TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO QUY ĐỊNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Trang 1NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014
Bộ môn: Luật tư pháp MSSV: B1202780 Lớp: Luật tư pháp- K38
Cần Thơ, 12/2015
Trang 2MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU
VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG
1.1 Khái quát chung về tài sản riêng của vợ, chồng
1.1.1 Khái niệm về tài sản riêng của vợ, chồng
1.1.1.1 Khái niệm tài sản
1.1.1.2 khái niệm tài sản riêng của vợ, chồng
1.1.2 Đặc điểm về tài sản riêng của vợ, chồng
1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng
1.2 Khái quát chung về việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của
1.2.3.1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
1.2.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
1.2.3.3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000
Trang 31.2.3.4 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
1.2.4 Ý nghĩa của quy định pháp luật về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ
VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 2.1 Quy định của pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2.1.1 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng
2.1.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn
2.1.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
2.1.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
2.1.1.4 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
2.1.1.5 Tài sản riêng là tài sản được hình thành từ tài sản riêng của
vợ, chồng
2.1.2 Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
2.1.2.1 Quyền của vợ, chồng đối với tài sản riêng
2.1.2.2 Nghĩa vụ được thực hiện bằng tài sản riêng của vợ, chồng
2.2 Quy định của pháp luật về việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình hiện hành
2.2.1 Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình
Trang 42.2.2 Tài sản riêng là chỗ ở duy nhất của gia đình
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 3.1 Những điểm tiến bộ của quy định pháp luật về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014
3.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng hoàn thiện quy dịnh pháp luật về tài sản riêng và hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
3.2.1 Nhận xết chung
3.2.2 Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hướng hoàn thiện quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
3.2.2 Thực tiễn và kiến nghị hướng hoàn thiện quy định pháp luật về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ VIỆC HẠN CHẾ ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG
Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn1 Từ hành vi kếthôn của nam và nữ sẽ hình thành quan hệ hôn nhân, mà biểu hiện của nóchính là quan hệ giữa vợ và chồng Bởi lẽ, để có được sự bình đẳng giữa nam
và nữ ngoài xã hội trước hết phải đảm bảo được sự bình đẳng giữa vợ vàchồng trong phạm vi gia đình Do đó, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Namnăm 2014 đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa vợ và chồng; Tại Điều 17 có quy
định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi
mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”.
Trên cơ sở kế thừa tư tưởng cũng như quy định tiến bộ của Luật Hôn nhân vàgia đình Việt Nam năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014
đã có những quy định mở để điều chỉnh tất cả các lĩnh vực của quan hệ hônnhân Cùng với các quy định khác trong luật, quy định pháp luật về quan hệgiữa vợ và chồng được quy định cụ thể và chặt chẽ hơn thể hiện sâu sắc quanđiểm, tư tưởng bình đẳng, bình quyền trong quan hệ giữa vợ và chồng; Đặcbiệt là những quy định liên quan đến quan hệ pháp luật về tài sản của vợ vàchồng Bởi vì, quan hệ về tài sản bao gồm quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa
vợ và chồng, nó đóng vai trò trong việc điều chỉnh những quan hệ khác tronggia đình, là cơ sở pháp lý để thực hiện các chức năng kinh tế và đáp ứng cácnhu cầu vật chất của vợ chồng và các thành viên khác trong gia đình2 Việcquy định chế độ tài sản của vợ chồng trong Luật Hôn nhân và gia đình ViệtNam năm 2014 còn là điều kiện để Nhà nước điều tiết và quản lý các quan hệ
xã hội, đảm bảo các mục tiêu xây dựng và pháp triển xã hội vững mạnh, côngbằng, dân chủ, văn minh Bên cạnh đó, việc quy định chế độ tài sản của vợ
1 Khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014
2000, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, năm 2004, Tr 148-149
Trang 6chồng còn là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các thành viên tronggia đình; tránh những tranh chấp xảy ra có thể làm tổn thương đến tình cảm và
sự đoàn kết của các thành viên trong gia đình; ngoài ra còn là cở sở pháp lýcho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về tài sản của vợ chồngđược nhanh chóng và chính xác
1.1 Khái quát chung về tài sản riêng của vợ, chồng
Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đã thừa nhận vợ và chồng có quyền
và nghĩa vụ ngang nhau trong quan hệ pháp lý về tài sản Vì lẽ đó, việc quyđịnh chế độ tài sản của vợ chồng là vô cần thiết bao gồm việc xác định tài sảnchung hay riêng của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân Vấn đề tài sản chunghay riêng còn là cở sở để giúp mỗi bên vợ, chồng xác định được phần quyền
mà mình phải có cũng như phần nghĩa vụ mà mình phải thực hiện Luật Hônnhân gia đình năm 2014 đã kế thừa được điểm tiến bộ thể hiện một cách toàndiện và sâu sắc trong nguyên tắc bình đẳng nam nữ mà công ước Cedaw đề
cập trên cở sở phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nước ta: “Quyền
như nhau của cả vợ và chồng đối với việc sở hữu, thu nhận kiểm soát, quản
lý, hưởng thụ và sử dụng tài sản, dù đó là tài sản không phải trả tiền hay tài sản có giá trị lớn” Xã hội ngày càng phát triển kéo theo đó là nhiều tình
huồng xảy ra có thể luật không dự liệu trước được hoặc có dự liệu trướcnhưng không giải quyết triệt để mang đến nhiều hệ lụy Bởi vậy, việc thừanhận vợ chồng có tài sản riêng cần được làm rõ ở cả khái niệm lẫn đặc điểmcũng như cả ý nghĩa mà quy định đó mang lại
1.1.1.Khái niệm về tài sản riêng
1.1.1.1 Khái niệm về tài sản
Tài sản là một khái niệm quen thuộc đối với bất kỳ ai, bởi đơn giảntài sản là công cụ của đời sống con người Phân loại tài sản có vai trò quantrọng trong việc xác lập các quy định pháp luật và giải quyết các tranh chấppháp lý Theo từ điển pháp luật thì tài sản là tất cả những gì có thể sở hữuđược với khía cạnh thì tài sản được hiểu theo nghĩa rộng hơn và đã có sự phân
Trang 7biệt giữa tài sản là động sản và bất động sản, tài sản hữu hình và tài sản vô
hình.Theo quy định tại Điều 163 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “tài sản
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”; Để hiểu rõ về khái
niệm tài sản qua cách phân tích sau:
Vật: vật là một bộ phận vật chất có thể đáp ứng nhu cầu nào đó củacon người hoặc vật còn có tính cách là tài sản nằm trong sự chiếm hữu củacon người có đặc trưng giá trị và trở thành đối tượng của giao dịch dân sự
Chính vì lẽ đó “vật” trong Bộ luật Dân sự năm 2005 đã thay thế cho cụm từ
“vật có thật” trong Bộ luật Dân sự năm 1995 là hoàn toàn phù hợp và phản ánh đầy đủ vấn đề khái niệm “vật” sẽ hiểu rộng hơn bao gồm vật đang có và
vật sẽ hình thành trong tương lai Quy định này làm cho đối tượng của tài sảntrở nên phong phú, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển kinh tế hiện nay
Tiền: Tiền là vật đúc bằng kim loại hay in bằng giấy, do Ngân hàngnhà nước phát hành, dùng làm đơn vị tiền tệ Tiền đại diện cho giá trị thực củahàng hóa và phương tiện lưu thông trong giao lưu dân sự, có tư cách đại diệncho chủ quyền của mỗi Quốc gia, mỗi chế độ nhà nước
Giấy tờ có giá: Giấy tờ được coi là tài sản chuẩn hóa về tên gọi cũngnhư tính chất, các loại giấy tờ này trị giá bằng tiền và được đưa vào giao dịchdân sự như: cổ phiếu, trái phiếu, tính phiếu, tấm séc…quy định như thế đã gópphần làm cho định nghĩa tài sản trở nên phong phú và chính xác hơn về đốitượng Mặc khác nó cũng có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường
và giai đoạn hội nhập nước ta hiện nay
Quyền tài sản: ngoài những vật, tiền, giấy tờ có giá thì quyền tài sảncũng được coi là tài sản Điều 181 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định:
“Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ” Đây là những quyền gắn liền
với tài sản mà khi thực hiện những quyền đó chủ sở hữu sẽ có được một tàisản Đó là quyền đòi nợ, quyền hưởng nhuận bút của tác giả văn học nghệthuật, quyền sở hữu đối với phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiêp…Bên
Trang 8cạnh đó, để đáp ứng yêu cầu của một tài sản, quyền tài sản phải đáp ứng đượchai yêu cầu sau:
- Quyền tài sản trị giá được bằng tiền
- Có thể chuyển giao cho người khác trong giao dịch dân sự
Bởi vai trò quan trọng của tài sản theo quy định pháp luật hay trên thực
tế đời sống Nên tài sản có thể tồn tại ở nhiều dạng khác nhau và vô cùngphong phú, đa dạng, có thể tài sản là động sản hay bất động sản; tài sản hữuhình hay vô hình… Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính riêngbiệt, nên cần phải có quy chế pháp lý điều chỉnh riêng Rõ ràng, ở mỗi góc độkhác nhau, một sự vật hiện tượng khác nhau sẽ nhìn nhận và đánh giá mộtcách khác nhau Do đó, ở mỗi tiêu chí khác nhau, tài sản lại được phân thànhnhiều loại khác nhau Theo quy định pháp luật, tại phần thứ hai các chương
X, XI của Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản được phân loại như sau:
Bất động sản: là tài sản không thể di dời được (đất đai, nhà ở)
Động sản: là những tài sản không phải là bất động sản
Hoa lợi: là những sản vật tự nhiên mà tài sản mang lại
Lợi tức: là những khoản thu được từ việc khai thác tài sản
Vật chính: là vật độc lập có thể khai thác được theo tính năng
Vật phụ: là vật trực tiếp phục vụ cho công dụng của vật chính và là một
bộ phận của vật chính
Bên cạnh đó tài sản còn được phân loại là: Vật chia được, vật khôngchia được; vật tiêu hao, vật không tiêu hao; vật cùng loại, vật đặc định,vật đồng bộ…
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết thì khái niệm tài
sản có thể hiểu một cách đơn giản đó là: tài sản là vật, lợi ích vật chất khác
thuộc quyền của chủ thể.
