1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học

166 851 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 5,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG 2.1 Tổng hợp các nghiên cứu đã thực hiện trong luận án 53 2.2 Trình tự các đoạn mồi đã sử dụng trong nghiên cứu 53 2.3 Công thức pha gel DGGE ở các nồng độ biến tính kh

Trang 1

NGUYỄN THỊ TÂM THƯ

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG QUẦN XÃ VI KHUẨN KỴ KHÍ TRONG CÁC LÔ XỬ LÝ CHẤT DIỆT CỎ/DIOXIN BẰNG PHƯƠNG PHÁP

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

HÀ NỘI, 2013

Trang 2

Nguyễn Thị Tâm Thư

NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG QUẦN XÃ VI KHUẨN

KỴ KHÍ TRONG CÁC LÔ XỬ LÝ CHẤT DIỆT DIỆT CỎ/DIOXIN BẰNG PHƯƠNG PHÁP PHÂN

Chuyên ngành: Vi sinh vật

Mã số: 62 42 01 07

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1 PGS.TS Đặng Thị Cẩm Hà

Viện Công nghệ sinh học

2 TS Đinh Thị Thu Hằng

Viện Công nghệ sinh học

Hà Nội, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Ðặng Thị Cẩm Hà và TS Đinh Thị Thu Hằng, Viện Công nghệ sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, là những người thầy đã tận tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất giúp tôi thực hiện và hoàn thành đề tài luận án nhạy cảm và thuộc loại khó này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Công nghệ sinh học đã tạo mọi điều kiện cho tôi được học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án tại Phòng Công nghệ sinh học tái tạo môi trường, Phòng thí nghiệm trọng điểm, Phòng Kỹ thuật di truyền

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Đại tá Phan Nguyễn Khánh, Đại tá Tô Văn Thiệp – Thủ trưởng Viện Công nghệ mới, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự đã cho phép và tạo điều kiện cho tôi được thực hiện nguyện vọng của mình và hoàn thành luận án đúng thời hạn

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Đào Thị Ngọc Ánh, CN Lê Việt Hưng, NCS Phùng Khắc Huy Chú và các đồng nghiệp khác tại phòng Công nghệ Sinh học tái tạo môi trường đã giúp đỡ và chia sẻ, bàn luận kết quả thu được với tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Bùi Thị Hải Hà - Chuyên viên phụ trách đào tạo, Viện Công nghệ sinh học, đã hướng dẫn tôi tận tình để hoàn thành mọi thủ tục trong quá trình làm nghiên cứu sinh

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí, cán bộ Phòng Công nghệ Sinh học, Phòng Công nghệ Hóa sinh và các cán bộ Viện Công nghệ mới đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tôi hoàn thành nhiệm vụ trong thời gian tôi không có mặt ở đơn vị Tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến chồng tôi cùng hai bên gia đình đã động viên, chia sẻ trách nhiệm chăm lo gia đình, con cái để tôi có thêm thời gian thực hiện tốt nghiên cứu này

Hà Nội, ngày tháng năm 2013

Nguyễn Thị Tâm Thư

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Đây là công trình nghiên cứu của tôi và một số kết quả cùng cộng tác với các cộng sự khác

Các số liệu và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, một phần đã đƣợc công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành với sự cho phép và đồng ý của các đồng tác giả Phần còn lại chƣa đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội ngày tháng năm 2013

Tác giả

Nguyễn Thị Tâm Thư

Trang 5

1.1.1 Một số đặc điểm chung của các hợp chất hữu cơ chứa clo 5 1.1.2 Ảnh hưởng của các hợp chất hữu cơ chứa clo tới con người và môi trường 7

1.2.1 Tình hình ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo trên thế giới 8 1.2.2 Tình hình ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo ở Việt Nam 9

1.2.2.2 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Biên Hòa 10 1.2.2.3 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Đà Nẵng 11 1.2.2.4 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Phù Cát 11

1.3.1 Cơ chế phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo 12

1.3.2.1 Phân hủy hiếu khí các chất diệt cỏ chlorophenoxy 17

1.3.3.1 Phân hủy sinh học kỵ khí các chất diệt cỏ chlorophenoxy 20

Trang 6

1.4 Đa dạng các vi khuẩn tham gia hô hấp loại khử clo 21 1.4.1 Đặc điểm chung của các vi khuẩn hô hấp loại khử clo 21

1.5 Đa dạng các gene chức năng tham gia vào quá trình loại khử clo 32

1.7 Các phương pháp làm sạch nguồn ô nhiễm dioxin và các hợp chất tương tự bằng phân hủy sinh học

42

1.8 Nghiên cứu về phân hủy sinh học chất diệt cỏ chứa dioxin ở Việt Nam 45

1.8.3 Các nghiên cứu về vi khuẩn chuyển hóa và loại khử clo ở Việt Nam 49

2.1.5 Thành phần các môi trường nuôi cấy và dung dịch đã sử dụng 55

2.2.1 Chiết các thành phần của chất diệt cỏ/dioxin từ đất 56

Trang 7

2.2.3 Đánh giá sự đa dạng vi khuẩn kỵ khí từ các lô xử lý 57

2.2.7 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường lên sự sinh trưởng

của quần xã vi khuẩn khử sulfate

61

2.2.11.Đánh giá khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ chứa clo (đa) vòng thơm 62 2.2.11.1 Đánh giá khả năng phân hủy các chất là thành phần của chất diệt cỏ 62 2.2.11.2.Đánh giá khả năng phân hủy các đồng phân dioxin trong mẫu làm giàu 63

2.2.12.Đánh giá sự đa dạng vi khuẩn kỵ khí và gene chức năng trong mẫu làm giàu 65

3.1 Đa dạng vi khuẩn loại khử clo trong các lô xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin 68 3.1.1 Đa dạng vi khuẩn hô hấp loại khử clo nói chung trong các lô xử lý 68

3.1.3 Đa dạng vi khuẩn Dehalococcoides trong các lô xử lý 72 3.2 Sự đa dạng vi khuẩn và các gene chức năng trong mẫu làm giàu 74 3.2.1 Làm giàu vi khuẩn kỵ khí hô hấp loại clo trên đất ô nhiễm chất diệt

cỏ/dioxin

74

3.3 Sự biến động số lượng vi khuẩn kỵ khí trong lô xử lý tại Biên Hòa 80

Trang 8

3.3.1 Sự biến động số lượng vi khuẩn khử sulfate trong lô xử lý 80 3.3.2 Sự biến động số lượng vi khuẩn kỵ khí sử dụng chất diệt cỏ/dioxin tại lô xử lý 81 3.4 Sự đa dạng một số nhóm gene chức năng tham gia vào các quá trình của tế bào 81

3.4.1 Sự có mặt của các gene reductive dehalogenase (rdhA) trong các lô xử lý

và trong mẫu làm giàu

81

3.4.2 Sự đa dạng một số nhóm gene chức năng tham gia vào các quá trình của tế

bào phát hiện bằng Metagenomics

82

3.4.3 So sánh trình tự một số gene chức năng mã hóa cho enzyme tham gia vào

quá trình phân hủy các hợp chất vòng thơm

84

3.5.2 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng của quần xã vi

3.5.3.2 Trình tự đoạn gene 16S rRNA đặc hiệu cho vi khuẩn khử sulfate 93

3.6.1 Làm giàu vi khuẩn kỵ khí loại khử clo trên nguồn DCĐ, 2,4,5-T, 2,4-DCP 95 3.6.2 Hình thái một số tế bào vi khuẩn trong mẫu làm giàu trên các chất ô nhiễm 96

3.6.3 Nhân đoạn gene 16S rRNA đặc hiệu của vi khuẩn Dehalococcoides 97

3.6.4 Trình tự đoạn gene 16S rRNA của Dehalococcoides trong mẫu làm giàu 97 3.7 Khả năng phân hủy hay chuyển hóa các thành phần của chất diệt cỏ/dioxin 99 3.7.1 Khả năng phân hủy và chuyển hóa PCDD/Fs trong mẫu làm giàu 99

Trang 9

3.7.2 Khả năng phân hủy và chuyển hóa 2,4-DCP, 2,4,5-T 102

3.7.3 Khả năng phân hủy các hợp chất chứa clo của vi khuẩn khử sulfate

BDN10T đã đƣợc làm sạch

104

Trang 10

Danh mục các thuật ngữ và ký hiệu viết tắt

DGGE Denaturing Gradient Gel Electrophoresis

EPA Environmental Protection Agency

RdhA Reductive dehalogenase

rdhA Reductive dehalogenase gene

TCB Tetrachlorobenzene

TCDD Tetrachlorodibenzo-p-dioxin

Trang 12

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Tổng hợp các nghiên cứu đã thực hiện trong luận án 53 2.2 Trình tự các đoạn mồi đã sử dụng trong nghiên cứu 53 2.3 Công thức pha gel DGGE ở các nồng độ biến tính khác nhau 58 2.4 Tổng hợp các phương pháp đã sử dụng trong nghiên cứu 66 3.1 Sự có mặt của một số VK hô hấp loại khử clo trong các mẫu nghiên cứu 68

3.2 Mối quan hệ giữa một số dòng VK KSF tại các lô xử lý và một số VK

3.5 Dữ liệu metagenome trong mẫu làm giàu được bằng phân tích MG-RAST 75

3.7 Các VK trong metagenome của mẫu làm giàu theo khả năng loại khử clo 78 3.8 Phân loại VK có mặt trong mẫu làm giàu theo khả năng hô hấp 79 3.9 Các enzyme được mã hóa bởi các gene tham gia vào các quá trình phân hủy

và chuyển hóa các hợp chất vòng thơm

3.12 Sự biến đổi thành phần hóa học trong mẫu nuôi cấy chủng BDN10T

so với mẫu không có VSV (ĐC)

