HS có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt kết quả, GV giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho HS thì chưa thể thành công trong công việc dạy học do đó đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THÀNH TRUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ GÓP PHẦN NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM,
HÓA HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẶNG THÀNH TRUNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ GÓP PHẦN NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CHO HỌC SINH PHẦN PHI KIM,
HÓA HỌC 10- TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ SƯ PHẠM HÓA HỌC Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 01 11
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Kim Thành
HÀ NỘI – 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn tới TS Nguyễn Thị Kim Thành – người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ, đôn đốc, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trực tiếp tham gia giảng dạy đã tận tình giảng dạy để tôi có được những kiến thức quý báu và cần thiết cho công việc của mình, cũng như có thể thực hiện thành công đề tài
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo cùng các em học sinh của trường THPT Tiên Du 1 – Bắc Ninh đã tạo nhiều điều kiện hỗ trợ tôi rất hiệu quả trong quá trình tôi học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp… đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 11 năm 2014
Tác giả
Đặng Thành Trung
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
6 1.1 Quá trình dạy học 6
1.1.1 Khái niệm 6
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học 6
1.1.3 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học 6
1.1.4 Tính tích cực trong học tập 7
1.2 Hứng thú học tập……… 9
1.2.1 Khái niệm hứng thú 9
1.2.2 Biểu hiện của hứng thú 11
1.2.3 Cấu trúc của hứng thú 12
1.2.4 Phân loại hứng thú 12
1.2.5 Tác dụng của hứng thú……… ……… 13
Trang 61.2.6 Hứng thú học tập……… 14
1.2.7 Bản chất của việc tạo hứng thú trong dạy học 17
1.2.8 Các quy luật của việc tạo hứng thú trong dạy học……… 19
1.3 Các nhóm biện pháp tạo hứng thú trong dạy học hóa học 20
1.3.1 Tạo hứng thú bằng cách tạo không khí lớp học tích cực, thân thiện 20
1.3.2 Tạo hứng thú bằng cách sử dụng phương tiện dạy học 22
1.3.3 Tạo hứng thú bằng việc khai thác các nguồn kiến thức về hóa học … 22 1.3.4 Tạo hứng thú bằng sự phong phú, đa dạng, luôn thay đổi của các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học ………
23 1.4 Kết quả học tập 23
1.4.1 Khái niệm 23
1.4.2 Những yếu tố góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh…… 24
1.4.3 Đổi mới hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập…… 25
1.5 Thực trạng việc tạo hứng thú trong dạy học hóa học ở trường phổ thông………
26 1.5.1 Mục đích điều tra……… 26
1.5.2 Kết quả điều tra……… 26
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP CHO HỌC SINH TRONG DẠY PHẦN PHI KIM, HÓA HỌC 10- THPT ………
30
Trang 72.1 Tổng quan về phần Phi kim, Hóa học 10- THPT ……… 30
2.3.2 Biện pháp 2 Sử dụng kiến thức lịch sử hóa học vào trong dạy học………
45 2.3.3 Biện pháp 3 Sử dụng mô hình, hình ảnh, video kết hợp phương pháp dạy học ………
49
2.3.5 Biện pháp 5 Xây dựng bầu không khí lớp học thân thiện, vui vẻ, tích cực………
61 2.3.6 Biện pháp 6 Tổ chức cho HS tham gia vào hoạt động học tập thông qua các phương pháp dạy học tích cực ………
63
2.4.1 Giáo án có sử dụng clip thí nghiệm; thí nghiệm vui và bài tập thực tiễn………
72 2.4.2 Giáo án có sử dụng kiến thức lịch sử hóa học; thí nghiệm vui và bài
Trang 8tập thực tiễn……… ……… …… …… 77
2.4.3 Giáo án dạy học hợp đồng có sử dụng kiến thức lịch sử hóa học; thí nghiệm vui; bài tập thực tiễn và bài tập có hình vẽ………
85 2.4.3 Giáo án dạy học theo góc ……… 94
Tiểu kết chương 2 100
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 101
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 101
3.1.1 Mục đích TNSP ……… ……… 101
3.1.2 Nhiệm vụ TNSP ……… 101
3.2 Đối tượng và tiến trình thực nghiệm sư phạm……… 101
3.2.1 Đối tượng TNSP 101
3.2.2 Tiến trình TNSP ……… 102
3.3 Kết quả thực nghiệm sư phạm……… 102
3.3.1 Kết quả các bài dạy TNSP……… 102
3.3.2 Xử lý kết quả TNSP……… 103
3.4 Phân tích kết quả TNSP……… 107
3.4.1 Phân tích định tính kết quả TNSP……… 107
3.4.2 Phân tích định lượng kết quả TNSP……… 110
3.4.3 Nhận xét 110
Tiểu kết chương 3 .110
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
Trang 91 Kết luận 111
2 Khuyến nghị 112
TÀI LIỆU THAM KHẢO 113
PHỤ LỤC .116
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Kết quả điều tra sở thích của HS đối với các môn học…… 26
Bảng 1.2 Kết quả điều tra mức độ quan tâm của HS đến môn Hóa học
27 Bảng 1.3 Kết quả điều tra về nguyên nhân các em chưa thích học môn Hóa học………
28 Bảng 2.1 Hệ thống thí nghiệm có thể sử dụng trong dạy học………… 35
Bảng 2.2 Hệ thống một số thí nghiệm hóa học vui thực hiện trên lớp… 40 Bảng 2.3 Hệ thống các thí nghiệm vui và ảo thuật hóa học ………… 43
Bảng 2.4 Ý nghĩa tên một số nguyên tố……… 48
Bảng 2.5 Phân công nhiệm vụ mỗi góc ……… 66
Bảng 2.6 Kế hoạch thực hiện nội dung bài báo ……… 70
Bảng 3.1 Các cặp lớp TN – ĐC 101
Bảng 3.2 Bài dạy TN và bài kiểm tra đánh giá 102
Bảng 3.3 Bảng phân phối kết quả các bài kiểm tra 102
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số các bài kiểm tra 104
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất các bài kiểm tra 104
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất lũy tích các bài kiểm tra 104
Bảng 3.7 Số % HS đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá và giỏi 106
Bảng 3.8 Bảng giá trị các tham số đặc trưng của lớp TN và ĐC 107
Trang 11Bảng 3.9 Nhận xét của HS lớp TN và lớp ĐC sau mỗi tiết học……… 107
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương “Nhóm
Halogen”
31 Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương “Oxi- Lưu huỳnh”
32 Hình 2.3 Hình ảnh thí nghiệm: Làm nước “sôi” bằng sợi dây kim loại 41
Hình 2.4 Hình ảnh thí nghiệm: Biến “trứng gà công nghiệp” thành “trứng gà ta” ………
42 Hình 2.5 Hình ảnh thí nghiệm: Những chiếc cốc “thần” ……… 43
Hình 2.6 Hình ảnh thí nghiệm: Mực bí ẩn ……… 44
Hình 2.7 Sơ đồ thiết bị sản xuất axit clohiđric trong công nghiệp……… 50
Hình 28 Sơ đồ thiết bị sản xuất axit sunfuric trong công nghiệp……… 50
Hình 2.9 Mô hình phân tử SO2 và SO3 50
Hình 2.10 Điều chế và thu khí clo trong PTN……… 51
Hình 2.11 Điều chế và thu khí oxi trong PTN……… 51
Hình 2.12 Lưu huỳnh (S) và quặng Pirit sắt (FeS2)……… 51
Hình 2.13 Thạch cao và ứng dụng của thạch cao……… 52
Hình 2.14 CuSO4 khan và CuSO4.5H2O……… 52
Hình 2.15 Tác hại của mưa axit……… 52
Hình 2.16 Tác hại nguy hiểm của axit sunfuric đặc……… 53
Trang 13Hình 2.17 Biểu đồ tỉ lệ % về ứng dụng của oxi …… ……… 53
Hình 2.18 Sơ đồ một số ứng dụng của axit sunfuric……… 54
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 105
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 105
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 105
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 3 bài kiểm tra 105
Hình 3.5 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 1 106
Hình 3.6 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 2 106
