Để thực hiện các quyết định quản lý của mình, nhà nước áp dụng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước như thuyết phục, kỷ luật, cưỡng chế… tính quyền lực này được thể hiện bằng những
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Bộ môn Luật hành chính MSSV: B110043
Lớp : LK1163B1
Cần Thơ, 04/2014
Trang 2Nhờ sự tâm huyết, tận tình của quý thầy cô là giảng viên, cán bộ, nhân viên Trường Đại học Cần Thơ, cùng với sự phấn đấu không ngừng của bản thân, đến nay em
đã hoàn thành tốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường Qua gần ba năm, bản thân đã được trau dồi và trưởng thành rất nhiều cả về tri thức lẫn nhân cách đủ để làm hành trang
cho cuộc sống tương lai Qua đây, em xin chân thành cảm ơn quý Thầy, Cô Khoa Luật Trường Đại Học Cần Thơ đã yêu thương, chỉ bảo tận tình, đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy Võ Duy Nam đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã cố gắng, song, với trình độ hiểu biết còn hạn chế, trải nghiệm thực tế chưa nhiều nên tất yếu sẽ còn nhiều thiếu sót nhất định Do
đó, rất mong nhận được sự thông cảm, đóng góp ý kiến của quý Thầy, Cô cũng như các
bạn sinh viên để đề tài được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 2
2.Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.Đối tượng và khách thể của đề tài
4.Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.Kết cấu đề tài
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHI THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH
1.1 Lý luận luận chung về Nghi thức Lễ tân trong công sở hành chính
1.1.1 Khái niệm chung về công sở và công sở hành chính
1.1.2 Khái niệm chung về Nghi thức nhà nước và Nghi thức Lễ tân
1.2 Lược sử về Nghi thức Lễ tân trong công sở hành chính
1.3 Vai trò và ý nghĩa của Nghi thức Lễ tân trong công sở hành chính
1.3.1 Vai trò và ý nghĩa của Nghi thức Lễ tân nhà nước
1.3.2 Vai trò và ý nghĩa của Nghi thức Lễ tân ngoại giao
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHI THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH
2.1 Chức năng nhiệm vụ của Lễ tân nhà nước
2.2 Yêu cầu của việc thực hiện các Nghi thức lễ tân nhà nước
2.3 Nghi thức lễ tân trong đối nội
2.3.1 Nghi thức lễ tân khi tiếp đãi khách đến công sở
2.3.2 Nghi thức lễ tân trong tổ chức ngày kỷ niệm, nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua
2.4 Nghi thức lễ tân nhà nước trong đối ngoại
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ HOÀN THIỆN CÁC NGHI THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH
3.1 Thực trạng
Trang 43.1.2 Hạn chế
3.2 Giải pháp, đề xuất
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sự sống của con người là tổng hòa các mối giao tiếp Đó là mối giao tiếp giữa con người với con người, giữa con người với xã hội và giữa con người với thiên nhiên Giao tiếp là hoạt động bản chất của vạn vật nhằm sinh tồn Trong xã hội loài người hoạt động giao tiếp lại càng không thể thiếu nhằm trao đổi thông tin, nhận thức, tư tưởng, tình cảm để bày tỏ mối quan hệ, cách ứng xử, thái độ giữa các thành viên của xã hội loài người với nhau và với thế giới xung quanh Trong hoạt động quản lý nhà nước, một bối cảnh đặc biệt của giao tiếp xã hội, khi các chủ thể giao tiếp có những thuộc tính giao ước xã hội khác nhau, việc áp dụng một cách hợp
lý và thuần thục những cơ cấu nghi thức tương thích là tiền đề quan trọng để đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Nhà nước là một thiết chế tổ chức có cơ cấu phức tạp với chức năng quản lý đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên địa bàn lãnh thổ nhất định Để thực hiện các quyết định quản lý của mình, nhà nước áp dụng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước như thuyết phục, kỷ luật, cưỡng chế… tính quyền lực này được thể hiện bằng những phương tiện mang tính hình thức thuộc phạm trù nghi lễ như cách bày trí công sở, trang phục, nghi thức lễ tân… Những nghi thức, thủ tục mang tính lễ nghi là một bộ phận quan trọng không kém gì những quy định nêu trong những đạo luật Nội dung của các nghi thức và thủ tục đó tạo nên khái niệm các nghi thức nhà nước
Nghi thức nhà nước nói chung được quy định tại các văn bản pháp luật của nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc hoặc quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ hoặc thực hiện nghiêm chỉnh
Để đảm bảo một nền hành chính thực sự hiện đại, hoạt động hiệu quả và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn, chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của nghi thức nhà nước trong công sở hành chính Nói cách khác, cán bộ công chức cần nắm rõ các nghi thức lễ tân trong công sở hành chính để có những kiến thức cần thiết trong công việc và đón tiếp khách… Đây không chỉ là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu bức thiết đối với một nền hành chính hiện đại – nền hành chính ngày càng mang đậm tính chất phục vụ
Hơn nữa, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta và các nước trên thế giới ngày càng mở rộng và phát triển Các mối quan hệ hợp tác này đã góp phần tích cực cho sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội của đất nước, góp phần giữ vững ổn định an ninh, hòa bình trong khu vực và trên thế giới Hàng năm, chính phủ và các đơn vị địa phương đã đón tiếp
Trang 6hàng trăm ngàn đoàn khách quốc tế vào làm việc tại Việt Nam, cũng như cử hàng trăm ngàn lượt cán bộ, chiến sỹ đi thăm, làm việc và học tập tại các nước; tổ chức hàng trăm hội thảo, hội nghị và các khóa tập huấn quốc tế nhằm tăng cường sự hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực công tác trong các lĩnh vực liên quan cho cán bộ, công chức…Để đạt hiệu quả tối đa trong mọi hoạt động hợp tác như chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, đào tạo, tập huấn thống nhất kế hoạch hợp tác và chương trình hoạt động chung, giao lưu văn hóa, thể thao… đòi hỏi các cán bộ, công chức phải hiểu rõ công tác lễ tân nhà nước Công tác lễ tân được thực hiện trên cơ sở tổng hợp các quy định, tập quán quốc gia và quốc tế Công tác lễ tân không những thể hiện chủ trương, chính sách đối nội, đối ngoại của Nhà nước mà còn thể hiện những nét văn minh và bản sắc văn hóa của một dân tộc Thực hiện tốt công tác lễ tân là góp phần quan trọng vào sự thành công của công tác đối ngoại và ngược lại, nếu xảy ra sai sót sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của công tác đối ngoại, thậm chí có thể gây căng thẳng cho quan hệ ngoại giao
Từ lý luận và thực tiễn đều cho thấy vai trò to lớn, mang tính quyết định của Nghi thức lễ tân nhà nước trong công sở hành chính, trong nền kinh tế-xã hội đang
hội nhập và phát triển từng giờ Tuy vậy, ta cũng phải nhìn nhận một cách khách
quan những hạn chế các nghi thức nhà nước cho cán bộ, công chức làm công tác lễ tân nhà nước đang hằng ngày thực thi công vụ tại các cơ quan công quyền
Tất cả những điều nêu trên là lý do để chúng tôi chọn đề tài “Nghi thức lễ
tân nhà nước trong công sở hành chính-lý luận và thực tiễn ” làm vấn đề nghiên
cứu cho Khóa luận kết thúc khóa học tại trường Đại học Cần Thơ