1.1.1.2 Khái niệm về tài sản riêng của vợ, chồng
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt VậyNhà nước sẽ làm gì để bảo vệ hôn nhân và gia đình? Có rất nhiều biện pháp
Trang 9mà một biện pháp không thể thiếu được đó là việc ban hành các quy phạmpháp luật điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình Trong gia đình xã hội chủnghĩa, vợ chồng cùng chăm lo, gánh vác việc gia đình; những nhu cầu về đầu
tư kinh doanh riêng hay giao kết hợp đồng với người thứ ba lại thường xuyênxảy ra hơn Do đó tài sản của vợ, chồng không chỉ để phục vụ cho các thànhviên trong gia đình mà còn đáp ứng nhu cầu cho bản thân mỗi cá nhân LuậtHôn nhân và gia đình trên cở sở xem xét mối liên hệ của tài sản và cuộc sống
vợ chồng từ thực tiễn đã quy định quyền có tài sản riêng của vợ chồng Quyđịnh về quyền có tài sản riêng của vợ chồng bắt đầu hình thành từ Luật Hônnhân và gia đình năm 1986, trước đó Luật Hôn nhân gia đình năm 1959 khôngthừa nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng3, do vậy tất cả tài sản mà vợchồng có được trước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2014 trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và giađình năm 1986 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã khẳng định chắcchắn vợ chồng có quyền sở hữu đối với tài sản riêng Theo quy định tại khoản
1 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 thì vợ chồng cótoàn quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản riêng của mình phù hợpvới quy định của pháp luật4; Vợ, chồng có quyền tặng, cho, mua bán trao đổitài sản riêng của mình với bất kì chủ thể nào một cách độc lập và bình đẳng.Tuy nhiên, trong pháp luật của Nhà nước ta, cho đến nay vẫn chưa có mộtkhái niệm về tài sản riêng của vợ, chồng được quy định trong một văn bản cụthể của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Cho nên, chỉ có thể dựa vào quyđịnh của pháp luật về tài sản riêng để xác định tài sản riêng của vợ, chồngcũng như quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng
Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tài sảnriêng của vợ, chồng được bao gồm:
hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với các tài sản có trước và sau khi cưới
hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung
Trang 10- Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn
- Tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân
- Tài sản có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
- Tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng
- Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chỉ ra nguồn gốcphát sinh tài sản riêng và dựa vào đó làm căn cứ xác định tài sản riêng củamỗi bên vợ, chồng Những tài sản được luật quy định sẽ là tài sản riêng của
vợ, chồng bao gồm: tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản mà mỗingười được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân; Tài sản
có được do chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầuthiết yếu của gia đình (ăn, mặc, ở, học tập, khám bệnh, chữa bệnh và các nhucầu thiết yếu khác không thể thiếu cho cuộc sống của mỗi người, mỗi giađình) của vợ, chồng và tài sản khác5 mà theo quy định của pháp luật thuộc sởhữu riêng của vợ, chồng; hay là tài sản được hình thành từ tài sản riêng của
vợ, chồng đó có thể là: những tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do laođộng, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và những thu nhập hợp pháp khác trong thời kì hôn nhân sau khi chia tài sảnchung
Bên cạnh đó, cần xem xét quy định của pháp luật đối với căn cứ xácđịnh tài sản riêng của vợ, chồng Luật Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam
năm 2014 quy định là: “Tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn” bởi lẽ
trước khi kết hôn vợ và chồng là những chủ thể pháp lý độc lập với các quyền
và nghĩa vụ hoàn toàn không bị ràng buộc trong quan hệ hôn nhân gia đình
“1 Quyền tài sản đối với đối tượng sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ.
2 Tài sản mà vợ, chồng xác lập quyền sở hữu riêng theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc
cơ quan có thẩm quyền khác.
3 Khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gắn liền với nhân thân của vợ, chồng”
Trang 11Tài sản riêng đó có thể là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinhdoanh của bản thân người tạo ra, cũng có thể do họ được thừa kế hay tặng cho
riêng Ngoài ra pháp luật còn quy định những tài sản tạo ra “trong thời kỳ hôn
nhân” cũng có thể được coi là tài sản riêng của vợ, chồng; nếu tài sản đó họ
có được do tặng cho riêng, được thừa kế riêng, nhận phần của mình từ việcchia tài sản chung, hoa lợi lợi tức nhận được do tài sản riêng của họ mang lại
Chính vì vậy, những tài sản tạo ra trong “thời kỳ hôn nhân” mới được xác định là tài sản chung hay riêng của vợ, chồng Ở đây có thể hiểu “thời kỳ hôn
nhân” là thời gian tồn tại quan hệ vợ, chồng được tính từ ngày kết hôn đến
ngày chấm dứt hôn nhân6 Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều trường hợp vợchồng lấy nhau không đăng ký kết hôn, khi phát sinh mâu thuẫn thì đưa ra tòaxin ly hôn và phân chia tài sản Để giải quyết tình trạng hôn nhân thực tế còntồn động từ trước, khi xem xét hậu quả của việc chia tài sản chung của vợchồng theo hôn nhân thực tế sẽ theo quy định ở Nghị quyết số 35/2000/NQ10của Quốc hội ngày 09/6/2000; Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTPTANDTCcủa Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/12/2000
Từ những phân tích trên, theo quan điểm của người viết thì khái niệm
tài sản riêng của vợ, chồng có thể được hiểu như sau: Tài sản riêng của vợ,
chồng là tài sản; mà mỗi bên vợ, chồng có quyền sở hữu đối với tài sản đó, nếu tài sản đó có được trước thời kỳ hôn nhân hoặc trong thời kỳ hôn nhân do được tặng cho riêng, thừa kế riêng, phần tài sản được nhận sau khi chia tài sản chung hay tài sản theo quy định của pháp luật thuộc khối tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng cũng như hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó Theo đó mỗi bên vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt thuộc sở hữu riêng của mình
1.1.2 Đặc điểm về tài sản riêng của vợ, chồng
Trong quá trình thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước nhằmhoàn thiện pháp Luật Hôn nhân và gia đình cũng như xây dựng xã hội côngbằng, dân chủ, văn mình Đảng và Nhà nước ta đã xác định tăng cường bình
Trang 12đẳng giới, lồng ghép các vấn đề về giới với các chính sách, chương trình, dự
án phát triển là nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển toàn diện vềtăng trưởng xóa đói, giảm nghèo và đảm bảo bằng cho xã hội Để thực hiệnđiều đó pháp luật nói chung và Luật Hôn nhân và gia đình nói riêng đã banhành những quy định thể hiện quyền bình đẳng của các chủ thể khi tham giavào quan hệ pháp luật đó Trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quyđịnh vợ, chồng có quyền có sở hữu riêng về tài sản, đây là quy định thể hiện
sự bình đẳng giữa vợ chồng khi tham gia vào quan hệ hôn nhân ngoài việc cótài sản chung thì họ vẫn có quyền có tài sản riêng để thực hiện các giao dịchhay nhu cầu của bản thân đồng thời đảm bảo cuộc sống của cá nhân khi hônnhân tan vỡ; bên cạnh đó, vợ chồng vừa là chủ thể trong quan hệ hôn nhân vàgia đình, vừa là chủ thể trong quan hệ dân sự khi thực hiện quyền sở hữu củamình đối với tài sản riêng tham gia vào các giao dịch dân sự Cho nên, tài sảnriêng của vợ, chồng cũng có một số đặc điểm sau:
Một là, xuất phát tự vị trí, vai trò của gia đình đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội, Nhà nước bằng pháp luật quy định về tài sản riêng của vợ,chồng đều xuất phát từ mục đích trước tiên và chủ yếu nhằm bảo đảm quyềnlợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ, chồng Theo đó, dù vợchồng có quyền sở hữu đối với tài sản chung hay tài sản riêng thì họ đều cónghĩa vụ dùng tài sản riêng của mình đóng góp nhằm bảo đảm đời sống chungcủa gia đình, nghĩa vụ chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục con cái Dovậy, khi mỗi bên vợ, chồng có toàn quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đốivới tài sản riêng của mình; nhưng nếu tài sản chung không đủ đáp ứng nhucầu của cuộc sống chung thì một bên vợ hoặc chồng có tài sản riêng phải dùngtài sản đó đảm bảo cuộc sống chung của gia đình
Hai là, tài sản riêng cả vợ chồng có nguồn gốc từ sở hữu tư nhân trong
luật dân sự (sở hữu của cá nhân với tài sản hợp pháp của mình bao gồm thunhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn,hoa lợi, lợi tức…) Góp phần đảm bảo cho sự độc lập và bình đẳng của vợ,
Trang 13chồng trong quan hệ giữa họ với nhau và với người thứ ba Sau khi kết hôn,
vợ hoặc chồng có tài sản riêng vẫn có tư cách độc lập trong xã hội, tự do thamgia vào xác lập giao dịch dân sự
Ba là, tài sản riêng của vợ, chồng cũng mang lại nét đặc thù riêng biệt
trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ thể Vợ, chồng với tư cách