105

Trang 13

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

1.2 Quá trình loại clo sản phẩm cắt vòng của lindane và pentachlorophenol ở

điều kiện hiếu khí

1.6 Con đường phân hủy hoàn toàn PCDD/Fs bởi các quần xã VK trong quá

trình phân hủy sinh học

16

1.7 Cây phát sinh chủng loại của các vi khuẩn loại khử clo dựa trên trình tự

đoạn gene 16S rRNA

24

1.8 Quá trình chuyển hóa PCE tạo ra ethene ở một số VK khác nhau 29 1.9 Cây phát sinh chủng loại dựa trên trình tự axit amin của các enzyme RdhA 34 2.1 Sơ đồ các nghiên cứu thực hiện trong luận án 54 3.1 Điện di đồ DGGE với cặp mồi DCC305f/DSV838r đặc hiệu cho VK KSF

từ các mẫu ở lô xử lý tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa

70

3.2 Cây phát sinh chủng loại của vi khuẩn khử sulfate trong các lô xử lý 72

3.3 Điện di đồ DGGE phân tích sự đa dạng VK Dehalococcoides ở các lô xử lý 73

3.4 Cây phát sinh chủng loại của Dehalococcoides trong các lô xử lý 73 3.5 VK KK hô hấp loại khử clo từ đất ở 16 vị trí trong lô chôn lấp tích cực tại

Biên Hòa sau 36 tháng xử lý được làm giàu trên đất ô nhiễm chất diệt

cỏ/dioxin rất nặng

75

3.7 Sự biến động số lượng VK KSF và VK KK nói chung sử dụng chất diệt

cỏ/dioxin từ lô xử lý tại Biên Hòa

80

3.8 Phân bố và tỷ lệ các gene chức năng tham gia vào các quá trình của tế bào 82 3.9 Mối quan hệ của 2 gene haloacid dehalogenase với các gene của 85

Trang 14

Hình Tên Hình Trang

Pseudomonas

3.10 Mối quan hệ giữa một số enzyme tham gia vào quá trình phân hủy hợp chất

vòng thơm do các gene chức năng có mặt trong mẫu làm giàu mã hóa

3.14 Sinh trưởng của quần xã VK KSF từ Đà Nẵng và Biên Hòa trên các

nguồn carbon khác nhau

90

3.15 Ảnh hưởng của nồng độ DCĐ đến sinh trưởng của quần xã VK KSF ở Đà

Nẵng và Biên Hòa

91

3.16 Ảnh hưởng của một số hợp chất hữu cơ chứa clo đến sinh trưởng của

quần xã VK KSF ở Đà Nẵng và Biên Hòa

92

3.17 Hình thái tế bào chủng VK KSF BDN10T phân lập từ Đà Nẵng 93 3.18 Mối quan hệ gần gũi của các VK KSF với chủng BDN10T 94 3.19 VK KK hô hấp loại khử clo được làm giàu trên môi trường chứa 2,4-

DCP, 2,4,5-T từ các mẫu đất ở Đà Nẵng và Biên Hòa

95

3.20 Các tế bào VK có mặt trong mẫu P1 làm giàu trên MT chứa 2,4-DCP và

P5 làm giàu trên MT chứa 2,4,5-T

96

3.21 Điện di đồ nhân đoạn gene 16S rRNA của VK Dehalococcoides từ mẫu

làm giàu VK hô hấp loại khử clo ở Đà Nẵng

97

3.22 Cây phát sinh chủng loại của hai dòng VK Dehalococcoides có mặt trong

mẫu làm giàu P5T

98

3.23 Hiệu suất phân hủy, chuyển hóa 2,3,7,8-TCDD, OCDD và 15 đồng phân

PCDD/Fs còn lại bởi tập đoàn VK KK ở Biên Hòa

99

3.24 Phổ sắc ký khả năng chuyển hóa 2,4,5-T ở các mẫu Đà Nẵng và Biên Hòa 103

Trang 15

về quá trình phân hủy sinh học các hợp chất hữu cơ chứa clo đã chứng minh có 4 con đường phân hủy, chuyển hóa bởi VSV Trong số đó có 3 con đường xảy ra với

sự có mặt của oxy bao gồm oxy hóa cắt vòng thơm, loại clo ở sản phẩm cắt vòng và phân hủy nhờ cơ chế xúc tác bởi enzyme ngoại bào hay các chất tương tự trao đổi chất hoạt động như enzyme Quá trình thứ tư là loại khử clo xảy ra ở điều kiện không có oxy hay thiếu oxy được gọi chung là hô hấp loại khử clo

Công nghệ phân hủy sinh học đã được áp dụng thành công với quy mô 0,5 m3đến 100 m3 tại Đà Nẵng và quy mô 3.384 m3 tại Biên Hòa Hiệu quả xử lý tại Đà Nẵng đạt 50 – 70% sau gần 2 năm xử lý (Đặng Thị Cẩm Hà, 2005) và tại Biên Hòa đạt hơn 99% sau 27 tháng xử lý (Đặng Thị Cẩm Hà, 2012) Để đạt được hiệu quả

xử lý nêu trên có rất nhiều yếu tố liên quan trong đó có vai trò của VSV, các điều kiện mini sinh thái của mỗi lô xử lý, các nhóm VSV tham gia vào quá trình chuyển hóa, phân hủy và khoáng hóa các hợp chất là thành phần chất diệt cỏ/dioxin Đặc biệt, sự đa dạng và mức độ hoạt động của quần xã vi khuẩn kỵ khí (VK KK) hô hấp loại khử clo tham gia vào quá trình chuyển hóa, phân hủy sinh học các chất độc như thế nào vẫn đang là những câu hỏi cần được giải đáp bằng các nghiên cứu cơ bản với sự hỗ trợ của các kỹ thuật hiện hành

Hiện nay, các nghiên cứu về VK hô hấp loại khử clo trên thế giới đã công bố

có 20 chi và thuộc về 3 ngành là Proteobacteria, Chloroflexi và Firmicute Trong các lô xử lý ở Đà Nẵng, sự có mặt VK Dehalococcoides thuộc ngành Chloroflexi đã

được xác định bằng phương pháp DGGE (Nguyễn Bá Hữu, 2009) Một số VK KSF

thuộc ngành Proteobacteria cũng đã được phát hiện tại khu vực này Đặc biệt,

Trang 16

nhóm VK hô hấp loại khử clo theo cơ chế đồng trao đổi chất mà đại diện là

Pseudomonas đã được phát hiện ở hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam (Nguyễn Bá

Hữu, 2009) Chúng không chỉ có mặt trong các mẫu nguyên thủy mà còn luôn được tìm thấy ở hầu hết các mẫu của quá trình xử lý ở các quy mô khác nhau trong điều kiện thiếu khí Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu sâu nào về nhóm VK KK có khả năng hô hấp loại khử clo một cách có hệ thống Đặc biệt, việc làm giàu các VK KK

hô hấp loại khử clo bắt buộc bắt đầu được nghiên cứu nhưng chưa thành công Để tìm hiểu sự có mặt và vai trò của nhóm VK KK hô hấp loại khử clo trong các lô xử

lý đất ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin tại Đà Nẵng và Biên Hòa, chúng tôi thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt

cỏ/dioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học”

Luận án được thực hiện với các mục đích và nội dung chính sau đây:

KK hô hấp loại khử clo từ mẫu đất ở lô xử lý của Biên Hòa

 Đánh giá khả năng phân hủy chất diệt cỏ/dioxin trong mẫu làm giàu bởi quần xã

VK KK hô hấp loại khử clo

Nội dung nghiên cứu

 Xác định sự có mặt của một số nhóm VK KK hô hấp loại khử clo trong các lô xử

lý bằng phương pháp nested-PCR

 Nghiên cứu sự đa dạng VK KSF và Dehalococcoides từ các lô xử lý đất nhiễm

chất diệt cỏ/dioxin tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa bằng phương pháp DGGE

 Đánh giá sự biến động số lượng VK KK sử dụng dioxin và VK KSF trong lô xử

lý 3.384 m3 tại Biên Hòa

Trang 17

 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của quần xã VK KSF và một chủng đại diện được làm giàu, phân lập từ các lô xử lý chất diệt cỏ/dioxin ở Việt Nam

 Đánh giá khả năng phân hủy hay chuyển hóa các đồng phân PCDD/Fs và các hợp chất vòng thơm từ mẫu làm giàu quần xã VK KK hô hấp loại khử clo và VK KSF

 Sử dụng công cụ Metagenomics để nghiên cứu sự đa dạng của quần xã VK KK cũng như các gene chức năng tham gia vào quá trình phân hủy và chuyển hóa chất diệt cỏ/dioxin có mặt trong mẫu làm giàu từ đất của 16 vị trí ở lô xử lý khử độc tại Biên Hòa sau 36 tháng

Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp sinh học phân tử: nested-PCR, DGGE, Metagenomics được sử dụng để đánh giá sự đa dạng VK KK hô hấp loại khử clo trong các lô xử lý đất ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin và trong mẫu làm giàu

2 Phương pháp nuôi cấy truyền thống: nuôi cấy, làm giàu VK KK trong phòng thí nghiệm và đánh giá ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến khả năng sinh trưởng của các VK này

3 Phương pháp hóa học: phân tích các thành phần hóa học trên máy HPLC và GC/MS để đánh giá khả năng phân hủy hay chuyển hóa các chất là thành phần của chất diệt cỏ như các đồng phân của dioxin, 2,4,5-T và sản phẩm phân hủy sinh học của chúng như 2,4-DCP bởi các VK KK trong các mẫu làm giàu từ đất của lô xử lý ở Đà Nẵng, Biên Hòa

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

1 Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam làm giàu được quần xã VK KK hô hấp loại khử clo từ đất chôn lấp tích cực liên quan đến xử lý chất diệt cỏ/dioxin Các VK

