiếng Anh hơn là những nước phương Đông,nên có những sự khác biệt trong phương thức giáo dục giữa 2 bên Do đó, cần cóthêm những nghiên cứu cụ thể hơn ở quốc gia phương Đông như Việt Nam vàđiển hình là ở bậc giáo dục đại học về thực trạng cũng như đề xuất những phươngpháp khả thi sao cho phù hợp với môi trường dạy và học ở Việt Nam
Cụ thể như trong bài nghiên cứu “The Implementation of the Common EuropeanFramework for languages in European Education Systems”, tạm dịch “Vận dụngKhung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu vào việc đánh giá nănglực ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục Châu Âu”, được thực hiện vào năm 2003,tác giả Simon Broek, Inge van den Ende đã định nghĩa và giải thích CEFR là gì,
và nghiên cứu xoay quanh về việc vận dụng CEFR vào trong hệ thống giáo dụcchâu Âu, chủ yếu là áp dụng khung CEFR vào trong thi cử, chương trình giảngdạy, sách giáo khoa và đào tạo bồi dưỡng giáo viên bậc trung học cơ sở.4 Tuynhiên, bài viết lại không đề cập gì đến việc áp dụng CEFR vào hệ thống giáo dụcđại học ở châu Âu
David Little cũng đã báo cáo về một dự án dựa trên CEFR để xác định mộtchương trình giảng dạy Tiếng Anh cho học sinh tiểu học sử dụng tiếng Anh là
3 Little, D., 2012.The CEFR and Language Teaching/Learning
http://www.uni-leipzig.de/actflcefr/material/Teaching%20Learning%20CEFR%20Little.pdf
4 Broek, S and I V D Ende, 2013 The Implementation of the Common European Framework for languages in
European Education Systems CULT_ET%282013%29495871%28SUM01%29_EN.pdf
Trang 12http://www.europarl.europa.eu/RegData/etudes/etudes/join/2013/495871/IPOL-ngôn ngữ thứ 2 ở Ireland, và hiện đang xây dựng các đánh giá, đồng thời báo cáocác tiến trình mà trong đó phương pháp người học tự đánh giá đóng vai trò trungtâm Báo cáo này được nêu rõ trong bài nghiên cứu ‘The Common EuropeanFramework and the European Language Portfolio: Involving Learners and TheirJudgements in the Assessment Process’, tạm dịch " Khung tham chiếu trình độngôn ngữ chung của Châu Âu: Người học ngôn ngữ và tiến trình đánh giá nănglực”5 Như vậy, nghiên cứu này cũng chưa tìm hiểu về việc áp dụng khung thamchiếu CEFR vào chương trình đào tạo bậc đại học, nhất là áp dụng như là yêu cầu
về chuẩn đầu ra về ngôn ngữ ở các nước có ngôn ngữ chính thức không phải làtiếng Anh
Ở Việt Nam, nhóm cũng đã tìm hiểu được một nghiên cứu của các thầy cô trongcủa tổ tiếng Anh trường THPT chuyên Tiền Giang, “CEFR khung tham chiếunăng lực ngoại ngữ- chuẩn Châu Âu” Bài viết tìm hiểu việc triển khai khungtham chiếu CEFR ở Việt Nam; nêu rõ thực trạng việc dạy và học ngoại ngữ ở bậcPhổ thông hiện nay, chương trình đào tạo quá nặng và không hiệu quả; và cuốicùng đề xuất một số giải pháp cải cách việc dạy và học ngoại ngữ để đáp ứngnăng lực ngoại ngữ theo CEFR6 Tuy nhiên, vì đây là bài nghiên cứu của các thầy
cô giảng dạy trong trường Phổ thông nên đã không tiếp cận và tiến hành nghiêncứu trong môi trường đại học- môi trường cần được tìm hiểu nhiều hơn cả- nơi cónhững đối tượng cần được làm quen và nắm rõ hơn về CEFR đó là sinh viên, đặcbiệt là các sinh viên sắp tốt nghiệp
5 Little, D., 2005 The Common European Framework and the European Language Portfolio: involving learners
and their judgements in the assessment process european-framework-european-language-portfolio-involving-learners-their-judgements-assessment-process
http://connection.ebscohost.com/c/articles/17246753/common-6 Tổ tiếng Anh trường THPT chuyên Tiền Giang, 2014 CEFR khung tham chiếu năng lực ngoại ngữ- chuẩn Châu
Âu http://chuyen.tiengiang.edu.vn/FileUpload/Vanban/File1533.pdf
Trang 13Tóm lại, nhóm nghiên cứu nhận thấy rằng có rất ít bài nghiên cứu đề cập và khaithác vấn đề về khả năng đạt được các yêu cầu về năng lực ngoại ngữ theo CEFRcủa sinh viên đại học ở Việt Nam nói chung và sinh viên trường đại học Sài Gònnói riêng Vì vậy, trong khuôn khổ có giới hạn của bài nghiên cứu này, nhómnghiên cứu sẽ tìm hiểu về khả năng đáp ứng chuẩn đầu ra của sinh viên ngànhNgôn ngữ Anh khoa Ngoại Ngữ trường đại học Sài Gòn và đưa ra một số đề xuấtcải thiện chương trình đào tạo hiện nay.