là chủ thể của khối tài sản riêng có quyền tự mình định đoạt khối tài sản riêng
mà không phụ thuộc vào ý chí của người khác7 Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp quyền sở hữu đối với tài sản riêng của vợ chồng bị hạn chế Theoquy định tại khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014thì vợ chồng là chủ sở hữu tài sản riêng của mình nhưng khi hoa lợi, lợi tứcthu được từ tài sản riêng của vợ chồng đã được đưa vào sử dụng là nguồnsống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trongtrường hợp liên quan đến tài sản này cần thiết phải có thỏa thuận của hai vợchồng Như vậy quyền tự định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong trườnghợp này đã bị hạn chế ở một số trường hợp theo quy định của pháp luật
1.1.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng
Đối với pháp luật của nước ta, việc quy định tài sản riêng của vợ, chồng
có ý nghĩa sau:
Trước tiên, việc quy định vợ, chồng có quyền có tài sản riêng nhằm
mục đích xóa bỏ sự bất bình đẳng về mặt tài sản giữa vợ và chồng đồng thờiđáp ứng được mong muốn của hàng triệu phụ nữ Việt Nam là muốn có địa vịbình đẳng với người chồng trong gia đình Điều này hoàn toàn phù hợp vớiHiến pháp của nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là mong muốnmọi người đều bình đẳng trước pháp luật8 Phù hợp với quy định của Bộ luậtDân sự năm 2005 cũng thừa nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng Điều
212 Bộ luật Dân sự năm 2005 ghi nhận tài sản thuộc sở hữu tư nhân bao gồm:
“Thu nhập hợp pháp của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản hợp pháp khác của cá nhân” Nhờ
7 Điều 184 Bộ luật Dân sự năm 2005
8 Khoản 1 Điều 16 Hiến pháp năm 2013: Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật
Trang 14vậy trong quan hệ hôn nhân người vợ và người chồng có thể độc lập tham giavào các quan hệ xã hội bằng cách dùng tài sản thuộc sở hữu riêng phục vụ chonhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc sản xuất, kinh doanh và các mục đích khácphù hợp với quy định của pháp9; họ có thể chủ động tham gia vào các giaodịch dân sự và kinh tế để đảm bảo thỏa mãn nhu cầu vật chất của các thànhviên trong gia đình cũng như của cá nhân người vợ, người chồng Ngoài ra,việc quy định trên còn tạo điều kiện để cho vợ, chồng tự do tham gia vào cáchoạt động kinh doanh riêng nhưng vẫn đảm bảo sự bền chặt của hai ngườibằng quan hệ hôn nhân, ổn định hạnh phúc gia đình Gia đình tồn tại thì xã hộimới phát triển được, theo triết học Mác-Lênin thì vật chất quyết định ý thức vìthế nếu nền kinh tế không phát triển được, dẫn đến gia đình sẽ không hạnhphúc cũng như xã hội sẽ không phồn thịnh được Bởi vậy, khi mỗi công dântham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra nhiều của cải, xâydựng gia đình hạnh phúc, bền vững Quy định này đã tạo điều kiện tạo chongười phụ nữ có chổ đứng ngang hàng với nam giới trong việc đóng góp vàocông cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Thứ hai, do Việt Nam đang trên đà phát triển đã chịu phần nào sự ảnh
hưởng của nền kinh tế thị trường và lối sống Phương Tây Cho nên hiện naytình trạng ly hôn ở nước ta xảy ra ngày càng nhiều Chính vì vậy, nhiều quan
hệ hôn nhân không được thiết lập trên yếu tố tình cảm chân thành mà đượcdựa trên yếu tố vật chất hôn nhân thực dụng - kết hôn vì của cải của nhau Nênviệc quy định tài sản riêng của vợ, chồng có ý nghĩa quan trọng trong việcđảm bảo được đời sống của mỗi bên vợ, chồng sau khi hôn nhân tan rã
Thứ ba, việc quy định tài sản riêng còn nhằm bảo vệ lợi ích với người
thứ ba khi có quan hệ tài sản với một bên vợ hoặc chồng Vì thế, trên cơ sởquy định của pháp luật, người thứ ba sẽ xác định được quyền hạn của người
vợ, người chồng trong việc thực hiện xác lập các giao dịch làm cho quyền lợicủa họ được bảo đảm hơn
Trang 15Thứ tư, trong thực tế để đáp ứng quyền lợi của gia đình, nghĩa vụ
nuôi dạy, chăm sóc, giáo dục con cái trong suốt thời kì hôn nhân Người vợ,người chồng phải ký rất nhiều hợp đồng với những người khác liên quan đếntài sản riêng của vợ, chồng Do vậy, vợ, chồng sẽ dùng phần tài sản riêng củamình để thỏa mãn những nhu cầu riêng, thực hiện những nghĩa vụ dân sựriêng mà không ảnh hưởng đến chồng hoặc vợ mình Xét ở phương diện nàyquy, định về việc vợ, chồng có quyền có tài sản riêng không những không làmmất đi tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân; trái lại, nó còn góp phầncủng cố và ổn định quan hệ hôn nhân và gia đình Ghi nhận quyền có tài sảnriêng của vợ chồng cũng thể hiện tính linh hoạt và mềm dẻo của pháp luật hônnhân và gia đình khi cho phép vợ, chồng tự quyết định số phận pháp lý của tàisản riêng Vợ, chồng có quyền nhập hay không nhập tài sản riêng vào khối tàisản chung Như vậy, bình thường cuộc sống của vợ chồng hòa thuận, hạnhphúc thì vợ chồng thường không phân biệt tài sản chung, tài sản riêng Trongtrường hợp cần thiết phải phân định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng,quy định về căn cứ xác định của các loại tài sản của vợ chồng mới thực sự có
ý nghĩa khi giải quyết các tranh chấp Nhiều tranh chấp sẽ phát sinh giữa vợ,chồng liên quan đến quyền lợi của những người khác theo từng trường hợp cụthể Do đó, quy định tài sản riêng của vợ, chồng là căn cứ để giải quyết cáctranh chấp về tài sản chung hay tài sản riêng giữa vợ và chồng
Như vậy, việc quy định tài sản riêng của vợ, chồng có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với hệ thống pháp luật nói riêng và đối với sự phát triển của xãhội nói chung; góp phần rất lớn đảm bảo lợi ích của cá nhân bên cạnh lợi íchcủa gia đình Bên cạnh lợi ích của gia đình thì lợi ích của cộng đồng xã hộicũng được đảm bảo và duy trì
1.2 Khái quát chung về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
Trang 161.2.1 Khái niệm về sự hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
1.2.1.1 Khái niệm về quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
Quyền định đoạt là một quyền năng quan trọng trong nội dung quyền
sở hữu Theo quy định tại Điều 195 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì: “Quyền
định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc trừ bỏ quyền sở hữu đó”, quyền định đoạt là một trong ba quyền năng quan trọng của quyền
sở hữu10, quyền định đoạt tài sản được hiểu là quyền quyết định số phận pháp
lý của tài sản; nói như vậy, vì có quyền định đoạt tài sản thì có thể thực hiệncác hành vi để quyết định sự tồn tại của vật Tuy nhiên, việc thực hiện cáchành vi này phải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép; quyền này đượcthể hiện ở hai gốc độ sau:
Thứ nhất, là định đoạt về số phận thực tế của tài sản, tức là chủ
thể có quyền định đoạt tài sản làm cho nó không còn trên thực tế nữa như:Tiêu hủy, dùng hết, hủy bỏ, từ bỏ quyền sở hữu (vứt bỏ hoặc tiêu hủy tài sản).Bằng hành vi của mình, các chủ thể tác động trực tiếp lên tài sản, làm cho tàisản không còn tồn tại nữa Như đã phân tích ở trên, việc thực hiện hành vi nàyphải nằm trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Thứ hai, là định đọat về số phận pháp lý của vật, là việc chuyển
giao quyền sở hữu đối với tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác Thôngthường việc định đoạt pháp lý của tài sản phải thông qua các giao dịch dân sựphù hợp với ý chí của chủ sở hữu Các hình thức định đoạt số phận pháp lý rất
đa dạng, có thể định đoạt đối với tài sản như bán, trao đổi, tặng cho, chuyểnnhượng, góp vốn kinh doanh
Cho nên, chủ thể có quyền định đoạt tài sản thông thường là chính chủ
sở hữu, nhưng trong một vài trường hợp các chủ thể khác cũng có quyền địnhđoạt tài sản khi được chủ sở hữu ủy quyền11 Việc định đoạt tài sản của chủ
quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật
11 Điều 198 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 17thể khác không phải là chủ sở hữu của tài sản đó thì phải tuân theo những điều
kiện quy định tại Điều 196 Bộ luật Dân sự năm 2005 là: “Việc định đoạt tài
sản phải do người có năng lực hành vi dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật Trong trường hợp pháp luật có quy định trình tự, thủ tục định đoạt tài sản thì phải tuân theo trình tự, thủ tục đó” Như vậy quyền định đoạt tài
sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì quyền định đoạt là một
quyền năng của chủ thể sở hữu để quyết định về “số phận” của vật; chủ sở
hữu có quyền chuyển giao quyền từ bỏ quyền sở hữu đó
Tuy nhiên, vấn đề quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng chỉ cóquy định về quyền định đoạt và các căn cứ thực hiện quyền đó, nhưng vẫnchưa có quy định nào làm rõ về khái niệm định đoạt tài sản riêng của vợchồng theo pháp luật hiện hành Vì vậy, qua các phân tích, đánh giá và tổnghợp ở trên thì theo người viết quyền định đoạt tài sản riêng có thể hiểu là:
Quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng là việc vợ, chồng quyết định số phận tài sản riêng thuộc sở hữu của mình mà không cần sự thỏa thuận, đồng
ý của người còn lại.