KK có mặt trong mẫu làm giàu bao gồm cả ba nhóm loại khử clo là hô hấp loại

khử clo bắt buộc (Dehalococcoides, Dehalogenimonas); hô hấp loại khử clo

không bắt buộc (Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfococcus, Anaeromyxobacter v.v.); hô hấp loại khử clo đồng trao đổi chất (Pseudomonas, Clostridium, Shewanella v.v.) trong đó Pseudomonas chiếm ưu thế hơn cả

Trang 18

2 Đã đánh giá được khả năng phân hủy và chuyển hóa 55,7% tổng độ độc trên đất

ô nhiễm nặng (41.265 ng TEQ/kg đất khô) bởi quần xã VK KK Đánh giá được hiệu suất phân hủy các chất là thành phần của chất diệt cỏ/dioxin (17 đồng phân PCDD/PCDF, 2,4,5-T) và sản phẩm phân hủy sinh học của 2,4,5-T, 2,4-D là 2,4,5-TCP, 2,4-DCP bởi quần xã VK KK cũng như khả năng phân hủy 2,4,5-TCP, 2,4-DCP bởi chủng VK KSF đã làm sạch

3 Lần đầu tiên ở Việt Nam sử dụng công cụ Metagenomics để đánh giá sự đa dạng quần xã VK KK và các gene chức năng tham gia phân hủy, chuyển hóa chất diệt cỏ/dioxin trong mẫu làm giàu một năm từ đất sau 36 tháng xử lý ở Biên Hòa trên đất ô nhiễm ở mục (2)

Trang 19

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Đặc điểm của các hợp chất hữu cơ chứa clo

1.1.1 Một số đặc điểm chung của các hợp chất hữu cơ chứa clo

Các hợp chất hữu cơ chứa clo được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp như quá trình sản xuất thuốc trừ sâu, trừ nấm, chất diệt cỏ, các quá trình tẩy rửa, luyện kim loại, sản xuất bột giấy, dùng làm dung môi v.v., trong nông nghiệp và cả trong chiến tranh xâm lược Các hợp chất hữu cơ chứa clo cũng được sinh ra do sự đốt cháy không hoàn toàn (đốt cháy các chất thải rắn), các hoạt động tự nhiên (cháy rừng, hoạt

động kiến tạo vỏ trái đất như động đất, núi lửa) (Schecter, 2006) Thời gian bán hủy

của các chất hữu cơ chứa clo trong môi trường thường kéo dài hàng tuần đến hàng năm, thậm chí hàng chục năm như chất diệt cỏ chứa dioxin tại sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa Đặc biệt, dioxin là một trong số các hợp chất hữu cơ đa vòng thơm chứa clo có thể tồn tại hàng trăm năm hay lâu hơn trong môi trường và không bị phân hủy dưới tác dụng của axit mạnh, kiềm mạnh, các chất có tính oxy hóa

Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo của các hợp chất hữu cơ chứa clo, các nhà khoa học phân loại chúng thành 3 nhóm chính là chất hữu cơ chứa clo mạch thẳng, vòng

thơm và đa vòng thơm (Hình 1.1) (Tas, 2009)

(i) Các chất hữu cơ mạch thẳng chứa clo thường được sử dụng làm dung môi hữu cơ như tetrachloroethene (PCE), trichloroethene (TCE), chloroform và chúng được thải ra môi trường nhiều nhất (Hiraishi, 2003; Cheng, 2009)

(ii) Các chất hữu cơ vòng thơm chứa clo như hexachlorobenzene, chlorobenzene, chlorophenol (CP) v.v Nhóm chất này được sử dụng làm chất bảo quản gỗ, sản xuất

thuốc nhuộm, chất diệt cỏ, diệt nấm (Tas, 2009)

(iii) Các chất hữu cơ đa vòng thơm chứa clo bao gồm các hợp chất có cấu trúc 2-3 vòng thơm và chứa từ 2 đến 8 nguyên tử clo trong phân tử Đây là các chất có

độ độc cao tùy thuộc vào số lượng và vị trí các nguyên tử clo trong phân tử Các chất này được gọi chung là dioxin Căn cứ vào số nguyên tử clo và vị trí không gian

Trang 20

của những nguyên tử này, dioxin có 75 đồng phân polychlorodibenzo-p-dioxin

(PCDD) và 135 đồng phân polychlorodibenzofuran (PCDF) với độc tính khác nhau Thành phần của chất diệt cỏ mà quân đội Mỹ đã sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam chứa chủ yếu là các hợp chất 2,4-dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D), 2,4,5-trichlorophenoxyacetic acid (2,4,5-T) (Hình 1.1) và nhiều hợp chất vòng thơm khác

cis-1,3-dichloropropene

Tetrachloroethene (PCE)

Trichloroethene (TCE)

Hình 1.1 Một số hợp chất hữu cơ chứa clo điển hình

2,4-D, 2,4,5-T thuộc họ chất diệt cỏ phenoxy có tác dụng làm rụng lá, tồn tại ở dạng axit, muối (chủ yếu là amin), ester Ở nồng độ thấp, 2,4-D kích thích quá trình tổng hợp RNA, DNA và protein, trong khi đó ở nồng độ cao, 2,4-D có thể ức chế sự phân chia và sinh trưởng của tế bào thực vật 2,4,5-T được tổng hợp từ 2,4,5-trichlorophenol (2,4,5-TCP) 2,4,5-T được sử dụng làm tác nhân gây rụng lá trong nông nghiệp và lâm nghiệp

2,3,7,8-tetrachlorodibenzo-p-dioxin (2,3,7,8-TCDD) là sản phẩm phụ của quá

trình sản xuất chất diệt cỏ 2,4,5-T Đây là chất có độ độc cao nhất với tổng độ độc

tương đương là 1 (Schecter, 2006) Dioxin còn bao gồm nhóm các polychlorinated

biphenyl (PCB) là các chất tương tự dioxin, bao gồm 419 đồng phân trong đó có 29

chất đặc biệt nguy hiểm (Schecter, 2006; Đặng Thị Cẩm Hà, 2005) PCB được sản

Trang 21

xuất rất nhiều trong những năm 1930-1970 ở phía Bắc Bán cầu và được sử dụng trong máy biến áp, chất lỏng thủy lực, chất dẻo và trong một số ngành công nghiệp khác (Angelo, 2010)

Nhìn chung, các hợp chất hữu cơ chứa clo thường kỵ nước (do hệ số octan – nước cao) nên chúng bị lắng đọng trong bùn và trầm tích Đây là các hợp chất độc, tồn tại lâu dài trong môi trường, tích lũy trong các chuỗi thức ăn và gây bệnh cho

người và động vật (Smidt, 2000; Schecter, 2006; Tas, 2009; Wagner, 2009)

1.1.2 Ảnh hưởng của các hợp chất hữu cơ chứa clo tới con người và môi trường

Các hợp chất hữu cơ chứa clo đều là các chất có độ độc cao không những đối với người, động thực vật mà còn với cả VSV Hầu hết các chất hữu cơ chứa clo có thể gây ung thư cho người Tuy nhiên, các chất hữu cơ mạch thẳng chứa clo thường

ít độc hơn và thời gian bán hủy ngắn hơn so với các hợp chất vòng thơm chứa clo Các hợp chất PCDD, PCDF và PCB là những chất hữu cơ bền vững, độc hại và khó phân hủy (POP) trong môi trường tự nhiên Hai đồng phân của dioxin có độ độc cao

nhất là 2,3,7,8-TCDD và 1,2,3,7,8-pentachlorodibenzo-p-dioxin (PeCDD) với tổng

độ độc tương đương là 1 Các chất có độ độc thấp hơn như dioxin (HxCDD), tetrachlorodibenzo-p-furan (TCDF), PCB Các chất có độ độc thấp nhất là octachlorodibenzo-p-dioxin (OCDD), octachlorodibenzo-p-furan

hexachlorodibenzo-p-(OCDF), trichlorobenzene (TrCB) với tổng độ độc tương đương là 0,0001

Ở Việt Nam, độ tồn lưu của các chất là thành phần của chất diệt cỏ tại các căn

cứ quân sự cũ của Mỹ vẫn ở mức cao Trong đó, 2,3,7,8-TCDD có thể chiếm tới 99% tổng độ độc ở tại hai sân bay Đà Nẵng và Biên Hòa (Hatfield, 2011)

EPA đã công nhận dioxin là một chất gây ung thư nhóm 1 cho con người Không có một liều lượng nào là an toàn hoặc ngưỡng dioxin mà dưới nó thì không gây ung thư (Van den Berg, 2006) Ở hàm lượng cao, dioxin có thể gây chết người Khi ở nồng độ thấp, dioxin gây ra các đột biến và di truyền qua nhiều thế hệ khác nhau Dioxin còn có thể liên quan đến một số bệnh nguy hiểm khác như bệnh rám

da, bệnh đái tháo đường, bệnh ung thư trực tràng không Hodgkin, thiểu năng sinh dục cho cả nam và nữ, sinh con quái thai hoặc thiểu năng trí tuệ, đẻ trứng (ở nữ)

Trang 22

v.v Theo WHO 2002, mức phơi nhiễm dioxin cho phép qua thức ăn của mỗi người

là 1-10 pg đương lượng độc (TEQ/ngày) (Van den Berg, 2006) Theo Angelo và đtg, PCB có thể ảnh hưởng đến gan, đường ruột, máu, hệ nội tiết, miễn dịch, hệ thần kinh

và hệ sinh sản (Angelo, 2010)

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), ngưỡng dioxin cho phép trong vùng đất và trầm tích bị ô nhiễm nặng dioxin tương ứng là 1.000 và 150 ng TEQ/kg đất Cao hơn mức độ này, khu vực đó cần được khoanh vùng, xử lý và hạn chế hay ngừng hoàn toàn việc tiếp xúc của người, động vật cũng như các hoạt động canh tác nông nghiệp, thủy sản (QCVN2012/BTNMT)