Hình 3.7 Biểu đồ phân loại kết quả học tập bài kiểm tra số 3 .106
Trang 14MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu hóa đã đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Mục tiêu giáo dục ở nước ta không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức, kỹ năng mà còn quan tâm tới tạo hứng thú, bồi dưỡng năng lực sáng tạo, cách giải quyết vấn đề
Theo W B Yeats: “Giáo dục không nhằm mục tiêu nhồi nhét kiến thức mà là thắp sáng niềm tin” Đặc biệt là người học phải đạt bốn mục tiêu mà UNESCO đưa ra:
sinh viên nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20-11-2007”, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nhắn gửi: “Trong thế kỷ 21 của hội nhập và cạnh tranh toàn cầu, của xã hội thông tin và kinh tế tri thức, thời gian là tài nguyên vô giá, không tái tạo được… Hãy làm sao mỗi giờ các em tới trường là một giờ khám phá, nhận thức được nhanh, sâu sắc thế giới tự nhiên, cuộc sống văn hóa, lịch sử dân tộc và nhân loại” Để có được những giờ học lý thú như vậy, người GV không
những cung cấp cho HS kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa mà còn kích thích hứng thú trong việc học tập
Hứng thú có vai trò quan trọng trong quá trình nghiên cứu học tập của HS nói riêng và các nhà khoa học nói chung Nó là động lực thúc đẩy chủ thể tạo ra những sản phẩm góp phần vào sự phát triển của xã hội Nếu không có hứng thú thì hoạt động khó đạt được kết quả cao Hứng thú học tập là một trong những yếu tố quyết định kết quả học tập của HS HS có khả năng mà không có hứng thú thì cũng không đạt kết quả, GV giỏi chuyên môn mà không có kỹ năng tạo hứng thú học tập cho HS thì chưa thể thành công trong công việc dạy học do đó đòi hỏi người GV phải hội tụ kiến thức và tất cả các yếu tố phục vụ cho công việc dạy học Kỹ năng
Trang 15tạo hứng thú là kỹ năng quan trọng nhất, mà để có được kỹ năng này thì đầu tiên người GV phải có kiến thức sâu, rộng, phải luôn cung cấp cho HS lượng kiến thức:
đủ, đúng, mới, thiết thực
Hiện nay, kiến thức Hóa học vô cùng to lớn và ngày càng được mở rộng cùng sự phát triển kiến thức của nhân loại trong khi thời gian học trên lớp thì có hạn, GV không thể cung cấp hết kiến thức cho HS được Việc tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập môn Hóa học sẽ giúp HS có thể tự tìm hiểu, bổ sung kiến thức là thực sự cần thiết, nhờ hứng thú mà HS có thể giảm mệt mỏi, căng thẳng, tăng sự chú ý, thúc đẩy tính tích cực tìm tòi, sáng tạo
Thực tế, việc thường xuyên tạo cho HS hứng thú trong các tiết học Hóa học
ở trường THPT còn chưa quan tâm thích đáng cũng như chưa được đề cao Các bài giảng thường thiên về lý thuyết, sách vở, khô cứng, thiếu thực tế, GV không linh hoạt trong các phương án tạo hứng thú học tập cho HS Nhiều em HS, đặc biệt các
em HS lớp 10 THPT còn thấy nhiều khó khăn khi học môn Hóa học, chưa có hứng thú học, không thấy có sự hấp dẫn của môn học này Ngoài ra, những tài liệu về tạo hứng thú trong dạy học Hóa học còn chưa thật nhiều Vì vậy, việc nghiên cứu về hứng thú học tập bộ môn Hóa học rất cần được quan tâm
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài “Một số biện pháp tạo hứng thú góp phần nâng cao kết quả học tập cho học sinh phần Phi kim, Hóa học 10- Trung học phổ thông” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
“Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục” của tác giả Su-ki-na
[27] Tác giả trình bày cơ sở lý luận của hứng thú nhận thức, phương pháp và quá trình nghiên cứu hứng thú học tập của HS Các nội dung cơ bản để kích thích hứng thú nhận thức của HS trong quá trình dạy học
“Từ hứng thú đến tài năng” của tác giả L.X.Xô-Lô-Vây-Trích [43] Sách không trình bày cơ sở lý luận mà chỉ giới thiệu những câu chuyện có thật trong cuộc sống Qua những câu chuyện kể, tác giả giúp chúng ta hiểu được những mối liên hệ giữa hứng thú và tài năng từ đó, chúng ta có thể vận dụng vào công tác giảng dạy Nội dung sách đơn giản, dễ hiểu nên có thể phù hợp với nhiều đối tượng có các trình độ nhận thức khác nhau
giảng dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của HS” Tác giả đưa ra cấu trúc
Trang 16tâm lý của hứng thú, đồng thời còn phân tích những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú trong quá trình học tập và lao động của HS cũng như tác dụng của việc giảng dạy nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của HS
Ở Việt Nam những năm gần đây vấn đề tạo hứng thú học tập môn Hóa học cho
HS cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu Một số luận văn thạc sĩ giáo dục học và khóa luận tốt nghiệp đại học sư phạm đã nghiên cứu vấn đề này như:
Luận văn thạc sĩ “Sử dụng thí nghiệm vui và ảo thuật Hóa học nhằm nâng cao hứng thú học tập Hóa học cho học sinh phổ thông” của học viên Hoàng Thị
Minh Anh, Đại học Sư Phạm Hà Nội (1995)
Luận văn thạc sĩ “Những biện pháp gây hứng thú trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông” của học viên Phạm Ngọc Thủy, Đại học Sư phạm Tp.HCM
viên Phạm Thùy Linh, Khoa Hóa, Đại học Sư phạm TP.Hồ Chí Minh (2005)
Khóa luận tốt nghiệp “Thiết kế một số hoạt động dạy học gây hứng thú nhận thức trong môn Hóa học lớp 10” của sinh viên Tô Quốc Anh, Khoa Hóa – Đại học
Sư phạm TP.Hồ Chí Minh (2007)
Các công trình trên đã đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú trong giảng dạy Hóa học cho HS Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết, cụ thể
và đầy đủ về sử dụng các biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trên cơ sở thiết kế
và tổ chức hoạt động dạy học phần Phi kim, Hóa học 10- THPT
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tập và vận dụng vào quá trình dạy học phần Phi kim, Hóa học 10 để góp phần nâng cao kết quả học tập trong trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về tâm lý học dạy học, tìm hiểu bản chất và các quy luật của việc tạo hứng thú trong dạy học Hóa học
- Nghiên cứu những biện pháp tạo hứng thú trong dạy học Hóa học
Trang 17- Thiết kế một số bài dạy học có tăng cường sử dụng các phương án tạo hứng thú học tập thuộc nội dung kiến thức phần Phi kim, Hóa học 10- THPT
- Thực nghiệm sư phạm để xác định hiệu quả, tính khả thi của những biện pháp và rút ra các bài học kinh nghiệm
5 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Hóa học ở trường Trung học phổ thông
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tạo hứng thú cho HS khi dạy học phần Phi kim, Hóa học 10- THPT
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề xuất và sử dụng một số biện pháp tạo hứng thú trong quá
trình dạy học phần Phi kim, Hóa học 10- THPT
- Về địa điểm: Tại một số trường THPT tỉnh Bắc Ninh
7 Giả thuyết khoa học
Nếu GV biết lựa chọn và sử dụng các biện pháp tạo hứng thú một cách hợp lí, linh hoạt, phù hợp với trình độ HS trong quá trình dạy học sẽ tạo sự thích thú lòng yêu mến môn Hóa học Đó chính là động cơ phát huy tính tích cực, tự lực học tập từ
đó nắm vững, hiểu sâu kiến thức góp phần nâng cao kết quả học tập
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu về lý luận dạy học, tâm lý học dạy học nói chung đồng thời nghiên cứu tài liệu sách giáo khoa, sách GV và các tài liệu liên quan