1.2.1.2 Khái niệm về hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì trongquan hệ hôn nhân vợ chồng đều có quyền sở hữu đối với tài sản, tài sản đó cóthể là tài sản chung hoặc tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng Đối với tài sảnriêng của vợ, chồng, về nguyên tắc, vợ chồng có quyền định đoạt đối với tàisản riêng; vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sảnchung; vợ chồng có quyền quản lý tài sản riêng của mình để tham gia, trongtrường họp vợ, chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không
ủy quyền cho người khác quản lý thì khi đó bên kia có quyền quản lý đó; tàisản riêng của vợ, chồng được đảm bảo thanh toán cho nghĩa vụ về tài sảnriêng của vợ chồng12
Tuy nhiên, do tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân cho nên việcđịnh đoạt tài sản riêng của vợ chồng có thể bị hạn chế, đó là trường hợp tài
12 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Trang 18sản riêng mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đìnhhoặc giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng, thì việc địnhđoạt tài sản riêng đó phải có sự đồng ý, thỏa thuận của chồng, vợ13; Nếukhông có sự đồng ý của người còn lại trong giao dịch liên quan đến tài sản cóhoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy nhất hay đến nhà ở duy nhất của cả gia đìnhthì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật14 Điều này có nghĩa
là người có tài sản riêng bị hạn chế quyền định đoạt tài sản đó: vợ chồngkhông có quyền đơn phương định đoạt tài sản riêng của mình nếu điều đó dẫnđến hậu quả ảnh hưởng đến nguồn sống duy nhất cũng như là nơi ở duy nhấtcủa gia đình; quy định này mang tính nhân đạo và bảo vệ các giá trị đạo đứctruyền thống trong gia đình, là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của vợ chồng vớigia đình Đây là một ngoại lệ của quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đốivới tài sản riêng của vợ hoặc chung
Trên cơ sở phân tích tổng kết từ những quy định của pháp luật về tàisản riêng cũng như về quyền định đoạt tài sản riêng đã đề cập, theo quan điểmcủa người viết khái niệm về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ,
chồng có thể hiểu là: tài sản riêng phát sinh hoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy
nhất của gia đình hay giao dịch liên quan đền nhà là nơi ở duy nhất của gia đình, là những trường hợp do pháp luật quy định; Trong những trường hợp
đó quyền định đoạt tài sản riêng của vợ chồng sẽ bị hạn chế khi hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là nguồn sống duy nhất của gia đình; hay việc xác lập, thực hiện, chăm dứt các giao dịch liên quan đến nhà ở là nơi ở duy nhất của gia đình, thì vợ (chồng) cần phải có sự đồng ý của người còn lại.
1.2.2 Đặc điểm của việc hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của
vợ, chồng
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: đối với tài
14 Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 2005
Trang 19sản riêng của mình thì vợ, chồng được quyền định đoạt tài sản đó15 Quyềnđịnh đoạt đó thể hiện ở chỗ vợ, chồng có thể tự do chuyển giao quyền sở hữutài sản riêng của mình cho chủ thể khác thông qua hợp đồng hoặc thông quagiao dịch một bên; chủ sở hữu còn có thể bằng ý chí, hành vi của mình chấmdứt quyền sở hữu của mình đối với một tài sản nhất định thuộc sở hữu riêngcủa vợ, chồng Pháp luật tôn trọng và bảo vệ quyền định đoạt của chủ sở hữuđối với tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tôn trọng quyền tự do của cá nhân.Quyền tự do định đoạt có thể được thực hiện mà không cần đến sự đồng ý củamột chủ thể khác Tuy nhiên, quyền tự do của cá nhân là cái cá biệt, cái đơnnhất của các cá nhân, nhưng cái cá biệt không thể tồn tại bên ngoài cái chungđược; cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng và thông qua cái riêng Vì vậy,pháp Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định trong quan hệ hôn nhân
vợ, chồng được tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của mình; nhưngquyền tự do định đoạt này lại không luôn được thực hiện nếu quyền này ảnhhưởng đến cuộc sống và lợi ích chung của gia đình Vì thế quyền tự do địnhđoạt trong một số trường hợp sẽ bị hạn chế, chủ sở hữu không thể làm tất cảnhững gì mình muốn một cách tự do nữa mà lúc này bị ràng buộc bởi nhữngquy định của pháp luật cũng như trong mối quan hệ với gia đình Cho nên,quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng trong LuậtHôn nhân và gia đình năm 2014 có những đặc điểm:
Một là, pháp luật nước ta một mặt luôn tôn trọng quyền tự do định
đoạt tài sản riêng của vợ, chồng; mặt khác luôn đặt quyền đó trong một khuônkhổ nhất định, nhằm tạo ra một khung hành lang pháp lý để xác định rõ người
có quyền sở hữu tài sản riêng có quyền gì, những quyền đó bị hạn chế trongnhững trường hợp nào Có thể nói việc pháp luật vừa ghi nhận vừa hạn chếquyền định đoạt tài sản riêng của chủ sở hữu là hai phạm trù đối lập nhaunhững cũng tồn tại thống nhất với nhau: Đối lập ở chỗ một bên là quy định vàbảo đảm quyền tự do định đoạt tài sản riêng được thực hiện, một bên lại hạnchế thực hiện quyền tự do định đoạt ấy; chúng thống nhất ở chổ quy định về
Trang 20quyền tự do và hạn chế định đoạt đều dựa vào bản chất của Nhà nước ta lànhằm bảo vệ quyền tự do của cá nhân, thể hiện sự bình đẳng trong cộng đồng
xã hội Vì vậy, dù cho pháp luật quy định vợ chồng được quyền tự do địnhđoạt tài sản thuộc sở hữu riêng hay hạn chế quyền định đoạt tài sản đó thì đềunhằm mục đích duy nhất là đảm bảo đời sống của các thành viên trong giađình, mang lại lợi ích cho gia đình và xã hội
Cũng giống như quyền định đoạt tài sản riêng được quy định trongLuật Hôn nhân và gia đình hiện hành, thì quy định về hạn chế quyền định đoạttài sản riêng có tài sản riêng thuộc sở hữu duy nhất của người có tài sản đó,nếu không phải là chủ sở hữu duy nhất của tài sản đó thì không nằm trongphạm vi điều chỉnh của điều luật Chủ sở hữu phải có năng lực pháp luật và làchủ thể trong quan hệ Luật Hôn nhân và gia đình
Hai là, quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ bị hạn chế trong một số trường hợpnhất định Khi một bên vợ hoặc chồng thực hiện các giao dịch liên quan đếntài sản riêng thuộc phạm vi điều chỉnh của điều luật thì quy định về hạn chếquyền định đoạt tài sản riêng mới được áp dụng Để trở thành đối tượng điềuchỉnh của điều luật thì tài sản riêng của chủ sở hữu phải là những tài sản mà
có hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình; hay tài sản lànhà là nơi ở duy nhất của gia đình Những tài sản này vợ, chồng phải là tài sảnriêng của một bên vợ hoặc chồng và đã được đưa vào sử dụng chung Khi mộtbên thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến các tài sản này thì không có mộttài sản nào khác để thay thế được, khi đó vợ, chồng là chủ sở hữu tài sản riêngkhông thể tự mình quyết định số phận của tài sản đó được mà cần có sự đồng
ý của người còn lại
Ba là, để những tài sản riêng có hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống
duy nhất của gia đình; hay tài sản là nhà là nơi ở duy nhất của gia đình có thểtham gia vào giao dịch dân sự với người thứ ba, hay chủ sở hữu thực hiện cácgiao dịch liên quan đến sự tồn tại của tài sản thì cần phải có sự đồng ý của vợ,
Trang 21chồng Quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng sẽ bị
gỡ bỏ nếu một bên vợ chồng đồng ý với ý kiến đã nêu của chủ sở hữu tài sảnriêng đối với số phận của tài sản Sự đồng ý đó nếu pháp luật buộc phải tuântheo hình thức nhất định thì phải tuân theo quy định pháp luật Trong trườnghợp chưa có sự đồng ý của một bên vợ (chồng) mà chủ sở hữu thực hiện gaiodịch với người thứ ba liên quan đến tài sản đó thì giao dịch đó sẽ bị Tòa ántuyên là vô hiệu theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự năm 200516
1.2.3 Lược sử quá trình phát triển của việc ghi nhận hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng trong pháp luật hôn nhân gia đình nước ta
1.2.3.1 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959
Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội Khóa I
Kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 32/12/1959 và Chủ tịch nước ký lệnh công bố
ngày 01/01/1960 Điều 24 Hiến pháp quy định: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình” Từ quy định mang tính nguyên tắc đó, các giải pháp chi tiết của vấn đề
hoàn thiện chế độ hôn nhân và gia đình đã được xây dựng và ghi nhận tại LuậtHôn nhân và gia đình năm 1959 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 đầutiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Quốc hội thông qua vàongày 29/12/1959 và được công bố ngày 13/01/1960, một trong những đạo luậtđược ban hành sớm nhất giữ vị trí quan trọng trong hệ thống pháp luật ViệtNam17
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 là công cụ pháp lý của Nhà nước
ta được xây dựng và thực hiện với hai nhiệm vụ cơ bản là: xóa bỏ những tàntích của chế độ phong kiến lạc hậu, xây dựng chế độ hôn nhân gia đình mới xã
hội chủ nghĩa: “hạnh phúc, dân chủ và hòa thuận, trong đó mọi người đoàn
chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
nhân dân, Hà Nội, năm 2007, Tr.118-116
Trang 22kết thương yêu nhua giúp đỡ nhau tiến bộ” 18
