Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, Luật hình sự Việt Nam cũng như Luật hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
***
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CÔNG TÁC TRẤN ÁP TỘI PHẠM Ở TỈNH CÀ MAU HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Sư phạm giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN SINH VIÊN THỰC HIỆN
MSSV: 6106636 MSL: ML1068A1
Cần Thơ: 10/2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gởi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô giảng dạy trong trường Đại học Cần Thơ nói chung và thầy cô thuộc Khoa khoa học Chính trị nói riêng, những người đã truyền đạt kiến thức hữu ích, làm cơ sở cho tôi thực hiện
luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Phan Văn Thạng Người đã tận tình hướng dẫn cho tôi Mặc dù trong quá trình làm luận văn tôi còn nhiều bất cập và thiếu sót nhưng với sự tận tâm thầy đã giúp tôi vượt qua được khó khăn
Tôi cũng xin gởi lời cảm ơn đến Trung tâm Học liệu trường Đại học Cần Thơ, Thư viện Khoa khoa học Chính trị, Công an tỉnh Cà Mau… đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và thông tin của luận văn
Do vốn kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi sai sót, rất mong được
sự góp ý của quý thầy cô và các bạn
Cuối cùng tôi xin kính chúc quý thầy cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý Tôi xin chân thành cám ơn!
Cần Thơ, ngày 20, tháng 10, năm 2013
NGUYỄN THỊ NHỎ
Trang 3MỤC LỤC
Trang PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tà 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu luận vă 3
PHẦN NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM 4
1.1 Khái niệm tội phạm và các loại tội phạm 4
1.2 Quan điểm của Đảng, pháp luật về công tác trấn áp tội phạm 15
Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TRẤN ÁP TỘI PHẠM Ở TỈNH CÀ MAU THỜI GIAN QUA 22
2.1 Điều kiện tự nhiên, con người và tình hình kinh tế - xã hội liên quan đến công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau 22
2.2 Những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau thời gian qua 32
Chương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TRẤN ÁP TỘI PHẠM Ở TỈNH CÀ MAU TRONG THỜI GIAN TỚI
47
3.1 Xây dựng và phổ biến chiến lược trấn áp tội phạm trên địa bàn tỉnh Cà Mau
47
3.2 Xây dựng và hoàn thiện cơ chế cảnh sát và cơ chế pháp luật trong khu vực tỉnh Cà Mau 51
3.3 Tuyên truyền phổ biến các chính sách pháp luật rộng rãi cho người dân trên địa bàn tỉnh Cà Mau 55
Trang 43.4 Tăng cường công tác giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội về công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau 59 3.5 Tăng cường lực lượng tinh nhuệ, các trang thiết bị hiện đại trong công tác trấn
áp tội phạm trên địa bàn tỉnh Cà Mau 62 PHẦN KẾT LUẬN 66 DANH MỤC VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm qua, tình hình kinh tế, chính trị thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường Trong nước, diễn ra nhiều sự kiện chính trị trọng đại quyết định sự phát triển của đất nước: Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII; bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm
kỳ 2011 – 2016 Đảng, Chính phủ chỉ đạo quyết liệt các biện pháp nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, bước đầu đạt được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó
khăn đã ảnh hưởng xấu đến kinh tế và đời sống của nhân dân
Bên cạnh đó, là những hoạt động chống phá quyết liệt và thâm độc của các thế lực thù địch; tác động tiêu cực của quá trình toàn cầu hóa và mặt trái cơ chế thị trường đã nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp đối với nhu cầu, tâm lý và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác đảm bảo an ninh, trật tự của đất nước Tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội diễn biến ngày càng phức tạp như: tội phạm cướp có vũ trang, cướp nhà băng, bắt cóc, tội phạm lợi dụng công nghệ cao, gian lận thương mại và lừa đảo trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em ra nước ngoài, tội
phạm rửa tiền, buôn bán ma túy…
Các loại tội phạm kể trên không những gây hại ở các trung tâm, các thành phố lớn trong nước mà còn có ở tỉnh Cà Mau Đây là vùng đất tận cùng của Tổ quốc, dù sinh sau đẻ muộn nhưng với sự không ngường phấn đấu vươn lên trên tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, trong những năm gần đây Cà Mau đã khoát lên mình chiếc áo mới Vì thế không thể tránh khỏi những u nhọt mà cả nước đang mang Tội phạm hiện đang là vấn đề nhức nhối luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và tìm cách trấn áp, tiêu diệt không để nó thành đại dịch làm ảnh hưởng đến toàn xã hội
Mầm mống tội phạm luôn tiềm ẩn ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ thời gian nào cũng có thể gây án, đôi khi chỉ trong tích tắc và nó luôn rình rập, đe dọa an nguy xã hội, sự bình yên của người dân Ai cũng biết rằng công tác trấn áp tội phạm không
Trang 6thể nào chỉ thực hiện khi có chủ trương mở đợt tấn công tội phạm hay cao trào chống tội phạm
Rõ ràng, tội phạm nếu không trấn áp tiêu diệt hằng ngày, hằng tháng, hằng năm thì chúng rất dễ trỗi dậy Bởi lẽ, bất cứ đâu cũng có tội phạm Tội phạm không phân biệt địa bàn trọng điểm hay không trọng điểm Do đó, giải quyết bài toán tội phạm phải luôn là vấn đề trọng tâm, liên tục vì sự bình yên cuộc sống của người dân
Với những lý do nêu trên tác giả chọ đề tài : “ Công tác trấn áp tội phạm ở
tỉnh Cà Mau hiện nay - Thực trạng và giải pháp” làm đề tài nghiên cứu của mình,
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà
Mau từ năm 2010 đến nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích:
Nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng hoạt động của công tác trấn áp tội phạm ở Tỉnh Cà Mau, từ đó Tác giả đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác trấn áp tội phạm trên địa bàn tỉnh Cà Mau
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
Trang 7- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp tổng kết thực tiển, nghiên cứu điển hình
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỘI PHẠM VÀ TRẤN ÁP TỘI PHẠM 1.1 Khái niệm tội phạm và các loại tội phạm
1.1.1 Khái niệm tội phạm
Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước và pháp luật Cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng, cho nên để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, Nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với người nào thực hiện các hành vi đó Do đó, tội phạm lại mang bản chất là một hiện tượng
của pháp lý
Là hiện tượng tiêu cực mang thuộc tính xã hội – pháp lý, tội phạm luôn chứa
đựng đặc tính chống đối lại Nhà nước, chống đối lại xã hội, đi ngược lại lợi ích chung của cộng đồng, trật tự xã hội, xâm phạm đến quyền tự do và lợi ích hợp pháp của công dân Tội phạm cũng mang tính lịch sử, nó có nguồn gốc xã hội, tồn tại và phát triển cùng với tồn tại và phát triển của xã hội loài người Vì vậy, đấu tranh trấn
áp tội phạm, đồng thời tìm ra nguyên nhân và điều kiện của nó phải xuất phát từ xã hội Cũng như việc đưa ra các biện pháp phải phù hợp và dựa trên những quy luật kinh tế - xã hội khách quan và có tính tất yếu gắn liền với từng giai đoạn tương ứng
của xã hội
Nói chung, tội phạm ở các quốc gia trên thế giới khác nhau tùy theo bản chất giai cấp của mỗi nhà nước, cũng như phong tục, tập quán của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Do đó, nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, Luật hình sự Việt Nam cũng như Luật hình sự các nước xã hội chủ nghĩa đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm về phương diện nội dung và pháp lý, thể hiện rõ bản chất xã hội của tội phạm, qua đó phản ánh quan điểm, đường lối đúng đắn chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong từng giai đoạn của lịch sử và cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân Đặc biệt, nó phản bác quan điểm phản khoa học đã từng tồn tại trong Luật hình sự