2 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu Tìm hiểu thực trạng việc thực hiện Nghi thức lễ tân
trong công sở hành chính; đồng thời đánh giá được những ưu và nhược điểm việc vận dụng Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
Trên cơ sở đó, chỉ ra những nguyên nhân cơ bản của những thực trạng và đưa
ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả việc vận dụng Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính trong quá trình thực thi công vụ
* Phạm vi nghiên cứu: đề tài không nghiên cứu tất cả các nội dung của công
tác lễ tân mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến Nghi thức nhà nước trong việc tổ chức, điều điều hành công việc tại cơ quan, công sở
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: đề tài tiến hành nghiên cứu Nghi thức lễ tân trong
công sở hành chính : Nghi thức nhà nước và công việc lễ tân trong công sở hành chính
Trang 7* Khách thể nghiên cứu: những cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác Lễ
tân nhà nước và những người dân đến liên hệ, giải quyết công việc tại các cơ quan,
tổ chức
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và
vì nhân dân… Và bốn phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp lịch sử; phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp
Thông qua các phương pháp lịch sử; phương pháp duy vật biện chứng; phương pháp so sánh; phương pháp tổng hợp nhằm tổng hợp và so sánh làm nổi bật tầm quan trọng của Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
Chương 3 Thực tiễn và kiến nghị để hoàn thiện các Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHI THỨC LỄ TÂN TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH 1.1 Lý luận chung về nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
1.1.1 Khái niệm chung về công sở
Theo nghĩa cổ điển, công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước, để tiến hành một công việc chuyên ngành của Nhà nước Ví dụ như các
cơ quan hành chính Nhà nước, các Viện nghiên cứu, bệnh viện, trường học Đây là một loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, phụ trách quản lý một loại công việc hay một loại hoạt động có tính chuyên ngành Các tổ chức mang tính công ích, được Nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điều chỉnh của Luật hành chính và các
Bộ luật khác đều có nghĩa là công sở Như vậy, công sở thực chất là một loại tổ chức và do đó có đặc trưng của một tổ chức
Xét về mặt nội dung công việc, hoạt động công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng, do vậy cần được sự bảo vệ và kiểm tra Nhà nước mới đảm thỏa mãn nhu cầu này
Xét về hình thức tổ chức, công sở là tập hợp các cơ cấu tổ chức, có phương tiện vật chất và con người được Nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình Hình thức có tổ chức của công sở do Nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy Nhà nước Hiện nay, nước ta có các loại công sở như công sở sự nghiệp, công sở hành chính
Xét trên ý nghĩa tổ chức Nhà nước, khái niệm công sở gần nghĩa với cơ quan trong hệ thống Nhà nước Từ đó có thể coi công sở là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước, do Nhà nước lập ra Tương tự, công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc
Từ phân tích trên, có thể hiểu: công sở là các tổ chức mang tính chất công
ích được nhà nước công nhận thành lập, chịu sự điều chỉnh của Luật hành chính và các luật khác Công sở là các tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, liểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo và xử lý các văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho bộ máy quản lý nhà nước, là nơi phối hợp hoạt động và thực hiện nhiệm vụ được nhà nước giao cho đồng thời là nơi khiếu nại của dân
Công sở thực hiện nhiệm vụ (thường gọi là công việc) của khối gián tiếp, nhằm thực hiện chức năng của tổ chức, cơ quan Ở đây, cán bộ công chức của bộ máy hành chính tham gia vào các hoạt động chung như xây dựng văn bản, xử lý hồ
Trang 9sơ, thông tin, tổ chức thực hiện các quyết định hành chính theo chức trách của mình và theo một quy chế nhất định
Công sở hành chính có những nhiệm vụ chủ yếu: quản lý công vụ theo pháp
luật; tổ chức phối hợp công việc giữa các bộ phận của cơ quan; tổ chức công tác thông tin trong cơ quan và giữa cơ quan với các cơ quan khác; thực hiện việc kiểm tra, theo dõi công việc của cán bộ, công chức thuộc cơ quan theo cơ chế chung và các quy chế khác do cơ quan, đơn vị ban hành dựa trên các quy định chung của nhà nước; tổ chức việc giao tiếp với dân, với các cơ quan trong bộ máy Nhà nước và các
tổ chức xã hội, làm đại diện cho nhà nước để thực thi công vụ; tham mưu trong hoạt động chính sách, xây dựng pháp luật, các quy chế, quyết định cho cơ quan, tổ chức Nhà nước có thẩm quyền công sở là nơi phục vụ công dân thông qua việc giao tiếp, giải quyết các công việc của dân,là hình ảnh nhìn thấy được của chính quyền, của các cơ quan nhà nước trong quy trình hoạt động của mình
1.1.2 Lý luận chung về Nghi thức nhà nước và Nghi thức lễ tân
Trong bất kỳ xã hội nào cũng luôn tồn tại các sự vật và các hiện tượng xã hội Các sự vật, hiện tượng ấy nằm trong quá trình tác động của các hoạt động chính trị, văn hóa xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật, tôn giáo… Các hoạt động này diễn
ra hết sức đa dạng và phong phú, phản ánh quá trình nhận thức và chinh phục thế giới tự nhiên, phản ánh quá trình nhận thức xã hội của loài người Các hoạt động này dù có hướng tới thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người
Thế giới vật chất tồn tại và vô hạn trong sự vận động và biến đổi không ngừng, nó không phải là sự chuyển vị trí trong không gian mà theo nghĩa chung nhất, vận động là sự biến đổi nói chung
Ph.Ănggen viết: “vận động hiểu theo nghĩa chung nhất – tức được hiểu là
một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể cả sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”
Như vậy, bất cứ sự vật hiện tượng nào dù trong tự nhiên hay trong xã hội đều tồn tại trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng Và trong trạng thái vận động, biến đổi không ngừng của xã hội, giao tiếp là hoạt động quan trọng trong đời sống xã hội, là nền tảng quan trọng để xây dựng nên xã hội Nền văn minh nhân loại, nền văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia được kiến tạo thông qua hoạt động giao tiếp
Hoạt động giao tiếp có thể được thực hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ
và phi ngôn ngữ, mà trong đó theo các nhà nghiên cứu thì vai trò cơ bản thuộc về phương tiện phi ngôn ngữ như điệu bộ, cử chỉ, trang phục… Nhưng dù được thực
Trang 10hiện như thế nào đi nữa hoạt động giao tiếp luôn luôn phải đặt trong những bối cảnh nhất định, được thực hiện bởi những cơ cấu nghi thức nhất định trong việc sử dụng các phương tiện giao tiếp tương ứng nhằm đạt tới mục tiêu đặt ra
Trong hoạt động quản lý nhà nước, một bối cảnh đặc biệt của giao tiếp xã hội, khi các chủ thể giao tiếp có những thuộc tính giao ước xã hội khác nhau, việc
áp dụng một cách hợp lý và thuần thục những cơ cấu nghi thức tương thích là tiền
đề quan trọng để đạt được hiệu quả giao tiếp tốt nhất
