1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12

124 1K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của liên tưởng và tưởng tượng trong dạy học văn cũng được tác giả Nguyễn Duy Bình khẳng định: "Quá trình dạy tác phẩm văn học chỉ có thể thực hiện một cách có hiệu lực thật sự kh

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐINH THỊ THANH THỦY

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

ĐINH THỊ THANH THUỶ

RÈN KĨ NĂNG LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG DẠY HOC

TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN CHUYÊN NGHÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC (BỘ MÔN NGỮ VĂN)

Mã số: 60 14 10

Người hướng dẫn khoa học: T.S Nguyễn Trọng Hoàn

HÀ NỘI – 2012

Trang 3

v

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục viết tắt ii

Danh mục các bảng iii

Danh mục biểu đồ, đồ thị iv

Mục lục v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1 Cơ sở lý luận của đề tài 12

1.1.1 Lý thuyết tiếp nhận văn học 12

1.1.2 Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng 15

1.1.3 Những điều cần chú ý trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình……….…24

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 30

1.2.1 Thực trạng rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay 30

1.2.2 Thực trạng về hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường trung học phổ thông hiện nay 33

Chương 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG LIÊN TƯỞNG, TƯỞNG TƯỢNG TRONG DẠY HỌC TÁC PHẨM THƠ TRỮ TÌNH LỚP 12………40

2.1 Cơ sở của việc đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12……….40

2.1.1 Đối tượng của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng trong giờ đọc văn…… 40

2.1.2.Mục đích liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn……….…42

2.1.3 Phương thức liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn…….44

2.1.4 Cơ chế liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ đọc văn… 47

2.1.5 Giới hạn của liên tưởng, tưởng tượng và vấn đề định hướng thẩm mỹ cho học sinh……… ……….49

Trang 4

vi

2.2 Điều kiện để thực hiện một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng

trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12……….51

2.2.1 Chuẩn bị của giáo viên……….….51

2.2.2 Chuẩn bị của học sinh……… … 56

2.3 Một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12………59

2.3.1 Khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng tích cực của học sinh……… …………59

2.3.2 Xây dựng câu hỏi liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo……… 67

2.3.3 Đa dạng hóa các hình thức luyện tập sáng tạo của học sinh……… 71

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM……… …….79

3.1 Các vấn đề chung……… …79

3.1.1 Mục đích thực nghiệm……….… 79

3.1.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm……… 79

3.1.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm……… 80

3.1.4 Chọn giáo viên dạy thực nghiệm……… ….81

3.2 Tiến hành thực nghiệm……… … 82

3.2.1 Quy trình tiến hành thực nghiệm……… ……82

3.2.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm……… … 82

3.3 Kết quả thực nghiệm và xử lý kết quả thực nghiệm……… ……….103

3.3.1 Kết quả thực nghiệm……… 103

3.3.2 Xử lý kết quả thực nghiệm……….….104

3.4 Kết luận và đề xuất……….106

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ……….………… …….108

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 110

PHỤ LỤC……… 112

Trang 6

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra giáo viên 31

Bảng 1.2 Thống kê chất lượng khảo sát 34

Bảng 1.3 Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra học sinh 35

Bảng 3.1 Phân công giáo viên dạy thực nghiệm và đối chứng 83

Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả điểm kiểm tra 108

Bảng 3.3 Thống kê chất lượng kiểm tra 108

Bảng 3.4 Phân phối tần suất luỹ tích bài kiểm tra 109

Bảng 3.5 Giá trị của các tham số đặc trưng 111

Trang 7

iv

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ

Biểu đồ 3.1 Thống kê chất lượng kiểm tra 109

Đồ thị 3.1 Đường luỹ tích bài kiểm tra 110

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học kỹ thuật, của công nghệ thông tin Sự

phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, sự bùng nổ của lượng thông tin thách thức con người nhiều hơn so với thời đại trước Con người muốn tồn tại, muốn hoà nhập, muốn tự khẳng định mình thì nhất định phải là những thành viên năng động, tích cực, sáng tạo, có óc quan sát nhạy bén, trí tuệ linh hoạt, có thái

độ lựa chọn thông tin và hiểu thông tin một cách sáng tạo Đáp ứng yêu cầu đó của xã hội, nhiệm vụ hiện đại hoá giáo dục được đặt ra như một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác phát triển giáo dục, trong đó đổi mới nội dung phương pháp dạy và học là vấn đề then chốt trong chiến lược như một lẽ tồn tại:

“ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương pháp hiện đại vào quá trình dạy - học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh nhất là sinh viên đại học” (Văn kiện hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá

VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 1997, tr 4) Trên tinh thần đó, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc khoá IX khi nói về giáo dục đào tạo đã nhấn mạnh

“Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh, sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn…”(Văn kiện Đại hội đại

biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia 2001, tr.108, 109)

Như vậy trên con đường hội nhập với thế giới, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt chú trọng vào việc nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, trong đó yêu cầu phải đổi mới nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy là vấn đề then chốt

Gần đây nhất, trong lần thay sách giáo khoa Ngữ văn 2006 cấp THPT,

Trang 9

2

việc đổi mới chương trình sách giáo khoa đã đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học Chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức

1.2 Môn Ngữ văn vừa nằm trong hệ thống các môn khoa học xã hội và nhân

văn, bộ môn thuộc lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ, vừa là một bộ môn có tính chất công cụ Những ưu điểm và hạn chế của việc thực hiện chương trình Ngữ văn phổ thông đòi hỏi cần có phương pháp dạy học đặc thù, dạy học phải hướng vào hoạt động sáng tạo của HS - HS không còn là khách thể mà giữ vai trò chủ thể sáng tạo trong khám phá và chiếm lĩnh giá trị tác phẩm Tiếp nhận TPVH trong nhà trường trở thành quá trình đồng sáng tạo Trong quá trình tiếp nhận TPVH nói chung và tác phẩm thơ trữ tình nói riêng liên tưởng, tưởng tượng có vai trò quan trọng “Liên tưởng là đầu mối của những rung động thẩm mĩ…” và

“tưởng tượng như chiếc cầu nối giữa người đọc với người viết” [16, tr 90] Liên tưởng, tưởng tượng được xác định là năng lực quan trọng trong quá trình TNVH Liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS góp phần chuyển hóa tác phẩm của tác giả thành tác phẩm trong hành trang tinh thần của HS Trong dạy học TPVH, liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật được xem là những phương thức tư duy để phát triển và hoàn thiện tâm hồn, trí tuệ cũng như nhân cách HS Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật cho HS để giúp các em tìm ra con đường đi đến kết luận Thiết nghĩ, cần quan tâm đến năng lực liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS, từ đó tìm ra các biện pháp, phương pháp phù hợp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng để các em tự cảm thụ và khám phá TPVH là một việc làm có ý nghĩa thiết thực

1.3 Thực tế dạy và học TPVH nói chung, tác phẩm thơ trữ tình nói riêng trong

Trang 10

3

nhà trường THPT đã có nhiều đổi mới và bước đầu đạt được hiệu quả Quan điểm dạy học hướng tới rèn luyện tư duy sáng tạo cho HS đang được quan tâm Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho HS khi tiếp nhận TPVH là một trong những con đường để đi tới cái đích đó Song trong nhà trường THPT hiện nay,

GV lại ít có điều kiện quan tâm đến hoạt động TNVH - liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS Chưa kể vẫn còn một bộ phận GV chưa thực sự chú ý đến những phương diện có khả năng kích thích hứng thú nhận thức sáng tạo của

HS Về phía HS, năng lực cảm thụ về TPVH thông qua liên tưởng, tưởng tượng cũng rất khác nhau Những bài viết thể hiện được sức liên tưởng, tưởng tượng sâu sắc không nhiều Còn rất nhiều bài văn thường có những liên tưởng, tưởng tượng nông cạn, thậm chí còn sai lệch đáng lo ngại Có thể nói hoạt động liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chưa trở thành kĩ năng đối với HS trong quá trình tư duy sáng tạo và tiếp nhận TPVH Đây là một vấn đề quan trọng cần phải chú ý uốn nắn và điều chỉnh kịp thời để nâng cao chất lượng dạy và học TPVH

Đó là những lí do cơ bản để chúng tôi chọn “Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12” làm đề tài luận

văn thạc sĩ

2 Lịch sử vấn đề

Khoa học nghiên cứu phương pháp dạy học văn đã được hình thành trên cơ

sở ứng dụng thành tựu của các khoa học liên ngành: Tâm lý học, Tâm lý học sáng tạo văn học nghệ thuật, Lịch sử văn học, Lý thuyết cảm thụ và tiếp nhận văn học, Tâm lý học hoạt động học tập của HS Vấn đề liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật nói chung từng thu hút sự quan tâm không chỉ giới sáng tác mà còn là vấn đề hấp dẫn đối với các nhà khoa học sư phạm, bởi nó có mối quan hệ

Trang 11

Minh (1981)