Tóm lại, các hợp chất hữu cơ chứa clo mà đặc biệt là các hợp chất đa vòng thơm

có thể gây các bệnh về da, nội tiết, thần kinh, tim mạch, tiêu hóa cho con người Chúng có thể di truyền cho nhiều thế hệ sau qua sinh sản, thậm chí gây tử vong và là nguyên nhân gây một số bệnh ung thư Trong môi trường, chúng tồn tại bền vững qua nhiều năm, gây ô nhiễm đất, nước ngầm, trầm tích, được tích lũy qua các mắt xích của chuỗi thức ăn vào các động thực vật khác và cuối cùng là vào con người

1.2 Tình hình ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo

1.2.1 Tình hình ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều biện pháp để kiểm soát tốc độ thải ra môi trường của các chất hữu cơ chứa clo nhưng các chất độc này vẫn được thải ra môi trường rất

nhiều, gây ô nhiễm đất và bùn trầm trọng (Fennell, 2004) Tính đến năm 2003,

trong môi trường có khoảng 3.500 chất hữu cơ chứa clo có nguồn gốc tự nhiên và từ các hoạt động sống của con người (Smidt, 2004) Theo EPA, chỉ tính riêng năm

2001 đã có 150 kg dioxin và các hợp chất tương tự dioxin, 1,13 triệu kg PCB và 16.000 kg hexachlorobenzene (HCB) giải phóng vào môi trường do các hoạt động công nghiệp (EPA, 2006) Tổng số PCB thải vào môi trường trên toàn thế giới tính

đến năm 2003 là 900-1800 triệu kg (Fennell, 2004) Theo Wagner và đtg (Wagner,

2009), tổng số PCDD/Fs trong khí quyển trên toàn thế giới hàng năm vào khoảng 13.000 kg/yard Lượng các chất PCB và PCDD gây ô nhiễm các thủy vực ở Mỹ khoảng 1,2 tỷ m3 (Fennell, 2004) Theo Tas và đtg (Tas, 2009), các hợp chất hữu cơ

Trang 23

chứa clo là các chất gây ô nhiễm môi trường với phạm vi rộng nhất Từ những năm

1980, hàng nghìn tấn HCB được sử dụng làm chất diệt cỏ, diệt nấm, chất bảo quản

gỗ và sản xuất thuốc nhuộm Do HCB có độ độc rất cao nên nó đã bị cấm sử dụng trên toàn thế giới Tuy nhiên, HCB vẫn bị thải vào môi trường hàng năm do các quá trình hóa học xảy ra không kiểm soát được như quá trình đốt cháy không hoàn toàn HCB gây ô nhiễm sông, hồ, biển gần các khu vực có công nghiệp phát triển Nồng

độ HCB trong đất cao nhất là ở Châu Âu (Tas, 2009) Hàng năm, có khoảng 3,9.105

tấn PCB bị thải ra môi trường trên toàn thế giới (Angelo, 2010) Ở nhiều khu vực biển và hệ thủy vực nước ngọt thuộc Bắc Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản chứa PCDD với nồng độ từ 36 đến 8.560 g/kg (Ewald, 2007) Tại vịnh Thurston và vịnh

Napoleon cũng phát hiện được 15 đồng phân PCDD/Fs và 11 chất PCB giống dioxin với tổng độ độc cao nhất từ 44 đến 136 pg TEQ/g đất khô (Ssebugere, 2013) Ngoài ra, tại các nhà máy sản xuất và sử dụng PCE, TCE cũng bị ô nhiễm các chất này ở phạm vi và nồng độ lớn

Hai hợp chất 2,4-D và 2,4,5-T là thành phần của chất diệt cỏ cũng đã được sử dụng ở rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, gây ô nhiễm đất và trầm tích trầm trọng Ở những năm 40 - 50 của thế kỷ trước, công nghệ sản xuất chất diệt cỏ còn lạc hậu nên sản phẩm phụ của quá trình sản xuất là dioxin có hàm lượng rất cao Ngày nay, công nghệ và khoa học hiện đại đã làm giảm đi rất nhiều tạp chất của quá trình sản xuất này Tuy hai chất diệt cỏ trên

và nhiều hợp chất hữu cơ chứa clo là thành phần của thuốc bảo vệ thực vật đã bị cấm sử dụng ở nhiều nước trong đó có Việt Nam nhưng một số nước vẫn còn sử dụng trong nông nghiệp (Bộ TN-MT, 2006, Nguyen, 2007)

1.2.2 Tình hình ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo ở Việt Nam

1.2.2.1 Ô nhiễm các hợp chất hữu cơ nói chung

Ở Việt Nam, tại các nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật (Nhà máy Hóa chất Lâm Thao), sản xuất giấy (Nhà máy Giấy Bãi Bằng) cũng bị ô nhiễm trầm trọng các chất hữu cơ chứa clo này Theo các số liệu đã công bố (Bộ TN-MT,

Trang 24

2006), Việt Nam còn khối lượng dầu có chứa PCB có thể lên tới 19.000 tấn, chủ yếu

từ các máy biến thế điện kiểu cũ Tổng lượng chất thải nguy hại ước tính năm 2003 là 160.000 tấn mỗi năm, trong đó 130.000 tấn từ các chất thải công nghiệp, 21.000 tấn

từ các chất thải y tế của các bệnh viện, trạm xá, viện điều dưỡng và 8.600 tấn từ sản xuất nông nghiệp Việt Nam đã và đang sử dụng khoảng 300 loại thuốc trừ sâu, 200 loại thuốc trừ bệnh, gần 150 loại thuốc trừ cỏ, 6 loại thuốc diệt chuột và 23 loại thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng Các hoá chất bảo vệ thực vật này nhiều về cả số lượng và chủng loại, trong đó có một số loại thuộc danh mục cấm sử dụng, hạn chế

sử dụng và hết hạn sử dụng

Các chất hữu cơ ô nhiễm khó phân huỷ sử dụng trong nông nghiệp chủ yếu là DDT và HCB hiện còn ở các địa phương chờ được xử lý, còn trong công nghiệp phần lớn là PCB Các hợp chất này đều có tính bền vững và nguy hại đối với môi trường và con người nên đã bị cấm sử dụng (Bộ TN-MT, 2006)

Trong những năm 1961-1971, quân đội Mỹ đã rải xuống miền Trung và miền Nam Việt Nam hàng trăm triệu lít chất diệt cỏ có chứa dioxin Mặc dù chất diệt cỏ được tồn chứa và phân phối cho các vụ phun rải đã trải qua hơn 40 năm nhưng hàm lượng của chúng ở ba sân bay quân sự cũ là Biên Hòa, Đà Nẵng và Phù Cát vẫn ở mức cao và rất cao Mức độ ô nhiễm chất diệt cỏ/dioxin sẽ được trình bày chi tiết dưới đây

1.2.2.2 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Biên Hòa

Sân bay Biên Hòa được chia làm 3 khu vực có mức độ ô nhiễm khác nhau

* Khu vực Nam sân bay: nhiều vị trí có nồng độ dioxin lớn hơn 1.000 ppt trong

* Khu vực Z1: Kết quả phân tích cho thấy nồng độ TCDD tăng dần theo độ sâu:

ở độ sâu 0-30 cm nồng độ TCDD là 36.800 ppt, độ sâu 30 – 60 cm nồng độ là

Trang 25

144.000 ppt, độ sâu 60 – 90 cm nồng độ là 259.000 ppt, độ sâu 150 – 180 cm nồng

độ là 184.000 ppt Hàm lượng TCDD chiếm tới 99% tổng độ độc trong tất cả các mẫu lấy tại khu vực này (Hatfield, 2011) Đây là khu vực có các lô xử lý bằng biện pháp phân hủy sinh học của Viện Công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Trong lô xử lý 3.384 m3, tổng độ độc trước khi xử lý dao động khoảng 10.000 ng TEQ/kg đất (Đặng Thị Cẩm Hà, 2012)

1.2.2.3 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Đà Nẵng

* Trong Báo cáo tổng kết của Văn phòng 33 cho thấy khu vực ô nhiễm tại đầu Bắc sân bay (khu vực pha trộn và đóng nạp) có nồng độ TCDD cao nhất xác định được là 361.000 ppt ở độ sâu từ 0 – 10 cm và tỷ lệ đồng phân 2,3,7,8-TCDD chiếm tới trên 99% Ở độ sâu từ 10 – 30 cm, nồng độ TCDD là 330.000 ppt và những mẫu khác ở khu vực này nằm trong khoảng 1.190 đến 36.800 ppt (Báo cáo tổng thể, 2011) Đây là khu vực mà Viện Công nghệ sinh học đã tiến hành xử lý thử nghiệm ở quy mô 10 m3 và 100 m3 bằng biện pháp chôn lấp tích cực Tổng độ độc ban đầu trong đất dao động khoảng 899 – 365.000 ppt TEQ, trung bình khoảng 105.080 ppt TEQ Tổng độ độc của mẫu trầm tích tại hồ A dao động khoảng 68,6 – 6.820 ppt TEQ (Báo cáo tổng thể, 2011)

* Ở khu vực phía Nam sân bay, nồng độ TCDD cao nhất phân tích được là 20.600 ppt ở độ sâu 0-10 cm nhưng tỷ lệ đồng phân 2,3,7,8-TCDD chỉ chiếm có 65% Ở các độ sâu lớn hơn nồng độ TCDD vẫn cao, ở độ sâu 10-30 cm nồng độ TCDD dao động trong khoảng 3.500 đến 5.120 ppt và tỷ lệ đồng phân 2,3,7,8-TCDD chiếm 68,4% Ở độ sâu 30-115 cm, nồng độ TCDD giảm dần theo độ sâu từ