Nhìn chung, các bài nghiên cứu trước đây đã đề cập đến việc dạy và học xoayquanh Khung tham chiếu CEFR của các giáo viên và học sinh ở các quốc giakhác nhau, các bậc học khác nhau, trong đó có các quốc gia không sử dụng tiếngAnh là tiếng mẹ đẻ Tuy nhiên hầu hết các bài nghiên cứu chủ yếu chỉ tiến hànhnghiên cứu ở các quốc gia Châu Âu, nơi có điều kiện giáo dục rất hiệu quả, khácvới môi trường giáo dục ở Việt Nam, và chỉ tập trung vào các bậc học trước đạihọc mà ít quan tâm tới đối tượng nghiên cứu là các sinh viên đại học Vì vậynhóm nghiên cứu quyết định sẽ chọn đề tài “KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CHUẨNĐẦU RA THEO CEFR CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ NGÀNHNGÔN NGỮ ANH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN” để nghiên cứu về năng lựcAnh ngữ theo khung tham chiếu CEFR của sinh viên Việt Nam nói chung và sinhviên chuyên ngữ trường Đại học Sài Gòn nói riêng
Kết quả bài nghiên cứu này có thể là một tài liệu tham khảo cho khoa Ngoạingữ trường Đại học Sài Gòn nhằm biết được trình độ thực tế của sinh viên và
Trang 14những đề xuất của nhóm nghiên cứu để cải thiện phương pháp dạy học dựatrên những mong muốn của sinh viên.
Thông qua bài nghiên cứu sinh viên năm cuối khoa Ngoại ngữ cũng có cơ hộibày tỏ ý kiến và nguyện vọng của mình trong quá trình học tập suốt hơn 3năm qua
Sinh viên còn được thử sức mình qua một bài kiểm tra ngắn năng lực dựatheo khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu, giúp họ nắmkhái quát về trình độ Anh ngữ của mình đang ở mức nào, từ đó có kế hoạchhọc tập đúng đắn nhằm đạt được mức chuẩn đầu ra dành cho sinh viên chuyênngữ trường Đại học Sài Gòn là mức C1 trở lên
Trang 15CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỀN TẢNG PHƯƠNG PHÁP
- Quy luật phủ định của phủ định: chỉ ra khuynh hướng của sự phát triển
- Quy luật lượng đổi chất đổi: chỉ ra cách thức, hình thức của sự phát triển
6 cặp phạm trù: bản chất – hiện tượng, cái chung – cái riêng, tất nhiên – ngẫu
nhiên, nội dung – hình thức, khả năng – hiện thực, nguyên nhân – kết quả
Dựa vào đó, nhóm đã đưa ra những giả thuyết (luận đề) qua quá trình suy luận,tiếp theo vận dụng các qui tắc logic và các phương pháp thu thập và xử lý thôngtin (luận chứng), sau đó nhóm dựa vào các cơ sở lý thuyết và thực nghiệm khảosát (luận cứ) để khẳng định tính đúng đắn hay sai luận của giả thuyết như sau
7 Trần Văn Sơn, 2012 Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục Trường Đại học Sài Gòn Thành phố Hồ Chí
Minh Trang 14-15
Trang 16I LUẬN ĐỀ
- Đa số sinh viên chỉ biết khái quát chứ không hiểu đầy đủ về chuẩn đầu ramới theo CEFR và họ có thể nhận thức gần đúng năng lực Anh ngữ thực tếcủa mình dựa trên các bậc của CEFR
- Phần lớn sinh viên chỉ đạt trình độ từ B1 đến B2 theo CEFR
- Hầu hết sinh viên có thể đạt được chuẩn đầu ra theo đúng thời hạn xét tốtnghiệp của trường quy định