Giáo sư Phan Trọng luận cho rằng: "Liên tưởng là đầu mối của những rung

động thẩm mỹ Liên tưởng không những là cần thiết để lĩnh hội được bề trong của hình tượng, mà còn giúp mở rộng và đào sâu sự sống chứa đựng trong đó",

và "tưởng tượng như chiếc cầu nối người đọc với người viết Tưởng tượng nâng tâm hồn, suy nghĩ người đọc đến gần với người viết Thiếu năng lực tưởng tượng thì làm sao hiểu được ý tình nằm sâu kín trong giấy trắng mực đen, chữ viết Đằng sau và bên dưới từng trang giấy, từng nét chữ, có tiếng nói, hơi thở, nhịp tim của nhà văn, có sức hoạt động của các nhân vật" [16, tr 90- 95] Năng lực đó

có thể được xem như sự biểu hiện và dấu hiệu đặc trưng của cảm thụ văn học; nếu không có nó, việc lĩnh hội tác phẩm thực sự sẽ gặp phải những khó khăn Vai trò của liên tưởng và tưởng tượng trong dạy học văn cũng được tác giả Nguyễn Duy Bình khẳng định: "Quá trình dạy tác phẩm văn học chỉ có thể thực hiện một cách có hiệu lực thật sự khi nào nội dung tác phẩm được tái hiện trong trí tưởng tượng và trở thành một sự kiện trong tâm hồn các em Bởi vì, một khi các em chưa tái hiện được hình tượng trong tâm trí của mình thì tác phẩm vẫn là một hiện tượng xa lạ bên ngoài các em, các em chưa được tiếp xúc với nó, do đó khó mà hiểu được lời phân tích dẫn dắt của giáo viên" [2, tr 39-40] Ý kiến trên đây đặt liên tưởng, tưởng tượng như một điều kiện tiên quyết đối với quá trình tiếp nhận của bạn đọc nói chung và bạn đọc - HS trong giờ dạy học TPVH nói

Trang 12

và tiếp nhận nghệ thuật nói chung

Liên tưởng, tưởng tượng là một trong những đặc trưng xác nhận quá trình nhận thức cá nhân, có thể kể đến như: Xã hội - Văn học - Nhà trường của tác giả Phan Trọng Luận, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (1996); Văn học tầm nhìn biến đổi của tác giả Nguyễn Thanh Hùng, NXB Văn học (1994); Văn học và nhân cách của tác giả Nguyễn Thanh Hùng, NXB Văn học (1996); Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp dạy học văn PTTH”(1995)…

Giáo sư Phan Trọng Luận đặc biệt nhấn mạnh: Liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật là một đặc trưng nhận thức mang dấu ấn cá nhân của bạn đọc, đó là một năng lực chủ quan Vì vậy, liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật trong dạy học

Trang 13

6

văn được xem là những phương thức tư duy tự khám phá, tự tiếp cận và tự chiếm lĩnh kiến thức để phát triển và hoàn thiện tâm hồn, trí tuệ cũng như nhân cách HS Còn giáo sư Nguyễn Thanh Hùng đã chỉ ra sự phân biệt cấp độ và yêu cầu của từng giai đoạn trong quá trình TNVH ở HS: "Sự phát triển của quá trình đọc được vận động trong hoạt động liên tưởng, tưởng tượng và giải thích nghệ thuật" [8, tr 127] Như vậy, chất lượng của quá trình "đọc" - cảm hiểu, giải mã, khám phá thế giới tác phẩm hay nói cách khác là sự vận động của các giai đoạn tiếp nhận nêu trên thực ra phụ thuộc ở kết quả liên tưởng, tưởng tượng và giải thích nghệ thuật (trong đó: liên tưởng, tưởng tượng vừa như công cụ, vừa như phương thức của tư duy sáng tạo có vai trò định hướng) Mặt khác, đối với mối quan hệ tương tác giữa chủ thể và khách thể trong quá trình nhận thức và tư duy, "ngoài ngôn ngữ diễn đạt ra còn có kinh nghiệm, sức hình dung, sự liên tưởng, trí nhớ hoàn thiện, ký ức định hình, trí tưởng tượng phong phú và tư tưởng xác định sắc bén Đó là ngôn ngữ thầm kín, là cận ngôn ngữ và siêu ngôn ngữ góp phần không nhỏ vào quá trình lĩnh hội thế giới thực tại và văn học nghệ thuật" [9, tr 349] Đó là sự đồng điệu và giao cảm tinh tế giữa nhà văn và bạn đọc - HS thông qua những liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật

Tác giả Trương Dĩnh xuất phát từ phương diện tâm lý học nghệ thuật đã phân tích đặc thù của cấu trúc giao tiếp trong nhà trường và đi đến khái quát: phản ứng của sự tiếp nhận diễn ra một cách thầm lặng, riêng tư và là quá trình đồng sáng tạo Chỉ ra tính chất đặc biệt của cuộc giao tiếp giữa nhà văn và bạn đọc trong nhà trường thông qua hai yếu tố trung gian là văn bản tác phẩm và sự

tổ chức, hướng dẫn nhận thức của GV Dường như dưới hình thức nào, hoạt động dạy học văn vẫn có những "cuộc giao tiếp im lặng" giữa bạn đọc và nhà văn, trong đó trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng có vai trò “chìa khóa” mở ra thế giới nghệ thuật phong phú mà nhà văn tạo dựng

Trang 14

Trong báo cáo đề dẫn Hội thảo khoa học đổi mới Phương Pháp dạy học văn theo hướng “HS là trung tâm” Giáo sư Phan Trọng Luận kết luận: Tiêu chí cao

nhất là tri thức, cảm xúc được hình thành bằng cách nào đó có phải tự HS chiếm lĩnh thông qua những việc làm, những thao tác để rồi tự HS thực sự tự phát triển (về mọi mặt kiến thức, tâm hồn, kỹ năng ) Đó là bản chất của đổi mới phương pháp dạy học văn, trong đó khả năng tư duy sáng tạo thể hiện bằng con đường liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật được xem như những hoạt động hướng nội, hoạt động bên trong của chủ thể HS

Vai trò của liên tưởng, tưởng tượng trong cấu trúc hoạt động TNVH của HS được đề cập tới trong cuốn Phương pháp dạy học văn do Phan Trọng Luận chủ biên, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội (1996); Phương pháp tiếp cận tác phẩm văn học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương, NXB Giáo dục (1998)

Giáo sư Phan Trọng Luận xác định vị trí, vai trò quan trọng của liên tưởng, tưởng tượng của HS qua mô hình về quá trình thâm nhập một tác phẩm văn học

đọc âm vang (bình diện 1, hình ảnh bậc 1), đọc // hồi ức // liên tưởng (bình diện

2, hình ảnh bậc 2), đọc // tưởng tượng (bình diện 3, hình ảnh bậc 3), đọc // suy

(bình diện 4, hình ảnh bậc 4) [15, tr 143]

Trang 15

8

Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương nhấn mạnh: “tác phẩm văn học vừa mang tính biểu đạt, vừa mang tính giao tiếp” [10, tr 16] Như vậy, bản thân tác phẩm bao hàm sự gợi ý, kích thích trí tưởng tướng sáng tạo của bạn đọc

Đề cập khả năng và vị trí của liên tưởng, tưởng tượng trong quá trình TNVH, các nhà khoa học, nhà giáo, các tác giả nghiên cứu từ những bình diện

và mục đích cụ thể khác nhau, các tác giả chủ yếu đặt vấn đề ứng dụng và khảo sát những biểu hiện của trí tưởng tượng, khả năng liên tưởng của bạn đọc - HS

Trong cuốn Rèn luyện tư duy sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương của tác giả Nguyễn Trọng Hoàn, NXB Giáo dục (2001) đã tập trung nghiên cứu

hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS trong giờ giảng văn, đặt nó trong một

hệ thống lý luận bao gồm đối tượng, mục đích, cơ chế, phương thức thực hiện và biện pháp định hướng thẩm mỹ, khắc phục những hạn chế của liên tưởng, tưởng tượng Từ việc xác định liên tưởng, tưởng tượng là những yếu tố then chốt để khai thác, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật của TPNV tác giả đã đi vào nghiên cứu điều kiện xuất hiện, cơ chế vận hành, mối quan hệ giữa liên tưởng, tưởng tượng với các thao tác khác của tư duy sáng tạo và vị trí của nó trong từng giai đoạn nhận thức để làm nên tính đặc thù của hoạt động TNVH trong nhà trường

Hầu hết các công trình trên nghiên cứu về năng lực liên tưởng, tưởng

tượng của HS trong phạm trù TNVH ở phạm vi rộng, bao quát Từ nhu cầu thực tiễn, trên cơ sở tiếp cận và trân trọng kế thừa tư tưởng của những nhà nghiên cứu

đi trước ở luận văn này chúng tôi đi sâu vào một vấn đề cụ thể đó là “Rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng được lựa chọn nghiên cứu là năng lực liên tưởng, tưởng tưởng

nghệ thuật của HS lớp 12 trong quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình trong

Trang 16

9

SGK lớp 12, chương trình chuẩn Bao gồm hoạt động tổ chức hướng dẫn nhận thức của GV và hoạt động học của HS trên cùng một đối tượng thẩm mỹ là tác phẩm thơ trữ tình lớp 12

Đối tượng nghiên cứu là năng lực liên tưởng, tưởng tưởng nghệ thuật của

HS lớp 12 trong quá trình tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình trong SGK lớp 12, chương trình chuẩn không thể tách rời và biệt lập với những nghiên cứu về vai trò của liên tưởng, tưởng tượng trong hoạt động tâm lý cũng như trong sáng tạo nghệ thuật Bởi lẽ đó là tiền đề cho việc nghiên cứu năng lực liên tưởng, tưởng tưởng nghệ thuật của HS trong quá trình TNVH

Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS không phải là hoạt động mang tính đơn nhất, biệt lập trong giờ dạy học TPVH Vì vậy, nghiên cứu hoạt động này phải trên cơ sử nghiên cứu mối quan hệ với những hoạt động khác của HS như: đọc, kể, tóm tắt, phân tích, so sánh, …

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trong phạm vi cụ thể là 5 tác phẩm thơ trữ tình trong SGK lớp 12, chương trình chuẩn

- Bài 1: Tây Tiến (Quang Dũng)

- Bài 2: Việt Bắc (Đoạn trích - Tố Hữu)

- Bài 3: Đất Nước (Trích Trường ca mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa

Điềm)

- Bài 4: Sóng (Xuân Quỳnh)

- Bài 5: Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tiến hành thực hiện đề tài chúng tôi mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phần thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn Thông qua những

Trang 17

10

liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS, GV tổ chức quá trình đống sáng tạo, tổ chức quá trình giao tiếp thẩm mỹ giữa nhà văn và bạn đọc - HS Từ đó giúp GV có thêm một con đường để tổ chức cho HS cảm thụ, khám phá và chiếm lĩnh tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn Đồng thời, giúp

HS hình thành kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình nói riêng và TPVH nói chung

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên luận văn tập trung giải quyết những vấn đề sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình

- Đề xuất một số biện pháp để rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS thông qua các tác phẩm thơ trữ tình lớp 12, chương trình chuẩn

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm theo hướng phát huy năng lực liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS để khẳng định tính khả thi và hiệu quả của đề tài

5 Giả thuyết khoa học

Trong bối cảnh dạy học tác phẩm văn chương còn mang tính thụ động, nếu hình thành được kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật cho học sinh khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình sẽ phát huy được năng lực tự học, tư duy sáng tạo của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tác phẩm thơ trữ tình

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận: Hệ thống hoá, tổng hợp, vận dụng các kiến

thức làm sáng rõ bản chất của của hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS trong hoạt động tâm lý cũng như trong sáng tạo nghệ thuật và quá trình TNVH

- tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình

Trang 18

11

Phương pháp khảo sát thực tế: Phương pháp khảo sát trực tiếp được tiến hành

với hai đối tượng là GV và HS tại trường THPT Trần Hưng Đạo, quận Hà Đông,

Hà Nội và trường THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh Từ phương pháp này, chúng tôi sẽ có được những số liệu thực tế của vấn đề nghiên cứu (thông qua các

phiếu điều tra trắc nghiệm và hệ thống câu hỏi kiểm tra tự luận)

Phương pháp thực nghiệm: Vận dụng những kết luận nghiên cứu lý luận, tiến

hành thực nghiệm một số giờ học: bài Tây Tiến (Quang Dũng), Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)… tại trường THPT Trần Hưng Đạo, quận Hà Đông, Hà

Nội và trường THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh theo hướng nghiên cứu của đề tài

Các phương pháp trên không tồn tại độc lập mà luôn có sự đan xen, hỗ trợ nhau trong quá trình nghiên cứu tạo ra sự cộng hưởng về hiệu quả

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận của đề tài

1.1.1 Lý thuyết tiếp nhận văn học

Theo giáo sư Nguyễn Thanh Hùng sáng tác văn học là một quá trình nên

TNVH cũng là cả một quá trình TNVH là một quá trình lâu dài, có nhiều cấp

độ Đó là quá trình tri giác ngôn ngữ, phân tích, cắt nghĩa, hồi tưởng, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, tổng hợp, quá trình cụ thể hóa và khái quát hóa TNVH là một quá trình tâm lí phức tạp vừa mang tính chủ quan vừa mang tính khách quan

1.1.1.1.Tính chủ quan trong tiếp nhận văn học

Chủ quan trong tiếp nhận là một thuộc tính bởi vì quá trình tiếp nhận là quá

trình diễn ra trong tư duy, tình cảm, tâm lí, sinh lí của con người, nó hoàn toàn phụ thuộc vào thị hiếu của bạn đọc Vì vậy, trước một TPVH, một vấn đề, một

sự kiện văn học mỗi bạn đọc lại có cách tiếp nhận khác nhau

Sự TNVH ở mỗi bạn đọc nông sâu khác nhau, nó phụ thuộc vào tư chất cá nhân mỗi con người, vào đặc điểm tâm lý, khả năng phát triển, thiên hướng, đời sống nội tâm của người tiếp nhận, vào trình độ năng lực tiếp nhận, vốn sống, sự hiểu biết về văn học nghệ thuật và sự tác động nhất định của dư luận xã hội cũng như xu thế thời đại Bởi thế, TNVH cũng đòi hỏi người đọc không chỉ có khả năng tâm lý sáng tạo mà còn những phẩm chất riêng Ở cấp độ cá nhân, tiếp nhận văn học chịu ảnh hưởng trực tiếp và trước hết bởi cấu tạo chức năng của các giác quan lành mạnh (con mắt, lỗ tai, sự trực cảm, tư duy ) và khả năng tri giác ngôn ngữ, lưu giữ hình ảnh, hình thành biểu tượng, liên tưởng, tưởng tượng, so sánh, khái quát Bên cạnh đó, với người đọc vấn đề tiếp nhận còn tùy thuộc hứng thú thẩm mỹ, ước mơ, khát vọng, thiên hướng và khả năng phát triển trong bối cảnh riêng tư và những đòi hỏi bức xúc của nhu cầu khẳng định bản thân

Trang 20

13

Sự năng động chủ quan và tính chất "tự do" của chủ thể tiếp nhận trong quá trình "đối thoại" với nhà văn thông qua tác phẩm vừa thể hiện xu hướng "đồng nhất thẩm mỹ" vừa tạo nên "khoảng cách thẩm mỹ" Đó là tính đặc thù đồng thời

là quy luật của TNVH Người đọc có thể đồng tình hay không đồng tình với cách đặt vấn đề cũng như sự lý giải (tư tưởng nghệ thuật) của nhà văn; người đọc cũng có thể liên tưởng, tưởng tượng hay suy tưởng, mở rộng không gian và thời gian của "thế giới mang nghĩa" mà nhà văn đề xuất, mô tả, gợi ý trong tác phẩm Nhưng những tác động của tinh thần thời đại, sự mở rộng giao lưu văn hóa sẽ tạo nên tích cực chủ quan của quá trình "đồng nhất thẩm mỹ", góp phần rút ngắn khoảng cách thẩm mỹ Do vậy, giữa các công chúng bạn đọc luôn có khoảng cách trong tiếp nhận, thậm chí giữa các HS trong cùng lớp cũng có khoảng cách trong tiếp nhận Người GV cần định hướng, điều chỉnh nhận thức tản mạn và phiến diện của HS; đồng thời tổ chức, động viên, kích thích quá trình tiếp nhận của HS, giới hạn và định hướng thẩm mỹ trong tiếp nhận dù biết giữa tác giả và bạn đọc HS có khoảng cách về tâm hồn, tư duy, tâm lí và “độ thị sai”

Thị sai biểu lộ ở những chủ thể cảm nhận khác nhau trước một hiện tượng văn học Thị sai không phải là hiện tượng có ở những người chưa phát triển về văn học mà ngay cả những bạn đọc có thể nói là thiên tài văn học Chẳng hạn, L.Tôn xtôi, nhà văn Nga vĩ đại tầm cỡ thế giới lại có nhận thức khác lạ về Sêchxpia Với L.Tôn xtôi, Sêchxpia là nhà văn tồi, thiếu cái tối thiếu của một nhà văn (Về Sêchxpia, NXBXưtin, Matxcơva, 1905) Độ thị sai về đánh giá với TPVH luôn diễn ra trong TNVH Độ chênh không chỉ diễn ra ở các thời điểm cách xa nhau do sự trưởng thành của bản thân chủ thể mà có khi vẫn xảy ra trong những thời điểm không cách xa nhau nhưng vì tâm trạng đổi khác Không nên giải thích đơn thuần “độ thị sai” bằng nguyên nhân thời đại, giai cấp, lịch sử - xã hội Đó còn do nguyên nhân khoảng cách giữa nhà văn với bạn đọc Thế giới

Trang 21

14

cuộc đời nhà văn với thế giới cuộc đời bạn đọc vốn xa cách, trong cảm thụ lại phụ thuộc vào vốn sống trực tiếp và gián tiếp cùng nhiều yếu tố khác của bản thân chủ thể như thị hiếu, thói quen thẩm mỹ, năng lực văn học

Dựa vào tính chủ quan trong TNVH, GV một mặt cần có cách tổ chức phát huy hết khả năng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận; mặt khác cũng cần uốn nắn, điều chỉnh, định hướng sao cho không có hiện tượng hiểu sai lệch ý đồ tư tưởng của tác giả cũng như tác phẩm

1.1.1.2 Tính khách quan trong tiếp nhận văn học

TPVH là thế giới tinh thần của nhà văn, nó tồn tại khách quan và độc lập với

bạn đọc, nó mang trong mình lớp nghĩa hàm ngôn và hiển ngôn Tính khách quan trong TNVH được quy định bởi nội dung ý nghĩa khách quan của TPVH