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lí kết quả các bài kiểm tra từ đó đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm
- Đánh giá kết luận: Kiểm tra giả thuyết khoa học và xây dựng phương án tổ chức dạy có tăng cường và sử dụng linh hoạt các phương án tạo hứng thú học tập
8.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Tiến hành dự giờ, dùng phiếu điều tra, trao đổi trực tiếp với GV về tình hình dạy và học: soạn giáo án, thực hiện chương trình, tìm hiểu
sự hứng thú cuả HS, mức độ nhận thức của HS, Tổ chức kiểm tra trắc nghiệm
Trang 18kiến thức, kĩ năng, các quan niệm sai lầm của HS cả trước và sau khi thực nghiệm cho lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Phương pháp thực nghiệm khoa học giáo dục: Tiến hành thực nghiệm sư phạm với tiến trình dạy học đã soạn thảo đối với lớp thực nghiệm
9 Đóng góp mới của đề tài
- Luận văn đã hệ thống hóa được các cơ sở lý luận về việc phát huy hứng thú học tập cho HS
- Đề ra các biện pháp cụ thể để tổ chức hoạt động dạy học một số kiến thức phần Phi kim, Hóa học 10 theo hướng tạo hứng thú và phát huy tính tích cực học tập của HS lớp 10 THPT
- Xây dựng được tiến trình dạy học cụ thể một số kiến thức Hóa học của phần Phi kim theo hướng phát huy hứng thú và tính tích cực học tập của HS lớp 10 THPT
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho GV dạy Hóa học ở trường THPT, góp phần từng bước nâng cao chất lượng dạy học Hóa học THPT
10 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề tạo hứng thú học tập
Chương 2 Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS trong dạy phần Phi
kim, Hóa học 10 THPT
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 19Quan điểm của Vưgotxky L.X (1896– 1934) và nhiều nhà giáo dục đương thời
“dạy học là quá trình tương tác giữa hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS” Trong quá trình tương tác đó, GV là chủ thể của hoạt động dạy, HS là chủ thể
và lực) để thông qua đó hình thành cho HS quan điểm và thái độ đúng đắn đối với bản thân, đối với cuộc sống
Vậy quá trình dạy học, về bản chất là quá trình nhận thức đặc biệt của HS do
GV tổ chức, điều khiển nhằm chiếm lĩnh nội dung học vấn phổ thông Nói cách khác, quá trình dạy học là quá trinh nhận thức độc đáo của HS dưới vai trò chủ đạo của GV nhằm thực hiện mục đích, nhiệm vụ dạy học
1.1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học [5], [42]
Dạy học là sự điều khiển tối ưu quá trình HS chiếm lĩnh khái niệm, kiến thức khoa học từ đó hình thành và phát triển nhân cách cho HS
Dạy học là loại hình hoạt động hai chiều, nó đòi hỏi nhất thiết phải có tác động qua lại giữa GV và HS Tác động ấy diễn ra trong những điều kiện nhất định (điều kiện vật chất- học tập, điều kiện vệ sinh, điều kiện tâm lý, đạo đức, thẩm mỹ ) Dạy học không thể thiếu tác động qua lại biện chứng giữa GV và HS Nếu sự tích cực truyền đạt của GV mà không có sự tích cực hoạt động để tiếp thu kiến thức của HS thì quá trình dạy và học thực tế không diễn ra Do đó, bất kì GV nào, dạy bộ môn gì đều phải nhận thức được bản chất của việc học tích cực và xác định đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa dạy và học
1.1.3 Vai trò của giáo viên trong quá trình dạy học [5], [42]
Trang 20Trước những yêu cầu đổi mới của sự nghiệp giáo dục, với việc ứng dụng hệ thống các phương pháp dạy học tích cực, nhà trường đang có những biến đổi về chất trong cách dạy và cách học
Học sinh đến trường không phải chỉ để nghe những điều thầy dạy vì "nghe rồi quên, nhìn thì sẽ nhớ, nhưng làm thì mới hiểu" (tục ngữ cổ phương Đông) Chỉ
có bắt tay vào làm mới có thể hiểu sâu sắc Đúng như Brune đã nhận xét: "Kiến thức thu nhận bằng con đường tự khám phá là kiến thức vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất"
Để có thể "làm", HS không chỉ làm theo những mẫu có sẵn mà làm theo cái cần thiết, mục đích và yêu cầu đã định Học sinh cần được bồi dưỡng năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chính trong quá trình bồi dưỡng năng lực
đó, vai trò của người GV lại càng quan trọng hơn bao giờ hết Trong quá trình đó, thầy là người thiết kế, điều khiển để cho học tập tự giác và tích cực Thầy kích động
và khơi dậy hứng thú học tập của trò, tổ chức và điều khiển để trò chủ động, tích cực học tập Trò được học với tư cách đích thị là mình, được nghĩ bằng cái đầu của mình, được nói bằng lời của mình, được viết theo ý mình, không bị gò ép, áp đặt Điều này rất quan trọng, như câu nói bất hủ của William A.Ward: "Chỉ nói thôi là thầy giáo xoàng, giảng giải là thầy giáo tốt, minh họa biểu diễn là thầy giáo giỏi, gây hứng thú học tập là thầy giáo vĩ đại"
1.1.4 Tính tích cực trong học tập [4], [8], [11]
1.1.4.1 Khái niệm tính tích cực
Tính tích cực là một thuộc tính của nhân cách, nó có liên quan và phụ thuộc vào các thuộc tính khác đặc biệt là thái độ, nhu cầu, hứng thú và động cơ của chủ thể Tính tích cực nằm trong hoạt động, biểu hiện qua hành động và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động Nó làm cho quá trình học tập, tìm tòi, sáng tạo có tính định hướng cao hơn, từ đó con người dễ làm chủ và điều khiển hoạt động của mình
1.1.4.2 Vai trò của tính tích cực trong học tập
Tính tích cực là một trong những điều kiện rất quan trọng để HS đạt được kết quả cao trong học tập Tính tích cực giúp HS tiếp thu kiến thức nhanh hơn, ghi nhớ tốt hơn, HS sẽ vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức vững chắc thu được qua quá trình học tập tích cực vào thực tiễn cuộc sống
Tính tích cực của HS là một động lực của quá trình dạy học: HS năng động, tích cực tham gia các hoạt động của GV thiết kế sẽ giúp quá trình dạy- học đạt được
Trang 21mục tiêu quan trọng nhất là đào tạo những con người năng động sáng tạo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
1.1.4.3 Những biểu hiện của tính tích cực
1.1.4.5 Mối quan hệ giữa tính tích cực học tập và hứng thú nhận thức
Trong quá trình học tập tính tích cực nhận thức luôn có quan hệ chặt chẽ với hứng thú nhận thức Các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức trong quá trình học tập Lý luận dạy học hiện đại coi hứng thú nhận thức là yếu
tố có ý nghĩa to lớn không chỉ trong quá trình dạy học mà cả đối với sự phát triển toàn diện, sự hình thành nhân cách của HS Hứng thú là yếu tố quan trọng dẫn đến
sự tự giác Hứng thú và tự giác là yếu tố tâm lý đảm bảo sự hình thành, phát triển tính tích cực, độc lập sáng tạo trong học tập
Ngược lại, phong cách học tập tích cực, độc lập sáng tạo có ảnh hưởng tới sự phát triển hứng thú và tính tự giác Hứng thú nhận thức được hình thành qua các hình thức tổ chức học tập, trong việc hoàn thành các hoạt động nghiên cứu độc lập sáng tạo Nếu HS được độc lập tiến hành thí nghiệm, quan sát, so sánh, phân tích khái quát hoá các hiện tượng hoá học thì các em sẽ hiểu sâu sắc kiến thức và bộc lộ
Trang 22- Việc lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học phải phù hợp với năng lực, hứng thú và nhu cầu nhận thức của HS Nội dung học tập quá dễ hoặc quá khó đều không gây được hứng thú cho HS Giáo viên cần tổ chức, thiết kế bài học có sự hướng dẫn HS tìm thấy cái mới về kiến thức, về phương pháp nghiên cứu thì HS sẽ thấy hào hứng, tự tin tham gia vào quá trình tìm tòi, tự lực giành lấy kiến thức