Nhà nước là một thiết chế tổ chức có cơ cấu phức tạp với chức năng quản lý đời sống cộng đồng của các tầng lớp dân cư trên địa bàn lãnh thổ nhất định Để thực hiện các quyết định quản lý của mình, nhà nước áp dụng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước như thuyết phục, kỷ luật, cưỡng chế… tính quyền lực này được thể hiện bằng những phương tiện mang tính hình thức thuộc phạm trù nghi lễ như cách bày trí công sở, trang phục, nghi thức lễ tân… Những nghi thức, thủ tục mang tính lễ nghi là một bộ phận quan trọng không kém gì những quy định nêu trong những đạo luật
Như vậy, những nghi thức, thủ tục mang tính nghi lễ được thực hiện trong hoạt động giao tiếp quản lý nhà nước là một bộ phận quan trọng của các phương thức tiến hành hoạt động đó Nội dung của những nghi thức và thủ tục đó kiến tạo
cơ bản khái niệm nghi thức nhà nước
Nghi thức nhà nước là phương thức giao tiếp trong hoạt động quản lý nhà
nước nói chung được quy định trong văn bản pháp luật của nhà nước và tập quán truyền thống của dân tộc và quốc tế mà các bên quan hệ phải tham gia và thực hiện
Nghi thức nhà nước bao gồm nhiều nội dung:
- Các vấn đề liên quan đến hình thức công sở;
- Các vấn đề liên quan đến giao tiếp của công chức trong thực hiện nhiệm vụ;
- Các vấn đề liên quan đến cách thức thể hiện và sử dụng các biểu tượng quốc gia và thể thức văn bản nhà nước;
- Các vấn đề liên quan đến công tác lễ tân như: việc đón, tiếp khách và các vấn đề liên quan đến tổ chức các hoạt động như hội họp, lễ hội, lễ kỷ niệm, lễ tấn phong…
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chủ yếu quan tâm đến mối quan hệ thứ tư, đó là các vấn đề liên quan đến công tác lễ tân
Từ nội dung trên ta thấy khái niệm lễ tân là một nội dung của lễ nghi nhà
nước
Trang 11Lễ tân nhà nước là tổng hợp các nghi thức, thủ tục trong việc đón, tiễn, giao
tiếp với khách nhằm giải quyết những công việc có liên quan đến quan hệ nội bộ nhà nước, giữa các nhà nước, cũng như giữa nhà nước với công dân
Hoạt động nghi thức lễ tân trong công sở hành chính diễn ra qua hai mối quan hệ cơ bản:
Thứ nhất, nghi thức lễ tân trong mối quan hệ nội bộ nhà nước cũng như giữa
nhà nước với công dân (đối nội)
Thứ hai, nghi thức lễ tân trong mối quan hệ quốc tế, giữa các nhà nước - Lễ tân ngoại giao là nghi lễ, nghi thức, phép cư xử lịch thiệp, bình đẳng trong quan hệ
đối ngoại Lễ tân ngoại giao được thể hiện trong nghi lễ tổ chức các hoạt động đối ngoại, cách đón tiếp khách, cách sử dụng các biểu trưng quốc gia ( Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc gia, Quốc thiều…), sự đối xử lịch thiệp với các đại diện các quốc gia ( các vị lãnh đạo, nhà ngoại giao…), việc sắp xếp ngôi thứ, các liên hệ mang danh nghĩa nhà nước (điện, thư, thiếp chúc mừng, thể thức văn bản ngoại giao…) và các
thủ tục ngoại giao Hay nói cách khác, lễ tân ngoại giao là cách ứng xử trong giao
tiếp với người nước ngoài, khi cần thể hiện được chủ quyền và lợi ích quốc gia, uy tín và quyền lợi dân tộc
1.2 Lược sử về về Nghi thức lễ tân trong công sở hành chính
“Trong đạo trị nước, lễ là cần hơn cả Lễ để nhận rõ việc hiềm nghi, soi sáng chỗ vi ẩn, chia ra người trên kẻ dưới, tỏ rõ vật nọ phẩm kia Lễ nghi 300 điều, uy nghi 3000 điều, chỗ nào cũng ngụ tinh thần của cổ nhân ở đó Điển lễ thời cổ sâu kín tinh vi không thể nói hết được
Nước Việt ta dựng nước văn minh, thấm nhuần phong hóa Trung Hoa, mỗi đời nổi lên đều có lễ nghi, chất(phác) văn(hoa) bớt hay thêm, trước sau cùng so sánh, trong đó độ nghi tiết hoặc có khác nhau, xa cách hàng nghìn năm, biên chép thiết sót, nên phải tra cứu rõ ràng mà đính chính lại Đây hãy nói đến những điều lớn như: quy chế mũ áo, nghi vệ xe kiệu, là để phân biệt người trên kẻ dưới; lễ tế trời ở đàn Nam Giao, tế tổ ở nhà Tôn Miếu, là để kính quỷ thần; việc vui mừng thì
có lễ khánh hạ của triều đình; việc đau thương thì có lễ tuất tang của nhà nước; cũng
là những lễ tiến tôn sách phong thì làm ở nơi cung phủ, những lễ tế cáo cầu đảo thì
để tiếp với bách thần Các lễ đều có quan hệ với đạo trời lẽ vật, với điển nước phép triều, các đời diên cách, kỹ, dối khác nhau, cần phải chia ra từng mối, từng ngành
mà không thể thiếu sót được
Từ đời Đinh đời Lý trở về trước, nghi tiết còn đơn giản, đến đời Trần, đời Lê
về sau, lễ chế mới nhiều, hoặc trước sơ lược mà sau tường tận hơn, hoặc trước
Trang 12không mà sau có, đều là do lễ nghĩa mà đặt, văn mỗi thời mỗi khác, nghi thức đã đặt, đều phải chép cả…”1
[22]
Lễ vốn đã có từ trong xã hội nguyên thủy, dùng để chỉ những tập tục mang tính quy phạm ( tục lệ) mà các thành viên trong thị tộc, bộ lạc phải tuân thủ Cùng với sự ra đời của nhà nước và phân hóa giai cấp, giai tầng các tục lệ được cải biên, chỉnh sửa phù hợp với điều kiện phát triển mới cơ cấu tổ chức quyền lực, tương quan chính trị và đời sống kinh tế - xã hội
Lễ là yếu tố được thể hiện và thể hiện rất rõ và mạnh mẽ trong đạo Khổng Theo Kinh Lễ thì có đạo đức, nhân nghĩa mới thành Chỉ có Lễ thì mọi quan hệ giữa người với người, giữa người với đất trời mới được thông suốt Đã là người thì phải biết đến Lễ, học Lễ thông suốt Cử chỉ, lời nói nhất thiết phải theo những khuôn phép nhất định, khuôn phép ấy là hợp với đạo của trời, của đất “Trời cao đất thấp, muôn vật tản mát khác nhau, bởi thế phải đặt ra lễ để giữ gìn cho có trật tự Lễ là định phận kẻ trên người dưới Vương giả đời xưa dựng đặt ra mọi việc, việc gì cũng
có lễ cả, như chế độ về áo xiêm, xe, kiệu; tế lễ có ở giao miếu; lễ cát hung thì độ số bao nhiêu, nghi chương thế nào, đều có phẩm trật Đó là việc lớn của điển lễ phép tắc, không thể sai lầm rối lẫn được Cho nên lễ để trị nước trước hết phải cẩn thận
về những điều ấy” 2[22]
Các nhà nước phong kiến Trung Hoa, Việt Nam và một số nước Đông Á khác trước đây rất coi trọng lễ nghi, chế độ Dưới thời phong kiến Lễ là một trong ngũ thường, là gốc của kẻ quân tử Mọi hoạt động đều thấy hình ảnh của Lễ:
+ Quân lễ là những nghi thức dùng trong việc nhà binh như xuất quân, diễn tập, khải hoàn…
+ Tân lễ là những nghi thức được triều đình dùng trong tiếp đãi các tân khách như trong lễ triều kiến, sai sứ, triều hội, yến tiệc…
+ Gia lễ là những nghi thức mừng nhà vua và hoàng tộc như các lễ sinh nhật, lập thái tử, lập hoàng hậu,…
+ Cát lễ là những nghi lễ liên quan đến các đối tượng như thiên thần (mặt trời, mặt trăng, các tinh tú), thổ địa, nhân thần(tổ tiên, tiên thánh, tiên sư)
+ Hung lễ là những nghi thức về tống táng, thăm viếng gia đình có tang sự với các nghi lễ về trang phục, thời gian để tang của những người trong gia đình
Lễ tân ra đời từ rất sớm cùng với sự phát triển của xã hội Ban đầu không ai đặt ra quy tắc, chỉ là thói quen giao tiếp Các thói quen giống nhau được lặp đi lặp lại và hình thành những hình thức đơn giản của Lễ tân Đó là những Nghi lễ biểu thị
Trang 13sự tôn trọng của thị tộc- thị tộc, quốc gia- quốc gia để không làm tổn hại danh dự nước mình và uy tín quốc gia khác
Trước kia, nghi thức được áp dụng trong nghi thức đón tiếp các nước và phái đoàn ngoại giao được gọi là nghi thức triều đình, để chủ yếu phô trương sức mạnh,
sự giàu có với nhau Lễ tân tạo ra khoảng cách giữa vua chúa với thần dân, giữa nước lớn với nước nhỏ Sau này được chia thành nghi lễ nhà nước và nghi lễ ngoại giao