Dù muốn hay không khi sáng tác nhà văn phải có sự liên hệ hữu cơ với trào lưu

tư tưởng xã hội nhất định Vì vậy tiếp nhận chủ quan của bạn đọc cũng phải căn

cứ vào ý nghĩa khách quan của hiện tượng trong văn bản Tính chủ quan chỉ là một phương diện của hoạt động cảm thụ Tính chủ quan chỉ được giải thích trong mối quan hệ với tính khách quan Xác định tính khách quan trong TNVH là chấp nhận mối quan hệ giữa tồn tại và ý thức, xã hội và cá nhân Con người là tổng hòa của nhiều quan hệ xã hội, làm sao mỗi chủ thể lại là một đơn vị biệt lập không chịu ảnh hưởng những tác nhân lịch sử xã hội mà chính họ dù muốn hay không vẫn cần phải tắm mình trong đó Chính những điều kiện lịch sử, giai cấp, thời đại đã tạo nên khuynh hướng, chiều hướng khách quan của cảm thụ văn học nghệ thuật cá nhân Thường cảm hứng lịch sử, không khí tâm lí thời đại quy định một cách rất đậm nét tâm lí người cảm thụ và hiệu suất cảm thụ Không hòa nhập vào không khí lịch sử thời đại của TPVH không thể hiểu được vẻ đẹp của nó Xét trong mối quan hệ giữa bạn đọc và tác phẩm, chúng ta thấy rằng bản thân tác phẩm sẽ quy định chiều hướng và hiệu suất cảm thụ của người đọc Tính khác quan

Trang 22

15

của TNVH còn phụ thuộc vào sự khác nhau của thể loại và phương diện thể hiện Tuy nhiên nói đến tính chủ quan và tính khách quan trong TNVH là hai phương diện, hai mặt của một quá trình thống nhất Tuyệt đối hóa chủ quan là sa vào con đường duy tâm chủ quan, phủ nhận vai trò của tồn tại đối với ý thức Ngược lại chỉ thấy phương diện khách quan mà loại trừ gạt bỏ tính năng động chủ quan của chủ thể thì rơi vào nhận thức máy móc Hai yếu tố khách quan và chủ quan có tác động qua lại, chuyển hóa, thâm nhập một cách biện chứng và linh hoạt Trong quá trình TNVH vai trò chủ quan cần được đặc biệt coi trọng Những tác nhân bên ngoài chỉ thực sự có hiệu quả khi nó được chuyển hóa thành sức mạnh bên trong của bản thân chủ thể và ngược lại những yếu tố bên trong chỉ thực sự có ý nghĩa khi được bắt nguồn từ yếu tố bên ngoài Trong nhà trường, TNVH của HS cũng tuân theo quy luật đó Phát huy tính chủ quan là phát triển nhân cách, phát triển sự năng động, sáng tạo của chủ thể HS Người

GV cần căn cứ vào những dặc điểm của quá trình TNVH, đặc điểm tâm lí HS, tôn trọng những cảm nhận riêng, khuyến khích những khám phá, sáng tạo riêng của mỗi cá nhân, làm sống dậy những tình cảm, những kinh nghiệm cá nhân để phát huy khả năng liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật của HS trong tiếp nhận TPVH Hoạt động liên tưởng, tưởng tượng vốn là một biểu hiện của TNVH, nó trở thành công cụ tất yếu giúp HS tự cảm thụ, khám phá và chiếm lĩnh TPVH

1.1.2 Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng

1.1.2.1 Liên tưởng và tưởng tượng trong hoạt động tâm lý của con người

Cảm giác và tri giác là hai quá trình tâm lý của giai đoạn nhận thức cảm tính

(trực quan), có vai trò quan trọng đối với sự định hướng các hành vi và hoạt động của con người, đặc biệt trong việc hình thành biểu tượng của giai đoạn nhận thức lý tính (gián tiếp) Biểu tượng là một bậc thang chuyển tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến khái quát trừu tượng, từ cảm giác và tri giác đến tư duy

Trang 23

16

Biểu tượng được coi là hạt nhân của tưởng tượng, trí nhớ là phương thức tồn tại

của nó Trí nhớ hoạt động có quá trình, bao gồm hai giai đoạn cơ bản Giai đoạn

thứ nhất là giai đoạn ghi nhớ các vật thể và các hiện tượng đã được tri giác (ghi nhớ tri giác) Giai đoạn thứ hai, nhớ lại những gì đã ghi nhớ (ghi nhớ biểu tượng) ,đây là giai đoạn kết quả của quá trình ghi nhớ, nó bao gồm hai cấp độ: nhận ra

(mức độ thấp) và nhớ ra (mức độ cao) Người ta có thể nhớ lại không chủ định hoặc nhớ lại có chủ định Điều này rất có ý nghĩa đối với vấn đề huy động trí nhớ để hồi cố những ký ức tình cảm và vốn sống, vốn văn học… trong việc xây

dựng biểu tượng Mỗi lần có sự nhớ lại thì lại không phải là sự sao chép đúng

hoàn toàn cái đã xảy ra khi tri giác nên biểu tượng được nhớ lại trong trí nhớ cũng không phải sự sao chép hoàn toàn những tri giác đã có trước đây, mà có sự biến dạng ít nhiều Về hiện tượng này, A.Ruđích lý giải: "Bất kỳ sự ghi nhớ hay học thuộc nào cũng đòi hỏi phải thiết lập các mối liên hệ thần kinh tương ứng hay còn gọi là liên tưởng" [24, tr 293]

Hoạt động liên tưởng „„Liên tưởng chỉ mối liên hệ giữa các yếu tố tâm lý, nhờ

đó sự xuất hiện của một yếu tố này trong những điều kiện nhất định gây nên một

yếu tố khác liên quan với nó ” [11, tr 24] Tâm lý học phân biệt ba loại liên tưởng:

Liên tưởng gần nhau: diễn ra theo cơ chế tác động hệ quả, thể hiện mối liên

hệ lôgích thứ tự hô ứng do ký ức tự gợi ra

Liên tưởng giống nhau (hay còn gọi là liên tưởng tương đồng): dựa vào các

mối liên hệ thần kinh do hai đối tượng giống nhau gây nên Chúng xảy ra trong trường hợp sự tri giác về một vật thể nào đó sẽ gây nên trong trí nhớ sự nhớ lại một vật thể tương tự ngay cả lúc nó không được tri giác đồng thời hay bên cạnh vật thứ nhất Hiện tượng liên tưởng này có ý nghĩa tích cực vì nó tạo cho chủ thể

có cơ sở so sánh, đồng thời làm cho việc ghi nhớ có chủ đích đạt hiệu quả tốt hơn

Liên tưởng tương phản: có hình thức gần với liên tưởng giống nhau, nhưng

Trang 24

Hoạt động tưởng tượng Có thể xem "tưởng tượng là một quá trình tâm lý

phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhân bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có" [5, tr 167] Các

nhà tâm lý học chia tưởng tượng làm hai loại:

- Tưởng tượng tiêu cực: ở một số hoàn cảnh nhất định, những hình ảnh do

tưởng tượng mà có được sẽ có thể xuất hiện như là một vật thay thế cho hoạt

động, dẫn con người vào địa hạt của những biểu tượng hoang đường

- Tưởng tượng tích cực: tạo ra những hình ảnh phù hợp nhằm đáp ứng những

nhu cầu bức xúc, kích thích tính tích cực và tính thực tế của con người, nó biểu hiện ở hai cấp độ:

Cấp độ thứ nhất, tưởng tượng tái tạo là quá trình tưởng tượng tạo ra những

hình ảnh chỉ là mới đối với cá nhân người tưởng tượng và dựa trên cơ sở miêu tả hoặc gợi ý của người khác

Cấp độ thứ hai, tưởng tượng sáng tạo là quá trình xây dựng hình ảnh mới

một cách độc lập Những hình ảnh được xây dựng được coi là mới với cả bản thân người tưởng tượng và mới với cả xã hội, mang dấu ấn riêng của từng cá nhân

[5, tr 173-174]

Về điều kiện, quá trình tưởng tượng trước hết phụ thuộc vào nhu cầu, hứng

thú của con người Đặc biệt, nếu đó là công việc được thực hiện trong điều kiện

có hứng thú cao thì trí tưởng tượng càng có điều kiện được kích thích và phát

triển mạnh mẽ Cũng cần khẳng định rằng: tình cảm có vai trò như chất men vừa

Trang 25

18

xúc tác vừa thúc đẩy và duy trì quá trình tưởng tượng

Về cơ chế, những hình ảnh do trí tưởng tượng tạo ra bao giờ cũng dựa trên

những biểu tượng cũ đã tri giác được trước đây theo các phương thức: thay đổi kích thước biểu tượng cũ, phóng đại lên hoặc thu nhỏ lại; kết hợp, chắp ghép các biểu tượng với nhau hoặc lấy một số chi tiết của biểu tượng này kết hợp với một

số chi tiết của biểu tượng khác tạo thành một hình ảnh mới; nhấn mạnh hay cường điệu hóa một số thuộc tính của biểu tượng cũ; chuyển tính chất của đối tượng này sang đối tượng khác hay còn gọi là liên tưởng, nhìn đối tượng này là hình dung ra đối tượng khác; tạo ra một hình ảnh mới sau khi đã khái quát được nhiều nét cùng có ở nhiều đối tượng cùng loại để hình ảnh đó mang được tính chất vừa cá biệt vừa tiêu biểu và điển hình cho nhiều đối tượng Nếu nó được

xây dựng trên cơ sở mục đích, nhiệm vụ định sẵn thì gọi là tưởng tượng có chủ định; còn trong trường hợp là kết quả tưởng tượng ngẫu nhiên, xuất thần thì gọi là tưởng tượng không chủ định… [23, tr 80]