một số Nhà nước tư sản trước đây như Luật Mỹ Tanhen Isum cho rằng: “Tội phạm
sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng với xã hội, nó là một hiện tượng vĩnh viễn cũng giống như
Trang 9bệnh hoạn, sự điên dại và chết chóc Tội phạm sẽ mãi mãi nở ra như mùa xuân và
lập lại một cách không thay đổi như mùa đông” [21,tr25]
Trong khoa học Luật hình sự, trước đây và hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội dung lẫn nội hàm khái niệm tội phạm Tuy nhiên, hiện nay, cùng với xu thế chung của tình hình thì việc mở rộng nội hàm và cách nhìn nhận khái niệm tội phạm dưới góc độ hiện đại hơn qua nhiều góc độ kinh tế, xã hội, pháp
lý, văn hóa, địa lý, dư luận xã hội…Mặt dù vậy, điều cơ bản và quan trọng hơn cả, tội phạm chính là cơ sở pháp lý để phân biệt nó với các vi phạm pháp luật khác và với hành vi trái đạo đức, cũng như với các trường hợp không phải là tội phạm, qua
đó bảo vệ pháp chế, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, góp phần đấu tranh phòng
và chống tội phạm, bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Còn dưới góc độ khoa học Luật Hình sự
Việt Nam, khái niệm tội phạm được nghiên cứu dưới phương diện tĩnh và có thể
được hiểu ngắn gọn như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”
[21, tr.33]
Khái niệm tội phạm được coi là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam Khái niệm này một mặt là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự, mặt khác cũng trực tiếp thể hiện một cách rõ nét những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam Nội dung của khái niệm tội phạm là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác
Khái niệm tội phạm là cơ sở để xây dựng phần quy định của những điều luật thuộc phần các tội phạm và đồng thời qua đó cũng là cơ sở để quy định những
Trang 10khung hình phạt tương ứng cho từng loại tội Trong thực tiễn áp dụng luật hình sự, các cơ quan có thẩm quyền tuy dựa vào các điều luật thuộc phần các tội phạm để xác định tội phạm cụ thể nhưng chỉ trên cơ sở của sự nhận thức đúng đắn và đầy đủ
về bản chất cũng như những đặc điểm của tội phạm nói chung mới có thể áp dụng được luật hình sự một cách nghiêm minh qua việc xác định đúng tội danh, đánh giá đúng tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội
Định nghĩa này không những là cơ sở khoa học thống nhất cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự mà còn là
cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn những điều luật quy định về từng tội phạm cụ thể
Từ định nghĩa đầy đủ trên, có thể định nghĩa tội phạm một cách khái quát
như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự
và phải chịu hình phạt”[26, tr.33]
Tội phạm theo quy định của luật hình sự Việt Nam, phải là hành vi của con người Những gì mới chỉ trong tư tưởng, chưa thể hiện ra bên ngoài bằng hành vi của mình, con người mới có thể gây ra thiệt hại, gây ra sự nguy hiểm cho xã hội và những gì trong ý nghĩ, trong tư tưởng của con người cũng chỉ có thể được xác định qua chính những biểu hiện bên ngoài mà trước hết là qua chính hành vi của họ Trong luật hình sự Việt Nam, sự xác nhận tội phạm chỉ có thể là hành vi được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản Đó là “ nguyên tắc hành vi”
Trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên, tuy chưa có định nghĩa hoàn chỉnh về khái niệm tội phạm trong luật nhưng cũng đã có nhiều định nghĩa tội phạm trong
các sách báo pháp lí Những định nghĩa này đều đã thể hiện được “ nguyên tắc hành vi” Ví dụ: Trong cuốn Một số vấn đề pháp lí phổ thông Việt Nam ( xuất bản năm
1963), tội phạm đã được định nghĩa là hành vi nguy hiểm cho những quan hệ xã hội chủ nghĩa, chống đối pháp luật, tội lỗi và phải chịu hình phạt
Theo nguyên tắc hành vi, luật hình sự Việt Nam không những không đặt vấn
đề trách nhiệm hình sự đối với tư tưởng của con người mà còn không đặt vấn đề trách nhiệm hình sự đối với cả những biểu hiện của con người ra thế giới khách quan mà không phải là hành vi
Trang 11Theo luật hình sự Việt Nam, hành vi bị coi là tội phạm được phân biệt với những hành vi không phải là tội phạm qua bốn dấu hiệu Đó là: Tính nguy hiểm cho
xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu hình phạt
Tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu cơ bản, quan trọng nhất, quyết định những dấu hiệu khác của tội phạm Hành vi nào đó sở dĩ bị quy định trong luật hình
sự là tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự vì nó có tính nguy hiểm cho xã hội Đây là điểm khác so với quan điểm trong luật hình sự của Việt Nam Cộng hòa trước đây
Bộ luật hình sự Việt Nam cộng hòa năm 1972 tuy không có định nghĩa riêng
về tội phạm nhưng những quy định của nó thể hiện rất rõ quan điểm cho rằng tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu cơ bản của tội phạm Năm điều đầu tiên của Bộ luật này nói về tội phạm đều đề cập dấu hiệu hình thức pháp lí này của tội phạm
Xuất phát từ khái niệm tội phạm trong luật như vậy, giáo trình của Đại học Luật khoa Sài Gòn năm 1972 đã định nghĩa tội phạm là sự vi phạm một điều luật của quốc gia do sự hành động bên ngoài của một người hành động tích cực hay tiêu cực bị trừng trị bởi một hình phạt
Điều 8 Bộ luật hình sự Việt Nam đã xác định những quan hệ xã hội đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm, quyền sở hữu tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân Những hành vi bị coi là tội phạm, phải là những hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội đã được luật xác định Việc thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu của tội phạm cho phép làm sáng rõ tính giai cấp trong quan niệm về tội phạm và qua đó cũng cho phép khẳng định thêm tính giai cấp của luật hình sự nói riêng cũng như của pháp luật nói chung
Bộ Luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trên cơ sở thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu của tội phạm đã công khai khẳng định một cách rõ ràng bản chất giai cấp của luật hình sự Ngay lời nói đầu của Bộ
luật hình sự cũng đã ghi nhận: “Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc
Trang 12bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và phòng chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [23, tr.56]
Nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật Với ý nghĩa là thuộc tính khách quan của tội phạm, tội nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn có thể được con người nhận thức và nhận thức đúng Do vậy, khi khẳng định hành vi nhất định là hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có nghĩa đó là sự áp đặt theo ý muốn chủ quan của con người mà đó chỉ là sự xác nhận thực tế khách quan đã được nhận thức qua việc đánh giá nhiều tình tiết khác nhau của hành vi hoặc có liên quan đến hành vi
Lỗi là thái độ chủ quan của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi có thể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Người bị coi là có lỗi khi người đó thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội nếu hành vi ấy là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi có đủ điều kiện quyết định thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội
Xử sự của người bình thường bao giờ cũng là sự thống nhất của các yếu tố khách quan và chủ quan Hai mặt khách quan và chủ quan của tội phạm có liên hệ chặt chẽ với nhau Không thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội mà không có lỗi của người phạm tội Chính vì tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi đã bao gồm cả tính