123 đến 4,15 ppt

* Tại khu vực đóng thùng khi thu hồi, các mẫu phân tích trên bề mặt với độ sâu

từ 0-10 cm nằm trong khoảng 5,2 ppt đến 99,7 ppt và tỷ lệ đồng phân độc TCDD chiếm trên 80% Tại khu pha trộn và đóng nạp, nồng độ chất ô nhiễm vẫn ở mức độ cao và nằm trong khoảng 64 đến 11.700 ppt Tất cả các mẫu tại khu vực này

2,3,7,8-có tỷ lệ đồng phân 2,3,7,8-TCDD chiếm tỷ lệ cao 94,9 - 95,7 % (Hatfield, 2009)

1.2.2.4 Ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin ở sân bay Phù Cát

Trang 26

Khu vực nhiễm độc và hướng lan tỏa trong sân bay Phù Cát có nồng độ ô nhiễm giảm dần theo độ sâu và được chia thành các khu sau:

* Khu nhiễm độc cao: khu chứa chất độc hóa học và nạp chất độc lên phương tiện phun rải Khu vực này có độ ô nhiễm cao nhất với nồng độ khoảng 11.400 – 49.500 ppt

* Khu rửa phương tiện (sau khi phun rải chất phát quang): khu vực này có độ ô nhiễm thấp nhất, chỉ 18 - 270 ppt

* Khu vùng đệm: vùng đệm nằm trên vùng đất từ khu chứa, nạp rửa đến cửa cống qua đường liên khu chảy vào hồ A và có nồng độ ô nhiễm 210 – 2450 ppt

1.3 Phân hủy sinh học các hợp chất hữu cơ chứa clo

Nhiều nghiên cứu về quá trình phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo đã được công bố Trong phần này sẽ đề cập chi tiết về cơ chế phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo bởi VSV, các nghiên cứu về phân hủy chất diệt cỏ, dioxin bởi các VSV hiếu khí và kỵ khí

1.3.1 Cơ chế phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo

Có 4 con đường phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo bởi các

VSV hiếu khí và kỵ khí (Reineke, 2001; Fennell, 2004; Yoshida, 2005) như sau:

(i) Oxy hóa cắt vòng thơm bởi các enzyme hydrocarbon dioxygenase vòng thơm của các VSV hiếu khí

(ii) Loại clo của các sản phẩm cắt vòng bởi các VSV hiếu khí (Hình 1.2) (iii) Phân hủy nhờ xúc tác bởi các enzyme ngoại bào như laccase, mangan peroxidase (MnP), lignin peroxidase (LiP) chủ yếu do nấm và xạ khuẩn sinh ra (Hình 1.3)

(iiii) Loại khử clo bởi các VK KK (Hình 1.4)

Dưới đây là các cơ chế chuyển hóa bởi một số đại diện của một số nhóm VSV khác nhau đã được chứng minh

Trang 27

Hình 1.2 Quá trình loại clo sản phẩm cắt vòng của lindane và pentachlorophenol ở

điều kiện hiếu khí (Reineke, 2001)

Quá trình loại clo ở VSV hiếu khí đối với các hợp chất hữu cơ vòng thơm chứa nhiều clo xảy ra theo hai cơ chế là cơ chế loại clo sớm và cơ chế loại clo muộn Ở cơ chế loại clo sớm, các hợp chất hữu cơ vòng thơm chứa nhiều clo được tạo thành các hợp chất vòng thơm không chứa hoặc chứa rất ít clo, sau đó các hợp

chất này bị phân hủy theo con đường ortho hay meta và cuối cùng đi vào chu trình

Krebs Cơ chế loại clo muộn sẽ tạo ra các hợp chất đã bị cắt vòng vẫn chứa clo như chlorocatechol, chloroprotocatechuate hay chlorohydroquinone Sau đó, các hợp

chất này bị phân hủy theo con đường ortho biến đổi (Reineke, 2001) (Hình1.5)

Khác với vi khuẩn, nấm không sử dụng các hợp chất hữu cơ vòng thơm chứa clo làm nguồn carbon và năng lượng mà quá trình phân hủy các hợp chất này xảy ra nhờ một hệ thống enzyme ngoại bào được tiết ra môi trường bao gồm phenol oxidase, LiP, MnP và laccase ở các nấm phân hủy gỗ Các enzyme này có phổ đặc hiệu cơ chất rộng, chúng có thể xúc tác quá trình phân hủy các hợp chất như

chloroaniline, chlorobenzene, chlorophenol, chlorobiphenyl hay dibenzo-p-dioxin

Các chủng nấm có khả năng sinh enzyme ngoại bào phân hủy các hợp chất này bao

gồm chi Phenarochaete, Pleurotus, Trametes, Sphingomonas, Cordyceps, Pennicilium v.v (Reineke, 2001, Cvančarová, 2013)

Trang 28

Hình 1.3 Con đường phân hủy 2,4-DCP bởi nấm Phanerochaete chrysosporium

(Reineke, 2001) LiP/MnP: sự tham gia của 1 hay cả 2 enzyme LiP và MnP

Hình 1.4 Các con đường loại khử clo của 1,2,3,4-TCDD (A) và 1,2,3,7,8-PeCDD

(B) ở chủng D.mccartyi CBDB1 (Hiraishi, 2003)

Ở điều kiện kỵ khí, quá trình loại khử clo là quá trình phân hủy hay chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo xảy ra nhờ các enzyme nội bào trong điều kiện thiếu oxy và hoàn toàn không có oxy Quá trình này xảy ra với các chất chứa nhiều

Trang 29

clo nhanh hơn các hợp chất chứa ít clo và có tính chọn lọc với các hợp chất, chi và loài vi khuẩn Vị trí các nguyên tử clo trong phân tử cũng ảnh hưởng đến quá trình loại khử clo Ví dụ, quá trình loại khử clo của monochlorobenzoate sẽ ưu tiên ở vị

trí meta-, rồi đến vị trí para- và cuối cùng là vị trí ortho- nhưng quá trình loại khử clo của các hợp chất chứa nhiều clo lại ưu tiên ở vị trí para- hay nguyên tử clo nằm

giữa hai nguyên tử clo khác trong phân tử (Reineke, 2001)

Các VK KK tham gia vào quá trình loại khử clo cũng khá đa dạng, bao gồm

nhóm VK KSF (Desulfovibrio, Desulfitobacterium, Desulfomonile) và một số VK khác (Dehalobacter, Dehalococcoides, Dehalogenimonas) Quá trình loại khử clo của một số hợp chất đa vòng thơm ở D mccartyi CBDB1 được trình bày ở Hình 1.4

Hình 1.5 Sơ đồ khoáng hóa các hợp chất chứa clo vòng thơm với hợp chất trung gian là

chlorocatechol (Reineke, 2001)

Trang 30

Các cơ chế phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo đã trình bày (Hình 1.2 – 1.5) cho ta thấy tiềm năng và sự loại bỏ clo ở những hợp chất này bởi những VSV khác nhau trong điều kiện hiếu khí và kỵ khí Ở mỗi con đường đều có

sự tham gia của các đại diện thuộc rất nhiều chi VSV khác nhau Cho đến nay, các nhà khoa học cần rất nhiều nghiên cứu sâu sắc bằng các công nghệ cao, hiện đại mới

có thể làm rõ hiệu quả phân hủy và cơ chế phân hủy các hợp chất clo Quá trình phân hủy sinh học có thể triệt để chỉ khi trong công nghệ xử lý có sự kết hợp nhiều cơ chế khác nhau Quá trình phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo thường tạo ra hợp chất trung gian là chlorocatechol như ở Hình 1.5 Quá trình chuyển hóa hoàn toàn các hợp chất hữu cơ chứa nhiều clo có thể được tóm tắt trên Hình 1.6 Qua một số cơ chế phân hủy và chuyển hóa các hợp chất chứa clo ở trên, một lần nữa khẳng định vai trò của việc kết hợp nhiều nhóm VSV hiếu khí và kỵ khí trong quá trình chuyển hóa hay khoáng hóa hoàn toàn các hợp chất hữu cơ chứa clo, trong đó không thể không có sự tham gia của các VK KK hô hấp loại khử clo

Hình 1.6 Con đường phân hủy hoàn toàn PCDD/Fs bởi các quần xã VK trong quá trình

phân hủy sinh học (Hiraishi, 2003)

Trong quá trình phân hủy sinh học các chất hữu cơ chứa clo, quá trình loại khử clo là bước mở đầu, bước khử độc ở điều kiện kỵ khí tạo điều kiện cho sự khoáng hóa hoàn toàn các hợp chất này ở điều kiện hiếu khí Tuy nhiên, một số VSV vẫn có khả

Trang 31

năng chuyển hóa hay phân hủy các hợp chất như 2,4-D, 2,4,5-T trong điều kiện hiếu khí Để có bức tranh tổng thể về quá trình phân hủy và chuyển hóa các hợp chất hữu

cơ chứa clo nói chung và các hợp chất dioxin nói riêng, sự đa dạng các VSV tham gia vào quá trình chuyển hóa, phân hủy chất diệt cỏ/dioxin ở điều kiện hiếu khí và vai trò của các VK KK trong quá trình loại khử clo sẽ được đề cập

1.3.2 Phân hủy hiếu khí chất diệt cỏ/dioxin

1.3.2.1 Phân hủy hiếu khí các chất diệt cỏ chlorophenoxy

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về phân hủy hiếu khí các hợp chất chứa clo nói chung, các chất là thành phần chính của chất diệt cỏ như 2,4-D, 2,4,5-T nói riêng Các nhân tố ảnh hưởng đến phân hủy sinh học 2,4-D, 2,4,5-T bao gồm nồng độ, cấu trúc hóa học, mức độ đa dạng VSV, độ ẩm, nhiệt độ, pH, nồng độ oxy và các điều kiện địa hóa thổ nhưỡng khác (Picton, 2004)