Nghi lễ nhà nước là lễ tiết rất quan trọng của nhà nước, mang nặng tính quốc gia Đối tượng là người trong nước, do lễ tân trong nước chuẩn bị, được tổ chức theo nghi thức quốc gia truyền thống Áp dụng cho quốc khánh, quốc tang, lễ đăng quang nhậm chức hoặc tuyên dương công trạng thành tích
Nghi lễ ngoại giao là lễ tiết liên quan đến các quốc gia khác Đối tượng chính
là người nước ngoài, mang tính quốc gia và quốc tế Được tổ chức theo tập quán quốc gia và quốc tế, do Lễ tân bộ ngoại giao chịu trách nhiệm Được áp dụng cho đón tiếp đoàn người nước ngoài, tổ chức để trình thư uỷ nhiệm, trao huân huy chương cho người nước ngoài
Ngày nay, nghi thức nhà nước cần phải được hiểu là những phương thức giao tiếp trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, được quy định tại các văn bản pháp luật của nhà nước, theo tập quán truyền thống dân tộc, hoặc quốc tế mà các bên tham gia quan hệ thủ tục quản lý nhà nước phải tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh
Ngay từ những ngày đầu của nền cộng hòa(1945), Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đến công tác xây dựng lễ nghi nhà nước của chính quyền mới Các văn bản pháp luật đã kịp thời được ban hành để điều chỉnh những vấn đề thuộc lĩnh vực này Ngay sau khi tuyên ngôn độc lập, ngày 05/09/1945, Chính phủ của nước Việt Nam mới đã có sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa số 5 về bãi bỏ Cờ quẻ ly của chế độ cũ và ấn định Quốc kỳ mới của Việt Nam
có “ nền mầu đỏ tươi, ở giữa có sao năm cánh màu vàng tươi”
Vào cuối những năm 50, sau khi hòa bình lặp lại, ngày 21/07/1956 Chính phủ đã ban hành ba văn bản quan trọng là Điều lệ số 973/TTg về việc dùng Quốc huy, Điều lệ số 974/TTg về việc dùng Quốc kỳ, Điều lệ số 975/TTg về việc dùng Quốc ca nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Năm 1976, quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã có nghị quyết ngày 02/07 về tên nước, Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc Ca và thủ đô
Về vấn đề giao tiếp xã hội và lễ tân nhà nước, Hội đồng chính phủ ra quyết định số 56/CP ngày 18 tháng 03 năm 1975 về việc ban hành bản “thể lệ về tổ chức
Trang 14việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội”; ngày 02 tháng 06 năm 1992 chính phủ ban hành nghị định số 182/HĐBT và kèm theo nó là “quy định một số nghi lễ nhà nước
và tiếp khách nước ngoài”; Nghị định 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2011 thay thế
khách nước ngoài
Nghị định 145/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành chính thức có hiệu lực
thi hành từ ngày 16/12/2013 với một số điểm mới nhằm thay thế Nghị định 82/2001/NĐ-CP ngày 06/11/2011 Về nghi lễ Nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài và Nghị định 154/2004/NĐ-CP ngày 09/8/2004 của Chính phủ về nghi thức Nhà nước trong tổ chức mittinh, lễ kỷ niệm, trao tặng và đón nhận Danh hiệu vinh
dự Nhà nước, Huân chương, Huy chương, Cờ thi đua của Chính phủ, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ
Ngoài ra còn nhiều văn bản khác quy định về tổ chức việc cưới, việc tang, hội họp, về lễ phục, trang phục công chức, quy định một số nghi lễ nhà nước và tiếp khách nước ngoài…
Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng nhiều vấn đề trong lĩnh vực này vẫn còn bị pháp luật bỏ ngỏ, mặc dầu vẫn biết đây là phạm vi điều chỉnh không thể chỉ hoàn toàn bằng pháp luật được Những vấn đề liên quan đến nghi lễ nhà nước đã được pháp luật quy định cần phải được thực hiện nghiêm chỉnh
1.3 Vai trò và ý nghĩa của nghi thức lễ tân trong công sở hành chính 1.3.1 Vai trò và ý nghĩa của nghi thức lễ tân trong vấn đề đối nội
Lễ tân nhà nước là một biểu hiện quan trọng của văn hóa quản lý ( văn hóa hay nói cách khác là văn trị = cai trị + giáo hóa) Trong tuyên bố về những chính sách văn hóa, UNESCO Mêhicô 1982: “trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa hôm nay
có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý trí, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý Chính nhờ văn hóa mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”
Trang 15Cán bộ công chức thực hiện tốt nghiệp vụ lễ tân nhà nước, góp phần nâng cao khả năng và kỹ năng nhận biết cái đẹp, sự tổng hòa những phẩm chất bên trong
và bên ngoài, những khả năng thể chất và tinh thần – một hình thức lý tưởng giáo dục con người Đó là sự tổng hòa mỹ-trí-dũng
Lễ tân hành chính là một nội dung tác nghiệp rất quan trọng, giúp cho việc
mở rộng, củng cố, thúc đẩy việc giải quyết các mối quan hệ có liên quan đến chức năng quản lý của mỗi cơ quan, tổ chức, Nhà nước Nghi thức lễ tân hành chính trong hoạt động của các cơ quan nhà nước xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước, thể hiện và phục vụ chính sách, pháp luật của Nhà nước Cho dù Nghi thức lễ tân hành chính không phải là nội dung chủ yếu của hoạt động hành chính nhưng lại là công việc cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động hành chính được tiến hành thuận lợi Nghi thức lễ tân hành chính là bộ phận cấu thành của hoạt động hành chính để thực hiện các chức năng của hoạt động hành chính nhà nước Nghi thức lễ tân vừa là công cụ chính trị của hoạt động hành chính của Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản của hoạt động hành chính Lễ tân giao tiếp vừa thể hiện trọng thị đối với các đối tượng vừa đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách của nhà nước và nghi thức lễ tân nhà nước
1.3.2 Vai trò và ý nghĩa của nghi thức lễ tân ngoại giao
Lễ tân ngoại giao thể hiện và phục vụ đường lối, chính sách đối ngoại của Nhà nước Lễ tân ngoại giao không phải là nội dung chủ yếu của hoạt động ngoại giao nhưng lại là những công việc cần thiết để tạo điều kiện cho hoạt động ngoại giao tiến hành được thuận lợi Nó là bộ phận cấu thành của hoạt động đối ngoại, không chỉ thực hiện chính sách đối ngoại của một Nhà nước mà còn thể hiện những nét văn minh và bản sắc văn hóa của một dân tộc Do vậy, lễ tân thể hiện thái độ, quan điểm chính trị trong từng lễ tiết, như thái độ, hình thức đón tiếp thể hiện nội dung và mức độ quan hệ
Bất kỳ hoạt động ngoại giao nào giữa hai hoặc nhiều quốc gia đều cần tới các Nghi lễ tân ngoại giao: từ việc đón tiếp các phái đoàn chính thức, triệu tập các hội nghị quốc tế, đàm phán ký kết các hiệp định, đến việc bổ nhiệm, triệu hồi người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, trình thư ủy nhiệm các vấn đề cụ thể như treo
cờ, cử quốc thiều, trang phục trong các lễ tiết… Mọi hoạt động Nghi Thức lễ tân diễn ra tốt hay xấu đều có ảnh hưởng tốt hoặc xấu tới quan hệ của các nước
Nghi thức lễ tân ngoại giao vừa là công cụ chính trị của hoạt động đối ngoại của một Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế
Trang 16Nghi thức lễ tân ngoại giao tạo khung cảnh và bầu không khí cho mối quan
hệ giữa các quốc gia được tiến hành thuận lợi; đề ra quy tắc cho các cuộc giao thiệp quốc tế; vận dụng các hình thức thích hợp trong các cuộc đàm phán ký kết các văn kiện quốc tế nhằm làm tăng giá trị và sự tôn trọng những điều đã ký kết