- Sự giao tiếp thân thiện giữa GV và HS, giữa HS và HS sẽ tạo ra không khí học tập hào hứng, khuyến khích HS thể hiện được sự nhận thức của mình, trao đổi
về các ý kiến của nhau, phân tích các quan điểm, khái niệm khoa học, bày tỏ các ý tưởng phát triển vấn đề …Những hình thức tổ chức học tập phong phú sẽ tạo ra được không khí học tập cho cả lớp, niềm vui, hứng thú học tập đến từng cá nhân
Vì vậy các nhà sư phạm quan tâm nhiều đến mối quan hệ giữa tính tích cực nhận thức và hứng thú học tập của HS để lựa chọn, xác định xu hướng đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) của các cấp học, môn học
1.2 Hứng thú học tập
1.2.1 Khái niệm hứng thú [4], [17], [19], [22], [25], [40]
1.2.1.1 Quan điểm duy tâm và phiến diện siêu hình về hứng thú
Trên thế giới, vấn đề hứng thú đã được nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu và
có nhiều quan điểm khác nhau về hứng thú, thậm chí trái ngược như:
- Annoi, nhà tâm lý học người Mỹ, cho rằng hứng thú là một sự sáng tạo của tinh thần với đối tượng mà con người muốn tham gia vào
- Còn Harlette Buhler đưa ra khái niệm hứng thú là một hiện tượng phức hợp cho đến nay vẫn chưa được xác định, hứng thú không những chỉ toàn bộ những hành động khác nhau mà còn thể hiện cấu trúc bao gồm các nhu cầu
- Theo K.Strong và W.James thì hứng thú là một trường hợp riêng của thiên hướng biểu hiện xu thế hoạt động của con người như là một nét tính cách
……
Nhìn chung các nhà tâm lý học đề cập ở trên đều có quan điểm hoặc là duy tâm hoặc là phiến diện siêu hình về hứng thú Tác hại của các quan điểm này là nó phủ nhận vai trò của giáo dục và tính tích cực của cá nhân trong sự hình thành của hứng thú
1.2.1.2 Quan điểm duy vật biện chứng về hứng thú
Tâm lý học Macxit xem xét hứng thú theo quan điểm duy vật biện chứng Coi hứng thú không phải là cái trừu tượng vốn có trong mỗi cá nhân mà là kết quả
Trang 23của sự hình thành và phát triển nhân cách cá nhân, nó phản ánh một cách khách quan thái độ đang tồn tại ở con người Khái niệm hứng thú được xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau như:
- V.N.Miasixep, V.G.Ivanôp, A.Gackhipop coi hứng thú là thái độ nhận thức tích cực của cá nhân với những đối tượng trong hiện thực khách quan
nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương đối ổn định của con người đối với các hoạt động nhất định
- Trong từ điển tâm lý học, hứng thú được coi là một biểu hiện của nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn nhu cầu tạo ra khoái cảm thích thú
Tóm lại: Các nhà tâm lý học Macxit đã nghiên cứu hứng thú theo quan điểm
duy vật biện chứng đã chỉ ra tính chất phức tạp của hứng thú, xem xét hứng thú trong mối tương quan với các thuộc tính khác của nhân cách (nhu cầu, xúc cảm, ý chí, trí tuệ,…)
Ở Việt Nam, hứng thú được các nhà tâm lý học quan tâm tìm hiểu và đưa ra một số khái niệm không giống nhau
- Theo Nguyễn Quang Uẩn: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” Khái niệm này vừa nêu được bản chất cửa hứng thú, vừa gắn hứng thú với hoạt động của cá nhân
- Nhóm của tác giả Phạm Minh Hạc- Trần Trọng Thủy cho rằng: “khi ta có hứng thú về một cái gì đó, thì cái đó bao giờ cũng được ta ý thức và hiểu ý nghĩa của nó đối với cuộc sống của ta Hơn nữa ở ta xuất hiện một tình cảm đặc biệt đối với nó, do đó hứng thú lôi cuốn hấp dẫn chúng ta về phía đối tượng của nó tạo ra tâm lý khát khao tiếp cận đi sâu vào nó”
- Nhiều nhà tâm lý cho rằng: “Hứng thú là một thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng và có sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng”
- Theo Từ điển Tiếng Việt: hứng thú có hai nghĩa: “Biểu hiện của một nhu cầu, làm cho chủ thể tìm cách thỏa mãn, tạo ra khoái cảm, thích thú và huy động sinh lực để cố gắng thực hiện” và “sự ham thích”
Trang 24Qua các tài liệu ở trên, chúng ta có thể quan niệm rằng hứng thú là thái độ của cá nhân đối với một đối tượng hay quá trình nào đó đã đem lại những khoái cảm, thích thú và kích thích mạnh mẽ đến tính tích cực cá nhân đòi hỏi họ có thể huy động sinh lực một cách trọn vẹn để thực hiện Tạo hứng thú trong dạy học là quá trình người GV tác động vào nội dung học tập, môi trường giúp HS thích thú, quan tâm đến chúng từ đó ham thích tìm hiểu để tự bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ Việc làm này là một điều rất quan trọng, nó góp phần giúp cho quá trình dạy và học đạt được hiệu quả cao
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa: “Hứng thú là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa đối với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại xúc cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động" và khái niệm: “Hứng thú là sự ham thích" làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên
cứu
1.2.2 Biểu hiện của hứng thú [27]
Có khá nhiều quan niệm khác nhau về những biểu hiện của hứng thú nhưng theo chúng tôi, hứng thú được biểu hiện ở các mặt sau:
- Về mặt trí tuệ:
+ Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết; sẵn sàng học hỏi và thường xuyên đặt câu hỏi để hiểu sâu vấn đề hơn
+ Có nhu cầu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và thích làm những công việc khó
- Về mặt tình cảm:
+ Rất hứng thú, phấn khởi trong quá trình tìm hiểu, biết phát huy sáng kiến hay cải tiến trong hoạt động
Trang 25+ Chủ động dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu, nhận thức
+ Thích vượt qua những khó khăn và vui sướng, hạnh phúc khi biết thêm một kiến thức mới, vấn đề mới hay hoàn thành mục tiêu đã đề ra
Phân tích cấu trúc của hứng thú, tiến sĩ tâm lý học N G Marôzôva đã đưa ra
ba yếu tố đặc trưng cho hứng thú
+ Có xúc cảm sâu sắc, đúng đắn với đối tượng gây ra hứng thú
+ Cá nhân nhận thức được đối tượng đã gây ra hứng thú
+ Có hành động vươn tới chiếm lĩnh đối tượng
Ba thành tố trên có liên quan chặt chẽ với nhau trong hứng thú của cá nhân, tương tác lẫn nhau Trong cấu trúc hứng thú, sự tồn tại của từng mặt riêng lẻ không
có ý nghĩa đối với hứng thú, không nói lên mức độ của hứng thú Ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau của hứng thú, mỗi thành tố đó có thể nổi lên mạnh hay yếu, ít hay nhiều
Xúc cảm là yếu tố không thể thiếu được trong hứng thú của cá nhân Nhưng nếu chỉ dừng ở mức độ xúc cảm với đối tượng thì chưa phải là hứng thú Nếu chỉ nói đến mặt nhận thức thì mới là sự hiểu biết của con người với đối tượng Còn khi nói đến mặt hành động là chỉ đề cập đến hình thức biểu hiện bên ngoài, không thấy được xúc cảm, tình cảm của họ với đối tượng đó
Bất kỳ hứng thú nào cũng là thái độ xúc cảm tích cực của chủ thể với đối tượng, đó là sự thích thú với bản thân đối tượng; còn nhận thức là tiền đề cho việc hình thành xúc cảm Khi cá nhân có xúc cảm thực sự với đối tượng muốn chiếm lĩnh, có niềm vui tìm hiểu và nhận thức đối tượng thì họ mới tích cực hành động
Do đó, hứng thú phải là sự kết hợp giữa xúc cảm, nhận thức và hành động tích cực, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú và tính tích cực hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng
1.2.4 Phân loại hứng thú [48]
Hứng thú của con người muôn màu, muôn vẻ Căn cứ vào nội dung đối tượng, nội dung hoạt động hứng thú được chia ra làm 5 loại:
Trang 26- Hứng thú vật chất là loại hứng thú biểu hiện thành nguyện vọng như muốn có chỗ ở đầy đủ, tiện nghi, ăn ngon, mặc đẹp
- Hứng thú nhận thức là hứng thú dưới hình thức học tập như: hứng thú Vật lý học, hứng thú Hóa học, hứng thú Tâm lý học
- Hứng thú lao động nghề nghiệp là hứng thú một ngành nghề cụ thể: hứng thú nghề GV, nghề công an, nghề bác sĩ
- Hứng thú cho phép con người duy trì sự chú ý thường xuyên
- Hứng thú làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ (quy luật hướng đích và quy luật ưu tiên)
- Hứng thú tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động Chỉ có hứng thú đối với một hoạt động nào đó mới đảm bảo cho hoạt động ấy được tích cực
- Hứng thú là động cơ chiếm ưu thế trong hoạt động hàng ngày của con người Hứng thú là hệ động cơ duy nhất có thể duy trì được công việc hàng ngày một cách bình thường Hứng thú ảnh hưởng đến tính chất, diễn biến và kết quả của hoạt động Hứng thú làm cho hiệu quả của hoạt động được nâng cao
- Cảm xúc hứng thú tham gia điều khiển tri giác và tư duy Hứng thú điều khiển hoạt động định hướng Chính cảm xúc hứng thú cùng với các cấu trúc và định hướng nhận thức quyết định phương hướng của tri giác, nhận thức và hành động
- Hứng thú tạo cơ sở động cơ cho hoạt động nghiên cứu và sáng tạo Hứng thú
có vai trò trung tâm trong các hoạt động sáng tạo
- Hứng thú là hệ động cơ cực kỳ quan trọng trong sự phát triển các kỹ năng, kỹ xảo và trí tuệ
- Hứng thú rất cần thiết với sự phát triển nhân cách, phát triển tri giác và nhận thức
- Hứng thú có vai trò quan trọng trong sự phát triển cuộc sống xã hội và duy trì
Trang 27các quan hệ giữa các cá nhân Hứng thú cũng giúp duy trì các quan hệ tình dục và gia đình
1.2.6 Hứng thú học tập [4], [19], [21]
1.2.6.1 Khái niệm hứng thú học tập
Từ định nghĩa về hứng thú của tâm lý học hiện đại, trong luận văn này chúng
tôi hiểu hứng thú học tập là sự ham thích của HS đối với một môn học nào đó, do thấy được ý nghĩa của môn học này đối với cuộc sống và đối với bản thân, đem lại
sự hấp dẫn, lôi cuốn trong quá trình học tập bộ môn và kích thích HS hoạt động tích cực hơn
Có hai loại hứng thú trong học tập là hứng thú trực tiếp và gián tiếp
Hứng thú trực tiếp trong học tập là hứng thú đối với nội dung tri thức, quá trình học tập, và những phương pháp tiếp thu, vận dụng những tri thức đó Như vậy, hứng thú trực tiếp được hình thành dựa trên sự say mê của HS đối với môn học, cũng như cách thức chiếm lĩnh các tri thức và vận dụng tri thức đó
Hứng thú gián tiếp trong học tập là hứng thú đối với những yếu tố tác động bên ngoài như được GV khen thưởng, được điểm cộng, đạt điểm cao trong học tập,
GV giảng vui, dễ hiểu, do ảnh hưởng của bạn bè … và sẽ biến mất khi những yếu tố này không còn nữa Hứng thú gián tiếp xuất hiện theo phản ứng có thể rất mạnh nhưng cũng thường ngắn ngủi
Những thành tố tâm lý cấu thành hứng thú học tập bao gồm 3 thành phần chủ yếu sau:
- Xúc cảm
- Nhận thức
- Hành động
1.2.6.2 Các biểu hiện của hứng thú học tập
Hứng thú học tập được biểu hiện thông qua các dấu hiệu, các chỉ số cụ thể trong hoạt động học tập, trong cuộc sống của các em Nhà giáo dục có thể quan sát
và nhận biết được chúng Những biểu hiện này khá phong phú, đa dạng và nhiều khi còn phức tạp, chúng có thể đan xen vào nhau Đó là:
- Biểu hiện về mặt xúc cảm: HS có xúc cảm tích cực (yêu thích, say mê, )
đối với môn học như có niềm vui trong quá trình lĩnh hội kiến thức, mong chờ tiết học và luyến tiếc khi tiết học kết thúc, …
- Biểu hiện về mặt nhận thức: HS nhận thức đầy đủ, rõ ràng những nguyên
Trang 28nhân của sự yêu thích môn học như nội dung môn học hấp dẫn, phương pháp khám phá kiến thức hấp dẫn, vai trò của môn học có ý nghĩa trong cuộc sống
- Biểu hiện về mặt hành động: HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo không
chỉ trong giờ lên lớp mà còn ở cả ngoài lớp hàng ngày, như:
Trong giờ lên lớp:
+ Say mê học tập, chăm chú nghe giảng
+ Ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận
+ Tích cực suy nghĩ, hăng hái phát biểu xây dựng bài, trao đổi ý kiến với bạn
bè và với GV
+ Tích cực làm việc cùng nhóm để hoàn thành nhiệm vụ
Ở ngoài lớp và ở nhà:
+ Độc lập và tự giác trong việc học tập
+ Học bài, làm bài đầy đủ
+ Tự giác làm thêm nhiều bài tập (ngoài yêu cầu của GV)
+ Tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách tham khảo có liên quan đến môn học
+ Tự tổng kết những phần, những chương mục đã học và tìm ra mối liên hệ bên trong giữa chúng
+ Từng bước tập vận dụng những kiến thức môn học vào thực tiễn
+ Cố gắng giải nhanh và tìm nhiều cách giải các bài tập …
- Biểu hiện về mặt kết quả học tập: Kết quả học tập đạt loại khá, giỏi
1.2.6.3 Sự hình thành và phát triển hứng thú học tập
Theo N G Marôzôva, trong quá trình phát triển cá thể, hứng thú học tập được hình thành và phát triển qua 3 giai đoạn sau:
- Giai đoạn 1: Kích thích hứng thú học tập cho HS Ở giai đoạn này các em
bị cuốn hút bởi nội dung vấn đề GV trình bày HS chú ý lắng nghe, trực tiếp thể hiện niềm vui khi nhận ra cái mới Những niềm vui đó có thể mất đi khi giờ học kết thúc, nhưng cũng có thể trên cơ sở đó hứng thú được phát triển Ở giai đoạn này HS chưa có hứng thú thật sự Hứng thú chỉ xuất hiện khi HS mong muốn hiểu biết nhiều hơn, các em đặt ra câu hỏi và vui mừng khi được trả lời
- Giai đoạn 2: Hứng thú học tập được duy trì Ở giai đoạn này HS thường xuyên bị lôi cuốn vào tiết học một cách thường xuyên hơn, nhờ đó các em có xúc cảm tích cực với môn học tức là hứng thú được duy trì Thái độ nhận thức xúc cảm
Trang 29với môn học sẽ thúc đẩy HS quan tâm tới những vấn đề đặt ra ở cả trong giờ học, lẫn sau khi giờ học đã kết thúc Nói cách khác, ở các em đã có sự nảy sinh nhu cầu nhận thức, tìm tòi và phát hiện
- Giai đoạn 3: Hứng thú học tập trở nên bền vững Nếu thái độ tích cực đó
được duy trì củng cố, khả năng tìm tòi độc lập ở các em thường xuyên được khơi dậy thì các em dành nhiều thời gian rảnh rỗi của mình vào việc tìm tòi thêm những kiến thức có liên quan đến vấn đề mình yêu thích, tham gia hoạt động ngoại khóa, đọc thêm sách, tìm gặp những người cùng quan tâm tới những vấn đề của mình Hứng thú bền vững là giai đoạn cao nhất của sự phát triển hứng thú học tập
Để hình thành hứng thú học tập, việc tổ chức hoạt động nhận thức phải thường xuyên chủ động, gắn liền với các mức độ phát triển của nó Do đó các nhà
sư phạm phải hiểu rõ các giai đoạn phát triển của loại hứng thú này
- Hứng thú học tập dần có được tính bền vững và có tính không bão hòa
- Hứng thú học tập là động lực thúc đẩy HS tích cực nghiên cứu đối tượng trong phạm vi của nó
1.2.6.5 Tác dụng của hứng thú học tập
Hứng thú học tập mang lại một số tác dụng đặc biệt như:
- Là yếu tố cần thiết cho sự phát triển nhân cách, tri thức và nhận thức của
HS
- Làm chỗ dựa cho sự ghi nhớ, cho phép HS duy trì sự chú ý thường xuyên
và cao độ vào kiến thức bài học
- Làm cho hoạt động học trở nên hấp dẫn hơn vì các em được duy trì trạng thái tỉnh táo của cơ thể, giúp HS phấn chấn vui tươi, học tập lâu mệt mỏi