Có một yếu tố xuyên thấm suốt trong các quá trình biểu tượng, trí nhớ, liên

tưởng, tưởng tượng đó là cảm xúc, một yếu tố hạt nhân của các quá trình này

Nó có vai trò kích thích hay kìm hãm trong việc khơi dậy, duy trì hay kết thúc các quá trình tâm lý Vì thế, đặt vấn đề nghiên cứu về biểu tượng, trí nhớ, liên tưởng, tưởng tượng không thể không nghiên cứu vai trò, sức tác động của cảm xúc trong việc hướng tới mục đích, nhiệm vụ đề ra, đặc biệt đối với tâm lý học sáng tạo nghệ thuật và quá trình cảm thụ, TNVH trong nhà trường

Mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng Liên tưởng có được nhờ cảm

xúc và trí nhớ; còn tưởng tượng là kết quả của các quá trình cảm giác, quá trình tri giác, đặc biệt là quá trình hình thành biểu tượng trong đó có giai đoạn huy động trí nhớ và liên tưởng Có thể tìm hiểu mối quan hệ giữa liên tưởng và tưởng tượng từ một định nghĩa về tưởng tượng: "Tưởng tượng là sự hoạt động của nhận

Trang 26

19

thức mà trong quá trình nhận thức ấy con người tạo ra những biểu tượng, tình huống trong ý nghĩ, tư tưởng, đồng thời dựa vào những hình tượng còn giữ lại trong ký ức từ kinh nghiệm cảm giác trước kia và có đổi mới, biến đổi các thứ ấy" [24, tr 197] Như thế, liên tưởng vừa là một hiện tượng tâm lý độc lập, đồng thời cũng có thể xem nó là một "giai đoạn", một "thao tác" trong quá trình tưởng tượng Vì vậy, liên tưởng trở thành một điều kiện vận hành của tưởng tượng: nhờ

có liên tưởng, những hình ảnh mà tưởng tượng tạo ra được hoàn thiện và phong phú, sinh động; và ngược lại, nếu khả năng liên tưởng kém, những hình ảnh mà

tưởng tượng tạo ra sẽ hạn chế và phiến diện

Mặt khác, không phải tất cả các liên tưởng đều được huy động, mà nó được

"sàng lọc, lựa chọn sao cho phù hợp nhất với nhiệm vụ đề ra", do những tưởng tượng về kết quả chế định

1.1.2.2 Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật trong sáng tạo văn học

Liên tưởng và tưởng tượng không chỉ phản ánh các quá trình tâm lý, mà nó còn ảnh hưởng sâu rộng đến sáng tạo nghệ thuật nói chung và sáng tạo văn học nói riêng Sáng tạo văn học là những phương thức phản ánh đời sống bằng hình tượng thông qua lăng kính chủ quan của người nghệ sĩ Để xây dựng tác phẩm của mình các tác giả thường phải trải qua quá trình cảm thụ, quan sát, ghi nhớ và thâm nhập thực tế, trau dồi vốn sống và lựa chọn dữ liệu, trong đó liên tưởng và tưởng tượng được xem như những quá trình tâm lý sáng tạo đặc thù

Trong sáng tác văn học, sự giàu có liên tưởng chứng tỏ khả năng phong phú của thế giới nội tâm của nhà văn Có thể phân loại theo các hình thức biểu hiện: Liên tưởng gần giống thể hiện mối quan hệ tất yếu, tiềm tàng giữa tín hiệu

vật chất hiện tại và kinh nghiệm, dựa trên những nét gần nhau về bộ phận Hình thức liên tưởng này dẫn đến các ẩn dụ nghệ thuật và cách chuyển đổi tên gọi

Trang 27

20

Liên tưởng giống nhau thể hiện mối quan hệ bản chất, tương đồng giữa vật

liên tưởng và vật được liên tưởng

Liên tưởng đối lập thể hiện mối quan hệ giữa hiện thực và mặt khác biệt của

nó trong cùng một hệ thống tồn tại

Liên tưởng theo quan hệ thời gian gần với liên tưởng hồi ức là liên tuởng

xuất hiện do sức gợi của các yếu tố sự vật trong hiện thực về phía kỷ niệm

Liên tưởng theo quan hệ không gian là liên tưởng được mở ra đa chiều do

sức gợi của các yếu tố hiện thực có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp

Trên đây là một số loại liên tưởng thường xuất hiện với tần suất cao và dễ nhận biết trong các sáng tác văn học Tuy nhiên, việc sử dụng mỗi loại liên tưởng, mức độ sử dụng các loại liên tưởng còn tùy thuộc ở năng lực và sở trường của từng nhà văn, thậm chí còn phải phù hợp với đặc trưng riêng của từng thể loại văn học Hơn nữa, các loại liên tưởng không phải bao giờ cũng được nhà văn sử dụng một cách biệt lập Đôi khi nó được sử dụng trong mối quan hệ đan xen, phối hợp nhằm tạo ra sức biểu hiện và hiệu quả diễn đạt cao nhất

Ngoài việc liên tưởng, nhà văn khi xây dựng tác phẩm cần có một yếu tố

quan trọng và cần thiết để xây dựng hình tượng nghệ thuật đó là việc tưởng tượng, sáng tạo những hình tượng mới Tưởng tượng ở đây được hiểu như sức

sáng tạo kỳ diệu của nhà văn, làm nên sức sống mãnh liệt của tác phẩm trong người đọc qua nhiều thời đại Nó quan trọng bởi vì nếu thiếu nó, tác phẩm khó vượt qua sự sao chép đơn thuần về các sự việc, hiện tượng đã xảy ra trong hiện thực; đồng thời nhà văn không thể khái quát cũng như sáng tạo những hình tượng mới mẻ Khi trí tưởng tượng, nó phải dựa trên trí nhớ, tức huy động những tái hiện về kinh nghiệm theo một quy luật đặc biệt, đó là quy luật liên tưởng

"Quy luật đó sắp xếp tất cả mớ hỗn độn của ký ức dựa trên sự tương đồng về

Trang 28

21

hình thức hoặc theo sự gần gũi về thời gian và không gian - nói một cách khác là khái quát hóa chúng - rồi kéo chúng vào một chuỗi mắt xích liên tục Chuỗi mắt xích liên tưởng là sợi chỉ dẫn đường cho trí tưởng tượng"

[25, tr 88] Nói cách khác: trong qua trình tưởng tượng sáng tạo không thể thiếu sự tham gia của liên

tưởng “Mối quan hệ giữa trí nhớ - liên tưởng và tưởng tượng trong sáng tác là mối quan hệ gắn bó hữu cơ mà tình cảm và biểu tượng là hạt nhân liên kết ” [11,

tr 36] Mối quan hệ và hạt nhân liên kết này quyết định bản chất của tưởng tượng Chính vì những biểu hiện của mối quan hệ nội tại và bản chất như vậy, tưởng tượng trong sáng tác văn học giúp nhà văn có khả năng "phát hiện", "phản ánh", "đến gần" bản chất cuộc sống, khái quát được quy luật vận động tất yếu của xu thế thời đại Có hai loại tưởng tượng trong sáng tác văn học:

- Tưởng tượng tái hiện trên cơ sở quy nạp các ấn tượng của trí nhớ

- Tưởng tượng sáng tạo trên cơ sở những vận động tự do không lệ thuộc ấn

tượng có trước

Quá trình vận hành của cả hai loại tưởng tượng trên đều dựa trên sự cung cấp

dữ liệu của trí nhớ Do đó, một hình tượng sáng tạo nhất vẫn ít nhiều dựa trên các dữ liệu nào đó của quá trình nhà văn cảm thụ đời sống và dựa trên quá trình vận động của những biểu tượng nhất định Sở dĩ có các loại tưởng tượng khác nhau như vậy bởi nó phải tuân thủ quy luật và xu hướng phát triển hình tượng, nguyên tắc xây dựng điển hình hóa trong văn học trong mối tương quan với mục đích tạo ra sự thống nhất sinh động giữa chân lý nghệ thuật và chân lý đời sống;

đó cũng là cơ sở và căn cứ khoa học cho việc nghiên cứu vai trò quyết định của liên tưởng và tưởng tượng trong cảm thụ và TNVH

1.1.2.3 Hoạt động liên tưởng và tưởng tượng nghệ thuật trong tiếp nhận văn học “TNVH được xem là hoạt động chiếm lĩnh giá trị tư tưởng, thẩm mỹ của các

Trang 29

22

tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật

tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng

tạo” [6, tr 221] TNVH để người đọc trực tiếp tham gia những tình huống văn

học, tạo điều kiện để người tiếp nhận được cắt nghĩa, thể nghiệm, nếm trải, sẻ chia và tạo nên sự đồng cảm nghệ thuật; đồng thời người tiếp nhận cũng bộc lộ được một số phương diện về thiên hướng, năng lực thẩm mỹ và phẩm chất của mình Có thể nói, TNVH là một cuộc giao tiếp đặc biệt giữa người đọc với nhà văn qua tác phẩm TPVH là một “đề án tiếp nhận”, “một nền tảng để tiếp nhận”,