có lỗi, cho nên có ý kiến cho rằng không thể coi tính có lỗi là dấu hiệu độc lập với dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam, tính có lỗi được nêu trong định nghĩa về tội phạm là dấu hiệu độc lập với tính nguy hiểm cho xã hội mà để nhấn mạnh tính chất quan trọng có tính có lỗi Luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc quy tội khách quan, nghĩa là quy trách nhiệm hình sự cho người chỉ căn cứ vào việc người
Trang 13đó đã thực hiện hành vi gây thiệt hại cho xã hội mà không căn cứ vào lỗi của họ Mục đích giáo dục, cải tạo này chỉ có thể đạt được nếu hình phạt được áp dụng cho người có lỗi Đối với người không có lỗi, hình phạt không thể phát huy được tác dụng giáo dục, cải tạo
Theo Điều 8 Bộ luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ có thể bị coi là tội phạm nếu ”… được quy định trong Bộ luật hình sự…” Như vậy, tính được quy định trong luật hình sự hay tính
trái pháp luật hình sự là dấu hiệu đòi hỏi phải có ở hành vi bị coi là tội phạm Việc quy định này là sự thừa nhận nguyên tắc đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn
thế giới về nhân quyền của Liên hợp quốc: “ Không ai bị kết án vì một hành vi mà lúc họ thực hiện luật pháp quốc gia hay quốc tế không coi là tội phạm” ( khoản 2
Điều 11) Trong sự thống nhất với việc xóa bỏ nguyên tắc tương tự và cấm hồi tố, việc khẳng định tính trái pháp luật hình sự của tội phạm là biểu hiện cụ thể của nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
Việc quy định tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm không những là cơ sở đảm bảo cho đường lối đấu tranh phòng chống tội phạm được thống nhất, bảo đảm cho quyền dân chủ của công dân khỏi bị xâm phạm bởi hành vi xử lí tùy tiện mà còn là động lực thúc đẩy cơ quan lập pháp kịp thời bổ sung, sửa đổi luật theo sát sự thay đổi của tình hình chính trị, xã hội của tội phạm nhưng vẫn có tính độc lập tương đối và ý nghĩa quan trọng Nếu bỏ qua tính trái pháp luật hình sự vì chỉ coi trọng tính nguy hiểm cho xã hội sẽ dẫn đến tình trạng xác định tội phạm một cách hình thức, máy móc Nhằm tránh những trường hợp như vậy
Luật hình sự Việt Nam coi tính trái pháp luật hình sự là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải là dấu hiệu duy nhất mà chỉ là dấu hiệu biểu hiện mặt hình thức pháp lí của dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội - dấu hiệu cơ bản của tội phạm Hai dấu hiệu – tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự có quan hệ biện chứng của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Tính trái pháp luật hình sự tuy có tính độc lập tương đối nhưng vẫn là dấu hiệu được xác định bởi dấu hiệu tính nguy hiểm cho xã hội Chỉ trên cơ sở thừa nhận tính nguy hiểm cho xã hội kết hợp
Trang 14tính nguy hiểm cho xã hội và tính trái pháp luật hình sự mới có thể nhận thức được tính trái pháp luật hình sự một cách đầy đủ
Tính phải chịu hình phạt là dấu hiệu của tội phạm nhưng không phải thuộc tính bên trong của tội phạm như hai dấu hiệu trên Hành vi bị coi là tội phạm vì về nội dung, có tính nguy hiểm cho xã hội về hình thức, có tính trái pháp luật hình sự chứ không phải vì nó có tính chịu hình phạt là dấu hiệu kèm theo của tính nguy hiểm cho xã hội vừa là cơ sở để cá thể hóa tính chịu hình phạt trong từng trường hợp phạm tội cụ thể Tính nguy hiểm cho xã hội vừa là cơ sở để cá thể hóa hình phạt trong thực tiển áp dụng luật hình sự Tính chịu hình phạt được coi là dấu hiệu của tội phạm vì nó được xác định bởi chính những thuộc tính khách quan bên trong của tội phạm Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện pháp trách nhiệm là hình phạt; không có tội phạm thì cũng không có hình phạt
Như vậy nói tội phạm có tính chịu hình phạt, nghĩa là bất cứ hành vi phạm
tội nào, di tính nguy hiểm cho xã hội cũng đều bị đe dọa phải chịu hình phạt là biện
pháp cưỡng chế nhà nước có tính nghiêm khắc nhất trong hệ thống những biện pháp cưỡng chế nhà nước Nhưng điều đó không có nghĩa là việc áp dụng và thi hành trong thực tế hình phạt cụ thể là có tính chất bắt buộc tuyệt đối cho mọi trường hợp phạm tội Trong thực tế vẫn có trường hợp người phạm tội không phải chịu hình phạt Đó là những trường hợp có tội nhưng được miễn trách nhiệm hình sự, được miễn hình phạt hoặc được miễn chấp hành hình phạt
1.1.2 Các loại tội phạm
Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như đã trình bày nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau Tội phạm bao gồm từ những hành vi có tính chất đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến an ninh quốc gia, như hành vi phản bội Tổ quốc (Điều 78) đến những hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội, không lớn như hành vi chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 114)
Những hành vi phạm tội cụ thể không những có sự khác nhau về nguyên nhân và điều kiện phát sinh, về tính chất của các quan hệ xã hội bị xâm hại mà còn
có sự khác nhau ngay ở tính chất và mức độ nguy hiểm của hậu quả do hành vi
Trang 15phạm tội gây ra hoặc đe dọa gây ra cũng như ở nhiều tình tiết khách quan và chủ quan khác
Chính do sự khác nhau như vậy mà vấn đề phân hóa và cá thể hóa hình phạt
đã được đặt ra và được coi là nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam Nguyên tắc này không chỉ có ý nghĩa khi áp dụng luật hình sự mà trước hết nó đòi hỏi phải có sự phân hóa trách nhiệm hình sự ngay trong luật và đó là cơ sở để có thể cá thể hóa hình phạt trong thực tiễn áp dụng Thể hiện nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam phân loại tội phạm ra thành bốn nhóm tội phạm khác nhau:
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội
mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 3 năm tù
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 7 năm tù
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến 15 năm tù
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho
xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình
Sự phân biệt bốn nhóm tội phạm như vậy vừa là biểu hiện cơ bản của sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bội luật hình sự Sự phân biệt này là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cho các tội phạm cụ thể cũng như cho việc xây dựng trong luật hình sự và trong các ngành luật khác có liên quan các quy định thể hiện sự phân hóa trong đường lối đấu tranh phòng chống các loại tội khác nhau Đó là những căn cứ pháp lý thống nhất, giúp các nhà hoạt động thực hiện được nguyên tắc cá thể hóa hình phạt khi áp dụng luật hình sự
Các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi cả dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và cả dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí Nếu như tội phạm nói chung
có dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội và tính nguy hiểm cho xã hội và có dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí là tính phải chịu hình phạt thì các nhóm tội phạm cũng có những dấu hiệu đó, vì đều là tội phạm nhưng với những nội dung cụ thể khác nhau
Trang 16Sự xác định dấu hiệu về mặt hậu quả quản lí biểu hiện ở mức cao nhất của khung hình phạt chỉ là kết quả của quá trình đánh giá đầy đủ và toàn diện của các nhà làm luật về sự cần thiết khách quan của các biện pháp trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Nhưng khi đã được xác định, khung hình phạt cũng trở thành dấu hiệu có tính độc lập tương đối để phân biệt các nhóm tội phạm với nhau, không phụ thuộc vào mức hình phạt cụ thể đã được áp dụng
Trong thực tiễn, việc phân biệt các nhóm tội phạm với nhau có ý nghĩa trước hết đối với việc áp dụng nhiều quy định của Bộ luật hình sự Ngoài ra, việc phân biệt cũng còn có ý nghĩa đối với cả việc áp dụng một số quy định của các ngành luật
có liên quan đến vấn đề trách nhiệm hình sự như luật tố tụng hình sự…