- Ảnh hưởng đến tính chất, cường độ, diễn biến, kết quả của dạy và học giúp cho hiệu quả của hoạt động này được nâng cao
Trang 30- Tạo ra và duy trì tính tích cực nhận thức, tích cực hoạt động tiếp thu, tìm hiểu kiến thức
- Giúp điều khiển hoạt động định hướng vì chính cảm xúc hứng thú tham gia điều khiển tri giác và tư duy
- Đóng vai trò trung tâm, tạo cơ sở, động cơ trong các hoạt động nghiên cứu
và sáng tạo
- Góp phần quan trọng trong sự phát triển kĩ năng, kĩ xảo và trí tuệ của HS, làm cho hiệu quả của hoạt động học tập được nâng cao
1.2.7 Bản chất của việc tạo hứng thú trong dạy học [27]
1.2.7.1 Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển cá nhân
Hứng thú của con người không phải là những thuộc tính có sẵn hay mang tính bẩm sinh Việc hình thành hứng thú không phải là quá trình tự phát bên trong của bản thân cá nhân mà nó bị quy định bởi môi trường xã hội xung quanh Hứng thú kèm theo và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cá nhân Hứng thú như là hiện tượng tâm lý- giáo dục với những tính chất phức tạp bởi vì nó không chỉ phụ thuộc vào đối tượng mà còn phụ thuộc vào con người hướng dẫn, giáo dục, di truyền, khả năng tập trung hứng thú Hứng thú luôn có khuynh hướng về một đối tượng nhất định, các hứng thú của con người rất đa dạng tùy theo kinh nghiệm và sự phát triển
cá nhân
1.2.7.2 Hứng thú có liên quan mật thiết với nhu cầu
Hứng thú là một thuộc tính tâm lý mang tính chất cá nhân và liên quan mật thiết với nhu cầu Nhu cầu là cái có trước còn hứng thú là cái phát triển trên cơ sở nhu cầu Tuy nhiên, động lực cơ bản thúc đẩy hoạt động của con người không phải
là các nhu cầu mà chính là hứng thú, tình cảm, niềm tin, quan điểm Đây chính là nguồn mong muốn hành động của con người Các nhu cầu của con người là cơ sở đầu tiên, là lực thúc đẩy sơ cấp, là nguyên nhân thúc đẩy con người sống và hoạt động Trên cơ sở nhu cầu mà những yếu tố hứng thú, tình cảm, niềm tin, quan điểm xuất hiện trong đời sống xã hội và trong hoạt động phong phú của con người Những yếu tố này tham gia vào những quan hệ và liên hệ tương hỗ phức tạp với nhu cầu Mối liên hệ giữa nhu cầu và hứng thú trong một lĩnh vực như hoạt động nhận thức của con người lại càng đặc biệt và nhiều vẻ Hình thức hứng thú nhận thức đầu tiên là tò mò, đó là sự phản ứng lại với hoàn cảnh thay đổi, với sự xuất hiện cái mới ngoài ngoại giới Sau đó, tính ham hiểu biết xuất hiện, đây chính là hình thức hiệu
Trang 31nghiệm của biểu hiện hứng thú nhận thức Hứng thú nhận thức có được những đặc điểm của nhu cầu tinh thần ở mức cao khi mà cá nhân luôn có những hoạt động tìm tòi, đứng ngồi không yên nếu nguyện vọng hiểu biết của mình không được thỏa mãn Tác giả Su-ki-na đã nhấn mạnh “Khát khao nhận thức là nhu cầu bên trong của con người Con người muốn đưa thế giới xung quanh đến sự hiểu biết, xu thế của mình” [27, tr.45]
1.2.7.3 Hứng thú nhận thức là động cơ của hoạt động học tập
Trong quá trình dạy học, hứng thú nhận thức được coi là động cơ của hoạt động học tập Có thể hiểu, động cơ chính là sức hấp dẫn, lôi cuốn của đối tượng mà
cá nhân cần chiếm lĩnh để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn của mình Nói ngắn gọn, người học học vì cái gì thì cái đó chính là động cơ học tập của họ Tuy nhiên,
để có động cơ nói chung hay động cơ học tập nói riêng thì trước hết phải có đối tượng ở bên ngoài chủ thể, có giá trị đối với chủ thể và làm nảy sinh ở chủ thể nhu cầu chiếm lĩnh nó Khi nhu cầu chiếm lĩnh đối tượng đó được cá nhân ý thức, sẽ trở thành động cơ thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động Trong quá trình dạy học, hứng thú luôn luôn có đối tượng của mình, trong đó thể hiện rõ nét xu hướng ở một lĩnh vực bộ môn xác định mà HS muốn ngày một hiểu biết sâu sắc bộ môn đó
1.2.7.4 Hứng thú là một phương tiện dạy học
Trong quá trình dạy học và giáo dục, hứng thú là phương tiện nâng cao tính tích cực hoạt động nhận thức của HS giúp cho quá trình này trở nên hấp dẫn hơn, lôi cuốn được sự chú ý tự nhiên đối với các em Chúng ta không thể truyền đạt tất
cả những kiến thức về thế giới xung quanh cho HS mà cần phải giúp các em biết lựa chọn những điều cần thiết, có ý nghĩa đối với bản thân để các em chủ động tìm hiểu Hứng thú nhận thức của HS chịu nhiều ảnh hưởng bởi tài nghệ của người thầy Hứng thú sẽ trở thành phương tiện giảng dạy đáng tin cậy khi GV sử dụng cùng với những phương tiện dạy học khác nhằm giúp cho việc nảy sinh cái mới trong sự phát triển tư duy của HS
1.2.7.5 Hứng thú trong dạy học là quá trình tác động từ phía giáo viên và môi trường học tập vào học sinh, khiến các em chú ý, tập trung vào nội dung học tập
Đối tượng tạo hứng thú cho HS chính là nội dung các môn học, việc tiếp thu những nội dung này là nhiệm vụ chủ yếu của hoạt động học tập Người GV cần khai thác nội dung môn học, xây dựng những “ngòi nổ” tạo kích thích nhu cầu học tập của các em, giúp các em có sự quan tâm đặc biệt vào nội dung môn học Việc phát
Trang 32triển hứng thú nhận thức trong HS là một quá trình phức tạp trở thành đường lối chung trong việc giáo dục và phát triển HS Sự thỏa mãn hứng thú nhận thức không bao giờ dẫn HS đến trạng thái bão hòa Chính vì vậy, người GV cần phải tạo các quá trình tạo hứng thú nhận thức một cách thường xuyên và có hệ thống để tránh việc “bộc phát hứng thú” chỉ là hứng thú tạm thời dễ có thể nhanh chóng tàn đi mà không tác động được tới mặt hoạt động bên trong cũng như thái độ đối với học tập
1.2.8 Các quy luật của việc tạo hứng thú trong dạy học [30]
1.2.8.1 Sự hứng thú phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và những đặc điểm riêng của mỗi học sinh
Khi GV khơi dậy sự hứng thú của HS trong lớp học, không phải tất cả các
em đều hình thành hứng thú giống như nhau về cùng vấn đề đó Cùng một nội dung,
có em cảm thấy rất hứng thú, có em chỉ hơi hứng thú mà thôi nhưng cũng có em chẳng quan tâm, để ý đến Tùy theo sở thích, kinh nghiệm và sự phát triển cá nhân
mà HS có khả năng tiếp thu vấn đề GV truyền đạt từ đó có thể tạo hứng thú cho các
em hay không Khi HS chưa hiểu hoặc đang mơ hồ về vấn đề GV đang trình bày thì các em không thể hứng thú với nó được Nếu HS hiểu được vấn đề GV trình bày nhưng vẫn còn một số nội dung, thông tin các em thấy hấp dẫn, lôi cuốn mà chưa được biết đến hay chưa giải thích được thì các em sẽ bị kích thích để tìm hiểu và đưa ra lời giải cho điều còn thắc mắc đó Tuy nhiên, HS cũng không thể hứng thú với những vấn đề mà các em đã hiểu rõ Chính vì vậy, người GV cần phải hiểu HS của mình về trình độ, sở thích và sự phát triển tâm lý lứa tuổi Từ đó, GV có thể khai thác nội dung bài để tạo hứng thú được hầu hết các HS trong lớp với nhiều mức độ khác nhau theo khả năng tiếp thu của các em
1.2.8.2 Quá trình hứng thú của học sinh phụ thuộc vào các điều kiện diễn ra trong môi trường học tập
Môi trường học tập tốt thật sự cần thiết đối với HS Khi có các điều kiện vật chất, vệ sinh, tâm lý đạo đức và thẩm mỹ thích hợp, HS dễ dàng tiếp thu bài học và hứng thú với nội dung hơn Thật vậy, khi môi trường học tập xung quanh các em thoáng mát, yên tĩnh, các em có thể tập trung tốt vào bài học và dễ dàng tiếp thu những nội dung GV trình bày Nếu môi trường học tập không trong lành, có những tiếng ồn, mùi hương hay đối tượng khác lạ sẽ làm giảm khả năng tập trung của các