- Các phương án về tăng số lượng các môn học chuyên ngành, kết hợp việc
ôn luyện cho các bài thi Anh ngữ quốc tế được đề xuất
- Thông tin thu được sẽ là thông tin sơ cấp, tức điều tra bằng bảng câu hỏigồm các câu hỏi đóng và mở Câu hỏi đóng cho biết nhận thức và trình độAnh ngữ thực tế của sinh viên theo thang đo CEFR Câu hỏi mở cho biếtthời gian sinh viên dành cho việc ôn luyện để đáp ứng chuẩn đầu ra và ýkiến của họ về cách thức cải thiện chương trình đào tạo của ngành nhằmgiúp sinh viên dễ dàng đạt được chuẩn đầu ra mới theo đúng thời hạn tốtnghiệp
- Mẫu khảo sát là các sinh viên năm cuối ngành Ngôn ngữ Anh trường Đạihọc Sài Gòn, được chọn bằng cách chọn mẫu phi xác suất và chọn theo sựthuận tiện của người nghiên cứu Kích thước mẫu là 110 trên tổng số 118.Tiến độ khảo sát dự kiến là một tuần
1 Các loại thông tin
- Cơ sở lý luận liên quan đến nội dung và đối tượng nghiên cứu:
Trang 17 CEFR – Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung Châu Âu
CEFR là viết tắt của cụm từ Common European Framework of Reference forLanguages – Khung tham chiếu trình độ ngôn ngữ chung của Châu Âu - đượcHội đồng Châu Âu thiết lập nhằm cung cấp “một nền tảng chung cho việc xâydựng giáo trình ngôn ngữ, hướng dẫn chương trình giảng dạy, thi cử, sách giáokhoa,… trên khắp châu Âu CEFR mô tả một cách toàn diện những gì người họcngôn ngữ phải học về kiến thức, kỹ năng để sử dụng một ngôn ngữ một cách hiệuquả”8 CEFR cung cấp các tiêu chí khách quan để mô tả trình độ thông thạo ngônngữ thông qua 4 kĩ năng (nghe, nói, đọc, viết), từ đó thiết lập thành 6 cấp độ từA1 đến C2 (A1 là mức độ sử dụng ngôn ngữ rất cơ bản đến C2 là mức độ rấtthành thạo) Điều này “sẽ tạo thuận lợi cho việc công nhận lẫn nhau về trình độngôn ngữ đạt được trong bối cảnh học tập khác nhau”9 không chỉ ở châu Âu màtrên khắp thế giới
Bảng 1.1 Mô tả của các cấp độ của CEFR 10
C1 Có khả năng hiểu các loại văn bản dài và phức tạp,
nhận biết được các hàm ý Biểu hiện khả năng ngôn
8 Council of Europe, 2001 Common European Framework of Reference for: Learning, Teaching, Assessment
http://www.coe.int/t/dg4/linguistic/cadre1_en.asp
9 Council of Europe, 2001 Common European Framework of Reference for: Learning, Teaching, Assessment
http://www.coe.int/t/dg4/linguistic/cadre1_en.asp
10 Council of Europe, 2001 Common European Framework of Reference for: Learning, Teaching, Assessment
http://www.coe.int/t/dg4/linguistic/cadre1_en.asp và Bộ Giáo Dục – Đào tạo, 2014 Thông tư
01/2014/TT-BGDĐT về việc ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam
Trang 18ngữ một cách tự nhiên, thuần thục mà không gặp phảinhiều khó khăn Sử dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệuquả phục vụ trong các mục đích xã hội, học tập haycông việc Có khả năng dùng các câu có cấu trúc chặtchẽ, rõ ý về những đề tài phức tạp, sử dụng linh hoạtcác thành phần câu, từ nối câu và các cụm từ chứcnăng.