Những điều luật của Bộ luật hình sự mà việc áp dụng đòi hỏi phải có sự xác định ranh giới giữa các nhóm tội phạm với nhau (tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặt biệt nghiêm trọng)
là những điều luật về nguyên tắc xử lí, về tuổi chịu trách nhiệm hình sự, về thời hiệu, về điều kiện áp dụng một số loại hình phạt hoặc biện pháp tư pháp
Các tội xâm phạm An ninh quốc gia
- Tội phản bội tổ quốc: Là hành vi của công dân Việt Nam cấu kết với nước ngoài nhằm mục đích gây nguy hại cho độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam, lực lượng quốc phòng, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân: Là hành vi hoạt động thành lập tổ chức hoặc tham gia tổ chức với mục đích lật đổ chính quyền nhân dân
- Tội gián điệp: Là hành vi hoạt động tình báo, phá hoại hoặc gây cơ sở để để hoạt động tình báo, phá hoại chống nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây
cơ sở hoạt động tình báo, phá hoại theo sự chỉ đạo của nước ngoài; hoạt động thám báo, chỉ điểm, chứa chấp…
Trang 17- Tội xâm phạm An ninh lãnh thổ: Là hành vi xâm phạm lãnh thổ, làm sai lệch đường biên giới Quốc gia hoặc có hoạt động khác gây phương hại choan ninh lãnh thổ của nước Cộng hào xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tội bạo loạn: Là hành vi hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực có tổ chức với mục đích chống chính quyền nhân dân
- Tội hoạt động phỉ: Được biểu hiện là hành vi hoạt động vũ trang ở vùng rừng núi, vùng biển, vùng hiểm yếu khác, giết người, cướp phá tài sản với mục đích chống chính quyền nhân dân
- Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân: Là hành vi xâm phạm tính mạng, tự do thân thể, sức khỏe, đe dọa xâm phạm tính mạng hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc công dân với mục đích chống chính quyền nhân dân
- Tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Được hiểu là hành vi làm hủy hoại hoặc gây hư hỏng tài sản, cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với mục đích chống lại chính quyền nhân dân
- Tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội: Phá hoại việc thực hiện chính sách kinh tế - xã hội được hiểu là hành vi làm cho các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước bị cản trở hoặc không thực hiện đượcvới mục đích chống lại chính quyền nhân dân
- Tội phá hoại chính sách đoàn kết: Là hành vi gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với lực lượng vũ trang, với chính quyền nhân dân, với các
tổ chức xã hội; gây hằn thù, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, xâm phạm quyền bình đẳng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo
- Tội tuyên truyền chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Là hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin, bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân
Trang 18- Tội phá gối an ninh: Là hành vi kích động, lôi kéo, tụ tập nhiều người phá rối an ninh, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, với mục đích chống chính quyền nhân dân
- Tội chống phá trại giam: Chống phá trại giam được hiểu là hành vi phá trại giam, tổ chức vượt trại giam, đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải hoặc trốn trại giam với mục đích chống chính quyền nhân dân
- Trốn đi nước ngoài hoặc trốn ở lại nước ngoài nhằm chống chính quyền nhân dân: Được hiểu là hành vi của công dân Việt Nam lén lút ra nước ngoài mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam
Ngoài ra còn có các tội phạm khác như:
Điều 93 đến Điều 122) Các tội xâm phạm sở hữu (Từ Điều 133 đến Điều 145) Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình (Từ Điều 146 đến Điều 152) Các tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (Từ Điều 153 đến Điều 181) Các tội phạm về môi trường (Từ Điều 182 đến Điều 191) Các tội phạm về ma túy ( Từ Điều 192 đến Điều 201) Các tội phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Từ Điều 202 đến Điều 256) Các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Từ Điều
257 đến Điều 276) Các tội phạm về chức vụ (Từ Điều 278 đến Điều 291) Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp ( Từ Điều 293 đến Điều 314) Các tội phạm xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân ( Từ Điều 316 đến Điều 340)
1.2 Quan điểm của Đảng, Pháp luật, Công trong công tác trấn áp tội phạm
Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Động viên đoàn viên,
thanh niên lực lượng vũ trang nhân dân hăng hái rèn luyện, phấn đấu, gương mẫu đi đầu và làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; tích cực học tập về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ, làm chủ vũ khí, thiết bị kỹ thuật hiện đại, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao; tuyển chọn, hướng nghiệp cho những tài năng trẻ gia nhập quân đội, công
an, tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực mũi nhọn khoa học công nghệ phục vụ quốc
Trang 19phòng, an ninh, góp phần xây dựng lực lượng vũ trang chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại
Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi
âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống mang tính toàn cầu, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống Tiếp tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh
Tăng cường tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia và kiến thức quốc phòng, an ninh, làm cho mọi người hiểu rõ những thách thức lớn tác động trực tiếp đến nhiệm
vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, như: chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao, tranh chấp chủ quyền biển đảo, vùng trời, “diễn biến hoà bình”, bạo loạn chính trị, khủng bố, tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia
Tăng cường sức mạnh quốc phòng, an ninh cả về tiềm lực và thế trận; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững mạnh; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, an ninh; quốc phòng, an ninh với kinh tế trong từng chiến lược quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo
Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh Hoàn thiện các chiến lược quốc phòng, an ninh và hệ thống cơ chế, chính sách về quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới; tiếp tục bổ sung, hoàn thiện
hệ thống văn bản pháp luật, các quy chế phối hợp quân đội, công an và các tổ chức
chính trị - xã hội Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI xác định phải “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng
Trang 20bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân Xây dựng Quân đội nhân dân với quân số thường trực hợp lý, có sức chiến đấu cao, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, dân quân tự vệ rộng khắp” [18,tr.82]
Phương hướng xây dựng Quân đội nhân dân trên đây thể hiện việc xử lý một cách tài tình của Đảng ta về “bài toán” số lượng và chất lượng của lực lượng vũ trang nhằm bảo đảm cho Quân đội nhân dân, Công an nhân dân đủ sức làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, nhưng đồng thời bảo đảm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực của đất nước để tạo điều kiện tốt nhất cho kinh
tế phát triển nhanh và bền vững
Mỗi cán bộ, đảng viên có trách nhiệm thực hiện và tuyên truyền, vận động gia đình thực hiện pháp luật liên quan đến công tác trấn áp tội phạm Kết quả thực hiện công tác trấn áp tội phạm là một trong những tiêu chí để bình xét, phân loại đối với mỗi tổ chức đảng và đảng viên Chú trọng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kiên quyết những cán bộ, đảng viên bao che, dung túng tội phạm Cán bộ, đảng viên có
vợ (hoặc chồng), con bị xử lý hình sự thì tùy theo mức độ liên đới phải xem xét khi