em Vì thế, nhà trường và GV cần lưu ý tạo cho các em một môi trường học tập
Trang 33trong lành thì quá trình tạo hứng thú cho HS trong khi giảng dạy sẽ đạt kết quả khả quan hơn
1.2.8.3 Quá trình hứng thú của học sinh gắn liền với nhu cầu cá nhân và động cơ học tập
Mỗi HS có những nhu cầu cá nhân và động cơ học tập riêng Các em đến trường đều với mục đích chung là tiếp thu kiến thức Tuy nhiên, đằng sau mục đích chung này, mỗi HS có nhu cầu và động cơ học tập khác nhau Từ đó, các em có những thái độ học tập và tình cảm riêng đối với từng nội dung của môn học Tùy theo nhu cầu cá nhân và động cơ học tập mà HS có những hứng thú trong học tập không giống nhau Nếu GV hiểu được những nhu cầu cá nhân cũng như động cơ học tập của các em thì việc xây dựng nội dung tạo hứng thú trong quá trình dạy học càng đạt hiệu quả cao Khi nội dung tạo hứng thú của GV không phù hợp với nhu cầu cá nhân cũng như động cơ học tập của các em thì quá trình hứng thú này dễ bị dập tắt, không có hiệu quả
1.2.8.4 Thỏa mãn hứng thú không đạt đến trạng thái bão hòa
Hứng thú không giống như những thuộc tính tâm lý khác của con người Khi
HS thỏa mãn, đạt được cảm giác hứng thú, chúng sẽ không dừng lại ở cảm giác đó Ngược lại, các em sẽ có nguyện vọng tìm hiểu, nắm kiến thức với một kích thích mới, tìm nguồn hứng thú mới Cứ thế, quá trình này cứ liên tục diễn ra mà không có điểm dừng Vì thế, khi GV tạo hứng thú, HS được thỏa mãn hứng thú của mình ngay tại thời điểm đó Nhưng quá trình này không kết thúc, hay có thể hiểu là hứng thú của các em chưa đạt đến được trạng thái bão hòa Quá trình hứng thú khác lại hình thành, tiếp tục diễn ra giúp các em tìm đến với những điều kiện mới để thỏa mãn hứng thú khác của mình Điều này rất cần thiết trong hoạt động dạy học, nếu
GV giúp HS tìm được hứng thú về một vấn đề thì các em sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm
để thỏa mãn sự hứng thú của mình về những thông tin liên quan đến vấn đề đó Như vậy, HS sẽ nâng cao tinh thần tự học, ham hiểu biết để mở rộng tri thức
1.3 Các nhóm biện pháp tạo hứng thú trong dạy học Hóa học [4], [8], [19], [30]
1.3.1 Tạo hứng thú bằng cách tạo không khí lớp học tích cực, thân thiện
“Không khí lớp học” có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng
dạy học “Không khí lớp học” là trạng thái tâm lý- một dạng của bầu không khí tâm
lý của học sinh tại lớp học Trạng thái tâm lý này nếu được chuẩn bị tốt sẽ giúp học sinh có thể chiếm lĩnh kiến thức một cách thuận lợi nhất Có rất nhiều yếu tố ảnh
Trang 34hưởng đến không khí lớp học: lớp học, GV, HS….trong đó yếu tố có vai trò quyết định vẫn là người GV
Để tạo ra không khí lớp học tích cực, thân thiện, làm cho HS thích thú được đến lớp, mong đợi đến giờ học người GV phải tạo ra sự giao tiếp thuận lợi giữa thầy
và trò, giữa trò và trò Bằng trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của mình,
GV tạo được uy tín cao trước HS Bằng tác phong gần gũi thân mật, GV chiếm được sự tin cậy của HS Bằng cách tổ chức và điều khiển hợp lý các hành động của từng cá nhân với tập thể HS, GV sẽ tạo ra được hứng thú cho cả lớp và niềm vui học tập của từng HS Kết quả học tập của HS chỉ đạt kết quả cao khi mà họ thích thú tiết học đó, môn học đó Uy tín và PPDH của người GV có tác động mạnh đến các em HS Do đó, việc GV chủ động tạo ra một không khí học tập làm kích thích hứng thú của HS sẽ đem lại một kết quả tốt trong nhận thức của HS
1.3.1.1 Một số biện pháp cụ thể
- Tạo hứng thú bằng thái độ giao tiếp thân thiện, vui vẻ, độ lượng nhưng nghiêm túc, đúng mực của GV trên lớp
- Tạo hứng thú bằng cách xây dựng tình cảm tốt đẹp thầy- trò
- Tạo hứng thú bằng cách khai thác những mẩu chuyện vui về Hóa học
- Tạo hứng thú bằng những lời dẫn bài lý thú
- Tạo hứng thú bằng thơ vui về Hóa học
1.3.1.2 Những điểm cần chú ý
Muốn tạo được không khí lớp học tích cực, thân thiện, người GV ngoài kiến thức chuyên môn vững vàng, năng lực sư phạm tốt cũng như kinh nghiệm thực tế thì cũng cần cả kiến thức của tâm lý học giáo dục Sử dụng kiến thức tâm lý học giáo dục và vận dụng những thủ pháp về tâm lý một cách linh hoạt, uyển chuyển, phù hợp với thực tế trong giờ học sẽ làm không khí giờ học sôi nổi hơn, HS tích cực
và hứng thú hơn trong học tập
- Về thủ pháp ngôn ngữ: trước hết, người GV nên luyện tập sao cho giọng nói phải rõ ràng, lưu loát, truyền cảm và có sức thuyết phục Ngoài ra, cần sưu tầm những cách dẫn bài hấp dẫn, những câu chuyện vui, những câu nói hài hước, những bài thơ ngắn liên quan đến nội dung bài học giúp tạo sự hứng thú cho HS
- Về thủ pháp hành vi: trong quá trình dạy học, người GV cần kết hợp giao tiếp ngôn ngữ với giao tiếp phi ngôn ngữ; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy
và trò; khai thác những thí nghiệm vui đơn giản…
Trang 351.3.2 Tạo hứng thú bằng cách sử dụng phương tiện dạy học
Hóa học là khoa học thực nghiệm Chính vì vậy, việc sử dụng phương tiện dạy học là điều rất cần thiết Sử dụng phương tiện dạy học vào trong quá trình giảng dạy không những có tác dụng tạo hứng thú cho HS mà còn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của người GV Thường xuyên sử dụng phương tiện dạy học trong giảng dạy Hóa học góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học và giúp các em
HS sẽ hoàn toàn cảm thấy tin tưởng, hứng thú và yêu thích môn học hơn
1.3.2.1 Một số biện pháp cụ thể
- Tạo hứng thú bằng cách sử dụng thí nghiệm Hóa học vui
- Tạo hứng thú bằng cách sử dụng sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh
- Tạo hứng thú bằng cách khai thác, sử dụng những tiện ích của máy tính và internet
- Tạo hứng thú bằng cách khai thác, sử dụng phần mềm Hóa học
- Tạo hứng thú bằng cách sử dụng trình diễn đa phương tiện
- Tạo hứng thú bằng việc sử dụng những đoạn phim hay về Hóa học
1.3.2.2 Những điểm cần chú ý
Sử dụng các phương tiện dạy học cần đảm bảo các nguyên tắc: đúng lúc, đúng chỗ, đúng cường độ
1.3.3 Tạo hứng thú bằng việc khai thác các nguồn kiến thức về Hóa học
Kiến thức Hóa học vô cùng rộng lớn và hấp dẫn cũng như rất gần gũi và liên quan mật thiết đến thực tế đời sống Nếu người GV biết khai thác nguồn kiến thức này một cách hiệu quả thì sẽ giúp cho HS thêm yêu thích môn học Từ đó, các em hứng thú, say mê tìm hiểu thêm những kiến thức mà GV không có điều kiện cung cấp
1.3.3.1 Một số biện pháp cụ thể
- Tạo hứng thú bằng việc gắn kiến thức bài giảng với thực tiễn cuộc sống
- Tạo hứng thú bằng việc khai thác những thông tin mới lạ về Hóa học
- Tạo hứng thú bằng tính chất phức tạp, khó khăn, mạo hiểm, có vấn đề của kiến thức Hóa học Cho HS tham gia những hoạt động sáng tạo: nghiên cứu, tìm tòi, khám phá kiến thức
- Tạo hứng thú bằng việc giới thiệu những kiến thức lịch sử của Hóa học
- Tạo hứng thú bằng việc khai thác những điều mang tính bí ẩn, bí mật
Trang 36- Tạo hứng thú bằng việc giới thiệu những giai thoại và những câu chuyện về các nhà khoa học Hóa học
- Sự đổi mới kiến thức trên nền tảng kiến thức sẵn có của HS
- Những điều bí ẩn, bí mật, kích thích tính tò mò