Sử dụng
độc lập
B2
Có khả năng hiểu các ý chính trong văn bản phức tạp
về các chủ đề cụ thể cũng như trừu tượng, bao gồmnhững thảo luận về các vấn đề kỹ thuật về chuyênngành của người học Giao tiếp một cách tự nhiên vàlưu loát với người bản địa, không gây sự hiểu lầmgiữa đôi bên Có khả năng sử dụng các câu chi tiết, rõràng trong nhiều chủ đề khác nhau, bày tỏ quan điểm
về một vấn đề cũng như so sánh những ưu, nhượcđiểm của từng đề tài trong các bối cảnh khác nhau
B1
Có khả năng hiểu những ý chính trong ngôn ngữthông qua các chủ đề quen thuộc thường gặp trongcông việc, ở trường học hay khu vui chơi…Có thể xử
lý hầu hết các tình huống có thể xảy ra trong giaotiếp Có khả năng sử dụng các câu liên kết đơn giảntrong các chủ đề quen thuộc trong cuộc sống hoặcliên quan đến sở thích cá nhân Có thể miêu tả các sựkiện, các trải nghiệm, giấc mơ, ước ao hay tham vọngcủa mình và đưa ra những nguyên nhân, giải thíchcho các ý kiến và dự định đó
Sử dụng
căn bản
A2 Có thể hiểu câu và các cụm từ thông thường trong
những hầu hết các chủ đề quen thuộc (ví dụ: thông tin
cơ bản về bản thân và gia đình, mua sắm, địa lý địaphương, vấn đề việc làm) Có thể giao tiếp đơn giản,thực hiện các yêu cầu cơ bản và nắm bắt được thôngtin khi giao tiếp trong các bối cảnh quen thuộc Cóthể dùng từ vựng đơn giản để miêu tả lý lịch cá nhân,bối cảnh trực tiếp hay những chủ đề về các nhu cầucấp bách
Trang 19Ngày nay CEFR ngày một phổ biến trên toàn thế giới, được xuất bản thành 39ngôn ngữ Mọi người trên toàn cầu từ học viên, giáo viên, các trường đại học, cácnhà tuyển dụng và cả chính phủ đang sử dụng CEFR để xác định mức độ thànhthạo ngôn ngữ hiện tại và mức độ nào họ cần hướng tới của chính họ hoặc củacác đối tượng mà họ quan tâm.
Việc áp dụng CEFR vào hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam và chuẩn ra mới cho các sinh viên đại học chuyên ngữ tiếng Anh
Căn cứ vào Quyết định số1400/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2008 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thốnggiáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020"; Bộ Giáo dục- Đào tạo đã ban hànhThông tư 01/2014/TT-BGDĐT về Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho ViệtNam có hiệu lực kể từ ngày16 tháng 3 năm 2014 Thông tư 01/2014/TT-BGDĐTnêu rõ:
Mục đích ban hành Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam
1 Làm căn cứ thống nhất về yêu cầu năng lực cho tất cả ngoại ngữ đượcgiảng dạy trong hệ thống giáo dục quốc dân
Trang 202 Làm căn cứ xây dựng chương trình, biên soạn hoặc lựa chọn giáo trình,sách giáo khoa, kế hoạch giảng dạy, các tài liệu dạy học ngoại ngữ khác
và xây dựng tiêu chí trong kiểm tra, thi và đánh giá ởtừng cấp học, trình
độ đào tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấphọc và trình độ đào tạo
3 Làm căn cứ cho giáo viên, giảng viên lựa chọn và triển khai nội dung,cách thức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá để người học đạt được yêu cầucủa chương trình đào tạo
4 Giúp người học hiểu được nội dung, yêu cầu đối với từng trình độ nănglực ngoại ngữvà tự đánh giá năng lực của mình
5 Tạo điều kiện thuận lợi cho việc hợp tác, trao đổi giáo dục, công nhậnvăn bằng, chứng chỉvới các quốc gia ứng dụng Khung tham chiếu trình