“một cấu trúc mời gọi”, nhưng đề án ấy chỉ được mở, được thực hiện trong thước

đo của người đọc với vốn sống của họ Đến với TPVH, bạn đọc như được tham gia vào một cuộc giao tiếp lớn, một cuộc giao tiếp liên tục với tác giả trên mọi lĩnh vực,

là quá trình chờ đợi, thắc mắc giải đáp Trong quá trình ấy, người đọc phải dùng năng lực tưởng tượng, liên tưởng, phân tích, suy luận, khái quát, khả năng giải mã thông tin ngôn ngữ… để cụ thể hóa mọi điều trong tác phẩm, để cắt nghĩa và hiểu tác phẩm Cảm xúc thẩm mỹ tạo ra hưng phấn và động cơ sáng tạo tích cực trong tiếp nhận văn học Theo lý thuyết tiếp nhận: cảm xúc nghệ thuật (hay cảm xúc thẩm mỹ) vừa là chất xúc tác, vừa là động lực (cộng hưởng) thúc đẩy quá trình liên tưởng, tưởng tượng sáng tạo Mặt khác, tưởng tượng nghệ thuật có được cũng do cảm xúc khơi gợi và dẫn dắt - đồng thời kết quả của tưởng tượng lại" nảy sinh một sức mạnh tích cực mới" cho cảm xúc

Tìm hiểu vai trò của trường liên tưởng trong TNVH ta thấy trường liên tưởng không chỉ huy động trí nhớ để hình thành biểu tượng mà còn "mở đường" cho những tưởng tượng sáng tạo Liên tưởng nghệ thuật giữ vai trò duy trì và điều

chỉnh tính tích cực thẩm mỹ của người tiếp nhận TPVH là thông điệp tâm hồn,

bao giờ cũng hàm chứa những ẩn số thẩm mỹ chờ đợi sự lý giải nơi người đọc

Trang 30

23

Vấn đề này liên quan mật thiết với những "tầm đón" và "khoảng cách thẩm mỹ", luôn luôn hướng tới sự "đồng nhất thẩm mỹ" giữa nhà văn với chủ thể tiếp nhận Cùng một tác phẩm, có thể tạo ra những "hiệu ứng nghệ thuật" khác nhau trong từng người đọc Hình tượng trong văn bản tác phẩm có khả năng gợi ra những hướng liên tưởng, tưởng tượng phong phú khác nhau Cùng với trường liên tưởng ngữ nghĩa, các yếu tố khác như: ký ức, kinh nghiệm tư duy nghệ thuật, linh cảm, trực cảm cũng có vai trò tích cực giúp người đọc cảm, hiểu được sức lay động và hấp dẫn của hình tượng văn học, đồng thời tạo nên tình huống để người đọc tự biểu hiện và thanh lọc cảm xúc thẩm mỹ

Những yếu tố chủ quan và khách quan sau có khả năng tác động rõ nhất đến quá trình liên tưởng, tưởng tượng trong cảm thụ và TNVH:

- Cảm hứng và sự xúc động thẩm mỹ khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật với những vẻ đẹp tiềm ẩn của tác phẩm là điều kiện nảy sinh những liên tưởng

và tưởng tượng sáng tạo, làm sống lại các dấu vết của các hưng phấn thần kinh, cung cấp chất liệu cho hoạt động của trí tưởng tượng Sự xúc động là kích thích

nhu cầu bộc lộ bản thân của người đọc; từ đó, vốn biểu tượng trong kinh nghiệm

được huy động đáp ứng nhu cầu biểu hiện của chủ thể tiếp nhận

- Khả năng huy động hiệu quả và chính xác trường liên tưởng của mỗi chủ

thể tiếp nhận nhằm tái hiện, bổ sung toàn vẹn hình tượng tác phẩm từ hoàn cảnh

ra đời, bức tranh đời sống mà nhà văn mô tả, cảm hứng sáng tác, giọng điệu và phong cách riêng của nhà văn

- Khả năng cắt nghĩa "tri thức bối cảnh" và "nhịp điệu sinh tồn" của tác

phẩm Mỗi đơn vị thông tin thẩm mỹ TPVH là những đơn vị thông tin mang nghĩa Vì thế, việc xác định đối tượng để khai thác, tiếp cận, phân tích, khái quát

và đánh giá tác phẩm sẽ hướng cảm xúc và tư duy sáng tạo của chủ thể tiếp nhận

Trang 31

24

vào trạng thái "đồng thể nghiệm nghệ thuật"

- Khả năng cảm thụ ngôn ngữ chính xác và phong phú nhằm tạo ra cơ sở

đúng đắn, khách quan cho việc khai thác tác phẩm

Giờ học TPVH là một phương thức TNVH đặc biệt trong nhà trường Nói

tới giờ dạy học TPVH cũng là nói tới một phương thức chiếm lĩnh đời sống bằng ngôn ngữ và hình tượng văn học, nói tới "sự chuyển hóa tự thân của chủ thể" thông qua những liên tưởng, tưởng tượng nghệ thuật "đồng sáng tạo" của HS dưới sự hướng dẫn nhận thức của GV Trong giờ dạy học TPVH diễn ra theo một định hướng thẩm mỹ và trong môi trường tập thể, có sự tổ chức, hướng dẫn của GV tạo nên một cơ chế lao động đặc thù Giờ dạy học TPVH bao gồm hoạt động tổ chức, hướng dẫn nhận thức do GV đảm nhiệm và hoạt động cảm thụ, hình thành kiến thức của HS để phát triển toàn diện thông qua đối tượng trung gian là TPVH

1.1.3 Những điều cần chú ý trong việc hướng dẫn học sinh tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình

1.1.3.1 Khái niệm về thơ trữ tình

Theo từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là một hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [6, tr 239]

Như vậy, nội dung chủ yếu của thơ là trình bày tình cảm, cảm xúc, suy tư, tâm hồn của chính nhà thơ Nội dung ấy được biểu hiện qua một hình thức ngôn ngữ có nhịp điệu, giàu hình ảnh, hàm súc… Điều này giúp ta khu biệt nó với các loại thể khác như kịch: phản ánh đời sống thông qua những mâu thuẫn, xung đột; tự sự: phản ánh đời sống trong tính khách quan của nó thông qua các hành vi, sự kiện Thơ có nhiều cách thức phân loại khác nhau Dựa vào hình thức phản ánh,

Trang 32

25

chúng ta có thơ trữ tình và thơ tự sự; dựa vào thể luật có thơ cách luật và thơ tự do; dựa vào nội dung có thơ tình yêu, thơ luân lí, thơ chính trị, thơ đời thường, thơ cổ động tuyên truyền, thơ trào phúng

Trong giới hạn của vấn đề nghiên cứu, chúng tôi đi sâu vào tìm hiểu về thơ

trữ tình “Thuật ngữ này dùng để chỉ chung các bài thơ mà trong đó những cảm xúc, suy tư của nhà thơ, của nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp Thuật ngữ thơ trữ tình được sử dụng nhằm phân biệt với thơ tự sự” [6, tr 317]

Theo định nghĩa, thơ trữ tình thể hiện cảm xúc và suy tư của chính tác giả (chủ thể trữ tình) Dựa vào đối tượng để tạo nên cảm xúc của chủ thể trữ tình thì thơ trữ tình có 4 tiểu loại: Thơ trữ tình tâm tình, thơ trữ tình phong cảnh, thơ trữ tình thế

sự và thơ trữ tình công dân Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ là tương đối

1.1.3.2 Đặc điểm của thơ trữ tình

Nội dung trữ tình Nội dung cốt lõi của tác phẩm thơ trữ tình là thể hiện thế

giới tâm hồn của nhà thơ - chủ thể trữ tình tác giả Đó chính là những suy tư của nhà thơ về thiên nhiên, cuộc sống, con người Thế giới tâm hồn ấy có nhiều cung bậc cảm xúc với những xúc cảm, tình cảm, tâm trạng, suy tư thầm kín và sâu sắc qua đấy bộc lộ thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình trong một khoảnh khắc tâm

trạng Ví dụ bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh thể hiện suy tư của nhà thơ khi đứng

trước biển Từ hiện tượng thiên nhiên là con sóng biển với những đặc tính vốn dĩ của nó, thi sĩ liên tưởng đến tâm hồn người con gái khi yêu với những sắc thái tâm lí phức tạp, đầy mâu thuẫn mà thống nhất Đó là tiếng lòng của người con

gái trẻ luôn dào dạt khao khát yêu đương

Trong thơ trữ tình cũng có yếu tố tự sự: kể chuyện, tả cảnh… Tuy nhiên đây chỉ là cái vỏ hình thức để biểu hiện nội dung trữ tình mà thôi Cái này gọi là khách thể trữ tình Như thế, trong một bài thơ thường có hai kết cấu: một kết cấu

Trang 33

26

khách thể trữ tình (đối tượng tác động đến chủ thể) và một là chủ thể Hai kết cấu này đan xen, kết hợp nhuần nhuyễn với nhau Tuy nhiên trọng tâm cần khai thác khi hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm là chủ thể trữ tình Chẳng hạn cũng

trong bài thơ Sóng chủ thể trữ tình là nhà thơ và khách thể trữ tình là sóng.Nhà thơ thổ lộ tâm can của mình bằng hai cách: Cách gián tiếp thông qua hình tượng sóng, cách trực tiếp thông qua nhân vật trữ tình em