- Tính lịch sử của nội dung kiến thức đang đề cập
- Ý nghĩa thực tế của nội dung kiến thức đang đề cập
- Giúp HS tự tìm tri thức mới cho mình
……
1.3.4 Tạo hứng thú bằng sự phong phú, đa dạng, luôn thay đổi của các phương pháp dạy học và các hình thức tổ chức dạy học
Dạy học bằng sự đa dạng các phương pháp có nghĩa là sử dụng một cách hợp
lý nhiều phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học khác nhau trong một giờ, một buổi lên lớp hay trong một khoá học để đạt hiệu quả dạy học cao Dạy học bằng sự đa dạng các phương pháp bao hàm các nội dung sau đây:
- Sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau: thuyết trình, đàm thoại, trực quan, nghiên cứu …
- Sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức dạy học: dạy trên lớp (học bài mới,
ôn tập, luyện tập, kiểm tra), trong phòng thí nghiệm, thảo luận, làm việc theo nhóm,
tự học, phụ đạo, tham quan…
1.4 Kết quả học tập
1.4.1 Khái niệm [23], [44]
Kết quả học tập của HS hay thành tích học tập của HS trong tiếng Anh thường sử dụng các từ như “Achievement; Result; Learning Outcome” Theo Từ
Trang 37điển Anh Việt thì: “Achievement” có nghĩa là thành tích, thành tựu; sự đạt được, sự hoàn thành; “Result” có nghĩa là kết quả; “Learning Outcome” là kết quả học tập
Theo Norman E Gronlund đã bàn đến “learning outcomes” như sau: “Mục đích của giáo dục là sự tiến bộ của HS Đây chính là kết quả cuối cùng của quá trình học tập nhằm thay đổi hành vi của HS
Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam đã nghiên cứu tìm hiểu và đưa ra một
số khái niệm về kết quả học tập như sau:
- Theo tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc: “Kết quả học tập là một khái niệm thường được hiểu theo hai quan niệm khác nhau trong thực tế cũng như trong khoa học: (1) Đó là mức độ thành tích mà một chủ thể học tập đã đạt, được xem xét trong mối quan hệ với công sức, thời gian đã bỏ ra, với mục tiêu xác định; (2) Đó còn là mức độ thành tích đã đạt của một HS so với các bạn học khác
- Theo tác giả Nguyễn Đức Chính: “Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực nào đó (môn học)
- Theo tác giả Trần Kiều: “dù hiểu theo nghĩa nào thì kết quả học tập cũng đều thể hiện ở mức độ đạt được các mục tiêu của dạy học, trong đó bao gồm 3 mục tiêu lớn là: nhận thức, hành động, xúc cảm Với từng môn học thì các mục tiêu trên được cụ thể hóa thành các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng và thái độ”
- Theo chúng tôi thì “Kết quả học tập là mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong một môn học” còn “Nâng cao kết quả học tập là nâng cao mức độ đạt được kiến thức, kĩ năng hay nhận thức của người học trong môn học đó”
1.4.2 Những yếu tố góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh [4], [8], [11], [19], [22]
1.4.2.1 Hình thành động cơ, hứng thú học tập cho học sinh
Động cơ học tập: là những nhân tố kích thích, thúc đẩy tính tích cực học tập
ở học sinh nhằm đạt kết quả nhận thức và hình thành phát triển nhân cách
Biện pháp để tạo động cơ cho HS: Phải biết cách điều khiển, tổ chức hoạt
động học tập để HS chiếm lĩnh kiến thức, giúp HS hiểu rằng học là để có kiến thức,
để làm người có phẩm chất, đạo đức tốt Luôn gần gũi, nắm vững tâm lý lứa tuổi, nhu cầu, khát vọng, mong muốn của HS, khuyến khích để HS có sự nỗ lực lớn, quyết tâm trong học tập và luôn là điểm dựa đáng tin cậy và tấm gương tốt để HS
noi theo
Trang 38 Mối quan hệ giữa động cơ học tập và hứng thú học tập: Động cơ học tập
đúng sẽ tạo ra hứng thú, nhờ có hứng thú mà động cơ ngày càng mạnh mẽ Sự kết hợp giữa động cơ đúng đắn và hứng thú bền vững sẽ giúp HS tiếp thu tri thức một
cách tốt nhất
1.4.2.2 Dạy học tích cực
- Khái niệm: Phương pháp dạy học tích cực là các hoạt động dạy và học
nhằm hướng vào việc tích cực hóa hoạt động học tập và phát triển tính sáng tạo của người học Trong đó các hoạt động học tập được tổ chức và định hướng bởi GV, người học không thụ động mà tích cực tham gia vào quá trình tái tạo cho mình kiến thức mà nhân loại đã có, tham gia giải quyết các vấn đề học tập, qua đó lĩnh hội nội
dung học tập và phát triên năng lực sáng tạo
- Một số phương pháp dạy học tích cực: phương pháp dạy học theo nhóm
nhỏ; phương pháp dạy học nêu vấn đề- Ơricxtic; phương pháp nghiên cứu; tổ chức
trò chơi dạy học; dạy học hợp đồng; dạy học dự án…
1.4.3 Đổi mới hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập [12], [23], [44]
Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập đóng vai trò quan trọng giúp GV phát hiện kịp thời những thiếu sót, lỗ hổng kiến thức của HS trong quá trình tiếp thu kiến thức, cũng như kiểm tra được sự tiến bộ của HS trong học tập và có những biện pháp để cải thiện và ngăn chặn trình trạng học sút đi của HS Từ đó có những biện pháp tích cực nhằm nâng cao kết quả học tập của HS Để có được kết quả tốt, những biện pháp kiểm tra kết quả học tập của HS phải theo một kế hoạch định trước, có liên hệ với việc củng cố những kiến thức cũ với hình thức tổ chức, kiểm tra khác nhau bên cạnh đó cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Cần phải có tính khách quan đến mức tối đa có thể, khi chỉ có điều kiện kiểm tra một số ít HS, GV cần kiểm tra sơ lược các HS khác như kiểm tra vở bài tập về nhà, yêu cầu HS nhận xét bài làm, câu trả lời của bạn…
Tạo điều kiện để HS có thể bộc lộ được thực chất hiểu biết của mình, trách nhiệm của bản thân trong việc kiểm tra kiến thức, cấm mọi hành vi gian lận trong kiểm tra (quay cóp, chỉ bài, nhắc bài bạn…), tránh đánh giá chung chung sự tiến bộ của toàn lớp hay cả nhóm HS với nhau
Cần chú trọng và nâng cao kĩ năng thực hành, năng lực vận dụng độc lập sáng tạo kiến thức của HS thông qua kiểm tra đánh giá
Trang 391.5 Thực trạng việc tạo hứng thú trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông
1.5.1 Mục đích điều tra
Chúng tôi tiến hành điều tra 119 HS lớp 10 của 2 trường THPT trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh để:
- Tìm hiểu mức độ quan tâm, hứng thú của HS với môn Hóa học
- Tìm hiểu những nguyên nhân làm HS chưa hứng thú khi học môn Hóa học
- Thông qua quá trình điều tra đi sâu vào tìm hiểu, phân tích, đề xuất những biện pháp tạo hứng thú trong dạy học Hóa học phù hợp với đối tượng HS
1.5.2 Kết quả điều tra
1.5.5.1 Tổng hợp ý kiến của học sinh về sở thích các môn học cơ bản trong chương trình phổ thông
Bảng 1.1 Kết quả điều tra sở thích của HS đối với các môn học
1.5.5.2 Kết quả tổng hợp ý kiến của học sinh về môn Hóa học
Theo ý kiến của 119 HS tại 2 trường thực nghiệm chúng tôi nhận thấy mức
độ HS quan tâm đến môn Hóa học như sau:
Trang 40Bảng 1.2 Kết quả điều tra mức độ quan tâm của HS đến môn Hóa học (Mức độ 1: Đồng ý; mức độ 2: phân vân; mức độ 3: không đồng ý)
4 Em hay trao đổi với bạn về nội dung bài và
lời của các bạn
6 Em hay nêu thắc mắc những vấn đề chưa rõ
và các tài liệu có liên quan
giải quyết một số vấn đề thực tế
Như vậy, môn Hóa học là môn thi đại học của nhiều em (41,18%), nhiều em
HS mặc dù không phải là môn thi đại học nhưng cũng quan tâm và nhận thấy môn Hóa học cung cấp cho em những tri thức bổ ích và cần thiết (47.9%) Tuy nhiên, đây cũng chưa phải là tỉ lệ cao