độ ngôn ngữ chung Châu Âu (CEFR)
Đối tượng áp dụng
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam (viết tắt là KNLNNVN)được áp dụng cho các chương trình đào tạo ngoại ngữ, các cơ sở đào tạo ngoạingữ và người học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân
Mức độ tương thích giữa Khung năng lực ngoại ngữViệt Nam và Khungtham chiếu trình độ ngôn ngữ chung Châu Âu
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dành cho Việt Nam (viết tắt là KNLNNVN)được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và một số khung trình độtiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều kiện thực tế dạy, học và sửdụng ngoại ngữ ở Việt Nam KNLNNVN được chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp
Trang 21và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6 và tương thích với các bậc từ A1 đếnC2 trong CEFR)
Nội dung mô tả các bậc từ 1 đến 6 cũng tương thích và giống với mô tả các cấp
độ từ A1 đến C2 của CEFR
Trước đó, trong Công văn số 7274/BGDDT-GDDH của Bộ Giáo dục – Đào tạongày 31 tháng 10 năm 2012 gửi các cơ sở giáo dục đại học về việc Hướng dẫnthực hiện kế hoạch triển khai đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 trong các cơ sở giáodục đại học, Điều 8 ghi rõ: theo mục tiêu của đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020” trong Quyết định số TTg của Thủ Tướng Chính Phủ, năm học 2012-2013, sinh viên tốt nghiệp cáctrường đại học chuyên ngữ tiếng Anh phải đạt được bậc 5 theo KNLNNVN (tức
1400/QĐ-là cấp độ C1 trên CEFR) để được cấp bằng tốt nghiệp
Thời gian học cần thiết để đạt được các cấp độ của CEFR
Nghiên cứu của The Association of Language Testers - ALTE (Hiệp hội các tổchức khảo thí ngôn ngữ) và Cambridge English Language Assessment (Tổ chứcđánh giá Anh ngữ Cambridge) cho thấy rằng phải mất khoảng 200 giờ học tậpcho một người học ngôn ngữ để tiến bộ từ một mức trên CEFR đến mức tiếp theotiếp theo Do mỗi cấp độ CEFR bao hàm một loạt các khả năng ngôn ngữ khácnhau, thời gian cần để đạt được cho mỗi cấp độ là khác nhau tùy thuộc vào nhiềuyếu tố, gồm động cơ, năng lực ngôn ngữ cá nhân, độ tuổi, cường độ học, phươngpháp giảng dạy và học tập, ….11
11 Cambridge University Press, 2013.Introductory Guide to the Common European Framework of Reference
(CEFR) for English Language Teachers Guided-learning-hours Trang 4
Trang 22https://support.cambridgeenglish.org/hc/engb/articles/202838506-Dù vậy, họ cũng đã đưa ra ước tính thời gian cần thiết để đạt được các cấp độ trênthang CEFR như bảng sau
Bảng 1.2 Số giờ học cần thiết để đạt các cấp bậc trên CEFR 12
Các bậc của CEFR Thời gian học ước tính (đơn vị: giờ)
2 Phương pháp chủ yếu để thu thập thông tin:
- Nhóm nghiên cứu sử dụng phương pháp phi thực nghiệm đó là điều trabằng bảng hỏi
- Để chứng minh hoặc bác bỏ các giả thiết được đưa ra trước đó, nhóm đãtổng hợp lại các dữ liệu thu thập từ cuộc khảo sát và các cơ sở lý thuyết đểdựa vào đó có thể đưa ra các nhận định chính xác
12 Cambridge University Press, 2013.Introductory Guide to the Common European Framework of Reference
(CEFR) for English Language Teachers Guided-learning-hours Trang 4