Nghi thức lễ tân ngoại giao cố gắng đảm bảo quyền bình đẳng cho các quốc gia, tạo điều kiện để mỗi quốc gia, ngay cả trong trường hợp thù địch với nhau, có
sự tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng phẩm giá và quyền độc lập giữa các dân tộc, kể dân tộc nhỏ yếu nhất
Trang 17CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ NGHI THỨC LỄ TÂN
TRONG CÔNG SỞ HÀNH CHÍNH
2.1 Chức năng, nhiệm vụ của lễ tân nhà nước
Lễ tân là một nội dung quan trọng của nghi thức nhà nước Nghị định 109/2008/QĐ-TTg ngày 08/08/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Lễ tân nhà nước trực thuộc bộ ngoại giao:
Cục Lễ tân Nhà nước là tổ chức trực thuộc Bộ Ngoại giao, giúp Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác lễ tân đối ngoại
Cục Lễ tân Nhà nước là Cục loại I, có tư cách pháp nhân, có con dấu hình Quốc huy, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật, trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội
Cơ cấu tổ chức và biên chế:
1 Ban Nghi lễ đối ngoại
2 Ban Ưu đãi, miễn trừ
3 Ban Tổng hợp – Nghiên cứu
4 Văn phòng
Các tổ chức trên là các tổ chức hành chính giúp Cục trưởng Cục Lễ tân Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước
Cục Lễ tân Nhà nước có nhiệm vụ và quyền hạn :
Thứ nhất, tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong việc nghiên cứu,
đề xuất, xây dựng để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành hoặc trình các cấp có thẩm quyền ban hành các quy định về công tác lễ tân đối ngoại:
- Nghiên cứu quy định, tập quán lễ tân Việt Nam và lễ tân quốc tế;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lễ tân đối ngoại
- Chủ trì xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định về nghi
lễ đối ngoại trong công tác đón tiếp khách nước ngoài;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quy định, chế độ ưu đãi, miễn trừ dành cho các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hiệp quốc, Tổ chức quốc tế liên Chính phủ tại Việt Nam và thành viên của các Cơ quan đại diện này;
- Chủ trì xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện các quy định về thư tín trong giao dịch đối ngoại
Trang 18Thứ hai, tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm
tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác lễ tân đối ngoại
Thứ ba, đề xuất để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao tham mưu cho Lãnh đạo Đảng,
Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ trong công tác lễ tân đối ngoại:
- Chủ trương, kế hoạch, biện pháp nâng cao và cải tiến công tác lễ tân đối ngoại phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước
và tập quán quốc tế;
- Nghi lễ trong công tác đón tiếp khách nước ngoài và tổ chức các sự kiện quan trọng tại Việt Nam hoặc do Việt Nam tổ chức ở nước ngoài
Thứ tư, tổ chức thực hiện công tác lễ tân đối ngoại:
- Chủ trì về lễ tân, hậu cần đón tiếp các đoàn khách cấp cao nước ngoài, tổ chức quốc tế thăm, làm việc tại Việt Nam theo lời mời của Lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và khách mời của Lãnh đạo Đảng và Quốc hội khi có yêu cầu;
- Chủ trì về lễ tân, hậu cần cho các đoàn Lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, Chính phủ đi thăm, làm việc hoặc tham dự hội nghị quốc tế ở nước ngoài và các đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội đi thăm, làm việc hoặc tham dự hội nghị quốc tế ở nước ngoài khi có yêu cầu;
- Chủ trì về lễ tân trong việc tổ chức các hội nghị cấp cao quốc tế do Nhà nước Việt Nam đăng cai tổ chức tại Việt Nam;
- Chủ trì về lễ tân cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội dự các hoạt động lễ tân do Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hợp quốc và Tổ chức quốc tế liên chính phủ tại Việt Nam mời;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức cho Người đứng đầu các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hợp quốc và Tổ chức quốc tế liên chính phủ tại Việt Nam tham dự các hoạt động do Nhà nước, Chính phủ Việt Nam mời;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức thực hiện quy trình chấp thuận, trả lời chấp thuận, đón tiếp, tổ chức lễ trình Quốc thư và tổ chức cho các Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ngoài chào lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội, tổ chức cho tập thể Đoàn Ngoại giao đi thăm các địa phương của Việt Nam;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng quản lý và thực hiện chế độ ưu đãi, miễn trừ dành cho các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hợp quốc và Tổ chức quốc tế liên chính phủ tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam, các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và thông lệ quốc tế;
Trang 19- Chủ trì, phối hợp với các đơn vị liên quan của Bộ Ngoại giao thực hiện các thủ tục lễ tân đối ngoại đối với việc bổ nhiệm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Đại diện, Đại diện thường trực nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài tại Liên hợp quốc và các Tổ chức quốc tế liên chính phủ;
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng thông báo các quyết định của lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ và quy định của pháp luật Việt Nam liên quan đến công tác lễ tân đối ngoại cho các Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự, Cơ quan đại diện thuộc Liên hợp quốc và Tổ chức quốc tế liên chính phủ tại Việt Nam;
- Hướng dẫn, quản lý và phối hợp với các cơ quan chức năng bảo đảm chế
độ ưu đãi, miễn trừ các nước dành cho các Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và tại các Tổ chức quốc tế liên chính phủ phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế;
- Phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức các sự kiện quan trọng của Việt Nam có mời khách cấp cao quốc tế, Đoàn Ngoại giao tham dự
Thứ năm, chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng tổ chức bồi dưỡng
nghiệp vụ lễ tân cho cán bộ, công chức, viên chức ngành Ngoại giao, cán bộ, nhân viên Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài và các cơ quan, tổ chức khác khi có yêu cầu
Thứ sáu, quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính và tài sản được giao
theo quy định của pháp luật và phân cấp của Bộ Ngoại giao
Thứ bảy, thực hiện các nhiệm vụ khác theo ủy quyền hoặc phân công của Bộ
trưởng Bộ Ngoại giao
2.2 Yêu cầu của việc thực hiện các Nghi thức lễ tân nhà nước
2.2.1 Yêu cầu của các bộ, công chức thực hiện công tác lễ tân nhà nước
Ngoài các tiêu chuẩn chung cần có của cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức trực tiếp làm công tác lễ tân cần: có kiến thức tốt về công tác lễ tân quốc tế và quốc gia; am hiểu phong tục tập quán nước mình và nước bạn; phải có các đức tính: cẩn thận, tỷ mỉ, thận trọng, nhanh nhẹn, hoạt bát,chín chắn, không hấp tấp, vội vàng, nói năng lưu loát, biết tiếng địa phương và ngôn ngữ quốc tế thông dụng Khi làm công tác lễ cần chú ý:
+ Mỗi lễ tiết phải có chương trình cụ thể, khoa học, chính xác, đầy đủ, phải
có kế hoạch dự phòng;
+ Theo dõi chặt chẽ việc thực hiện;
+ Phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng, linh hoạt, nhạy bén với các bộ phận khác để thực hiện cho tốt