Thông thường chủ thể trữ tình tác giả và nhân vật trữ tình là một Tuy nhiên ở

một số trường hợp nhân vật trữ tình và chủ thể trữ tình không phải là một Chúng

ta gọi đó là trữ tình nhập vai

Thơ trữ tình cho chúng ta biết sự thật về đời sống tâm hồn cá nhân trong những tình huống cụ thể, sinh động của đời sống Khi phát ngôn, các nhà thơ thường hướng tới những gì lớn lao hơn, tức là tự nâng mình thành người mang tâm trạng, cảm xúc, ý nghĩ của một lớp người, một giai cấp, môt dân tộc Tâm trạng, cảm xúc và vẻ đẹp của người lính Tây Tiến là điển hình cho người lính trong thời đại Hồ Chí Minh

Hình thức trữ tình Nếu như nội dung trữ tình là hiện thực được nói tới và thái

độ, tình cảm của tác giả với hiện thực được nói tới thì hình thức trữ tình là cách thể hiện nội dung trữ tình của nhà thơ

Có thể nói rằng, thơ là nghệ thuật của biểu tượng Có được biểu tượng ấy

chính là nhờ vào sức liên tưởng, tưởng tượng mạnh mẽ của nhà thơ Bài thơ Đàn ghi ta của lorca của Thanh Thảo là một ví dụ điển hình Bài thơ có một loạt những biểu tượng: tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn, áo choàng bê bết đỏ, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy…Qua

các biểu tượng, người đọc hiểu về không gian văn hoá đậm màu sắc Tây Ban Nha, về hình chân dung nghệ sĩ Lor-ca và tình cảm của nhà thơ Thanh Thảo

Trang 34

Ngôn từ trong thơ rất giàu nhạc điệu với những âm luyến láy, những từ trùng điệp, sự phối hợp bằng trắc và những cách ngắt nhịp có giá trị gợi cảm Trong thơ trữ tình, nhạc tính được thể hiện ở sự cân đối, sự trầm bổng và sự

trùng điệp Chẳng hạn Tây Tiến là bài thơ điển hình cho sự giàu nhạc tính với cách hiệp vần “ơi”, sự phối hợp giữa những câu thơ nhiều thanh bằng với những

câu thơ nhiều thanh trắc tạo nên sự đối xứng về thanh điệu…

1.1.3.3 Đặc điểm đối tượng tiếp nhận

Trong quá trình dạy học, GV không chỉ chú ý tới đặc điểm của tác phẩm thơ trữ tình mà cần phải hướng tới đối tượng tiếp nhận - HS Bởi lẽ, con đường đi vào một TPVH phải thông qua quá trình tiếp nhận Đối tượng tiếp nhận ở đây -

HS THPT (lớp 12) đã điều khiển được quá trình nhận thức của mình Ở lứa tuổi này, tính chủ định phát triển mạnh trong tất cả các quá trình nhận thức HS đã có những tiền đề rất ý nghĩa - đặc biệt là năng lực liên tưởng, tưởng tượng trong việc tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình

Sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát Ở độ tuổi này, cảm

giác của HS đã đạt đến mức tinh nhạy như người lớn Tri giác có chủ định phát triển, năng lực quan sát được nâng cao, quan sát trở nên có hệ thống, có mục đích toàn diện hơn Ngôn ngữ trở thành phương tiện đắc lực cho quá trình quan sát Nhờ sự phát triển này, vốn sống và sự hiểu biết về thế giới tự nhiên, xã hội xung quanh được nâng lên Văn học trong đó có thơ ca lại là tấm gương phản

Trang 35

28

ánh đời sống cho nên nhờ sự phát triển của cảm giác, tri giác, năng lực quan sát

mà các em có khả năng tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình tốt hơn Khi rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho HS, GV nhất thiết phải lưu ý đến luận điểm này GV cần có những định hướng phù hợp giúp HS tiếp nhận một tác phẩm thơ trữ tình

đúng như lời khuyên của I.P.Pavlov: “Không dừng lại ở bề mặt của hiện tượng”

Sự phát triển của trí nhớ Ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ từ ngữ logic ở lứa tuổi

này chiếm ưu thế Đặc biệt tính hệ thống trong trí nhớ phát triển mạnh HS tạo được tâm thế phân hoá trong ghi nhớ Điều này có ý nghĩa đặc biệt với việc tiếp nhận một tác phẩm thơ trữ tình cũng như khả năng liên tưởng, tưởng tượng của

HS Sự phát triển này giúp HS có thể phục hồi, tái tạo tri thức đã có trong bài thơ đang tìm hiểu và tri thức đã học, đã đọc ở cấp trước…Trên cở sở đó phân tích ý nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn của nó để mở rộng trường liên tưởng, tưởng tượng của mình Cho nên, GV có thể huy động tri thức và vốn hiểu biết sẵn có để đánh thức tiềm năng dồi dào của HS GV cần lưu ý và có những gợi dẫn, giúp cho HS

ghi nhớ có chủ định, từ đó mở rộng trường liên, tưởng tượng

Sự phát triển tư duy trừu tượng Trong học tập, sự lĩnh hội tri thức của các

em chủ yếu dựa vào loại tư duy này Tư duy và ngôn ngữ đã ăn nhập ở mức độ cao Sự vận dụng các thao tác tư duy của HS lớp 12 khá nhuần nhuyễn Các năng lực phân tích, so sánh, tổng hợp, phán đoán, suy luận, năng lực khái quát hoá, trừu tượng hoá phát triển mạnh Khi hướng dẫn HS tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình, GV cần khuyến khích các em phát huy những năng lực này Và nhờ những

năng lực này, HS sẽ dễ dàng chiếm lĩnh tác phẩm

Sự phát triển của tưởng tượng Tưởng tượng ở giai đoạn này phát triển mạnh

mẽ và có những thay đổi mới về chất Nội dung tưởng tượng phong phú, sinh động Điều này cực kì hữu ích cho việc khám phá một tác phẩm thơ trữ tình Thông thường, nhà văn là người quan sát, tìm hiểu, chiêm nghiệm về cuộc sống

Trang 36

29

rồi lựa chọn tái tạo nó qua ngôn ngữ tác phẩm Người đọc muốn khám phá tác phẩm phải đi theo chiều ngược lại: qua ngôn từ mà hình dung lại thế giới khách quan Tưởng tượng tái tạo của HS lúc này phù hợp với thực tế hơn Nhờ tưởng tượng tái tạo phát triển, các em có thể “đắm mình” vào những thời kì lịch sử xa xưa, hình dung ra cuộc sống, pháp luật, nền văn hoá… của những thời kì lịch sự nhất định Đặc biệt các em có thể hình dung ra hình tượng trong TPVH một cách đầy đủ Cho nên, thông qua ngôn từ trong TPVH HS hoàn toàn có thể tưởng

tượng được cảnh, người, việc,… nói đến trong bài thơ hoặc đoạn thơ Tưởng

tượng sáng tạo của HS cũng phát triển mạnh mẽ, phong phú và giữ vai trò chủ yếu Điều này thể hiện rõ trong quá trình lĩnh hội tri thức và nhiều hoạt động của các em Nhiều em có thể hiện rõ dấu ấn cá nhân đầy sức sáng tạo khi tiếp nhận thơ trữ tình Tuy nhiên trong nhiều trường hợp HS còn tưởng tượng quá xa với bài học, tưởng tượng sai lệch GV cần giúp các em nhận thức rõ khả năng của

mình, dẫn dắt hoạt động tưởng tượng của các em diễn ra đúng hướng

Sự phát triển năng lực ngôn ngữ Năng lực sử dụng các quy tắc ngữ pháp

của HS lớp 12 tương đối nhuần nhuyễn và nhu cầu sử dụng tu từ tăng rõ rệt, ngôn ngữ thầm rất phát triển Bởi thế, HS diễn đạt khá lưu loát, diễn cảm và chính xác hơn so với HS các lớp dưới HS luôn có ý thức trau dồi những lời văn đẹp, các em muốn diễn đạt ý nghĩ của mình một các trong sáng, gợi cảm… Chất liệu của văn học là ngôn từ cho nên sự phát triển năng lực ngôn ngữ là một tiền

đề thực sự ý nghĩa cho việc cảm thụ văn chương của các em Những câu thơ độc đáo, sáng tạo về ngôn từ trong tác phẩm thơ trữ tình HS hoàn toàn có thể giải mã được Do đó, GV cần tận dụng khả năng này của HS để các em tự khám phá cái

hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ ca

Như vậy, do có sự hoàn thiện hệ thống các giác quan và vỏ não, do có sự phong phú về tri thức và kinh nghiệm sống, do yêu cầu của hoạt động học ngày

Trang 37

30

càng nâng cao mà năng lực nhận thức của HS lớp 12 ngày càng phát triển mạnh, đặc biệt là năng lực tư duy, tưởng tượng và ngôn ngữ Đây là những thuận lợi cho việc dạy học văn Các em hoàn toàn có khả năng độc lập suy nghĩ và nhận

thức - tự mình chiếm lĩnh TPVH

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Thực trạng hoạt động rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của giáo viên trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay

1.2.1.1 Khảo sát thực trạng hoạt động rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng của giáo viên trong giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay

Để nắm bắt cụ thể hơn tình hình thực tiễn rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng

của GV trong giờ dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 ở nhà trường phổ thông, chúng tôi đã tiến hành khảo sát giáo án bài giảng, dự giờ một số tiết dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 của GV tổ văn ở 2 trường THPT Trần Hưng Đạo, quận

Hà Đông, Hà Nội (4 GV) tại lớp 12A5, 12A7, 12A8, 12A11 và trường THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh (4 GV) tại các lớp 12A1, 12A2, 12A4, 12A5 Đồng thời, chúng tôi còn sử dụng phiếu điều tra GV Các GV được lựa chọn khảo sát được tổ chuyên môn đánh giá chuyên môn từ loại khá trở lên

Nội dung khảo sát: Đối với giáo án, chúng tôi lựa chọn mỗi GV 2 giáo án; Về tiết dạy, chúng tôi lựa chọn dự giờ chính những GV có giáo án đã được khảo sát; Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng phiếu điều tra bằng cách soạn hệ thống câu hỏi trắc nghiệm cho GV trả lời Cụ thể như sau:

Trang 38

31

Các giáo án được khảo sát: Tiết 18, 19 (Tây Tiến của Quang Dũng); tiết 24,

25 (đoạn trích Việt Bắc của Tố Hữu); tiết 40 (Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo); tiết 37, 38 (Sóng của xuân Quỳnh) Tổng số giáo án được khảo sát là 16

Dự giờ theo đúng như chương trình đã khảo sát trên giáo án Tổng số tiết dự giờ được khảo sát là 16 Lớp được lựa chọn khảo sát tiết dạy là các lớp có lực học xếp trên mặt bằng chung gần như tương đương nhau Người dạy chính là

GV đã thiết kế giáo án Việc đánh giá được dựa trên thang điểm và tiêu chí đánh giá của mẫu phiếu dự giờ

Căn cứ vào các phiếu điều tra (Phụ lục 1) mà chúng tôi đã phát cho 8 GV

thống kê được kết quả khảo sát như sau:

Bảng 1.1 Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra giáo viên

1.2.1.2 Đánh giá kết quả khảo sát

Từ các kết quả khảo sát trên, chúng tôi sơ bộ đánh giá như sau:

Nắm được chủ trương chung về đổi mới việc dạy và học cùng với đòi hỏi của thực tiễn, nhiều GV đã đầu tư thời gian tìm tòi những cách thức, phương pháp tổ chức dạy học mới phù hợp với đối tượng HS của mình để tổ chức dạy học tác phẩm thơ trữ tình mang lại hiệu quả tích cực Việc thiết kế giáo án được

GV đặc biệt chú ý Hầu hết ý kiến của GV đều cho rằng, muốn dạy tốt các tiết dạy nói chung và tác phẩm thơ trữ tình nói riêng cần có một giáo án được chuẩn

bị kĩ lưỡng là rất quan trọng Quá trình khảo sát 16 giáo án của 8 GV ở 2 trường

Trang 39

32

THPT Trần Hưng Đạo, quận Hà Đông, Hà Nội và THPT Hàm Long, thành phố Bắc Ninh cho thấy, hầu hết các giáo án đã thiết kế được GV bám sát theo hướng dẫn trong SGV và các đơn vị kiến thức, nội dung dạy học của SGK Ngữ văn lớp

12 Giáo án được thiết kế đầy đủ các phần mục, thể hiện rõ ràng các bước thực hiện và đơn vị kiến thức mà bài học yêu cầu Các tiết dạy học tác phẩm thơ trữ tình được GV tổ chức dạy học bám sát khung phân phối chương trình, đảm bảo thời lượng tiết học và yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cơ bản Trong một số giáo án

và giờ dạy bước đầu GV đã chú ý tới hoạt động tiếp nhận sáng tạo của HS - việc

tổ chức hoạt động liên tưởng và tưởng tượng của HS nhưng chỉ mang tính ngẫu nhiên, thiếu ý thức chủ động

Cũng qua khảo sát giáo án, dự giờ và phiếu điều tra chúng tôi nhận thấy thực trạng tổ chức dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói chung và việc rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho HS trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình nói riêng hiện nay còn khá nhiều vấn đề tồn tại cần khắc phục Do thời lượng (số tiết) dành cho mỗi tác phẩm thơ trữ tình còn ít mà đây lại là phần chương trình trọng tâm phục

vụ cho thi cử nên hầu hết GV thường đứng trước mâu thuẫn khó giải quyết thời gian thực hiện và khối lượng công việc Điều đó dẫn đến một thực tế GV ít có điều kiện quan tâm đến diễn biến hoạt động tiếp nhận của HS, khiến cho việc đầu thích đáng vào tổ chức hoạt động liên tưởng và tưởng tượng cho HS trong hệ thống việc làm tích cực của HS không được đảm bảo Chưa kể vẫn còn một bộ phận GV thường chỉ thiên về việc phân tích ngôn từ, các thủ pháp nghệ thuật chứ chưa thực sự chú ý đến những phương diện khác có khả năng kích thích hứng thú nhận thức sáng tạo của HS Đáng lo ngại, vẫn còn hiện tượng GV còn rất mơ hồ, chưa có những hiểu biết rõ ràng về hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của HS khi tiếp nhận TPVH nói chung và tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình nói riêng Có GV lại mang tâm lí khả năng liên tưởng, tưởng tượng của HS là vô tận,

Trang 40

33

nhiều chiều; ngoài những liên tưởng, tưởng tượng tích cực đi đúng hướng của bài học còn có khá nhiều HS mắc phải những liên tưởng, tưởng tượng tiêu cực hoàn toàn viển vông, xa vời với bài học và thậm chí còn sai lệch, méo mó về hình tượng nghệ thuật Điều này khiến GV phải mất một thời lượng nhất định trong tiết học để uốn nắn, định hướng cho HS, làm ảnh hưởng tới sự phân bố thời gian cho mỗi bài học Tâm lí GV muốn né tránh, hoặc hạn chế việc tổ chức hoạt động liên tưởng, tưởng tượng cho HS

1.2.1.3 Đề xuất của tác giả luận văn

Trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 12 nói riêng và SGK Ngữ văn nói chung những câu hỏi yêu cầu HS liên tưởng, tưởng tượng trong phần hướng dẫn học bài luôn được đưa ra Như vậy, yêu cầu về hoạt động liên tưởng, tưởng tượng đối với HS trong giờ dạy học TPVH vốn đã được các nhà soạn sách rất quan tâm Nếu HS được GV định hướng để chuẩn bị bài mới theo các yêu cầu trong SGK; đồng thời GV có điều kiện kiểm soát chặt chẽ công việc này thì hiệu quả dạy học theo hướng phát huy năng lực liên tưởng, tưởng tượng tích cực của

HS có thể sẽ khả quan hơn

Dạy học TPVH cũng như tác phẩm thơ trữ tình lớp 12 cần khuyến khích và tăng cường hoạt động liên tưởng, tưởng tượng Điều đó là vô cùng thiết thực, giúp ích cho hoạt động sáng tạo của HS trong tiếp nhận tác phẩm Để giúp GV

có những định hướng, biện pháp, cách thức tổ chức hoạt động liên tưởng, tưởng tượng cho HS, chúng tôi đã mạnh dạn đề xuất một số biện pháp rèn kĩ năng liên tưởng, tưởng tượng cho HS khi tiếp nhận tác phẩm thơ trữ tình trong đề tài luận văn

1.2.2 Thực trạng về hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay

1.2.2.1 Khảo sát về hoạt động liên tưởng, tưởng tượng của học sinh trong giờ học tác phẩm thơ trữ tình ở nhà trường THPT hiện nay

Ngày đăng: 15/10/2015, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 3.1.  Đường luỹ tích bài kiểm tra  110 - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
th ị 3.1. Đường luỹ tích bài kiểm tra 110 (Trang 7)
Bảng 1.1. Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra giáo viên - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Bảng 1.1. Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra giáo viên (Trang 38)
Bảng 1.2. Thống kê chất lượng khảo sát - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Bảng 1.2. Thống kê chất lượng khảo sát (Trang 41)
Bảng 1.3. Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra học sinh - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Bảng 1.3. Thống kê kết quả khảo sát phiếu điều tra học sinh (Trang 42)
Hình ảnh đó? - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
nh ảnh đó? (Trang 92)
Hình  ảnh  người  lính  Tây  Tiến  được  khắc hoạ thông qua thủ pháp đối lập: - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
nh ảnh người lính Tây Tiến được khắc hoạ thông qua thủ pháp đối lập: (Trang 94)
Hình dung bối cảnh văn hoá, chính trị - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Hình dung bối cảnh văn hoá, chính trị (Trang 102)
Hình  dung  về  hình  ảnh  Lor-ca  trong - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
nh dung về hình ảnh Lor-ca trong (Trang 103)
Đồ thị 3.1. Đường luỹ tích bài kiểm tra - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
th ị 3.1. Đường luỹ tích bài kiểm tra (Trang 111)
Bảng 3.4. Phân phối tần suất luỹ tích bài kiểm tra - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Bảng 3.4. Phân phối tần suất luỹ tích bài kiểm tra (Trang 111)
Bảng 3.5. Giá trị của các tham số đặc trưng  Nhận xét: - Rèn kỹ năng liên tưởng, tưởng tượng trong dạy học tác phẩm thơ trữ tình lớp 12
Bảng 3.5. Giá trị của các tham số đặc trưng Nhận xét: (Trang 112)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w