Ở miền Nam, sau năm 1945, nhà nước chế độ cũ cũng đã ban hành một sốvăn bản điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình:
- Luật Gia đình ngày 02/01/1959
- Sắc lệnh 15/64 ngày 23/07/1964
- Bộ dân luật ngày 2012/1972
Những văn bản pháp luật mà quy định bãi bỏ chế độ đa thê, song quan hệ
vợ chồng vẫn là sự bất bình đẳng, người vợ phụ thuộc vào người chồng.Trong gia đình vai trò của người chồng là quyết định Về tài sản, người chồng
là người quản lý tài sản chung và riêng của hai vợ chồng: “Người chồng quản
trị tài sản cộng đồng và tài sản riêng của hai vợ chồng Nếu người chồng không có năng lực pháp lý, thất tung, đi xa lâu ngày hay bị cản trở vì một duyên cớ chánh đáng nào khác người vợ sẽ thay thế trong quyền quản trị” 19
Về quan hệ vợ, chồng: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy địnhquyền bình đẳng giữa vợ và chồng, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quýtrọng, chăm sóc lẫn nhau, v.v , vợ chồng có quyền thừa kế tài sản của nhau
Do hầu hết các tư liệu sản xuất đều thược sở hữu Nhà nước hoặc được tập thểhóa, sở hữu tư nhân chỉ bao gồm các tư liệu tiêu dùng, vợ chồng hầu như chỉ
có các tài sản phục vụ nhu cầu sinh hoạt Để bảo vệ quyền lợi chính đáng củangười vợ trong quan hệ gia đình về tài sản, trong bối cảnh đấu tranh xóa bỏtàn dư của chế độ phong kiến Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định:
“vợ chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”20; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 khôngquy định về việc vợ, chồng có quyền có tài sản riêng mà tất cả tài sản sản cótrước và sau khi kết hôn đều là tài sản chung Như vậy, Luật Hôn nhân và giađình 1959 chỉ quy định một chế định về tài sản của vợ, chồng đó là tài sảnchung hợp nhất Điều đó nhằm xóa bỏ sự bất bình đẳng giữa nam và nữ, bảo
18 Điều 1 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959
Trang 23vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia đình Khi hôn nhân được xác lập,không kể tài sản có được từ nguồn gốc nào đều được coi là tài sản chung của
vợ chồng và từ đó mỗi bên vợ hoặc chồng không còn tài sản thuộc sở hữuriêng
1.2.3.2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
Sau ngày 30/04/1975, đất nước ta đã hoàn toàn giải phóng, Quốchội khóa 11 trong kỳ họp thứ nhất tháng 7 năm 1976 đã quyết định đặt tên
nước là “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Với nhà nước thống
nhất nên đòi hỏi pháp luật phải có sự thống nhất, ngày 25/03/1977, Hội đồngChính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76-CP quy định về việc thực hiện thốngnhất pháp luật trên toàn quốc Ngày 18/12/1980 Quốc hội khóa VI đã chínhthức thông qua Hiến pháp mới làm nền tảng cho bước phát triển mới của đấtnước
Hiến pháp năm 1980 tiếp tục khẳng định: Phụ nữ và nam giới cóquyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.Nhà nước có chính sách lao động phù hợp với điều kiện của phụ nữ Phụ nữ
và nam giới việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau; Gia đình là tế bàocủa xã hội; Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình Hôn nhân theo nguyên tắc
tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng Trên cơ sở kếthừa các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, nhưng có sửađổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế của đất nước và yêu cầu đặt ra
từ xã hội Ngày 29/12/1986 Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Hôn nhân
và gia đình năm 1986 để thay thế luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959.Luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 khẳng định: Gia đình là tế bào của
xã hội Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Tronggia đình xã hội chủ nghĩa, vợ chồng bình đẳng, thương yêu, giúp đỡ nhau tiến
bộ, tham gia tích cực vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổquốc, cùng nhau nuôi dạy con cái thành những công dân có ích cho xã hội.Đối với quan hệ vợ chồng, Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 khẳng định:
Trang 24“Vợ, chồng có nghĩa vụ chung thủy với nhau, thương yêu, quý trọng, chăm
sóc, giúp đỡ nhau tiến bộ, cùng nhau thực hiện sinh đẻ có kế hoạch ” 21 Điều
16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã thừa nhận quyền có tài sản riêng
của vợ, chồng: “Đối với tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài
sản được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản riêng của vợ chông” 22 Như vậy Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã ghi nhậnquyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản riêng bên cạnh quyền sở hữuchung của vợ, chồng Tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng bao gồm:Những tài sản mà vợ hoặc chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kếriêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kì hôn nhân Xét về bản chất nhữngloại tài sản này phải do lao động của vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân
Vì vậy, nó thuộc sở hữu riêng của mỗi bên vợ, chồng Vợ, chồng có quyềnđộc lập trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình,không phụ thuộc vào người kia Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền sởhữu của nhau23; cần thừa nhận rằng, tài sản riêng của vợ, chồng trước hết là
để giúp cho vợ, chồng thực hiện nghĩa vụ riêng về tài sản mà không phụ thuộc
và ảnh hưởng đến kinh tế chung của gia đình Song trong cuộc sống chung,
vợ, chồng có nghĩa vụ giúp đỡ, chăm sóc lẫn nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôidạy các con trưởng thành Điều đó đòi hỏi vợ, chồng phải cùng chung côngsức, ý chí, tình cảm để thực hiện đầy đủ và tốt nhất trách nhiệm của mìnhcũng đồng thời nhằm thỏa mãn nhu cầu tình cảm, tinh thần của chính mình
Do đó trong trường hợp tài sản chung không đủ thì vợ, chồng có tài sản riêng
có nghĩa vụ đóng góp tài sản của mình vào khối tài sản chung nhằm đáp ứngnhu cầu thiết yếu của gia đình Việc đóng góp tài sản riêng của mỗi bên vợ,chồng vào đời sống chung của gia đình khi gặp khó khăn thường xuất phát từ
ý thức tự nguyện, tự giác trên cơ sở đạo đức, do tình cảm yêu thương gắn bó
21 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
22 Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986
10/2002, Tr 57-61
Trang 25lẫn nhau giũa cha mẹ với con cái và giữa vợ chồng với nhau Tuy nhiên khôngphải lúc nào vợ, chồng cũng đều gắn bó, tự nguyện gánh chịu trách nhiệm đóbằng tài sản riêng của mình Điều đó đòi hỏi về đạo đức và cả về nghĩa vụpháp lý Vì thế, tuy là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 đã quy định vềquyền có tài sản riêng của mỗi bên vợ, chồng nhưng lại chưa quy định rõ ràng
vợ, chồng có tài sản riêng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng của mình để đảmbảo những nhu cầu thiết yếu của gia đình và thực hiện những nghĩa vụ chung
về tài sản trong trường hợp tài sản chung không đủ đáp ứng Vì vậy Luật Hônnhân và gia đình năm 1986 chỉ mới bước đầu quy định về quyền sở hữu tàisản riêng của vợ, chồng nhưng những quy định về tài sản liên quan đến nghĩa
vụ, cùng như trách nhiệm về tài sản riêng đối với cuộc sống chung của giađình vẫn chưa đề cập đến Cho nên vẫn chưa có ghi nhận về quy định hạn chếđịnh đoạt tài sản riêng của vợ chồng nhằm mục đích ràng buộc trách nhiệmcủa vợ, chồng đối với đời sống chung của gia đình
1.2.3.3 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 sữa đổi, bổ sung năm 2010
Xuất phát từ vị trí của gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi thânyêu nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng giáo dục nếp sống vàhình thành nhân cách, xây dựng con người mới, đưa con người tham gia tíchcực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và để khẩn trương nghiên cứusữa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình nhằm mục tiêuxây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, bình đẳng và hạnh phúc, Chínhphủ đã có chỉ thị về việc tổng kết việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 1986, trình Quốc hội, xem xét, quyết định sữa đổi luật này24 Ngày09/06/2000, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Hôn nhân và gia đình mớithay thế Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 xác định nhiệm vụ: Góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế
độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho cách ứng
Hôn nhân và gia đình 1986
Trang 26xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thông đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Hiến pháp 1992 Hiến pháp này đã được Quốc hội nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 11 nhất trí thôngqua trong phiên họp ngày 15 tháng 4 năm 1992, tại Điều 57 của Hiến phápquy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật
So với luật Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 đã bổ sung thêm những quy định mới về quan hệ vợ chồng:Liên quan đến nghĩa vụ và quyền nhân thân của vợ và chồng; liên quan đếnnghĩa vụ và quyền tài sản của vợ, chồng Điều 32 của Luật Hôn nhân và giađình năm 2000 căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng rộng hơn, cụ thể hơn
so với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 tài sản riêng của vợ chồng baogồm:
“1.Vợ, chồng có quyền có tài sản riêng Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 và Điều 30 của Luật này; đồ dùng, tư trang cá nhân.