Trang 20Việc tổ chức mít tinh, lễ kỷ niệm, trao tặng, đón nhận danh hiệu vinh dự nhà nước, đón tiếp khách nước ngoài đều cần phải tuân thủ theo các quy định về nghi thức nhà nước, và phải có biểu tượng quốc gia Những biểu tượng quốc gia là một
bộ phận cấu thành nên hệ thống các thủ tục nhằm thực hiện quyền lực nhà nước( thủ tục lập pháp, hành pháp và tư pháp) đồng thời là một bộ phận hình thức mang tính
hỗ trợ quan trọng của chính những thủ tục đó Bất kỳ một tổ chức, đơn vị nào cũng phải nắm được những nghi lễ này để hành xử cho đúng, cho tốt và có hiệu quả Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, lễ tân trong nước phải nắm rõ các quy định của nhà nước khi sử dụng các biểu tượng quốc gia Biểu tượng quốc gia là khái niệm dùng để chỉ các yếu tố cấu thành mang tính chất tượng trưng cho một quốc gia bao gồm: Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc hiệu, Quốc huy
Từ xa xưa, hầu như mỗi dân tộc, quốc gia trên thế giới đã lựa chọn cho mình những biểu tượng nhất định Những biểu tượng đó là Quốc hiệu, Quốc kỳ, Quốc Ca, Quốc ngữ, Quốc thiều…tức là những gì phần lớn tạo nên quốc thể
+ Quy định về việc sử dụng Quốc hiệu
Quốc hiệu là tên gọi của đất nước Trong lịch sử, đất nước ta đã có nhiều tên gọi khác nhau như : Văn Lang, Âu Lạc, Giao Chỉ, Cửu Chân, Vạn Xuân, Đại Cồ Việt, Đại Việt, An Nam…
Ngày 02/09/1945 nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời Theo Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số 49/SL ngày 12/10/1945, tiêu đề các văn bản nhà nước được ghi là : “ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”
Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, tên nước là : “ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Quốc hiệu cùng với tiêu ngữ: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc” cùng tạo thành tiêu đề văn bản, được in trên đầu trang nhất
+ Quy định về việc sử dụng Quốc huy
Quốc huy là huy hiệu của một nước hoặc hình tượng đặc trưng cho một nước “Quốc huy nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, xung quanh có bông lúa, ở dưới có nửa bánh xe răng và dòng chữ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” 3[1] Quốc huy của bất cứ một quốc gia nào đều mang một thông điệp, một ý nghĩa nhất định, Quốc huy Việt Nam hình tròn, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, cho lịch sử cách mạng của dân tộc Việt và tiền đồ xán lạn của
3
[1] Khoản 2 điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 21quốc gia; bông lúa vàng bao quanh tượng trưng cho nông nghiệp; bánh xe tượng trưng cho công nghiệp và chính giữa, phía dưới là dòng chữ tên nước
Cũng do tính chất biểu trưng đó mà khi sử dụng quốc huy phải hết sức chú ý sao cho hợp quy cách để tránh những rắc rối không đáng có Việc sử dụng Quốc huy tùy theo sự cần thiết được có thể làm to nhỏ;Các màu vàng ở mẫu quốc huy có thể thay bằng màu vàng kim nhũ, Quốc huy có thể dùng không tô màu “Quốc huy được treo ở các nơi, và in trên các giấy tờ theo thể lệ quy định dưới đây:
A Những nơi treo quốc huy - Rước quốc huy:
1) Quốc huy được treo ở cơ quan sau đây:
- Nhà họp của Hội Đồng Chính Phủ,
- Nhà họp của Quốc Hội khi họp,
- Trụ sở Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, huyện, xã, thành phố và thị xã,
- Bộ Ngoại giao, các Đại sứ quán và Lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài Quốc huy được treo ở cửa chính cơ quan, về phía trên, ở chỗ trông rõ nhất 2) Quốc huy có thể treo ở lễ đài các ngày lễ lớn: 1 tháng 5 và 2 tháng 9, do Chính Phủ trung ương hoặc các cấp chính quyền địa phương tổ chức
3) Rước quốc huy: trong các cuộc mít tinh, biểu tình, tổ chức ngày 1 tháng 5
và 2 tháng 9, các đoàn thể có thể rước quốc huy
B Dùng quốc huy trên các giấy tờ
Hình quốc huy được in hoặc đóng bằng dấu nổi trên các thứ giấy sau đây:
- Bằng huân chương, bằng khen của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Thủ Tướng Chính Phủ,
- Các văn bản ngoại giao như quốc thư, uỷ nhiệm thư, thư giới thiệu của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Thủ Tướng Chính Phủ, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao,
Trang 22tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định treo Quốc huy: “Quốc huy được treo trang trọng tại phía trên cổng chính hoặc toà nhà chính Kích cỡ Quốc huy phải phù hợp với không gian treo Không treo Quốc huy quá cũ hoặc bị hư hỏng.”
Quốc huy cũng còn có thể được in trên tiền, một số loại tem tài chính… và còn được khắc trên con dấu của một số cơ quan nhà nước nhất định như: Chủ tịch nước, văn phòng Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch quốc hội…
+ Quy định về việc sử dụng Quốc kỳ
Quốc kỳ là cờ tượng trưng cho một quốc gia, cũng chính là cờ tổ quốc Đồng thời đó cũng là biểu trưng một cách rõ ràng quyền lực của nhân dân ta, chủ quyền của mình đối với lãnh thổ, cương vực đã được phân định “Quốc kỳ nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh” 5[1] Lá cờ có nền đỏ và ngôi sao vàng năm cánh, thể hiện ý tưởng máu đỏ da vàng, tượng trưng cho dân tộc và sự đoàn kết các tầng lớp nhân dân bao gồm sỹ, nông, công, thương, binh trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Điều 12 Mục 1 Chương III Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước - Ban hành kèm theo Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định treo Quốc kỳ:
1) Quốc kỳ được treo nơi trang trọng trước công sở hoặc toà nhà chính Quốc
kỳ phải đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định
2) Việc treo Quốc kỳ trong các buổi lễ, đón tiếp khách nước ngoài và lễ tang tuân theo quy định về nghi lễ nhà nước và đón tiếp khách nước ngoài, tổ chức lễ tang
Quốc kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng hai phần ba chiều dài, nền đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh Điểm giữa ngôi sao vàng đặt đúng điểm giữa (điểm giao nhau của hai đường chéo) Quốc
kỳ Khoảng cách từ điểm giữa ngôi sao đến đầu cánh sao bằng một phần năm chiều dài của Quốc kỳ Một cánh sao có trục vuông góc với cạnh dài Quốc kỳ và hướng thẳng lên phía trên theo đầu cột treo Quốc kỳ Tạo hình ngôi sao: từ đầu cánh sao này đến đầu cánh sao đối diện là đường thẳng, không phình ở giữa, cánh sao không bầu Hai mặt của Quốc kỳ đều có ngôi sao vàng trùng khít nhau Nền Quốc kỳ màu
đỏ tươi, ngôi sao màu vàng tươi “Cách treo Quốc kỳ:
- Khi treo quốc kỳ thì phải chú ý đừng để ngược ngôi sao;
5
[1] Khoản 1 điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 23-Treo quốc kỳ ta với quốc kỳ một nước khác: người đứng đằng trước nhìn vào thì cờ của ta ở bên tay phải, cờ nước ngoài ở bên tay trái
-Khi cần treo quốc kỳ của ta và quốc kỳ nhiều nước khác thì sẽ có chỉ thị riêng của Chính Phủ định rõ thứ tự xếp đặt các cờ
-Khi treo cờ của ta và cờ các nước khác, thì các cờ phải làm đúng biểu mẫu, làm bằng nhau và treo đều nhau, không treo lá to lá nhỏ, lá cao lá thấp
-Treo cờ và ảnh: Treo ảnh Chủ Tịch Nước cùng với quốc kỳ thì để ảnh thấp hơn quốc kỳ, hoặc để ảnh trên nền quốc kỳ dưới ngôi sao Ở các cơ quan, chỉ treo thường xuyên ảnh Chủ Tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.”