Trang 24PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm nghiên cứu chọn cách nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng
- Nghiên cứu định lượng: Sử dụng trong việc thống kê số câu trả lời đúng
trong bài kiểm tra năng lực Anh ngữ của sinh viên, từ đó kết luận năng lựccủa họ ở mức nào; thống kê số giờ ôn luyện tiếng Anh của sinh viên để đạtchuẩn đầu ra để xem với số giờ đươc đưa ra, họ có thể đạt được chuẩn đầu
ra đúng kỳ hạn hay không
- Nghiên cứu định tính: Sử dụng trong các câu hỏi liên quan đến việc đánh
giá của sinh viên về năng lực Anh ngữ của bản thân; các ý kiến đóng gópcủa sinh viên nhằm cải thiện chương trình đào tạo của nhà trường
X CÁCH THU THẬP SỐ LIỆU
1 Cách chọn mẫu
- Mẫu được chọn theo cách chọn mẫu phi xác suất đó là chọn theo sự thuậntiện của người nghiên cứu Số lượng sinh viên năm cuối Ngành Ngôn ngữ Anhtrường Đại học Sài Gòn không nhiều, để lấy mẫu, nhóm nghiên cứu đã tiến hànhlàm khảo sát với những sinh viên này chủ yếu vào giờ lên lớp, trong đó mỗi lớp
có khoảng 30 người Vì quy mô của tổng thể nhỏ, nên số mẫu lấy được sẽ gầnbằng quy mô của tổng thể Theo cách này, việc lấy mẫu vừa thuận tiện cho nhómnghiên cứu, vừa đảm bảo được tính khách quan, tổng số mẫu khảo sát lấy được
có khả năng suy rộng ra cho tổng thể đối tượng nghiên cứu, phù hợp với các đặctrưng và cơ cấu của tổng thể Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu có thể tập hợp mẫu
Trang 25lại để hoàn thành bài khảo sát cách nhanh chóng và không mất quá nhiều chi phí
do sự thuận tiện và trùng khớp của thời khóa biểu các môn học
- Địa điểm lấy mẫu khảo sát: Trường Đại học Sài Gòn
- Quá trình lấy mẫu diễn ra trong vòng 5 ngày
2 Kích thước mẫu
Vì giới hạn khách thể của nhóm tương đối nhỏ (118 sinh viên chỉ nằm ở khóa 11(năm cuối) của ngành ngôn ngữ Anh) nên nhóm đã chọn công thức xác định kíchthước mẫu như sau:
z: giá trị của phân bổ chuẩn tại mức độ tin cậy mong muốn
Với quy mô của tổng thể N=118, p=q=0,5, độ tin cậy 90% (z=1,65) và sai số chophép k=0,02
thì kết quả kích thước mẫu là:
Trang 263 Sơ đồ bong bóng – Xác định nhu cầu thông tin
Hình 1.1 Sơ đồ xác định nhu cầu thông tin của nghiên cứu
4 Các bước thu thập thông tin
Bước 1: Thu thập thông tin
- Tài liệu sơ cấp: Bảng khảo sát
- Tài liệu thứ cấp: tài liệu nghiên cứu khoa học trước đó
Bước 2: Xử lý thông tin
Trang 27- Việc thu thập thông tin dựa trên các tài liệu nghiên cứu khoa học có liênquan đến việc học CEFR đã được các tác giả khác thực hiện trước đó nhằmtránh trùng lặp, tốn thời gian, công sức.
- Tiến hành thu thập thông tin bằng cách:
Lập bảng khảo sát và theo phương pháp chọn mẫu theo sự thuận tiện thìnhóm sẽ khảo sát các sinh viên ngành Ngôn ngữ Anh năm 4 thông quacác môn học có thời gian biểu giống nhau để dễ dàng thu thập đượcthông tin, tìm hiểu mức độ hiểu biết về CEFR cũng như chuẩn đầu ramới của trường Đại học Sài Gòn và các đề xuất để cải thiện chươngtrình học phần
Tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến CEFR thông quanhững tài liệu nghiên cứu khoa học trước đó
- Lập bảng khảo sát
Nhóm lập bảng khảo sát nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu:
1 Sinh viên nhận thức như thế nào về chuẩn đầu ra mới dựa theoCEFR và về năng lực Anh ngữ thực tế của mình dựa trên các bậc củaCEFR?