2.Vợ, chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào khối tài sản
chung”.
Đặc biệt là những điều luật quy định về chế độ tài sản riêng của vợ
chồng cũng như việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản riêng trong thời kìhôn nhân để thực hiện kinh doanh riêng cũng như việc quy định vợ chồng cóquyền có tài sản riêng riêng và toàn quyền trong vệc định đoạt tài sản riêng
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về việc chiếm hữu, sử
dụng, định đoạt tài sản riêng:
“1 Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 5 Điều này.
Trang 272 Vợ, chồng tự quản lý tài sản riêng; trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó.
3 Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.
4 Tài sản riêng của vợ, chồng cũng được sử dụng vào các nhu cầu thiết yếu của gia đình trong trường hợp tài sản chung không đủ để đáp ứng.
5 Trong trường hợp tài sản riêng của vợ hoặc chồng đã được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng”
Như vậy việc quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng trong quan
hệ hôn nhân ngày càng được quy định một cách cụ thể và chi tiết hơn LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định vợ chồng có quyền chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình Đồng thời cũng xuất phát từ yêucầu chung của xã hội là đảm bảo cuộc sống ổn định cho tất cả các công dân
Vì vậy cũng kế thừa Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2000 cũng quy định về quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng.Trong đó ngoại lệ về quyền định đoạt tài sản riêng được ghi nhận tại khoản 4
và khoản 5 Điều 33 luật này Bên cạnh đó, hình thức của việc xác lập, thựchiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ, chồng được
quy định tại Khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghi định 70/2001/NĐ-CP như sau:
“1 Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch
dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến định đoạt tài sản thuộc
sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định giao dịch đó phải tuân theo hình thức nhất
Trang 28định, thì sự thoả thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực )
2 Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thoả thuận bằng văn bản của vợ chồng”
Việc quy định hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ chồng trong LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000 là điểm mới hơn so với Luật Hôn nhân và giađình năm 1986 đó là căn cứ pháp lý giúp Tòa án có giải quyết những vụ tranhchấp liên quan đến quyền sở hữu tài sản riêng của vợ chồng Tuy nhiên, trongthực tế cuộc sống gia đình, để có hạnh phúc trọn vẹn thì giữa hai bên vợchồng không nhất thiết phải phân định quá rạch rồi vấn đề tài sản này là củariêng hay chung; chỉ nên áp dụng vào những trường hợp thật cần thiết; để gópphần xây dựng một gia đình hạnh phúc
1.2.3.4 Luật Hôn nhân gia đình 2014
Hiến pháp năm 1992 được ban hành trong bối cảnh những năm đầuthực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng (năm 1986) đề ra và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đấtnước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 Hiến pháp năm
1992 đã tạo cơ sở chính trị – pháp lý quan trọng cho việc thực hiện công cuộcđổi mới Qua 20 năm thực hiện Hiến pháp năm 1992, đất nước ta đã đạt đượcnhững thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử25 Trong đó, hệ thống văn bản phápquy hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã bảo đảm cho
25 Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 – Uỷ ban dự thảo
Trang 29Luật Hôn nhân và gia đình đi vào cuộc sống, thống nhất trong áp dụng phápluật, quyền, lợi ích hợp pháp của người dân về hôn nhân và gia đình đượcthực hiện và bảo vệ Tuy nhiên, một số quy định của Luật Hôn nhân và giađình còn chậm được hướng dẫn thi hành hoặc các văn bản hướng dẫn thi hànhvẫn còn chung chung, chưa cụ thể, dẫn tới có nhiều cách hiểu khác nhau trongthực tiễn áp dụng Do đó, hiệu quả áp dụng các văn bản quy phạm pháp LuậtHôn nhân và gia đình chưa cao Về chế độ tài sản của vợ chồng, Luật Hônnhân và gia đình năm 2000 chỉ dự liệu một chế độ tài sản pháp định Theo đó,Luật quy định chung cho tất cả các cặp vợ chồng về căn cứ xác định tài sảnchung, tài sản riêng, về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng và về phân chia tàisản của vợ chồng khi ly hôn Về nguyên tắc, đây là chế độ tài sản trong hônnhân duy nhất được pháp luật thừa nhận Việc áp đặt một chế độ tài sản tronghôn nhân như vậy là cứng nhắc, không đáp ứng được những nhu cầu khácnhau của các cặp vợ chồng trong việc thực hiện các quan hệ tài sản Thực tế,quy định của Luật, một mặt, không đảm bảo được quyền tự định đoạt củangười có tài sản được quy định trong pháp luật dân sự (Quyền về tài sản làquyền cơ bản của cá nhân được Hiến pháp, Bộ luật Dân sự bảo hộ: mỗi cánhân có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu củamình theo ý chí của mình, miễn sao không xâm phạm lợi ích của người khác,không trái với đạo đức xã hội), mặt khác, không phù hợp với hoàn cảnh của
từng cặp vợ chồng, từng gia đình “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”, nhất
là đối với những trường hợp vợ, chồng có nhiều tài sản riêng, tiến hành cáchoạt động kinh doanh, thương mại mà cần có một chế độ tài sản trong hônnhân phù hợp26
Chính vì vậy, kế thừa và phát triển những điểm tiến bộ trong Hiến pháp
1992 và Hiến pháp năm 2013 được thông qua tại kỳ họp thứ 6 - Quốc hộikhóa XIII gồm 11 chương, 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiếnpháp năm 1992) có hiệu lực từ ngày 1-1-2014 Hiến pháp 2013 có nhiều điểm
2000
Trang 30mới cả về nội dung và kỹ thuật lập hiến; thể hiện rõ và đầy đủ hơn bản chấtdân chủ, tiến bộ của Nhà nước và chế độ ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội Theo khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013: “mọi người có quyền sở
hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác” Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 bên cạnh việc quy định chế độ
tài sản theo pháp định còn bổ sung thêm chế độ tài sản ước định; Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014 quy định cụ thể như sau: “vợ chồng có quyền lựa
chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”27 Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏathuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức vănbản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏathuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn28 Đối với tài sản riêng của vợchồng: Quy định cụ thể tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồngcũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêngtrong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và
khoản 1 Điều 40 của Luật này; Bên cạnh đó, nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ,
chồng, như: Nghĩa vụ của mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn; nghĩa vụphát sinh từ việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng; trừ trường hợpnghĩa vụ phát sinh trong việc bảo quản, duy trì, tu sửa tài sản riêng của vợ,chồng theo quy định tại khoản 4 Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014: “Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài
sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ”; hoặc quy định tại khoản 4 Điều 37
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Nghĩa vụ phát sinh từ việc sử dụng tài
sản riêng để duy trì, phát triển khối tài sản chung hoặc để tạo ra nguồn thu
chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn
Trang 31nhập chủ yếu của gia đình” của Luật này Đây là quy định mang tính ngoại lệ
về quyền định đoạt đối với tài sản riêng của vợ chồng mà Luật Hôn nhân vàgia đình năm 2014 kế thừa và phát triển bên cạnh những quy định củ của LuậtHôn nhân và gia đình năm 2000
1.2.3 Ý nghĩa của quy định pháp luật về hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng
Việc thừa nhận vợ chồng có quyền sở hữu riêng về tài sản là phùhợp với tình hình kinh tế - xã hội hiện nay khi nền kinh tế của nước ta ngàycàng mở rộng cả về số lượng và quy mô sản xuất kinh doanh Ngoài việc đảmbảo cho vợ, chồng thực hiện những nghĩa vụ riêng về tài sản một cách độc lập,quyền sở hữu riêng về tài sản tạo ra khả năng để vợ, chồng chủ động tham giavào các hoạt động sản xuất kinh doanh mà không làm ảnh hưởng đến tài sảnchung, lợi ích chung của gia đình Bên cạnh đó, Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2014 quy định việc hạn chế định đoạt tài sản riêng của vợ, chồng là mộtquy định mang tính ngoại lệ của quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồngtrong điều kiện kinh tế xã hội của Nhà nước ta cũng mang lại những ý nghĩanhất định:
Quy định về hạn chế quyền định đoạt tài sản riêng của vợ, chồngmang tính nhân đạo và bảo vệ các gia trị truyền thống đạo đức trong gia đình,không cho phép cá nhân vợ hoặc chồng vì lợi ích riêng mà làm thiếu tráchnhiệm đối với gia đình Bởi vì, trong nhiều gia đình người phụ nữ không cótài sản riêng, cuộc sống gia đình phải phụ thuộc vào khối tài sản chung của vợchồng tạo lập trong thời kỳ hôn nhân; đôi khi cuộc sống của gia đình gặpnhiều khó khăn vì tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiếtyếu của gia đình Vì thế quy định này nhằm ngăn chặn hành vi có tính chất giatrưởng từ người chồng, tránh cho phụ nữ và trẻ em lâm vào hoàn cảnh phụthuộc vào người chồng, vào cha và để đảm bảo cuộc sống cho gia đình
Cuộc sống của vợ, chồng đòi hỏi sự gắn kết lâu dài, bền vững, hạnhphúc Trách nhiệm vun đắp, xây dựng hạnh phúc gia đình, nghĩa vụ chăm sóc
Trang 32lẫn nhau, nuôi dưỡng giáo dục con cái vì lợi ích của xã hội thuộc về cả hai vợchồng Nếu tài sản đã đưa vào vào sử dụng chung khi phát sinh hoa lợi, lợi tứchay khi xác lập, thực hiện các giao dịch thuộc sở hữu khối tài sản riêng đó lạiảnh hưởng đến đời sống chung của gia đình; khi đó vợ, chồng không thể bỏmặc lợi ích chung của gia đình muốn ra sao thì ra cũng được Xét về chuẩnmực đạo đức xã hội và các nghĩa vụ pháp lý theo quy định pháp luật; thì vợ,chồng phải sử dụng tài sản riêng của mình đảm bảo cho cuộc sống chung củagia đình là hoàn toàn hợp lý Như vậy, pháp luật ghi nhận việc hạn chế quyềnđịnh đoạt tài sản riêng của vợ chồng đã đóng góp một phần vào việc đảm bảolợi ích chung của gia đình và cũng là lợi ích chung của toàn xã hội, vì gia đình
là tế bào của xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Sự tồn tại bền vững của giađình là cơ sở tạo cho xã hội ổn định và phát triền và cũng góp phần thúc đẩynền kinh tế của Nhà nước ta ngày càng phát triển
CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TÀI SẢN RIÊNG VÀ
VIỆC HẠN CHẾ QUYỀN ĐỊNH ĐOẠT TÀI SẢN RIÊNG THEO
Trang 33LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2014
Trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội, mỗi chế độ xã hội đều quyđịnh một chế độ xã hội giữa vợ chồng cho phù hợp với phong tục, tập quán vàhoàn cảnh xã hội Trong Bộ Dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung kỳ
1936 đã quy định cho vợ chồng được tự do lập hôn ước trước khi kết hôn, chế
độ tài sản pháp định chỉ đặt ra khi vợ chồng không lập hôn ước Theo chế độ này,tài sản chung của vợ chồng bao gồm tất cả của cải, hoa lợi của chồng cũng nhưcủa vợ, không kể tài sản đó được có trước, được tạo ra trước hay trong thời kỳhôn nhân
Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 của Nhà nước ta đã quyđịnh chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ cộng đồng toàn sản, toàn bộ tài sản do
vợ, chồng có được hoặc tạo ra từ trước khi kết hôn hay trong thời kỳ hôn nhân đềuthuộc tài sản chung của vợ chồng
Đối với Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, do được ban hành vàothời kỳ đầu của sự nghiệp đổi mới, lần đầu ghi nhận vợ, chồng có tài sản riêng, đây
là bước đột phá mới, công nhận quyền tự do định đoạt tài sản của cá nhân Theo
Điều 16 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 thì: "Đối với tài sản mà vợ hoặc
chồng có trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng hoặc được cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì người có tài sản đó có quyền nhập hoặc không nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng" Quy định này có tính chất "mở", "tùy nghi",
cho phép vợ, chồng lựa chọn trong việc nhập hay không nhập tài sản riêng củamình vào khối tài sản chung của vợ chồng29 Khoản 1 Điều 32 Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã ghi nhận với tính chất chắc chắn, khẳng định: "Vợ,
chồng có quyền có tài sản riêng" Đây là quy định nhằm bảo đảm cho vợ
chồng có thể thực hiện các nghĩa vụ về tài sản một cách độc lập, không phụthuộc vào ý chí của bên kia Điều 32, Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2000 đã quy định chế độ sở hữu đối với tài sản riêng của vợ, chồng cụ thể hơn, đãtạo được cơ sở pháp lý thống nhất trong thực tế áp dụng
Qua quá trình áp dụng và thực hiện pháp luật vào thực tế, Luật Hôn nhân
29 Giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình, Tập 2, Khoa Luật, Đại học Cần Thơ, năm 2012
Trang 34và đình Việt Nam năm 2000 đã đạt được thành tựu nhất định, bên cạnh đó cũngcòn nhiều khó khăn cần phải khắc phục Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
ra đời, Điều 43 của luật này đã công nhận quyền có tài sản riêng của vợ, chồng.Bao gồm: Những căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng; cũng như quyền
và nghĩa vụ của vợ, chồng khi thực hiện quyền sở hữu đối với tài sản riêng; bêncạnh đó luật cũng ghi nhận ngoại lệ trong quy định về quyền định đoạt tài sảnriêng của vợ, chồng
2.1 Quy định của pháp luật về tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014
2.1.1 Căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng
Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“1 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước
khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39
và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
2 Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời
kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này”.
Như vậy, theo điều luật trên, để xác định một tài sản nào đó là tài sảnchung của vợ chồng hay là tài sản riêng của vợ hoặc chồng phải căn cứ vàohai dấu hiệu: Thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc tài sản Thời kỳ hôn nhânđược quy định tại khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân”, có thể hiều là: được tính
từ khi hai bên nam nữ được ủy ban nhân dân cấp giấy chứng nhận kết hônđến khi hôn nhân chấm dứt do vợ chồng ly hôn theo bản án, quyết định có
Trang 35hiệu lực pháp luật của Tòa án30; hoặc do một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên
bố là đã chết Xác định nguồn gốc tài sản là xác định tài sản do đâu mà có:
Từ hợp đồng tặng cho, mua bán hay để thừa kế Như vậy, quy định tại Điều
43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã đưa ra các căn cứ xác định tàisản riêng của vợ, chồng là dựa vào thời kỳ hôn nhân và nguồn gốc của cácloại tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng Những quy định này có ýnghĩa rất quan trọng, là cơ sở để đảm bảo quyền và nghĩa vụ của vợ, chồngđối với tài sản riêng
2.1.1.1 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng có trước khi kết hôn
Trước khi kết hôn: là thời điểm chưa phát sinh quan hệ vợ chồngcủa hai bên nam nữ, giữa họ chưa có mối quan hệ về tài sản Do đó, họ cótoàn quyền sở hữu khối tài sản mà họ có được do lao động, hoạt động sản cuấtkinh doanh hoặc được tặng cho, thừa kế; đó là quyền cơ bản của công dânđược quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 32 Hiến pháp năm 2013:
“1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.
2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.”
Trước khi kết hôn vợ chồng đều là những chủ thể độc lập với các quyền
và nghĩa vụ hoàn toàn không có sự ràng buộc pháp lý trong mối quan hệ hônnhân và gia đình bằng tài sản và họ tạo ra được là tài sản riêng là một quyđịnh hợp lý Tài sản riêng có được trước khi kết hôn có thể là tài sản thu nhập
do lao động; do chính công sức của vợ, chồng tạo ra theo tính chất nghềnghiệp hay công việc của mình; cũng có thể tài sản đó có được do chuyểnquyền sở hữu của mình cho vợ, chồng thông qua các giao dịch dân sự31
Ví dụ: đầu năm 2013 Hùng dùng tiền thưởng cuối năm của mình để
mua một chiếc xe ô tô, giấy đăng ký quyền sở hữu ghi tên Hùng; năm 2014
30 Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự
Trang 36Hùng kết hôn; đến cuối năm 2014 Hùng lại làm thủ tục ly hôn Vậy khi chiatài san ly hôn thì sẽ ô tô vẫn là tài sản riêng của Hùng Bởi vì xe ô tô là Hùngdùng tiền riêng của mình để mua trước khi kết hôn và giấy đăng ký quyền sởhữu xe vẫn chỉ đứng tên Hùng.