Quốc kỳ là cờ tượng trưng cho một quốc gia , việc treo cờ cũng phải được quy định rõ ràng: “Thời gian treo:
- Quốc kỳ được treo trong các phòng họp, hội trường của các cấp chính quyền, cơ quan nhà nước và các đoàn thể khi họp những buổi họp long trọng
- Quốc kỳ được treo ngoài trời vào dịp các ngày lễ lớn, sự kiện chính trị, tết
cổ truyền của dân tộc và theo thông báo của trung ương và chính quyền địa phương
- Quốc kỳ được treo hoặc mang đi ở những nơi tổ chức míttinh, diễu hành, động viên quần chúng, phát động thi đua sản xuất, thực hiện các phong trào cách mạng
- Các cơ quan Nhà nước, các nhà trường (kể cả học viện), các đơn vị vũ trang, các cửa khẩu biên giới, các cảng quốc tế phải có cột cờ và treo Quốc kỳ trước công sở, hoặc nơi trang trọng trước cửa cơ quan, Quốc kỳ phải đúng tiêu chuẩn về kích thước, màu sắc đã được Hiến pháp quy định
- Trụ sở Phủ Chủ tịch, trụ sở Quốc hội, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trụ sở Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm soát nhân dân tối cao, Bộ Ngoại giao, Đại sứ quán Việt Nam tại các nước, Cột cờ Hà Nội, trụ sở Ủy ban nhân dân các cấp (trừ Ủy ban nhân dân phường ở thành phố, thị xã), các cửa khẩu và cảng quốc tế treo Quốc kỳ 24/24 giờ hàng ngày
- Trụ sở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, các đơn vị vũ trang, nhà trường treo Quốc kỳ từ 6 giờ đến 18 giờ hàng ngày
- Tất cả các cơ quan và đơn vị nói trên, đặc biệt là các cơ quan đối ngoại, khi
có khách nước ngoài từ cấp Bộ trưởng trở lên đến thăm chính thức phải treo cờ quốc gia của khách cùng với Quốc kỳ.” 6[16]
Dùng Quốc kỳ về việc tang:
6
[16] Hướng dẫn số: 3420/HD-BVHTTDL , Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn việc sử dụng Quốc
Trang 24“Khi có quốc tang thì đính vào phía trên Quốc kỳ một dải vải đen, dài bằng chiều dài Quốc kỳ, rộng bằng 1 phần 10 chiều rộng Quốc kỳ”. 7[16] Theo hướng dẫn của Bộ Ngoại giao Việt Nam từ năm 2010, cờ tang được treo cao trên đỉnh cột
cờ Tuy nhiên, theo Nghị định 105/NĐ-CP/2012 thì “treo cờ rủ, có dải băng tang (có kích thước bằng 1/10 chiều rộng lá cờ, chiều dài theo chiều dài của lá cờ và chỉ treo
cờ đến 2/3 chiều cao của cột cờ, dùng băng vải đen buộc không để cờ bay)”
+ Quy định về việc sử dụng Quốc ca
Quốc ca là bài hát được thừa nhận là chính thức của một quốc gia “Quốc ca
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhạc và lời của bài Tiến quân ca.” 8[1]
Việc sử dụng Quốc ca theo các quy định tại Điều lệ số 975/TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/07/1956 và theo thông báo của Chính phủ số 31/TB-CP ngày 15/02/1993 với nội dung chính sau:
1) Quốc ca có thể hát bằng lời hoặc cử bằng nhạc:
Nếu hát thì khi khai mạc hát đoạn 1, khi bế mục hát đoạn 2
Trong những cuộc duyệt binh hoặc mít tinh lớn có cử quốc ca bằng nhạc, đồng thời có bắn đại bác thì có thể cử quốc ca một lần hay nhiều lần
2) Khi cử quốc ca, mọi người phải bỏ mũ, đừng nghiêm (ở trong phòng họp,
có treo quốc kỳ sau Chủ tịch Đoàn, thì khi chào cờ, Chủ tịch Đoàn đứng nhìn về phía trước mình, không phải quay mặt vào quốc kỳ Còn những người khác thì đứng nhìn về phía quốc kỳ),
3) Cử quốc ca của ta và quốc ca một nước bạn: Trong những buổi lễ (ví dụ như lễ kỷ niệm ngày Quốc Khánh một nước bạn hoặc đặc biệt trong những buổi biểu diễn long trọng của những đoàn nghệ thuật nước bạn), có cử quốc ca của ta và quốc ca của bạn thì khi khai mạc cũng như khi bế mạc, cử quốc ca của bạn trước và quốc ca ta sau
4) Cử quốc ca và Quốc tế ca: khi kỷ niệm ngày Quốc tế lao động 01 tháng 05
- Khi khai mạc: cử quốc ca,
- Khi bế mạc: cử quốc tế ca
7
[16] Hướng dẫn số: 3420/HD-BVHTTDL , Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hướng dẫn việc sử dụng Quốc
kỳ, Quốc huy, Quốc ca
8
[1] Khoản 3 điều 13 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013
Trang 255) Không dùng băng ghi âm và hệ thống phóng thanh thay cho việc hát Quốc
ca khi chào cờ được tổ chức vào sáng thứ hai hang tuần, trước buổi học đầu tiên tại các đơn vị vũ trang, trường phổ thông, trường dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, các học viện, các trường đại học Lễ chào cờ tại các buổi lễ lớn của Nhà nước hoặc các buổi tiếp đón mang tính nghi lễ nhà nước, những buổi lễ kỷ niệm của ngành, địa phương có thể sử dụng băng ghi âm hoặc quân nhạc thay cho hát Quốc ca
2.2.2 Yêu cầu của việc thực hiện các Nghi thức lễ tân nhà nước
Điều 2 nghị định 145/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013 quy định yêu cầu của việc tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài:
+ Việc tổ chức ngày kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua phải bảo đảm an toàn, trang trọng, tiết kiệm, hiệu quả, không phô trương hình thức; có ý nghĩa tôn vinh sự kiện, tôn vinh tập thể và cá nhân
+ Việc tổ chức ngày kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua phải mang ý nghĩa giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng; gắn với các phong trào thi đua yêu nước và thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của địa phương và đất nước
+ Thực hiện nếp sống văn minh, bảo tồn giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc trong lễ kỷ niệm; trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng và danh hiệu thi đua
+ Việc tổ chức thực hiện nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp khách nước ngoài phải chú trọng yêu cầu chính trị, đối ngoại, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật và thông lệ quốc tế nhằm góp phần tăng cường và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế
+ Mức độ và nghi lễ đón, tiếp các đoàn khách nước ngoài thực hiện trên cơ
sở yêu cầu của chuyến thăm và nguyên tắc đối đẳng do cơ quan chủ trì tổ chức đón, tiếp kiến nghị
2.3 Nghi thức lễ tân trong đối nội
2.3.1 Nghi thức lễ tân khi tiếp đãi khách đến công sở
Tổ chức tiếp khách là một trong những hoạt động quan trọng, một công tác
cơ bản của các cơ quan công quyền, các đoàn thể, các tổ chức khác nhau Công tác này được thực hiện không chỉ nhằm để giao tiếp xã hội thuần túy, đảm bảo hoạt động thông suốt đối với các hệ quả của quá trình quản lý, mà còn tạo điều kiện cho các nhà quản lý đánh giá hiệu quả công việc từ phía bên ngoài Người thực hiện công tác lễ tân là người đại diện đầu tiên cho cơ quan, đơn vị tiếp xúc với khách, tạo
ấn tượng đầu tiên với khách Và nếu ấn tượng tốt thì công việc có thể nói là “đầu
Trang 26xuôi đuôi lọt” Lễ tân vừa là công cụ chính trị của hoạt động hành chính của Nhà nước, vừa là phương tiện thực hiện và cụ thể hoá các nguyên tắc cơ bản của hoạt động hành chính Lễ tân giao tiếp vừa thể hiện trọng thị đối với các đối tượng vừa đảm bảo thực hiện đúng đường lối, chính sách của nhà nước và nghi thức lễ tân nhà nước Người làm công tác lễ tân phải phải có thái độ lịch sự, tôn trọng khách Ngôn ngữ giao tiếp phải rõ ràng, mạch lạc; không nói tục, nói tiếng lóng, quát nạt
Trong giao tiếp và ứng xử với nhân dân, “phải nhã nhặn, lắng nghe ý kiến, giải thích, hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về các quy định liên quan đến giải quyết công việc Cán bộ, công chức, viên chức không được có thái độ hách dịch, nhũng nhiễu, gây khó khăn, phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ
Trong giao tiếp và ứng xử với đồng nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức phải có thái độ trung thực, thân thiện, hợp tác
Khi giao tiếp qua điện thoại, “phải xưng tên, cơ quan, đơn vị nơi công tác; trao đổi ngắn gọn, tập trung vào nội dung công việc; không ngắt điện thoại đột ngột.” 9[12]
2.3.2 Nghi thức lễ tân trong tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua
Nghi thức nhà nước là lễ tiết rất quan trọng của nhà nước, mang nặng tính quốc gia Đối tượng là người trong nước, do lễ tân trong nước chuẩn bị, được tổ chức theo nghi thức quốc gia truyền thống áp dụng cho quốc khánh, quốc tang, lễ
đăng quang nhận chức hoặc tuyên dương công trạng, thành tích…