đề bạt, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vào các chức vụ lãnh đạo hoặc miễn nhiệm, cách chức nếu cán bộ, đảng viên đó đang giữ chức vụ lãnh đạo Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt công tác thống kê tội phạm và ban hành quy chế thẩm định về bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội đối với các dự án phát triển kinh tế - xã hội quan trọng
Huy động sự tham gia rộng rãi, tích cực của các tổ chức quần chúng và nhân dân vào công tác trấn áp tội phạm Nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; củng cố và tiếp tục xây dựng thế trận an ninh nhân dân, bảo đảm an toàn về an ninh, trật tự Xây dựng và nhân rộng các mô hình trấn áp tội phạm có hiệu quả, các điển hình tiên tiến Vận động nhân dân tích cực trong công tác trấn áp tội phạm, truy bắt các đối tượng bị truy nã nhưng đang lẩn trốn Kịp thời động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân đã đóng góp tích cực trong việc phát hiện, điều tra, trấn áp tội phạm Có chính sách bảo vệ cá nhân và gia đình những người tham gia làm công tác trấn áp tội phạm Có chính sách hỗ trợ thỏa đáng đối với các tập
Trang 21thể, cá nhân bị thương, hy sinh hoặc bị thiệt hại về tài sản khi tham gia công tác này
Củng cố, nâng cao năng lực của lực lượng trực tiếp trấn áp tội phạm từ Trung ương đến cơ sở theo hướng tập trung, chuyên sâu, phân định rõ trách nhiệm,
có khả năng thực hiện tốt nhiệm vụ được giao Tập trung đầu tư trang thiết bị, kỹ thuật nghiệp vụ chuyên dùng cho công tác trấn áp tội phạm Tăng cường năng lực các cơ sở đào tạo cán bộ trấn áp tội phạm thuộc các bộ, ngành chuyên môn Xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ trấn áp tội phạm vững vàng về chính trị, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng tốt yêu cầu của công tác này Ban hành chế
độ phụ cấp đối với những cán bộ kiêm nhiệm, những người không hưởng lương từ ngân sách nhà nước tham gia công tác trấn áp tội phạm Xây dựng lực lượng Công
an nhân dân trong sạch, vũng mạnh để làm tốt hơn nữa vai trò nòng cốt trong công tác trấn áp tội phạm
Tiếp tục đẩy mạnh cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự nhằm phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người
vô tội Để góp phần giữ vững an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội trên địa bàn ngay sau khi có Chỉ thị số 48 – CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, từ năm 2011 đến nay, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã kịp thời ban hành Chương trình hành động tập trung lãnh, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, địa phương tổ chức tuyên truyền, phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung Chỉ thị, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực phòng chống tội phạm đến cán bộ, đảng viên
và quần chúng nhân dân
Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ đạo nghiên cứu xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm; tăng cường giám sát công tác trấn áp tội phạm Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương triển khai thực hiện các nhiệm vụ Chỉ thị đã đề ra, thuộc phạm vi trách nhiệm của mình Bộ Công
an chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị và báo cáo Bộ Chính trị
Trang 22Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, lực lượng Công an đã phối hợp có hiệu quả với lực lượng quân đội, các ban, ngành, đoàn thể, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; phong trào toàn dân bảo vệ
an ninh Tổ quốc tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần giữ vững ổn định an ninh chính trị, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; không để đột xuất, bất ngờ; bảo vệ an toàn các sự kiện chính trị, xã hội quan trọng của đất nước, của tỉnh cũng như của huyện; kiềm chế sự gia tăng của các loại tội phạm, tệ nạn xã hội Công tác quản lý Nhà nước về
an ninh trật tự được tăng cường; các mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an được tăng cường và có nhiều chuyển biến tích cực trong việc thực
hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" gắn với triển khai có hiệu quả cuộc vận động "Công an nhân nhân chấp hành nghiêm điều lệnh, xây dựng nếp sống văn hoá vì nhân dân phục vụ" và các phong trào thi đua khác Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động "Học tập
rà làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", kỷ cương, kỷ luật trong lực lượng Công an được tăng cường góp phần nâng cao chất lượng công tác chuyên môn
Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chỉ thị 21- CT/TW ngày 26/03/2008 của Bộ Chính trị về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng chống ma túy và kiểm soát ma túy trong tình hình mới", Chỉ thị số 48 - CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị "về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới" gắn với triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia về trấn áp tội phạm, phòng, chống ma túy, chương trình hành động phòng, chống mua bán người giai đoạn 2011 - 2015 và chiến lược quốc gia phòng chống tham nhũng đã được Chính phủ phê duyệt Thực hiện có hiệu quả các mặt công tác trấn áp tội phạm, kết hợp chặt chẽ phòng ngừa xã hội với phòng ngừa nghiệp vụ; chủ động mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp các loại tội phạm, truy quét tệ nạn xã hội, tập trung đấu tranh mạnh đối với tội phạm hình sự nguy hiểm gây án nghiêm trọng, tội phạm do nguyên nhân xã hội, tội phạm kinh tế trên lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng cơ bản, tội phạm ma túy, vi phạm pháp luật về môi trường các tụ điểm phức tạp về ma túy và tệ nạn xã hội, kiên quyết không để hình thành băng, ổ nhóm tội phạm
Trang 23Thực hiện có hiệu quả công tác cải cách tư pháp Củng cố, kiện toàn cơ quan điều tra các cấp đáp ứng yêu cầu công tác trấn áp tội phạm Nâng cao chất lượng công tác điều tra , khám phá án, công tác tiếp nhận, xử lý giải quyết tin báo tố giác tội phạm, chấp hành đúng pháp luật trong điều tra, xử lý tội phạm của lực lượng Công an Tăng cường lãnh đạo công tác truy tố, xét xử của Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, góp phần đảm bảo
an ninh trật tự
Thực hiện hiệu quả Nghị định số 80/201l/NĐ-CP, ngày 16/9/2011 của Chính
phủ về quy định các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù Thường xuyên thanh kiểm tra, chấn chỉnh toàn diện công tác tạm
giam, tạm giữ, thi hành án hình sự, hỗ trợ tư pháp và tái hòa nhập cộng đồng cho số người đặc xá, chấp hành xong án phạt tù về cư trú Tiếp tục xã hội hóa công tác phòng chống tệ nạn xã hội; lồng ghép các chương trình trấn áp tội phạm, tệ nạn xã hội với chương trình xây dựng nông thôn mới và các chương trình kinh tế - xã hội khác của địa phương
Tăng cường hiệu lực, hiệu quả các mặt công tác quản lý Nhà nước của chính quyền các cấp trong lĩnh vực an ninh, trật tự Chấn chỉnh công tác quản lý cư trú, quản lý người nước ngoài, quản lý các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự Triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/19/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục ùn tắc giao thông" và Chương trình hành động số 38- CTr/TU ngày 26/12/2012 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trong năm 2013 Tổ chức tuyên truyền sâu rộng Luật giao thông đường
bộ tới mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời tăng cường tuần tra kiểm soát phát hiện xử
lý triệt để, nghiêm minh các hành vi vi phạm Luật giao thông đường bộ để đạt mục tiêu 3 giảm
Các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể có trách nhiệm chỉ đạo triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện nghiêm túc nội dung của Chỉ thị đến cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân
Trang 24Đảng uỷ Công an Tỉnh chỉ đạo cụ thể hoá Chỉ thị bằng kế hoạch, chương trình công tác với những chỉ tiêu, yêu cầu, biện pháp sát hợp với từng lĩnh vực, từng địa bàn, từng lực lượng để thực hiện có hiệu quả nội dung yêu cầu công tác bảo vệ
an ninh trật tự trên địa bàn và có trách nhiệm theo dõi, tổng hợp tình hình, kết quả công tác bảo vệ an ninh trật tự trên địa bàn, tham mưu Ban Thường vụ Tỉnh uỷ chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện
Chỉ đạo mở các cao điểm tấn công trấn áp tội phạm, triệt phá các băng nhóm tội phạm nguy hiểm, xóa các tụ điểm phức tạp, tiếp tục thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh trật tự, triển khai có hiệu quả các giải pháp đảm bảo an toàn giao thông, phòng chống cháy nổ, vũ khí vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ
Tiếp tục thực hiện nghiêm túc có hiệu quả Chỉ thị 09 ngày 1/12/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 11 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới gắn với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa
Các cấp ủy đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác trấn áp tội phạm, xác định công tác này là một trong những nhiệm
vụ trọng tâm, thường xuyên của mình; đề ra các nghị quyết, chương trình để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, kế hoạch phòng, chống tội phạm; định kỳ sơ kết, tổng kết, đánh giá tình hình, kết quả thực hiện; tăng cường đôn đốc, kiểm tra, thanh tra, kịp thời giải quyết, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình trấn áp tội phạm Người đứng đầu cấp ủy đảng và chính quyền các cấp phải chịu trách nhiệm trước hết về tình hình tội phạm và tổ chức thực hiện công tác trấn áp tội phạm ở ngành, địa phương mình
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC TRẤN ÁP TỘI PHẠM Ở TỈNH CÀ
MAU THỜI GIAN QUA 2.1 Điều kiện tự nhiên, con người và tình hình kinh tế - xã hội liên quan đến công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và con người của tỉnh Cà Mau
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Tỉnh Cà Mau là tỉnh nằm tận cùng phía Nam Việt Nam có tọa độ địa lý khoảng 8º 33’ đến 9º 34’ vĩ độ Bắc và 104º 32’ đến 105º 24’ kinh độ Đông Tỉnh Cà Mau có ba mặt tiếp giáp với biển: phía đông giáp với biển Đông, phía Nam và phía Tây giáp với Vịnh Thái Lan, phía Bắc của tỉnh Cà Mau giáp với hai tỉnh Bạc Liêu
và Kiên Giang
Như đã nói, tỉnh Cà Mau là tỉnh mới được tái lập năm 1997, Cà Mau có tổng diện tích tự nhiên 5201 km² chiếm 13,1 % diện tích đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước Tỉnh Cà Mau có 9 đơn vị hành chánh, bao gồm: thành phố Cà Mau và 8 huyện: Thới Bình, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Trần Văn Thời, Năm Căn, Ngọc Hiển, U Minh Trong đó thành phố Cà Mau là trung tâm hành chính, kinh tế và văn hóa của cả tỉnh
Tỉnh Cà Mau nằm ở trung tâm trong mối quan hệ với các nước Đông Nam
Á Tỉnh Cà Mau có điều kiện thuận lợi trong giao lưu hợp tác quốc tế với các nước trong khu vực Tỉnh Cà Mau cũng nằm trong hành lang kinh tế phía Nam của chương trình hợp tác tiểu vùng sông Mê Công mở rộng, với trục giao thông từ Hà Tiên (cửa khẩu Xà phía) quốc lộ 63 – Cà Mau – Năm Căn – Đất Mũi, trong đó khu vực mũi Cà Mau là điểm đến của tuyến giao thông này Từ đó mở ra những khả năng mở rộng và kết nối phát triển các ngành kinh tế của tỉnh rất lớn
Địa hình:
Có vị trí ở rìa giáp biển của Đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Cà Mau là vùng đất mới, bằng phẳng và thấp so với mặt nước biển ( trung bình chỉ từ 0,5 đến 1,5 so với mặt nước biển Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh bị ngập nước vào mùa mưa,
Trang 26trong đó có vùng đất khá lớn thường xuyên bị ngập nước Ngập mặn, đất phèn, than bùn, Cà Mau có diện tích bãi bồi màu mỡ, có giá trị cao đối với việc phát triển nông nghiệp
Toàn tỉnh có 254 km đường biển, chiếm 7,8 % chiều dài bờ biển cả nước Trong đó có 107 km bờ biển đông và 147 km bờ biển tây ( Vịnh Thái Lan) Vùng biển Cà Mau có một số cụm đảo gần bờ như: cụm đảo Hòn Khoai, cụm đảo Hòn Chuối, Đá Bạc… có vị trí chiến lược quan trọng, các đảo này không những có vai trò là cầu nối để khai thác kinh tế biển nói chung mà còn là tiêu điểm bảo vệ Tổ quốc
Khí hậu:
Do chịu ảnh hưởng của vị trí địa lý, Cà Mau có khí hậu mang đặc trưng của khí hậu gió mùa xích đạo có nền nhiệt độ trung bình hàng năm cao Hệ thống sông ngòi của Cà Mau khá dày đặc, bên cạnh một số con sông lớn như: Sông Tam Giang, sông Bảy Giáp, sông Gành Hào, Sông Đốc, sông Trẹm…Cà Mau còn có chung đặc điểm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long là có mạng lưới kênh rạch chằng chịt, rất thuận lợi cho việc phát triển giao thông đường thủy Lớn nhất là sông Tam Giang dài 58 km, sâu 20 km và nhỏ nhất là sông Bạch Ngưu dài 30 km
Chế độ thủy văn của hệ thống sông ngòi, kênh gạch ở đây chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều quanh năm do địa hình thấp và có nhiều cửa sông rộng thông
ra biển Cửa Bồ Đề ( sông Tam Giang), cửa Bảy Háp ( sông Bảy Háp), cửa Ông Đốc ( sông Đốc) là cửa rộng nhất ở đây (500m), cửa Gành Hào rộng 300 m,…phần lớn các sống nội hạt Cà Mau đều chảy ra biển theo chế độ nhật triều và bán nhật triều, phía ngoài cửa sông chịu ảnh hưởng của thủy triều mạnh, ảnh hưởng này giảm dần sau khi vào sâu bên trong nội địa
Kết quả điều tra cho thấy nguồn nước ngầm trên địa bàn tỉnh Cà Mau khá phong phú với bảy tầng nước chứa trong đó 5 tầng 2 đến tầng 6 chứa các nước mềm không nhiễm mặn, tổng lượng nước ngầm khai thác khoảng hơn 17 vạn m3/ ngày đêm
Sinh vật:
Trang 27Với diện tích 71.00 km² vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài nguyên của Việt Nam do tỉnh quản lý cùng hơn 100.00 ha rừng nơi có đa dạng sinh học cao
Biển Cà Mau được đánh giá là vùng trọng điểm hải sản của cả nước không chỉ có trữ lượng hải sản lớn mà các loại hải sản cũng rất phong phú và đa dạng về chủng loại Trữ lượng cá ở vùng biển Cà Mau ước tính khoảng 320 tấn cá đáy với
661 giống loài, thuộc 138 họ Nhiều loại có giá trị và sản lượng lớn như cá thu, cá chim, cá hồng, cá gộc, sò huyết, cua, tôm…
Mạng lưới sông ngòi kênh gạch chằng chịt cũng mang lại cho Cà Mau một nguồn lợi thủy sản nước ngọt khá lớn, nguồn thủy sản này tập trung chủ yếu ở U Minh, Thời Bình, Trần Văn Thời với sự đa dạng và phong phú về số lượng lẫn chủng loại
Rừng Cà Mau chủ yếu là rừng ngập mặn ven biển có ý nghĩa rất quan trọng đặc biệt ở nước ta hiện nay, diện tích rừng ngập mặn Cà Mau chiếm khoảng 77% tổng diện tích rừng ngập mặn ở đồng bằng sông Cửu Long Bên cạnh rừng ngập mặn, Cà Mau còn có một diện tích xấp xĩ 600 ha rừng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo hải dương Rừng ngập mặn và rừng tràm ở Cà Mau có năng suất sinh học cao nhất trong tất cả các loại rừng tự nhiện, không chỉ có giá trị cao về mặt kinh tế mà còn có giá trị cao về phòng hộ và bảo vệ môi trường
2.1.1.2 Đặc điểm truyền thống lịch sử, văn hóa và con người Cà Mau
Lịch sử hình thành:
Cà Mau – một vùng đất trẻ giàu tiềm năng kinh tế Vào thế kỷ XVII, khu vực
Cà Mau, Hà Tiên hãy còn hoang sơ, cho đến cuối thế kỷ XVII, Mạc Cửu mới lập nên thị trấn Hà Tiên bao gồm cả Cà MaCùng với sự phát triển của lịch sử, Nam bộ được chia thành 6 tỉnh (Nam kỳ lục tỉnh): Biên Hòa, Đình Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên Lúc này Cà Mau thuộc Hà Tiên, phủ An Biên, tỉnh Hà Tiên
Sau khi xâm lược nước ta, thực dân Pháp chia Nam Kỳ thành 20 tỉnh Tỉnh Bạc Liêu gồm một phần đất thuộc Sóc Trăng và phần Cà Mau thuộc Rạch Gía, được thành lập ngày 18 tháng 2 năm 1882 Ngày 9 thành 3 năm 1956, chính quyền
Trang 28Sài Gòn lập tỉnh Cà Mau bằng việc sát nhập quận Cà Mau và quận Quảng Xuyên và một phần huyện Gía Rai, ngày 22 tháng 10 năm 1956 đổi tên thành tỉnh An Xuyên
Sau ngày thống nhất đất nước tỉnh Cà Mau (An Xuyên) và Bạc Liêu được hợp nhất thành tỉnh Minh Hải – một tỉnh rộng nhất Đồng bằng sông Cửu Long và thứ nhì Nam bộ Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã phê duyệt tách tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu vào ngày 6 tháng 1 năm 1996 và việc tách tỉnh được thực hiện từ ngày 1 tháng 1 năm 1997
Dân cư, dân tộc và lao động:
Dân số tính đến cuối năm 2010 của tỉnh Cà Mau là 1.205.108 người, bằng 7% dân số Đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,47 dân số cả nước Trên địa bàn tỉnh có khoảng 20 dân tộc anh em cùng chung sống Trong đó nhiều nhất là dân tộc Kinh (chiếm khoảng 97%), tiếp đến là dân tộc Khơme ( chiếm 1,86% ) và người Hoa (chiếm 0,95%), tỷ lệ dân số nữ giới chiếm 50,59 % tổng dân số Mật độ dân số trung bình của tỉnh Cà Mau là 232 người/km² trong đó: tỷ lệ nữ giới chiếm 50,9% dân số Tốc độ tăng dân số trung bình 1,6%/ năm
Khu vực thành thị: 20% dân số; khu vực nông thôn: 80% dân số
Dân tộc: Có 20 dân tộc khác nhau sinh sống trên địa bàn, gồm người Kinh chiếm 97,16%, người Khơme chiếm 1,86%, còn lại là người Hoa và các dân tộc ít người khác
Số người trong độ tuổi lao động là 730.000 người, chiếm 60% dân số; trong
đó lực lượng lao động hoạt động trong nền kinh tế có 610.000 người, chiếm 50,83% dân số và chiếm 83,56% lao động trong độ tuổi Lao động giản đơn chiếm 82% lực lượng lao động
Là vùng đất trẻ, những người dân Việt đầu tiên khai phá vùng đất này vào cuối thế kỷ XVIII Họ là những người thiếu đất và người bị thế lực phong kiến chèn
ép hoặc có thái độ bất hợp tác với chế độ cai trị hà khắc mà tìm đến vùng đất khai hoang mở ấp
Vì vậy, người dân Cà Mau có tinh thần dũng khí nghĩa hiệp, quá trình khẩn hoang mở đất để hình thành vùng đất Cà Mau như hiện nay gắn liền với quá trình
Trang 29cộng cư của ba dân tộc anh em Việt – Khơme – Hoa, những người dân này đã đoàn kết gắn bó với nhau, vừa bảo tồn vừa phát huy những giá trị văn hóa, truyền thống vốn có, để hình thành nên tính cách bản lĩnh của con người Cà Mau hiện nay: phóng khoáng, chân thật và quả cảm
2.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội liên quan đến công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh Cà Mau hiện nay
Cà Mau nối với các tỉnh khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và Thành phố
Hồ Chí Minh bằng cả ba hệ thống giao thông: đường bộ, đường sông, đường hàng không
Giao thông đường bộ
Hệ thống đường bộ Cà Mau có nhiều chuyển biến Hiện tất cả các trung tâm huyện lỵ đều có hệ thống giao thông đường bộ đến tận nơi, số xã có đường ô tô đến tận nơi chiếm 60% tổng số xã trên toàn tỉnh
Có hai tuyến quốc lộ 1A và quốc lộ 63 chạy qua tỉnh với chiều dài qua địa bàn 108 km Thành phố Cà Mau nằm trên trục đường chiến lược này cách thành phố Hồ Chí Minh 380 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km với các tuyến chính: Cà Mau – U Minh – Khánh Hội, Cà Mau – Đầm Dơi, Cà Mau – Cái Nước, Tân Lộc - Thới Bình
Tổng số phương tiện vận tải hàng háo đường bộ khoảng 120 chiếc các loại Tổng số lượng xe chở khách gần 3000 chiếc
Giao thông đường thủy
Cà Mau có mạng lưới kênh rạch chằng chịt với một số sông lớn như: Tam Giang, Bảy Háp, Quan Lộ, Gành Hào, Sông Đốc…nên rất thuận lợi cho việc đi lại trên khắp đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh Cảng Năm Căn là cảng thương mại quan trọng trong hệ thống cảng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trong vòng cung của vùng Đông Nam Á và đang được đầu tư xây dựng Tuyến giao thông chủ yếu: Cà Mau – Ngã Bãy – Phụng Hiệp – Cần Thơ – TP.HCM Tuyến giao thông tỉnh gồm: thành phố Cà Mau đi trung tâm các huyện, trung tâm kinh tế, cụm dân cư Tân An, Gành Hào, Sông Đốc, Bồ Đề…
Trang 30Giao thông hàng không
Sân bay Cà Mau gần đây được nâng cấp và mở rộng đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân và khách du lịch Trong tương lai ngành hàng không Cà Mau sẽ đầu
tư xây dựng thêm một số tuyến máy bay mới phục vụ cho nhu cầu khách du lịch như: Cà Mau – Phú Quốc, Cà Mau – Côn Đảo, Cà Mau – Đà Lạt, Cà Mau – Nha Trang,…và trong nhiều năm tới khi có nhu cầu phát triển thì một số sân bay nhỏ ở Năm Căn và Hòn Khoai có thể khôi phục và đi vào hoạt động
Năm 2012 tình hình kinh tế thế giới tiếp tục gặp nhiều khó khăn và biến động phức tạp, trong nước những khó khăn nội tại của nền kinh tế bộc lộ trong năm
2011 tiếp tục tác động kéo dài trong năm 2012; từ đó tác động bất lợi đến một số lĩnh vực kinh tế chủ chốt của tỉnh nhất là lĩnh vực chế biến thủy sản xuất khẩu, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống người nông dân và công nhân lao động trong tỉnh Trong bối cảnh đó được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và sự cố gắng của các tầng lớp dân cư trong tỉnh nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý
Mức tăng trưởng GDP đạt 11,5 % năm 2010 tăng 12,4% năm 2011 tăng 10,0 % Bình quân 3 năm ( 2010 – 2012) tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt trên 11%
Khu vực nông – lâm – ngư nghiệp đã đạt được những thành tựu đáng kể: năm 2012 tốc độ tăng trưởng toàn ngành nông – lâm – ngư nghiệp là 14,25% năm
2012, 11,12 % năm 2010 và 12,09 % năm 2011, bình quân 3 năm (2010 – 2012) tăng 12.5 %
Nông nghiệp: ngoài cây lúa, còn có khả năng phát triển một số loài cây trồng khác phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng tạo vùng nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, lương thực thực phẩm
Lâm nghiệp: rừng Cà Mau chủ yếu là rừng ngập nước, có hai loại là rừng đước Năm Căn và rừng tràm U Minh Hạ Diện tích lâm phần hiện nay khoảng trên 100.000, hàng năm cho phép khai thác từ 120.000 – 150.000 m³ gỗ làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến ván ép, ván dăm, gỗ ghép…
Trang 31Ngư nghiệp: Cà Mau có điều kiện tự nhiên thuận lợi và có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế toàn diện, đặc biệt là kinh tế thủy sản, với chiều dài bờ biển trên
254 km, diện tích ngư trường khoảng 70.000 km², diện tích nuôi trồng thủy sản trên 270.000 ha ( trong đó diện tích nuôi tôm khoảng 240.000 ha )
Tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản hiện nay đạt khoảng trên 420.000 tấn/ năm, trong đó tôm 143.000 tấn/ năm
Sản lượng nuôi trồng và khai thác thủy sản tháng 9/2013 ước đạt 32,50 nghìn tấn, không đổi so tháng trước và cùng kỳ; trong đó: tôm ước đạt 10,10 nghìn tấn, giảm 2,24% so tháng trước, giảm 3,81% so cùng kỳ Lũy kế 9 tháng ước đạt 339,77 nghìn tấn, đạt 78,29% kế hoạch, tăng 3,20% so cùng kỳ; trong đó: tôm 114,22 nghìn tấn, đạt 78,23% kế hoạch, tăng 4,59% so cùng kỳ
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng9/2013 ước đạt22nghìn tấn,giảm 2,22% so tháng trước; giảm 4,35%so cùng kỳ; trong đó: tôm 9,30nghìn tấn,giảm 2,11%so tháng trướcvàso cùng kỳ Sản lượng tháng 9/2013 giảm so tháng trước
do nhiều hộ cải tạo, sên vét ao, đầm và đang cấy, sạ trên diện tích nuôi tôm Sản lượng nuôi trồng 9 tháng năm 2013ước đạt 222,71 nghìn tấn, đạt 78,14% kế hoạch, tăng 6,42% so cùng kỳ; trong đó: tôm 102,79 nghìn tấn, đạt 77,87% kế hoạch, tăng 5,36% so cùng kỳ
Sản lượng khai thác thủy sản tháng 9/2013 ước đạt 10,50 nghìn tấn, tăng 5%
so tháng trước, tăng 10,53% so cùng kỳ; trong đó: tôm 0,80 nghìn tấn, giảm 5,88%
so tháng trước, giảm 20% so cùng kỳ Lũy kế 9 tháng ước đạt 117,06 nghìn tấn, đạt 78,56% kế hoạch, giảm 2,42% so cùng kỳ; trong đó: tôm 11,43 nghìn tấn, đạt 81,61% kế hoạch, giảm 1,91% so cùng kỳ
Tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định và phát triển Dịch bệnh trên tôm ít xảy ra, người dân có nhiều tiến bộ trong việc tiếp thu ứng dụng khoa học – kỹ thuật vào sản xuất, ngành nông nghiệp có nhiều chương trình hỗ trợ cho người nuôi tôm Đặc biệt trong phát triển nuôi tôm công nghiệp, tôm bán công nghiệp, tôm quảng canh cải tiến năng suất cao nên sản lượng tôm tăng hơn so với cùng kỳ
Trang 32Đề án tôm – lúa bắt đầu phát huy hiệu quả, đời sống nuôi tôm dần cải thiện, bền vững hơn Tuy nhiên, những tháng đầu năm sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày
và đêm khá lớn, sương mù, con giống không rõ nguồn gốc,…nên đã xuất hiện tôm
đỏ, cạnh đó, còn xuất hiện những cơn mưa lớn trong những tháng gần đây, dẫn đến tình hình bệnh trên tôm có chiều hướng gia tăng, vì thế có hộ nuôi nếu không thận trọng hơn trong việc quản lý ao/đầm nuôi, nhất là nguồn nước từ môi trường bên ngoài sông, rạch rất dễ mang mầm bệnh
Khu vực công nghiệp – xây dựng: đã có bước tăng trưởng cao, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy kinh tế của tỉnh tăng trưởng nhanh, năm 2010 tăng 28,3 %, năm 2011 tăng 25,4 %, năm 2012 tăng 27,54%, bình quân 3 năm (2010 – 2012) tăng 27,0 %
Khu vực dịch vụ: đã có những bước chuyển biến đáng kể, giá trị gia tăng khu vực năm 2010 là 14,8%, năm 2011 tăng 16,7% năm 2012 tăng 18,2%, bình quân 3 năm ( 2010 – 2012) tăng 16.5 % Về công tác xây dựng và phát triển kết cấu tầng được quan tâm từ năm 2010 đến nay, tỉnh đã đầu tư, nâng cấp, sửa chữa 35 chợ nông thôn và ngày 8/1/2010, trung tâm thương mại Cửu Long, dự án thương mại đón đầu cụm khí – điện – đạm Cà Mau, đã được khánh thành tại tỉnh Cà Mau Tổ hợp trung tâm thương mại có tổng diện tích 90,700 m² gồm các hạng mục công trình như Cửu Long Plaza, khu triển lãm và diện tích hạ tầng khác với tổng vốn đầu
Trang 33nhộn nhịp hẳn lên bởi các khoang thuyền đã đầy ắp cá tôm và mọi người cùng nhau vận chuyển…
Thị trấn nhỏ bé ở vùng đất cuối cùng của Việt Nam này cũng là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống đặc sắc, tiêu biểu là lễ hội Nghinh Ông – còn gọi là lễ rước “ Đại tướng quân Nam Hải”, tổ chức vào tháng hai âm lịch hằng năm Du khách đến phố biển này vào thời điểm lễ hội diễn ra sẽ được tắm mình vào những sinh hoạt văn hóa độc đáo của người dân địa phương như nghi thức điểm nhãn cho những con tàu, nghi lễ hạ thủy gợi nhớ thời ông cha mình chinh phục biển cả, khai hoang lập ấp…Hệ thống bán lẻ hàng hóa, dịch vụ năm 2012 ước đạt 3.208,79 tỷ đồng, tăng 4,12% so tháng trước, tăng 39,55% so cùng kỳ Nguyên nhân do vào dịp nghỉ hè của học sinh nên nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, vui chơi, du lịch giải trí tăng Bên cạnh đó, tình hình giá cả nhóm hàng lương thực, thực phẩm trên thị trường tăng, nhu cầu tiêu dùng nhóm hàng vật liệu xây dựng và xăng dầu tăng đã đẩy tổng mức bán lẻ tăng
Về du lịch: là tỉnh cực nam của Việt Nam, mang đậm nét đặc thù của vùng đồng bằng Nam Bộ, Cà Mau có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái và du lịch ven biển, biển đảo, với các điểm đến hấp dẫn như Bãi Khai Long, đảo Hòn Khoai, Hòn
Đá Bạc Đặc biệt nhất là khu du lịch sinh thái rừng ngập bãi bồi Mũi Cà Mau – Năm Căn, Khu liên hợp Khí Điện – Đạm, với một nhà máy đạm công suất 800 ngàn tấn/ năm, hai nhà máy điện đã hào mạng vào lưới điện quốc gia với công suất một năm từ 7 - 8 tỷ KW/h Một số tuyến đường quan trọng khác như tuyến Phụng Hiệp – Cà Mau, tuyến Năm Căn – Mũi Cà Mau cũng đang được khẩn trương thi công Những công trình trọng điểm này đã tạo cho Cà Mau một diện mạo mới và cơ hội mới
Về địa phương, tỉnh cũng đang tích cực triển khai lập quy hoạch và đầu tư xây dựng các khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp như Khu Công nghiệp Khánh An, Khu Công nghiệp Hòa Trung, Khu Công nghiệp Sông Đốc, Khu Công nghiệp Năm Căn, Khu Tiểu thủ công nghiệp phường 9, An Xuyên; đồng thời cũng
đã lập huy hoạch một số khu cụm công nghiệp tại địa bàn các huyện
Trang 34Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ nay đến năm 2015 và 2020, tỉnh
Cà Mau xác định tích cực phải phát huy nội lực gắn với việc tăng cường thu hút đầu
tư vào các lĩnh vực mà tiềm năng và nhu cầu như: xây dựng kết cấu hạ tầng dịch vụ các khu – cụm công nghiệp, các khu kinh tế; phát triển các ngành công nghiệp có sử dụng khí thấp áp; lĩnh vực y tế - giáo dục đào tạo; các dự án sử dụng nhiều lao động địa phương
Nhìn chung, tình hình kinh tế năm 2012 còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh cùng với sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và sự cố gắng của các tầng lớp dân cư trong tỉnh nên kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được kết quả tương đối khá
2.2 Những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác trấn áp tội phạm ở tỉnh
Cà Mau thời gian qua
2.2.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân
2.2.1.1 Những kết quả đạt được Thực hiện nhiệm vụ, kế hoạch đặt ra, từ đầu năm đến nay Công an thành phố
Cà Mau đã tập trung làm tốt công tác trấn áp tội phạm với mục tiêu giảm phạm pháp hình sự, xây dựng tác phong nhạy bén, linh hoạt của cán bộ chiến sĩ trong tiếp nhận tin, đấu tranh với các loại tội Vì vậy đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, phạm pháp hình sự giảm so với cùng thời năm trước, công tác đấu tranh với tội phạm trộm cắp, cướp giật, tội phạm ma túy, và nhiều tội phạm phác đạt kết quả cao
Về trấn áp tội phạm ma túy, mại dâm và tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS
Công an thành phố Cà Mau, thời gian qua thường xuyên tổ chức tuần tra, triệt xóa các loại tội phạm liên quan đến ma tuý Phát hiện 72 vụ, liên quan đến 106 đối tượng, thu giữ 3,168gr hêrôin, 430,5gr cần sa khô, so với cùng kỳ năm trước giảm 9 vụ và 7 đối tượng Công tác cai nghiện, phục hồi và quản lý sau cai nghiện cũng được quan tâm đúng mức Từ đầu năm 2013 đến nay, Trung tâm Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh đã tiếp nhận mới 55 học viên, nâng tổng số học viên đang
Trang 35được chữa trị tại Trung tâm lên 254 học viên Tại đây các học viên đều được tổ chức chữa trị cắt cơn, xét nghiệm phân loại quản lý, lao động sản xuất, luyện tập thể dục thể thao theo quy trình cai nghiện và được quản lý chặt chẽ theo nội quy của Trung tâm…
Lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thường xuyên được củng cố, kiện toàn và triển khai đồng bộ các biện pháp công tác phù hợp với tình hình, mở các đợt cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, đấu tranh triệt phá các đường dây, ổ nhóm buôn bán, vận chuyển trái phép ma túy hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia kết hợp giải quyết các địa bàn trọng điểm, tụ điểm phức tạp về ma túy
Thường xuyên tổ chức đoàn kiểm tra liên ngành triển khai kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ dễ bị lợi dụng để hoạt động mại dâm; Lập hồ sơ đưa 04 người bán dâm vào Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội; Xây dựng mô hình giáo dục, dạy nghề cho người bán dâm tại các xã phường trọng điểm về tệ nạn mại dâm
Dự phòng lây nhiễm HIV được triển khai tại trên 90% số xã, phường, thị trấn
có người nhiễm HIV huy động trên gần 100 tuyên truyền viên đồng đẳng và 453 cộng tác viên, y tá tham gia; tiếp cận 1.145 người nghiện chích ma túy bằng 52% số người nghiện có hồ sơ quản lý tại cộng đồng Phân phát 364.210 bơm kim tiêm sạch, 42.175 bao cao su và thu về 367.450 bơm kim tiêm bẩn.Công tác dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con: tổ chức tháng hành động về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con do Ủy ban quốc gia phòng, chống HIV/AIDS phát động; tổ chức tư vấn xét nghiệm HIV cho 745 phụ nữ mang thai, phát hiện 7 trường hợp dương tính, điều trị dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con cho 20 trường hợp Công tác giám sát phát hiện HIV: triển khai xét nghiệm 795 mẫu, phát hiện 125 trường hợp dương tính với HIV
Thực hiện triển khai điều trị tại một số xã phường thuộc 4 huyện nhằm đưa dịch vụ chăm sóc và điều trị đến gần với người dân, tăng số người được chăm sóc điều trị HIV/AIDS
Tội phạm hình sự