2 Năng lực Anh ngữ hiện tại của sinh viên đang ở mức nào theo kếtquả bài kiểm tra về năng lực ngoại ngữ theo CEFR?
3 Sinh viên có khả năng đạt được chuẩn đầu ra theo CEFR theo đúngthời hạn xét tốt nghiệp của trường quy định hay không?
4 Những phương án nào giúp cải thiện chương trình đạo tạo nhằm giúpsinh viên đạt được chuẩn đầu ra mới dễ dàng hơn?
Trang 28 Sau khi nhận các phiếu khảo sát, nhóm sẽ loại bỏ những phiếu không hợp
lệ (nếu có) Căn cứ vào số liệu từ những phiếu hợp lệ, nhóm sẽ tiến hànhphân tích tổng hợp số liệu để kiểm định giả thuyết
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp từ các nguồn tài liệu thứ cấp thu được
- Sử dụng phần mềm SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) đượcnhóm chú trọng để có thể xử lý các số liệu cách dễ dàng kết hợp với MicrosoftExcel
Trang 29PHẦN NỘI DUNG
Trang 30CHƯƠNG 1
NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN NGÀNH NGÔN NGỮ ANH VỀ CHUẨN ĐẦU RA MỚI THEO CEFR VÀ VỀ NĂNG LỰC ANH
NGỮ CỦA HỌ DỰA TRÊN CÁC BẬC CỦA CEFR
THEO CEFR
Bài khảo sát của nhóm nghiên cứu tìm hiểu mức độ hiểu biết của sinh viên vềchuẩn đầu ra theo CEFR qua ba vấn đề: Khái niệm về CEFR, Mức chuẩn đầu ratheo CEFR của trường Đại học Sài Gòn dành cho sinh viên đại học chuyên ngànhtiếng Anh và mức độ thành thạo Anh ngữ tương đương so với chuẩn đầu ra đó
Bảng 2.1 Hiểu biết về CEFR của sinh viên Khoa Ngoại Ngữ Đại học Sài Gòn 13
Số lượng sinh viên Phần trăm (%)
Số liệu khảo sát từ bảng 2.1 cho thấy hầu hết số sinh viên được khảo sát đều biết
về CEFR (97,3%), cụ thể là biết về khái niệm của CEFR (Khung tham chiếu trình
độ ngôn ngữ chung Châu Âu) Kết quả này có thể được lý giải như sau Thứ nhất,
kể từ khi Công văn số 7274/BGDDT-GDDH của Bộ Giáo dục – Đào tạo ngày 31
tháng 10 năm 2012 gửi các cơ sở giáo dục đại học về việc Hướng dẫn thực hiện
13 Nguồn: Số liệu điều tra của nhóm thực hiện vào tháng 12/2014 Từ đây về sau, nếu như không được nói rõ thì nguồn dữ liệu được lấy từ nguồn đã nêu trên.
Trang 31kế hoạch triển khai đề án ngoại ngữ quốc gia 2020 trong các cơ sở giáo dục đại học được ban hành, đã có nhiều đơn vị giáo dục, trong đó có cả Khoa Ngoại Ngữ
trường Đại học Sài Gòn đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo về CEFR và về việc ápdụng Khung tham chiếu này vào hệ thống giáo dục đại học Việt Nam Do vậy,CEFR là một thuật ngữ khá quen thuộc đối với những người học hoặc có quantâm về ngôn ngữ Anh, do đó để nhận biết CEFR là dễ dàng, đặc biệt là đối vớiđối tượng khách thể mà nhóm đang nghiên cứu là sinh viên năm cuối ngành Ngônngữ Anh trường Đại học Sài Gòn Đây là một trong những nguyên nhân cơ bảngiải thích cho mức độ nhận thức rộng rãi của sinh viên về CEFR Thứ hai, bắt đầu
từ năm học 2012-2013, Khoa Ngoại Ngữ trường Đại học Sài Gòn đã bổ sung mộtmôn học liên quan đến CEFR cho cả hai chương trình đào tạo đại học và caođẳng, cụ thể là môn “Tìm hiểu chương trình thi Tiếng Anh quốc tế” - 2 tín chỉ, đểgiúp sinh viên có những hiểu biết cơ bản về CEFR và làm quen với cấu trúc bàithi của các bài thi quốc tế phổ biến hiện nay Vì vậy, theo đánh giá của nhómnghiên cứu, kết quả trên là hoàn toàn có cơ sở
Trang 32Biểu đồ 2.1 Hiểu biết về mức chuẩn đầu ra mới theo CEFR của sinh viên
Khoa Ngoại Ngữ Đại học Sài Gòn