Chuyển hóa 2,4-D bởi dioxygenase phụ thuộc -ketoglutarate do gene tfdA mã hóa

đã được nghiên cứu ở chủng Cupriavidus necator JMP134 (Fukumori, 1993) Các

VSV phân hủy 2,4-D đã được tìm thấy trong một số loại đất, bùn, vùng nước hiếu khí gần bề mặt, phân ủ, bùn hoạt tính, hồ và sông 2,4-D được chuyển hóa thành 2,4-DCP

và sau đó được oxy hóa đến 3,5-dichlorocatechol Quá trình phân hủy 2,4-D được thực

hiện bởi các VK Arthrobacter, Pseudomonas, Cupriavidus (tên cũ Alcaligenes hoặc Ralstonia), Flavobacterium, Burkholderia (tên cũ Pseudomonas), Halomonas và Variovorax thuộc lớpß và γ-Proteobacteria (Itoh, 2004)

Một số nghiên cứu về phân hủy 2,4-D và 2,4-DCP bởi nấm sợi đã được ghi nhận Ryan và Rumbus (1989) nghiên cứu về quá trình khoáng hóa 2,4,5-T bởi nấm

đảm P chrysosporium BKM-F-1767 trong điều kiện nuôi cấy lỏng và trong đất

Vroumsia và đtg (2005) đã nghiên cứu chi tiết về khả năng phân hủy D và

2,4-DCP bởi các loài nấm Aspergillus penicilloides, Mortierella isabellina, Chrysosporium pannorum và Mucor geneevensis

2,4,5-T khó bị phân hủy hơn và các nghiên cứu về phân hủy sinh học hợp chất này ít hơn so với 2,4-D Chủng VK sử dụng 2,4,5-T được nghiên cứu đầy đủ nhất là

Burkholderia phenoliruptrix AC1100 (tên cũ Pseudomonas cepacia AC1100) (Kitagawa,

Trang 32

2002) Một số chủng VK khác sử dụng 2,4,5-T như Nocardioides simplex 3E, Stenotrophomonas maltophilia (Mai, 2001), Burkholderia sp JR7B3 (Rice, 2005), Raoultella planticola (Zharikova, 2006)

Tại Việt Nam, một số nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu các chủng hay quần xã VSV có khả năng sinh trưởng và sử dụng 2,4-D, 2,4,5-T là nguồn carbon theo cơ chế đồng trao đổi chất (Kiều Hữu Ảnh, 2003; Hoàng Thị Mỹ Hạnh, 2004;

Đặng Thị Cẩm Hà, 2005; La Thanh Phương, 2005; Lê Văn Nhương, 2005) Các kết

quả nghiên cứu sẽ được trình bày chi tiết ở phần cuối của chương này nhằm làm sáng tỏ mục tiêu và các đóng góp của luận án

1.3.2.2 Phân hủy hiếu khí các hợp chất dioxin

Theo Field (2008), trong số các nghiên cứu về VK phân hủy các hợp chất PCDD và PCDF có tới 84% kết quả nghiên cứu công bố về phân hủy hiếu khí các hợp chất dioxin chứa 1 hoặc 2 clo Hiện nay, phân hủy sinh học các dioxin chứa ba hay bốn clo đang được quan tâm nghiên cứu Nhìn chung, quá trình phân hủy sinh học của các hợp chất dioxin chứa clo tăng lên khi số nguyên tử clo trong phân tử giảm Các hợp chất PCDD/F chứa 5 nguyên tử clo hoặc nhiều hơn khó bị phân hủy sinh học hiếu khí do độ độc của các hợp chất tăng cùng với số nguyên tử clo trong phân tử Nghiên cứu của Cermiglia (1979), Klecka (1980) cho thấy, dibenzo-dioxin (DD), dibenzo-furan (DBF) và các chất tương tự chứa clo được chuyển hóa đầu tiên

đến các hợp chất dạng cis-dihydroxylate bởi các VK Pseudomonas và Beijerinckia

spp Phân hủy naphthalene và biphenyl bởi VK không triệt để và tạo ra các sản phẩm “ngõ cụt” Phản ứng oxy hóa kép vị trí bên tạo ra DBF đã được hydroxylate hóa và sản phẩm này được chuyển hóa tiếp thông qua quá trình cắt vòng ở vị trí

meta để tạo ra chất chuyển hóa phân cực màu vàng và hấp thụ cực đại ở bước sóng

khoảng 460 nm Một số VK oxy hóa kép vị trí bên của dioxin và các hợp chất tương

tự bao gồm Novosphingobium aromaticivorans IFO15084, N stygium IFO 16085,

N sunterraneum IFO 16086, Porphyribacter sanguineus IAM 12620T, Sphingobacterium yanoikuyae B1, B cepacia F297, B cepacia ET4, Ralstonia sp SBUG290, Pseudomonas sp HL7b v.v Kubota và đtg (2005) đã phân lập 7 chủng

Trang 33

VK Nocardioides aromaticivorans sử dụng DBF Các chủng VK này tạo ra các chất

chuyển hóa màu vàng không hòa tan, hấp thụ cực đại ở bước sóng từ 400 đến 507

Chủng nấm Cerrena sp F0607 có khả năng phân hủy

2,4,8-trichlorodibenzo-p-furan ở nồng độ 10 mg/l trong đó phát hiện được cả 3 loại enzyme ngoại bào phân

hủy lignin (Hidayat, 2013) Nấm Pleurotus ostreatus có khả năng phân hủy penta-,

hexa-chlorobiphenyl Trong môi trường nuôi cấy phát hiện được phức hệ enzyme tham gia vào quá trình phân hủy các hợp chất vòng thơm như enzyme ngoại bào (ligninolytic enzyme) và enzyme nội bào (cytochrome P450 monooxygenase, arylalcohol dehydrogenase, arylaldehyde dehydrogenase) (Cvančarová, 2013) Một số VK khác có cả hai quá trình oxy hóa kép ở vị trí bên và vị trí góc của

các dioxin như VK biển Cycloclasticus pugetti, Comamonas sp KD7, Rhodococcus

sp NCIMB 12038, Rhodococcus opacus SAO 101 (Chang, 2008) và Rhodococcus

sp HA01 (Aly, 2008)

Theo Habe, chủng Rhodococcus opacus SAO101 có khả năng sử dụng MCDD, 2,3-DCDD, 2,7-DCDD; chủng Terrabacter sp DBF63 có khả năng sử dụng 2-MCDD, 2,3-DCDD (Habe, 2001) Theo Aly, chủng Rhodococcus sp HA01 có thể

1-sử dụng DD là nguồn carbon duy nhất nhưng các tế bào sinh trưởng trên DBF có thể

chuyển hóa DD, 2-CDBF và 3-CDBF (Aly, 2008) Chủng P veronii PH03 phân hủy

được 90,7% DD, 79,7% DBF, 88,3% 1-MCDD và 78,6% 2-MCDD sau 60 giờ nuôi cấy với nồng độ ban đầu của các chất là 1 mM (Hong, 2004)

Ở Việt Nam, một số chủng VSV phân lập từ đất hoặc bùn ô nhiễm chất diệt cỏ chứa dioxin có khả năng sử dụng DBF và sinh trưởng trên môi trường chứa DD, 2-

Trang 34

MCDD như nguồn carbon đồng trao đổi chất Tuy nhiên, các kết quả chi tiết sẽ được trình bày ở phần cuối của chương này

1.3.3 Phân hủy kỵ khí chất diệt cỏ/dioxin

Trong nhiều thập niên qua, quá trình phân hủy kỵ khí các hợp chất hữu cơ chứa clo đã và đang được quan tâm nghiên cứu Nhiều VK KK sử dụng các chất ô nhiễm chứa clo là các chất nhận điện tử trong quá trình hô hấp và được gọi là VK

KK hô hấp loại clo hoặc hô hấp clo (Hiraishi, 2008) Tuy nhiên, số lượng các

nghiên cứu loại khử clo vẫn ít hơn nhiều so với nghiên cứu phân hủy sinh học dioxin, các chất tương tự dioxin và các sản phẩm trung gian của quá trình phân hủy theo cơ chế oxy hóa

1.3.3.1 Phân hủy sinh học kỵ khí các chất diệt cỏ chlorophenoxy

Các VSV tham gia vào quá trình loại khử clo rất đa dạng, chủ yếu thuộc ba

ngành chính là Chloroflexi, Firmicute và Proteobacteria (Hiraishi, 2008; Maphosa,

2010) Nghiên cứu đầu tiên về loại khử clo là quá trình chuyển hóa 2,4,5-T thành

2,5-D bởi quần xã VSV chuyển hóa 3-chlorobenzoate (Suflita, 1984) Theo Bryant

(Bryant, 1992), phân hủy 2,4,5-T được bắt đầu bởi sự loại một nguyên tử clo thành 2,5-D trong mẫu bùn và trầm tích Tuy nhiên, trong các quần xã VSV, quá trình loại khử clo thường xảy ra ở các vị trí bên và 2,4,5-TCP được phát hiện là sản phẩm

đầu tiên của quá trình chuyển hóa kỵ khí 2,4,5-T (Mitsevich, 2000, Nguyen, 2007) Phân hủy 2,4-D chủ yếu bắt đầu bởi sự loại bỏ nguyên tử clo ở vị trí bên (Boyle,

1999a) Quá trình chuyển hóa 2,4-D đến 4-chlorophenoxyacetate cũng đã được

phát hiện (Warner, 2002) Quá trình phân hủy 2,4-DCP ở điều kiện kỵ khí trong các

mẫu trầm tích nước ngọt cũng đã được công bố (Zhang,1990) Trong các quần xã

VK, loại khử clo của các chlorophenol tạo thành từ các chlorophenoxyacetate

thường được bắt đầu bởi phản ứng loại một clo ở vị trí ortho, kết quả là làm tăng

lượng 3,4-dichlorophenol từ 2,4,5-T (Mikesell, 1985; Gibson, 1990), chlorophenol từ 2,5-D (Bryant, 1992; Nguyen, 2007) hoặc 4-chlorophenol từ 2,4-D