Để việc thực hiện các nghi lễ nhà nước an toàn, trang trọng, tiết kiệm, hiệu quả, không phô trương hình thức, có ý nghĩa tôn vinh sự kiện, tập thể và cá nhân…Chính phủ quy định rõ về việc tổ chức các ngày lễ kỷ niệm, nghi thức trao tặng đón nhận các hình thức khen thưởng, danh hiệu nhà nước trong nghị định 145/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2013
Theo quy định có tám ngày lễ lớn trong nước bao gồm: “ngày Tết Nguyên đán (01 tháng Giêng Âm lịch), ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-02-1930), ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 Âm lịch), ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975), ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07-5-1954), ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890), ngày Cách mạng Tháng Tám (19-8-1945) và ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02-09-
9
[12] Quy chế văn hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước - Ban hành kèm theo Quyết định
số 129/2007/QĐ-TTg ngày 02 tháng 8 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định treo Quốc kỳ
Trang 271945)” 10[7] và các ngày lễ kỷ niệm ngày sinh của đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã từ trần; kỷ niệm năm mất của các danh nhân; kỷ niệm ngày thành lập, ngày truyền thống và các ngày khác, kỷ niệm các ngày lễ quốc tế Các ngày lễ kỷ niệm tùy theo “năm tròn”, “năm lẻ 5” hay năm khác mà được tổ chức với quy mô, hình thức khác nhau
Về tổ chức các ngày kỷ niệm, các ngày kỷ niệm trong nước gồm: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-2-1930), Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 âm lịch) Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975), Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07-5-1954), Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890), Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02-9-1945); ngày sinh, ngày mất của lãnh tụ, danh nhân; ngày thành lập ngày truyền thống các ban,
bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố và các
cơ quan, đơn vị, quận, huyện trực thuộc sự quản lý trực tiếp của các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang, các tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Một số ngày kỷ niệm khác như: Ngày Xô-viết Nghệ Tĩnh (12-9-1930), Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23-11-1940), Ngày Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), Ngày Giải phóng Thủ đô (10-10-1954), Ngày chiến thắng B52 (18-12-1972), Ngày ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về hoà bình ở Việt Nam, Đông Dương (20-7-1954), Ngày ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (27-01-1973), Ngày Việt Nam gia nhập các tổ chức quốc tế (Liên hợp quốc, ASEAN, WTO ), Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Các ngày kỷ niệm quốc tế gồm: Ngày sinh C.Mác (05-5-1818), Ngày sinh Ph.Ăng ghen (28-11-1820), Ngày sinh V.I.Lênin (22-4-1870), Ngày Cách mạng Tháng Mười Nga (07-11-1917), Ngày Quốc tế lao động, Ngày Quốc tế phụ nữ, Ngày Quốc tế thiếu nhi, Ngày Quốc tế người cao tuổi, Ngày biển quốc tế, Ngày môi trường thế giới Giảm tần suất, quy
mô, cấp độ tổ chức các ngày lễ kỷ niệm Đối với các ngày kỷ niệm: Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03-2-1930); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10-3 âm lịch); Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975); Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07-5-1954); Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890), Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02-9-1945): Tổ chức lễ kỷ niệm cấp quốc gia 10 năm/1 lần (năm chẵn) ở cả cấp Trung ương và cấp địa phương
có liên quan đến sự kiện Không tổ chức diễu binh, diễu hành, duyệt binh trong các
lễ kỷ niệm (khi cần thiết cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định) Kỷ niệm Ngày
10
[7] Điều 4 Nghị định 145/NĐ-CP ngày 29/03/2013 của chính phủ về việc quy định về tổ chức ngày kỷ niệm; nghi thức trao tặng, đón nhận hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua; nghi lễ đối ngoại và đón, tiếp
Trang 28thành lập Đảng, Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 tổ chức tại Hà Nội Kỷ niệm năm chẵn các ngày lễ lớn và các ngày kỷ niệm khác tổ chức ở địa phương, bộ, ban, ngành gắn với sự kiện đó Kỷ niệm ngày sinh, ngày mất của lãnh tụ, danh nhân, nhân vật lịch sử, các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Nhà nước: Thời gian tổ chức kỷ niệm lần đầu là khi tròn
100 năm, các lần tiếp theo là 10 năm/1lần, giao địa phương, nơi sinh của lãnh tụ, danh nhân tổ chức Kỷ niệm năm chẵn: Ngày sinh C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin, Ngày Cách mạng Tháng Mười Nga, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức hội thảo khoa học, tổ chức lễ kỷ niệm Năm chẵn ngày kỷ niệm quốc tế khác, các ban, bộ, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội liên quan tổ chức kỷ niệm Hàng năm, vào dịp các ngày kỷ niệm (năm tròn, năm lẻ), tuy không tổ chức lễ mít tinh kỷ niệm nhưng phải tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền về các sự kiện đó trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động tuyên truyền ở địa phương, cơ quan, đơn vị có liên quan đến sự kiện kỷ niệm.11[15]
Chương 6 nghị định 145/2013/NĐ-CP quy định hình thức tổ chức các buổi
lễ, buổi lễ được tổ chức trong hội trường hoặc ngoài trời
- Tổ chức trong hội trường:
+ Treo Quốc kỳ hoặc Quốc kỳ và Đảng kỳ về phía bên trái của lễ đài; Quốc
kỳ ở bên phải, Đảng kỳ ở bên trái (nhìn từ phía dưới lên);
+ Tượng bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt trên bục cao phía dưới Quốc kỳ hoặc phía dưới giữa Quốc kỳ và Đảng kỳ Trường hợp cờ được treo trên cột thì tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt chếch phía trước bên phải cột cờ (nhìn từ phía dưới lên);
+ Tiêu đề buổi lễ được thể hiện bằng kiểu chữ chân phương trên nền phông
về phía bên phải lễ đài Nếu kết hợp trao tặng, đón nhận danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng phải ghi đầy đủ danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng cao nhất được đón nhận;
+ Hoa trang trí đặt ở phía dưới, trước tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh Lẵng hoa của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước tặng được đặt ở vị trí trang trọng Không đặt nhiều lẵng hoa, cây cảnh trên lễ đài;
+ Khẩu hiệu của buổi lễ được treo ở vị trí nổi bật, phù hợp với không gian hội trường Nội dung khẩu hiệu do Ban Tổ chức quyết định;
Trang 29+ Bên ngoài hội trường treo Quốc kỳ ở vị trí trang trọng, cờ trang trí, băng khẩu hiệu, tạo cảnh quan phù hợp với buổi lễ;
+ Khách mời được bố trí ngồi theo thứ tự từ giữa ra hai bên, từ phía trước ra phía sau
* Trình tự tiến hành lễ kỷ niệm (điều 27 nghị định 145/2013/NĐ-CP):
1 Thông báo chương trình buổi lễ
2 Lễ chào cờ, đại biểu dự lễ hát Quốc ca
3 Tuyên bố lý do và giới thiệu đại biểu ngắn gọn, trang trọng
4 Trình bày diễn văn hoặc báo cáo: Chỉ “kính thưa họ tên và chức danh” Lãnh đạo có chức vụ cao nhất ở Trung ương và ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị
5 Công bố quyết định khen thưởng, trao tặng, hình thức khen thưởng, danh hiệu thi đua
6 Phát biểu ý kiến của lãnh đạo cấp trên hoặc đại diện khách mời
7 Phát biểu cảm ơn của người đứng đầu ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị
8 Kết thúc buổi lễ
* Nghi thức công bố, trao tặng và đón nhận khen thưởng (điều 27 nghị
định 145/2013/NĐ-CP):
1 Công bố quyết định khen thưởng:
a) Đại diện lãnh đạo của cơ quan làm công tác thi đua, khen thưởng hoặc của đơn vị tổ chức buổi lễ công bố toàn văn quyết định khen thưởng;
b) Quyết định khen thưởng của Chủ tịch nước: Trước khi công bố, người công bố mời Đội cờ truyền thống (nếu có), đại diện cấp ủy, lãnh đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hoặc đại diện các thế hệ lãnh đạo của tập thể được khen thưởng (hoặc cá nhân được khen thưởng) lên lễ đài để nghe công bố quyết định khen thưởng;
c) Quyết định khen thưởng của Thủ tướng Chính phủ: Công bố xong, người công bố mời đại diện lãnh đạo của tập thể (hoặc cá nhân) có tên trong quyết định khen thưởng lên lễ đài để đón nhận danh hiệu thi đua hoặc hình thức khen thưởng