Biểu đồ 2.1 cho thấy có hơn một nửa số sinh viên được khảo sát (63,7%) biết vềchuẩn đầu ra mới theo CEFR tương đương với bậc C1 Số sinh viên cho rằng mứcchuẩn đầu ra là ở mức độ sử dụng Anh ngữ độc lập trên CEFR (B1 và B2) chiếm35,4% Và rất ít sinh viên (0,9% ) không biết mức chuẩn đầu ra là bao nhiêu BậcC2 (bậc cao nhất trên CEFR) và các bậc thuộc mức sử dụng ngôn ngữ cơ bản (A1
và A2) không được lựa chọn Có thể thấy rằng, sinh viên hầu hết điều biết vềCEFR (107 trên tổng số 110 sinh viên được khảo sát) nhưng họ vẫn chưa nhậnđịnh rõ ràng là cần phải đạt mức C1, B2 hay B1 để đáp ứng được chuẩn đầu rahiện nay (mức B1 (14,5%) và B2 (20,9%) vẫn còn được sinh viên lựa chọn khánhiều) Kết quả này có lẽ là do trong học phần “Tìm hiểu chương trình thi TiếngAnh quốc tế” (đã được nêu trên), sinh viên được tìm hiểu về CEFR chỉ trong 2tiết học – thời gian quá ít so với việc thu nhận rất nhiều thông tin về CEFR, trongkhi các tiết học còn lại là tập trung tìm hiểu về cấu trúc bài thi và kỹ năng làm các
Trang 33bài thi Tiếng Anh quốc tế (TOEIC, IELTS và TOEFL iBT) để đạt mức điểm đápứng đủ chuẩn Vì vậy, có lẽ sinh viên chỉ biết được mình cần đạt được mức điểmbao nhiêu trong các bài thi quốc tế để đạt được chuẩn đầu ra chứ không nắm rõmức điểm đó tương ứng với cấp độ nào trên CEFR Ví dụ, sinh viên có thể biếtrằng họ cần đạt mức điểm từ 7.0 – 7.5 cho bài thi IELTS để đủ điều kiện tốtnghiệp chứ không biết mức điểm đó tương đương với bậc C1 trên CEFR Do vậy,xấp xỉ 100% sinh viên lựa chọn chuẩn đầu ra ở 3 bậc B1, B2 và C1 vì 3 bậc nàyđòi hỏi tương đối gần với số điểm họ cần đạt được ở các bài thi quốc tế (7.0-7.5trên 9.0 cho bài thi IELTS, 100 - 110 trên 120 cho bài thi TOEFL iBT- mức điểmcao nhất của bài thi TOEFL iBT chỉ tương đương với C1) Từ đó cho thấy, bậcC2 (bậc cao nhất nên đòi hỏi mức điểm cao nhất trong các bài thi) và các bậc A1,A2 (mức độ sử dụng ngôn ngữ cơ bản nên chỉ đòi hỏi mức điểm thấp trong cácbài thi) không được ưu tiên lựa chọn là hợp lí.
Mặt khác, Bảng 2.2 dưới đây cho thấy trong 70 sinh viên (chiếm 64% trong tổng
số lượng sinh viên được khảo sát) biết chuẩn đầu ra tương đương với bậc C1, chỉ
có 12 sinh viên (chiếm 17.1%) chọn đúng mô tả về kiến thức và kỹ năng phù hợpcho bậc C1
Bảng 2.2 Hiểu biết về mức độ thành thạo Anh ngữ tương đương với bậc C1 trên CEFR của các sinh viên cho rằng chuẩn đầu ra là bậc C1
Số lượng sinh viên Phần trăm (%)
Trang 34Tóm lại, nhìn chung sinh viên có hiểu biết về chuẩn đầu ra mới theo CEFR nhưngchỉ ở mức hiểu cơ bản Kết quả này nhất quán với giả thuyết ban đầu của nhómnghiên cứu đưa ra Hơn nữa, kết quả cho thấy rõ nhận thức về yêu cầu kỹ năng vàkiến thức cho mức chuẩn C1 vẫn chưa được phổ biến, mặc dù điều này rất cầnthiết cho sinh viên trong việc cụ thể hóa mục tiêu, lên kế hoạch và xác định mức
nỗ lực bản thân để đạt được chuẩn đầu ra mới
Trang 35XII NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ NĂNG LỰC ANH NGỮ
CỦA HỌ DỰA TRÊN CÁC BẬC CỦA CEFR
Dữ liệu cho việc xác định nhận thức về năng lực Anh ngữ của chính sinh viên dựatrên các bậc của CEFR được thu thập từ yêu cầu tự đánh giá năng lực Anh ngữbản thân trong bài khảo sát Số liệu được biểu thị qua biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 2.2 Tự đánh giá năng lực Anh ngữ của sinh viên dựa trên các bậc
của CEFR
Hai bậc được nhiều sinh viên cho rằng tương đương với trình độ Anh ngữ củamình là B1 (46,4%) và B2 (21,8%) B1 và B2 là hai mức nằm giữa trên khung