3-(Warner, 2002)

Trang 35

1.3.3.2 Phân hủy kỵ khí các hợp chất dioxin

Townsend (Townsend, 1983) đã có nghiên cứu đầu tiên về sự thay đổi các dạng dioxin và sự tích lũy các dạng ít clo trong các mẫu trầm tích Loại khử clo của các hợp chất dioxin bởi VSV đã được phát hiện trong trầm tích, bùn và đất nhiễm

những hợp chất này (Vargas, 2001; Yoshida, 2005; Hiraishi, 2008) Kết quả nghiên cứu của Bunge và đtg cho thấy chủng Dehalococcoides mccartyi CBDB1 có khả

năng loại khử clo của 1,2,3,4-TCDD và 1,2,3,7,8-PeCDD (Bunge, 2003) Chủng

thuần D mccartyi 195 hay quần xã VK có mặt chủng này có khả năng loại khử clo của

1,2,3,4-TCDD tạo ra 1,2,4-TrCDD, 1,3-DiCDD, loại clo của HCB tạo ra 1,2,3,5-TCB, loại clo của 2,3,4,5,6-pentachlorobiphenyl thành 2,3,4,6-TCB, 1,3,5-TrCB, loại clo của 1,2,3,4-tetrachloronaphthalene tạo ra các đồng phân dichloronaphthalene chưa xác định (Fennell, 2004) Việc bổ sung 1,2,3,4-TCB và 2,3,4,5-tetrachloroanisole đã tăng cường quá trình loại clo của 1,2,3,4-TCDD và TCDF của VSV trong các trầm tích (Hiraishi, 2008) Theo Bunge, các mẫu làm giàu VK KK từ bùn có khả năng loại clo 1,2,4-TrCDD và 1,2,3-TrCB tới 1,3-DCB Ngoài ra, trong quá trình loại khử clo, số

VK loại khử clo đã tăng 4 lần so với ban đầu và đạt 11% số lượng VK tổng số có mặt

trong mẫu làm giàu ở cuối chu kỳ nuôi cấy (Bunge, 2008) Các VK Dehalococcoides

có khả năng loại khử clo của các hợp chất hữu cơ chứa nhiều clo thành các hợp chất chứa ít clo như các đồng phân chứa 1-2 nguyên tử clo Các hợp chất này sẽ bị các VSV hiếu khí phân hủy tiếp bằng cách cắt khung carbon (Bunge, 2009)

1.4 Đa dạng các vi khuẩn tham gia hô hấp loại khử clo

Các VK KK hô hấp loại khử clo rất đa dạng và được chia thành 3 nhóm Trong phần này sẽ trình bày chi tiết về đặc điểm của các VK hô hấp loại khử clo nói chung và đặc điểm, đại diện của từng nhóm nói riêng

1.4.1 Đặc điểm chung của các vi khuẩn hô hấp loại khử clo

Đã có nhiều bằng chứng về VK KK tham gia hô hấp loại clo đóng vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hóa và loại độc tố của các hợp chất hữu cơ chứa clo như chloroethene, chlorobenzene, chlorophenol, PCB, PCDD/Fs Theo công bố của một số

tác giả thì các VK tham gia loại khử clo thuộc 3 ngành chính là Firmicutes (VK Gram

Trang 36

dương có tỷ lệ G + C thấp), Proteobacteria (bao gồm - và δ- Proteobacteria) và Chloroflexi (Hình 1.7) (Smidt, 2000, 2004; Hiraishi, 2008; Richardson, 2013)

(i) Các đại diện của ngành Firmicutes bao gồm các chi Desulfitobacterium, Dehalobacter, Clostridium, Acetobacterium có khả năng loại khử clo của các hợp chất hữu cơ mạch thẳng, vòng thơm hay cả hai

(ii) Các đại diện của ngành Proteobacteria bao gồm các chi Desulfuromonas, Desulfomonile, Desulfovibrio, Dehalospirillum và một số chi khác như Sulfurospirillum, Anaeromyxobacter, Geobacter, Pseudomonas, Shewanella v.v (Suyama, 2001; Rowe, 2008; Richardson, 2013; Kranzioch, 2013)

(iii) Các đại diện của ngành Chloroflexi bao gồm các chi Dehalococcoides, Dehalobium và Dehalogenimonas Đây là các chi VK có khả năng loại clo của rất

nhiều hợp chất chứa clo vòng thơm, đa vòng thơm và mạch thẳng (Hiraishi, 2008;

Richardson, 2013; Kranzioch, 2013) Ngoài ra, rất nhiều VK thuộc ngành Chloroflexi

không nuôi cấy được cũng có mặt trong các khu vực ô nhiễm các hợp chất hữu cơ chứa clo (Nguyễn Bá Hữu, 2009; Đào Thị Ngọc Ánh, 2013)

Dựa vào đặc tính sinh lý về khả năng loại khử clo, các VK có khả năng hô hấp loại khử clo được chia thành ba nhóm là nhóm hô hấp loại khử clo bắt buộc, nhóm hô hấp loại khử clo không bắt buộc và nhóm loại khử clo đồng trao đổi chất (Hiraishi, 2008)

(a) VK hô hấp loại khử clo không bắt buộc là nhóm có khả năng loại khử clo của các hợp chất chứa clo để sinh năng lượng trong quá trình hô hấp (Hiraishi, 2008) Tuy nhiên, các VK nhóm này vẫn có thể tổng hợp năng lượng khi được nuôi cấy trên các cơ chất hữu cơ không chứa clo khác như hydrocarbon, 2,4,6- trinitrotoluene, 2,4-dinitro-toluene, hexahydro-1,2,3-trinitro-1,3,5-triazine và có thể

là một số hợp chất vô cơ như muối sulfate, thiosulfate, nitrate, nitrite, Mn2+, Fe2+(Barton, 2007) Nhóm này thường có kiểu trao đổi chất đa dạng, dễ nuôi cấy và phân lập Hầu hết các VK KSF thuộc nhóm này Theo một số tác giả (Hiraishi, 2008; Maphosa, 2010; Richardson, 2013), nhóm hô hấp loại khử clo không bắt buộc

bao gồm các loài thuộc chi Anaeromyxobacter, Desulfomonile, Desulfovibrio, Desulfomonas, Geobacter, Sulfurospirillium, Desulfitobacterium

Trang 37

(b) VK hô hấp loại clo bắt buộc là nhóm VK có kiểu sống bị giới hạn, tổng hợp năng lượng cho sinh trưởng từ quá trình loại khử clo của các hợp chất vòng thơm hay mạch thẳng chứa clo với H2 là chất cho điện tử Tất cả các chủng đã phân lập được đều là VK sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ và pH trung tính, sống trong môi trường đất, nước ngọt và nước biển (Hiraishi, 2008) VK hô hấp loại clo

bắt buộc gồm các loài thuộc chi Dehalobacter, Dehalococcoides, Dehalobium, Dehalogenimonas và một số đại diện thuộc ngành Chloroflexi không nuôi cấy

Nhóm VK này thường là kỵ khí bắt buộc và chỉ sử dụng năng lượng sinh ra từ quá trình loại khử clo cho hô hấp và sinh trưởng Nhóm này rất khó phân lập và nuôi cấy ở dạng chủng thuần Tuy nhiên, nhóm VK này có tiềm năng để xử lý các chất ô nhiễm hữu cơ chứa clo do chúng chứa rất nhiều bản sao gene chức năng tham gia

vào quá trình loại khử clo (Krajmalnik-Brown, 2005; Lee, 2006; Richardson, 2013)

(c) Nhóm loại khử clo đồng trao đổi chất là nhóm VK KK bắt buộc hay không bắt buộc, chúng loại khử clo cùng với quá trình trao đổi chất và sinh năng

lượng Đại diện của nhóm này bao gồm Propionigenium, Pseudomonas, Shewanella, Desulfobacterium, Acetobacterium, Clostridium (Hiraishi, 2008) Đây

là các VK kỵ khí bắt buộc hay không bắt buộc nhưng chúng có thể sống trong điều

kiện hoàn toàn không có oxy Đặc biệt là VK Pseudomonas là VK hiếu khí nhưng

cũng sống được trong điều kiện có rất ít hay hoàn toàn không có oxy

Trang 38

Hình 1.7.Cây phát sinh chủng loại của các VK loại khử clo dựa trên trình tự đoạn

gene 16S rRNA Con số trong ngoặc đơn là mã số trên GenBank (Hiraishi, 2008) O: Các VK loại khử clo bắt buộc F: các VK loại khử clo không bắt buộc

+: Các VK có khả năng loại khử clo đồng trao đổi chất

Khi nghiên cứu quần xã VK KK loại clo từ vị trí ô nhiễm các dung môi hữu

cơ ở West Louisiana Hoa Kỳ cho thấy có 42 dòng VK trong đó Dehalobacter chiếm

25 dòng, Clostridium chiếm 5 dòng, Dehalococcoides chiếm 4 dòng, các chi khác

chiếm ít hơn 3 dòng (Grostern, 2006) Ngoài ra, một số VK sinh metan như

Methanosarcina và acetogene như Acetobacterium, Spomusaovate có thể loại clo

theo cơ chế đồng trao đổi chất (EPA, 2006; Hiraishi, 2008) Trong các mẫu làm

giàu từ sông Dương Tử (Trung Quốc) trên PCE, các VK Dehalobacter, Dehalococcoides, Desulfomonile và Desulfitobacterium có mặt và quá trình loại clo

Trang 39

của PCE xảy ra hoàn toàn tới ethene Tuy nhiên, nếu không có mặt Dehalococcoides thì quá trình loại khử clo chỉ dừng lại ở 1,2-cis-DCE (Kranzioch, 2013)