Ngoài ra, do vợ, chồng trước khi kết hôn với tư cách là cá nhân, theoquy định của pháp luật dân sự mà vợ, chồng có thể xác lập quyền sở hữu củamình đối với những tài sản phát sinh, dựa trên các căn cứ được quy định từ Điều
233 đến Điều 247 của Bộ luật Dân sự 2005 về việc xác lập quyền sở hữu đối vớitài sản có được do lao động; do hoạt động sản xuất kinh doanh hợp pháp theoĐiều 233 của Bộ luật Dân sự 2005; xác lập quyền sở hữu thông qua các hợpđồng mua bán, tặng cho, trao đổi, cho vay theo Điều 234 của Bộ luật Dân sự2005; xác lập quyền sở hữu đối với các hoa lợi, lợi tức tại (Điều 235 của Bộluật Dân sự 2005); xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xácđịnh được chủ sở hữu (Điều 239 của Bộ luật Dân sự 2005); xác lập quyền sởhữu đối với vật nuôi dưới nước (Điều 244 của Bộ luật Dân sự 2005); xác lậpquyền sở hữu do được thừa kế (Điều 245 của Bộ luật Dân sự 2005); xác lậpquyền sở hữu theo bản án, quyết định của Tòa án hoặc theo quyết định của cơquan nhà nước có thẩm quyền khác (Điều 246 của Bộ luật Dân sự 2005); xáclập quyền sở hữu theo thời hiệu (Điều 247 của Bộ luật Dân sự 2005)
Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm những tài sản mà vợ, chồng có
từ trước khi kết hôn là một quy định được pháp luật về hôn nhân và gia đìnhcủa nhiều nước ghi nhận (Pháp, Thái Lan, Nhật Bản ) Pháp Luật về Hônnhân và gia đình Việt Nam quy định như vậy là phù hợp với sự phát triển kinh
tế xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ quyền sở hữu cá nhân của vợ, chồng,
là căn cứ pháp lý vững chắc bảo đảm khối tài sản riêng của vợ, chồng khi cótranh chấp về tài sản giữa vợ chồng trong thực tế
2.1.1.2 Tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi bên vợ, chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân
Theo căn cứ xác lập tài sản riêng của vợ chồng thì dựa vào nguồn gốc
Trang 37tài sản và thời điểm xác lập quyền sở hữu, những tài sản mà vợ, chồng được thừa
kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thuộc quyền sở hữu riêngcủa vợ, chồng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định những tài sảnnày thuộc khối tài sản riêng của vợ, chồng nhằm bảo đảm quyền tự định đoạtcủa các chủ sở hữu tài sản, theo quy định của pháp luật dân sự, chuyển dịchtài sản của mình cho mỗi bên vợ, chồng được hưởng Bởi lẽ, ý chí của chủ sởhữu chỉ tặng cho riêng, hoặc để lại di chúc trước khi chết cho vợ (chồng) đượchưởng di sản của họ, chứ không phải cho chung cả hai vợ chồng Trong thực
tế, những tài sản mà vợ, chồng được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳhôn nhân thường do những người có cùng huyết thống, những người thân thuộc,bạn bè của vợ, chồng định đoạt theo ý chí của họ cho mỗi bên vợ, chồng được
hưởng giá trị khối tài sản đó Ví dụ: Có thể những tài sản đó do cha, mẹ tặng cho
riêng con trong ngày cưới; cha mẹ chồng, vợ khi chết đã để lại di chúc, chỉ chocon mình là người chồng, vợ được hưởng khối di sản mà họ để lại
Mặc dù pháp luật đã quy định căn cứ xác định tài sản riêng của vợchồng nhưng trong thực tế xét xử thì việc xác định tài sản riêng của vợ chồngthường không rõ ràng, điều này xuất phát từ tính chất đặc biệt của quan hệhôn nhân Khi vợ chồng yêu thương nhau thì thường không có sự phân biệt rõràng trong việc sử dụng tài sản chung, tài sản riêng Vì vậy, có thể vợ hoặcchồng có tài sản riêng, đã tự nguyện nhập vào khối tài sản chung và tài sản đóđược sử dụng chung nhưng lại không có giấy tờ, văn bản nào chứng minh việcnhập tài sản riêng vào tài sản chung Đến khi có mâu thuẫn và có yêu cầu lyhôn thì người có tài sản lại nói rằng họ chưa nhập tài sản đó vào khối tài sảnchung của vợ chồng Khi có tranh chấp, việc giải quyết các trường hợp nàygặp rất nhiều khó khăn, thường phải dựa vào đặc tính tâm lý của vợ hoặcchồng vào thời điểm nhập tài sản và thực tế việc sử dụng tài sản đó như thếnào để có nhận định đúng đắn
Thực tế việc xác định tài sản mà vợ hoặc chồng được tặng cho riêngtrong thời kỳ hôn nhân cũng rất phức tạp và thường sinh ra nhiều tranh chấp
Trang 38Theo tập quán của người Việt Nam, người tặng cho tài sản không thực hiệnhợp đồng tặng cho bằng văn bản mà chỉ thông qua hợp đồng miệng Cũng cótrường hợp hợp đồng tặng cho thực hiện bằng văn bản nhưng trong đó chỉ ghi
tên vợ hoặc chồng trong khi người tặng cho tài sản lại "tuyên bố" là cho chung
vợ chồng Thậm chí có trường hợp người tặng cho tài sản trao tài sản cho mộtbên vợ hoặc chồng mà không có mặt bên kia nhưng trong ý thức của ngườitặng cho tài sản lại không phải là chỉ muốn tặng cho riêng người đó mà là
muốn cho chung vợ chồng vì họ cho rằng "của chồng công vợ" Đây cũng là
một trong những vấn đề luật cần dự liệu cụ thể
2.1.1.3 Tài sản riêng của vợ, chồng gồm những tài sản mà vợ, chồng được chia khi chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
Tài sản chung của vợ, chồng được hình thành khi quan hệ hôn nhân
được xác lập, tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợpnhất; hình thức sở hữu này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt Dotính chất đặc biệt của gia đình đòi hỏi giữa vợ, chồng phải có một lượng tàisản nhất định để đảm bảo nhu cầu của gia đình cũng như xây dựng một giađình hạnh phúc
Trên cơ sở đó khoản 1 Điều 33 của Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định tài sản chung của vợ, chồng bao gồm: “Tài sản chung của
vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung; quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng” Vợ
chồng có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
Trang 39chung32 Tuy nhiên, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014thì tài sản chung của vợ chồng cũng có thể được chia trong các trường hợp sauđây:
- Chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn
- Chia tài sản khi một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố chết
- Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trường hợp đặc biệt củaLuật Hôn nhân và gia đình Việt Nam được ghi nhân từ Luật Hôn nhân và giađình năm 1986, năm 2000 và năm 2014 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
đã quy định hình thức cũng như cách thức phân chia tài sản chung trong thời
kỳ hôn nhân một cách cụ thể hơn, đã bỏ đi điều kiện để phân chia tài sảnchung như quy định của luật Hôn nhân và gia đình năm 200033, thay vào đóĐiều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc chia tài sảnchung trong thời kỳ hôn nhân:
“1 Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần
hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
2 Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.
3 Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cho thấyrằng: vợ chồng có quyền thỏa thuận chia toàn bộ khối tài sản chung hợp nhất
mà vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân tính đến thời điểm chia tài sản
32 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thoả thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thoả thuận được thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết
Trang 40chung; hoặc trong nhiều trường hợp có thể thỏa thuận chia hoặc yêu cầu Tòa
án chia một phần tài sản hoặc một nhóm tài sản nhất định mà không thỏathuận hoặc yêu cầu chia toàn bộ khối tài sản chung34 Việc chia tài sản chungcủa vợ chồng có thể thông qua thỏa thuận bằng văn bản giữa vợ và chồng,hoặc bản án, quyết định của Tòa án; trong trường hợp vợ chồng không thỏathuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết, trong trường hợp vợchồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồngtrong thời kỳ hôn nhân sẽ được tiến hành chia theo quy định tại Điều 59 củaLuật Hôn nhân và gia đình năm 2014 - tức là áp dụng các nguyên tắc về chiatài sản khi ly hôn – việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân này sẽđược áp dụng như trong trường hợp chia tài sản chung khi ly Như vậy, việcchia tài sản chung của vợ chồng có thể được giải quyết theo thỏa thuận của vợchồng hoặc bằng con đường Tòa án
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bổ sung quy định mới tại Điều
39 về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ, chồng trongthời kỳ hôn nhân:
“1 Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.
2 Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.
3 Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
4 Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh
Nghiên cứu lập pháp, số 10 (216)/ tháng 5/ 2012, Tr.51-56