Ngoài ra, có nhiều VSV hiếu khí khác cũng tham gia loại khử clo của DDT

thành DDD như Proteus vulgaris, E.coli, Enterobacter, Bacillus, Flavobacterium, Cyanobacteria Một số VK hiếu khí khác lại phân hủy DDT theo con đường kỵ khí như Hydrogenomonas, Enterobacter aerogenes, Bacillus, E.coli (Gohil, 2011)

Trong số các VK KK có khả năng hô hấp loại khử clo, VK KSF,

Dehalococcoides và Pseudomonas được nghiên cứu nhiều do đặc tính riêng của chúng Cho đến nay, Dehalococcoides được xem là các “thợ khử” clo, thuộc nhóm

hô hấp loại khử clo bắt buộc còn VK KSF thuộc nhóm loại khử clo không bắt buộc,

dễ nuôi cấy VK Pseudomonas có thể sống trong cả điều kiện hiếu khí hay kỵ khí

không bắt buộc và có khả năng loại khử clo (trong điều kiện kỵ khí) hay chuyển hóa các hợp chất hữu cơ chứa clo (trong điều kiện hiếu khí) Do đó, sự đa dạng các nhóm này sẽ được trình bày ở các tiểu mục sau

1.4.2 Đa dạng vi khuẩn khử sulfate

VK KSF có mặt ở hầu hết các môi trường sinh thái như trong nước biển, nước ngọt và cả trầm tích, đất, đặc biệt là những nơi có nồng độ sulfate cao Các VK KSF là nhóm VK KK sử dụng sulfate làm chất nhận điện tử trong quá trình trao đổi năng lượng (Barton, 2007) Về đặc điểm sinh lý và trao đổi chất, các VK KSF thuộc nhóm loại clo không bắt buộc, có thể sử dụng các hợp chất hữu cơ chứa clo làm chất nhận điện tử cuối cùng trong chuỗi hô hấp Tuy nhiên, tại các nơi không có các hợp chất chứa clo, các VK này vẫn tồn tại và có thể sử dụng các hợp chất vô cơ như các muối sulfate, muối thiosulfate hay các hợp chất hữu cơ không chứa clo như 2,4-dinitrotoluene, 2,4,5-trinitrotoluene, hydrocarbon v.v làm chất nhận điện tử cuối cùng trong chuỗi hô hấp của chúng Do đó, vai trò của nhóm VK này rất quan trọng trong quá trình phân hủy sinh học các chất ô nhiễm hữu cơ chứa clo hay không chứa clo (Barton, 2007) Trong một quần xã VK KSF thường tồn tại nhiều nhóm VK KSF khác nhau, chúng hỗ trợ nhau trong quá trình sinh trưởng Một số chủng sẽ phân hủy các

Trang 40

chất hữu cơ mạch dài thành acetate, chất này sẽ là nguồn carbon và chất cho điện tử để các chủng khác sinh trưởng (Muyzer, 2008)

Các VK KSF thuộc các chi Desulfitobacterium, Desulfovibrio, Desulfomonile, Desulfuromonas, Desulfobacterium có khả năng loại khử clo của cả các hợp chất

hữu cơ vòng thơm chứa clo (chlorobenzene, chlorophenol) và mạch thẳng (PCE, TCE) (Hiraishi, 2008; Kranzioch, 2013) Trong số các VK KSF có khả năng hô hấp

loại clo, Desulfovibrio là VK KK không bắt buộc, chúng có khả năng sống ở môi trường kỵ khí hay vi hiếu khí Desulfovibrio là VK hô hấp loại halogen, có khả năng loại clo, brom của một số hợp chất halogen hữu cơ (Boyle, 1999b; Sun, 2000; Häggblom, 2006) Đây là chi dễ nuôi cấy và phân lập được trong phòng thí nghiệm

và đã được xác định là có mặt trong lô xử lý đất nhiễm chất diệt cỏ/dioxin ở sân bay

Đà Nẵng (Nguyễn Thị Sánh, 2005) Trên thế giới, chi Desulfovibrio được nghiên cứu khá nhiều về khả năng loại khử clo, brom Chủng Desulfovibrio dechloracetivorans SF3 phân lập từ biển có khả năng loại clo ở vị trí ortho của 2- chlorophenol và 2,6-dichlorophenol tạo ra phenol (Sun, 2000) Desulfovibrio phân

lập từ vùng bùn cửa sông có thể sinh trưởng trên lactate kết hợp với loại khử

halogen của 2,4,6-tribromphenol (Boyle, 1999b) Chủng Desulfovibrio sp 2BP-48

có khả năng khoáng hóa 2-bromophenol kết hợp với quá trình khử sulfate Chủng

2BP-48 này khi đồng nuôi cấy với một chủng Desulfovibrio khác có thể loại khử

halogen của các chất 2-bromophenol, 2,6-dibromo-phenol, 2-iodophenol tạo ra

phenol (Häggblom, 2006) Theo Drzyzga, chủng Desulfovibrio sp TBP1 có khả

năng loại khử brom của các hợp chất chứa brom trong trầm tích biển như 2-bromo-,

4-bromo-, 2,4-dibromo-, 2,6-dibromo- 2,4,6-tribromo-phenol (Drzyzga, 2001) Chi Desulfovibrio và chi Desulfitobacterium cùng tồn tại trong mẫu làm giàu từ đất ô nhiễm PCE và loại clo của hợp chất này đến 1,2-DCE Chi Desulfovibrio chiếm ưu

thế trong môi trường có tỷ lệ SO42-/PCE cao (Drzyzga, 2001) Theo Boyle và đtg, các loài Desulfovibrio gigas, D.africanus, Desulfococcus multivorans có khả năng loại clo của lindane tới benzene và chlorobenzene trong vòng 48 giờ (Boyle, 1995) Desulfitobacterium là chi tiềm năng trong quá trình xử lý các chất ô nhiễm

chứa clo bằng phân hủy sinh học Đây là VK KK bắt buộc, khó nuôi cấy trong

Ngày đăng: 14/10/2015, 19:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Quá trình loại clo sản phẩm cắt vòng của lindane và pentachlorophenol ở - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.2. Quá trình loại clo sản phẩm cắt vòng của lindane và pentachlorophenol ở (Trang 27)
Hình 1.3. Con đường phân hủy 2,4-DCP bởi nấm Phanerochaete chrysosporium - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.3. Con đường phân hủy 2,4-DCP bởi nấm Phanerochaete chrysosporium (Trang 28)
Hình 1.4. Các con đường loại khử clo của 1,2,3,4-TCDD (A) và 1,2,3,7,8-PeCDD - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.4. Các con đường loại khử clo của 1,2,3,4-TCDD (A) và 1,2,3,7,8-PeCDD (Trang 28)
Hình 1.5. Sơ đồ khoáng hóa các hợp chất chứa clo vòng thơm với hợp chất trung gian là - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.5. Sơ đồ khoáng hóa các hợp chất chứa clo vòng thơm với hợp chất trung gian là (Trang 29)
Hình 1.7.Cây phát sinh chủng loại của các VK loại khử clo dựa trên trình tự đoạn - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.7. Cây phát sinh chủng loại của các VK loại khử clo dựa trên trình tự đoạn (Trang 38)
Hình 1.9. Cây phát sinh chủng loại dựa trên trình tự axit amin của các enzyme RdhA (các gene - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 1.9. Cây phát sinh chủng loại dựa trên trình tự axit amin của các enzyme RdhA (các gene (Trang 48)
Hình 3.1. Điện di đồ DGGE với cặp mồi DCC305f/DSV838r đặc hiệu cho VK - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.1. Điện di đồ DGGE với cặp mồi DCC305f/DSV838r đặc hiệu cho VK (Trang 84)
Hình 3.2. Cây phát sinh chủng loại của VK KSF trong các lô xử lý. Thanh bar thể hiện sự - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.2. Cây phát sinh chủng loại của VK KSF trong các lô xử lý. Thanh bar thể hiện sự (Trang 85)
Hình 3.3. Điện di đồ DGGE phân tích sự đa dạng VK Dehalococcoides ở các lô xử lý - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.3. Điện di đồ DGGE phân tích sự đa dạng VK Dehalococcoides ở các lô xử lý (Trang 86)
Bảng 3.7. Các VK trong metagenome của mẫu làm giàu theo khả năng loại khử clo - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Bảng 3.7. Các VK trong metagenome của mẫu làm giàu theo khả năng loại khử clo (Trang 92)
Hình 3.8. Phân bố và tỷ lệ các gene chức năng tham gia vào các quá trình của tế bào - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.8. Phân bố và tỷ lệ các gene chức năng tham gia vào các quá trình của tế bào (Trang 96)
Hình 3.10. Mối quan hệ giữa một số enzyme tham gia vào quá trình phân hủy hợp chất - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.10. Mối quan hệ giữa một số enzyme tham gia vào quá trình phân hủy hợp chất (Trang 100)
Hình 3.18. Cây phát sinh chủng loại của chủng BDN10T. Thanh bar thể hiện sự sai khác 2 - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.18. Cây phát sinh chủng loại của chủng BDN10T. Thanh bar thể hiện sự sai khác 2 (Trang 108)
3.6.2. Hình thái một số tế bào vi khuẩn trong mẫu làm giàu trên các chất ô nhiễm - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
3.6.2. Hình thái một số tế bào vi khuẩn trong mẫu làm giàu trên các chất ô nhiễm (Trang 110)
Hình 3.22. Cây phát sinh chủng loại của VK Dehalococcoides có mặt ở mẫu làm giàu P5T - Nghiên cứu đa dạng quần xã vi khuẩn kỵ khí trong các lô xử lý chất diệt cỏdioxin bằng phương pháp phân hủy sinh học
Hình 3.22. Cây phát sinh chủng loại của VK Dehalococcoides có mặt ở mẫu làm giàu P5T (Trang 112)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm