1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh bạc liêu

74 472 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 6,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua quá trình thực hiện theo chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thì kinh tế nông thôn Bạc Liêu đã có bước phát triển giá trị sản lượng nông nghiệp tăng, chủng loại cây trồng, vật

Trang 1

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

TÌM HIỂU VỀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN

Ở TỈNH BẠC LIÊU

Chuyên ngành: Sư phạm Giáo Dục Công Dân

Mã ngành: 52140204

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

ThS GVC Trần Thanh Quang Võ Thanh Sơn

MSSV: 6106646 Lớp: SP GDCD K36

Mã Lớp: ML1068A2

CẦN THƠ - 2013

Trang 2

Để hoàn thiện luận văn này tôi xin chân thành cảm

ơn thầy Trần Thanh Quang Khoa Khoa học Chính trị đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian làm luận văn

Chân thành cảm ơn quý thầy cô Khoa Khoa học Chính trị, những người đã tận tình truyền đạt kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm sống quý báo nhất trong suốt thời gian học tập

Chân thành cảm ơn các bạn bè đã động viên giúp

đỡ tôi trong quá trình học tập và tìm tài liệu

Chân thành cảm ơn Khoa Khoa học Chính trị, thư viện Thành phố Cần Thơ, Trung tâm học liệu

Chân thành cảm ơn

Sinh viên thực hiện

Võ Thanh Sơn

LỜI CẢM ƠN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2

4 Phương pháp nghiên cứu……… 3

5 Kết cấu luận văn……… 3

PHẦN NỘI DUNG……… 4

Chương 1……… 4

KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA KINH TẾ NÔNG THÔN……… 4

1.1 Khái niệm kinh tế nông thôn……….4

1.2 Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông thôn……… 5

1.2.1 Đặc điểm của nền kinh tế nông thôn……….5

1.2.2 Vai trò của kinh tế nông thôn………7

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế nông thôn……….10

Chương 2……… 20

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN CỦA TỈNH BẠC LIÊU……… 20

2.1 Tìm hiểu khái quát về tỉnh Bạc Liêu……… 20

2.1.1 Địa giới hành chính……… 20

2.1.2 Địa Lý………21

2.1.3 Dân cư……… 23

2.1.4 Kinh tế……… 24

2.1.5 Xã hội………25

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu………26

2.2.1 Thành tựu phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu……… 26

Trang 6

2.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu trong phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu……….38

2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu……….39

Chương 3……… 42 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN Ở TỈNH BẠC LIÊU………42 3.1 Phương hướng và các chỉ tiêu phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu………42

3.1.1 Phương hướng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu…………42 3.1.2 Các chỉ tiêu phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu………… 44

3.2 Giải pháp trong phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Bạc Liêu………….48

3.2.1 Giải pháp trong lĩnh vực ngành……… 48 3.2.2 Công tác thủy lợi và phòng chống lụt bão……… 55 3.2.3 Chuyển giao Khoa học- công nghệ và đào tạo………56 3.2.4 Xây dựng và phát triển tổ hợp tác xã và trang trại tỉnh Bạc Liêu…… 57 3.2.5 Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường quản lý Nhà nước………59

KẾT LUẬN……… 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 62

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

  

1 Lý do chọn đề tài

Nông thôn là nơi tạo ra lương thực, thực phẩm nuôi sống con người Tuy nhiên lại

là vùng có nền kinh tế phát triển chậm, một bộ phận người nông dân vẫn nghèo và thiếu ăn Để phát triển kinh tế nông thôn Đảng và nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách làm cho bộ mặt của nông thôn, đời sống của người dân được nâng lên rõ rệt

Ở nước ta, Đảng và nhà nước ta luôn coi phát triển toàn diện kinh tế -xã hội nông thôn là vấn đề có tính chiến lược Hiện nay, nền nông nghiệp cả nước nói chung và nền nông nghiệp Bạc Liêu nói riêng đã và đang chuyển mạnh từ nền sản xuất nhỏ, tự cung

tự cấp theo phương thức truyền thống sang phát triển một nền nông nghiệp bền vững với trình độ khoa học kỹ thuật cao Đây là một trong những chuyển biến có ý nghĩa hết sức quan trọng và sâu sắc, làm thay đổi tính chất và các mối quan hệ cơ bản trong nông nghiệp, nông thôn, đồng thời tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế nông thôn

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, để có thể nhập và đứng vững trên thị trường trong nước, khu vực và quốc tế, kinh tế nông thôn cả nước nói chung và tỉnh Bạc Liêu nói riêng cần được quan tâm đúng mức về nhịp độ tăng trưởng, có thể nói chất lượng, năng suất và số lượng hàng hóa nông nghiệp là một trong những vấn đề cấp thiết trong chiến lược phát triển một mô hình kinh tế nông thôn Bạc Liêu bền vững Qua quá trình thực hiện theo chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước thì kinh tế nông thôn Bạc Liêu đã có bước phát triển giá trị sản lượng nông nghiệp tăng, chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng hơn, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng gia tăng sản phẩm đã qua chế biến, giảm cung cấp sản phẩm chưa qua chế biến,

an ninh lương thực của tỉnh cũng được đảm bảo, ngoài ra còn bán cho các tỉnh khác trong nước và xuất khẩu ra ngoài nước

Trang 8

Tuy nhiên, kinh tế nông thôn tỉnh Bạc Liêu vẫn phát triển chậm hơn nhiều so với kinh tế ở vùng thành thị do những nguyên nhân như sản xuất nông nghiệp vẫn mang nặng tính sản xuất nhỏ, manh mún, do trình độ dân trí thấp chưa áp dụng được rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất nên sử dụng không hiệu quả các nguồn lực như đất đai, lao động, tài nguyên Dẫn đến lãng phí các nguồn lực mà những nguồn lực đó rất quan trọng để kinh tế nông thôn Bạc Liêu phát triển mạnh Vì vậy, cần phải luôn có giải pháp kịp thời để xây dựng một nông thôn Bạc Liêu giàu đẹp

Để góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế nông thôn Bạc Liêu tác giả đã

chọn đề tài: “Tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu” làm đề tài

nghiên cứu luận văn của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: làm rõ thực trạng để tìm ra định hướng và giải pháp góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn Bạc Liêu phát triển

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Làm rỏ cơ sở lý luận về kinh tế nông thôn và phát triển kinh tế nông thôn ở nước ta

+ Làm rõ thực trạng (thành tựu, hạn chế) phát triển kinh tế nông thôn tỉnh Bạc Liêu

+ Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: tìm hiểu về sự phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: kinh tế nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu

+ Thời gian: từ sau đổi mới đến nay

Trang 9

4 Phương pháp nghiên cứu

- Để nghiên cứu đề tài luận văn này, tôi đã sử dụng tổng hợp nhiều phương thức

như: thu thập tài liệu, số liệu từ cơ quan chức năng của tỉnh Bạc Liêu, tìm kiếm tài liệu

từ sách báo, tạp chí, các tài liệu trên mạng Internet, nghị quyết của Đảng… sau đó phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu các tài liệu có được để hoàn thành luận văn này

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, luận văn bao gồm 3 chương, 7 tiết

Chương 1: Kinh tế nông thôn và đặc điểm, vai trò của kinh tế nông thôn Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn của tỉnh Bạc Liêu

Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để tiếp tục phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu

Trang 10

PHẦN NỘI DUNG

  

Chương 1 KINH TẾ NÔNG THÔN VÀ ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CỦA KINH TẾ

NÔNG THÔN 1.1 Khái niệm kinh tế nông thôn

Nông nghiệp theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm,… để thõa mãn các nhu cầu của mình Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao hàm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp

Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng xuất lao động thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ gặp rất nhiều khó khăn Ngoài ra sản xuất nông nghiệp ở các nước kém phát triển thường gắn liền với phương pháp cach tác, lề thói, tập quán đã có từng hàng ngàn năm

Ở những nước nghèo, nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP và đại bộ phận lao động xã hội làm việc trong nông nghiệp

Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn

vị hành chính mà ở đó sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, dân cư chủ yếu làm nông nghiệp

Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn

Nó là một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nông- lâm- ngư nghiệp, cùng với các ngành tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương nghiệp và dịch vụ,… tất cả

có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thỗ và toàn bộ nền kinh tế quốc dân [3,tr.237-238]

Trang 11

1.2 Đặc điểm và vai trò của kinh tế nông thôn

1.2.1 Đặc điểm của nền kinh tế nông thôn

Kinh tế nông thôn có nội dung rất rộng, bao gồm các ngành, lĩnh vực và các thành phần kinh tế có mối quan hệ và tác động lẫn nhau

Cơ cấu ngành kinh tế nông thôn

Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp bảo đãm nhu cầu về lương thực, thực phẩm cho xã hội, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa cung cấp cho thị trường trong và ngoài nước

Công nghiệp gắn với nông, lâm, ngư nghiệp, trước hết là công nghiệp chế biến, công nghiệp phục vụ cho nông nghiệp và các ngành tiểu thủ công nghiệp khác sản xuất các hàng hóa không có nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu

Các loại hình dịch vụ và thương nghiệp, tín dụng, khoa học và công nghệ, tư vấn… cùng với các cơ sở hạ tầng ở nông thôn (điện, đường, trường, trạm…)

Đó là những bộ phận hợp thành của kinh tế nông thôn và sự phát triển của chúng là biểu hiện trình độ phát triển của kinh tế nông thôn.[3,tr.238-239]

Cơ cấu thành phần kinh tế nông thôn

- Kinh tế nhà nước trong lĩnh vực nông nghiệp là thành phần kinh tế đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế nông thôn Bộ phận tiêu biểu của thành phần kinh tế này là các nông –lâm trường quốc doanh, các trạm, trại kỹ thuật nông nghiệp và các cơ sở hạ tầng ở nông thôn Trong quá trình phát triển, thành phần kinh tế này được mở rộng ra toàn bộ các ngành nghề cơ ngân hàng, dịch vụ kinh tế và khoa học… Trong đó, nhiều

cơ sở của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nông thôn chỉ là một bộ phận đại diện của kinh tế nhà nước như chi nhánh ngân hàng, cửa hàng thương hiệu, trạm kỹ thuật… nhưng lại gắn bó hữu cơ với kinh tế nông thôn từng vùng như là bộ phận cấu thành bên trong của nó

- Kinh tế tập thể sẽ trở nên đa dạng hơn, không những trong nông nghiệp mà

cả trong công nghiêp, thương nghiệp, tín dụng… Các hình thức kinh tế này sẽ phát

Trang 12

triển từ thấp lên cao, hoàn chỉnh nhất là các hợp tác xã kiểu mới, tiến lên liên hiệp các hợp tác xã kinh doanh nhiều ngành nghề Kinh tế tập thể là con đường tất yếu để nông dân và cư dân nông thôn đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, và cùng với kinh tế nhà nước trong nông thôn hợp thành nền tảng của nền kinh tế nông thôn theo định hướng

- Kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế tư bản nhà nước tiếp tục tồn tại và phát triển trong nhiều ngành nghề và dịch ở nông thôn Tuy nhiên, sự phát triển của kinh tế nông thôn theo định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải tìm ra những hình thức kinh

tế thích hợp để từng bước đưa thành phần kinh tế tư bản tư nhan đi vào con đường kinh

tế tư bản nhà nước để tiens lên chủ nghĩa xã hội [3,tr.239-240]

Về trình độ công nghệ kinh tế nông thôn

Đây là sự tổng hợp, kết hợp có căn cứ khoa học nhiều trình độ và quy mô nhất định: Từ công nghệ truyền thống nói chung còn lạc hậu cho đến công nghệ nữa hiện đại và hiện đại, nhiều quy mô, trong đó quy mô nhỏ và vừa là thích hợp nhất [3,tr.240]

Về cơ cấu xã hội- giai cấp

Quá trình phát triển kinh tế nông thôn là quá trình phát triển phân công lao động xã hội, chuyển đổi và đa dạng hóa ngành nghề sản xuất và dịch vụ ở nông thôn Quá trình đó cũng dẫn đến sự biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội –giai cấp và làm thay đổi quan trọng đời sống văn hóa xã hội ở các vùng nông thôn [3,tr.240]]

Trang 13

1.2.2 Vai trò của kinh tế nông thôn

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần tạo ra những tiền đề quan trọng không thể thiếu bảo đảm thắng lợi cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Phát triển kinh tế nông thôn trước hết là phát triển kinh tế nông nghiệp một cách mạnh mẽ và ổn định, tạo cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là cho công nghiệp một cơ sở vững chắc về nhiều phương tiện, trước hết là lương thực, thực phẩm, nguyên liệu, vốn và thị trường Dù cho nền kinh tế nước ta sau này phát triển đến đâu

và tỷ lệ lao động làm nông nghiệp giảm xuống do năng xuất lao động trong nông nghiệp tăng lên thế nào thì nông nghiệp bao giờ cũng vẫn đóng một vai trò quan trọng

vì nó tạo ra lương thực, thực phẩm thõa mãn nhu cầu hàng đầu của con người là thức

ăn Các ngành công nghiệp nhẹ như chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp dệt, giấy, đường… phải dựa vào nguồn nguyên liệu chủ yếu từ nông nghiệp Với việc phát triển đồng bộ các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn, kinh tế nông thôn sẽ tạo ra một khối lượng sản phẩm với giá trị ngày càng tăng và điều đó góp phần giải quyết vấn đề vốn để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đồng thời nông nghiệp, nông thôn là thị trường quan trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại chỗ

Phát triển kinh tế nông thôn sẽ làm cho các hoạt động ở nông thôn trở nên sôi động hơn Cơ cấu kinh tế, phân công lao động chuyển dịch đúng hướng có hiệu quả Công nghiệp gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp tại chỗ Vấn đề đô thị hóa sẽ được giải quyết theo phương thức đô thị hóa tại chỗ Vấn đề việc làm cho người lao động sẽ được gia tăng ngày càng nhiều trên địa bàn tại chỗ Trên cơ sở đó, tăng thu nhập, cải thiện từng bước đời sống vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư, giảm sức ép của sự chênh lệch kinh tế và đời sống giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng phát triển

và vùng kém phát triển

Trang 14

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần to lớn trong việc bảo vệ và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái

Nông thôn nước ta bao gồm những vùng rộng lớn Ở đây, các tài nguyên của đất nước chiếm tuyệt đại bộ như: đất đai, khoáng sản, động thực vật, rừng biển, nguồn nước… Phát triển kinh tế nông thôn cho phép khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời bảo vệ chúng trong quá trình sử dụng

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ tạo cơ sở vật chất cho sự phát triển văn hóa ở nông thôn

Nông thôn nước ta vốn là vùng kinh tế, văn hóa lạc hậu, sản xuất và sinh hoạt phân tán, nhiều hủ tục Mặt khác, nông thôn là nơi có truyền thống sẽ tạo điều kiện để vừa gìn giữ, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp, bài trừ văn hóa lạc hậu cũ, vừa tổ chức tốt đời sống văn hóa và tinh thần ở nông thôn

Sự phát triển của kinh tế nông thôn sẽ góp phần quyết định sự thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở nông thôn nói riêng và đất nước nói chung

Phát triển kinh tế nông thôn là cơ sở ổn định kinh tế, chính trị xã hội của đất nước Phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với phát triển xã hội, văn hóa, chính trị và kiến trúc thượng tầng theo định hướng xã hội chủ nghĩa Một nông thôn có kinh tế và văn hóa phát triển, đời sống ấm no, đầy đủ về vật chất, yên vui về tinh thần sẽ là một nhân tố quyết định củng cố vững chắc trận địa lòng dân, thắt chặt mối liên minh công –nông, bảo đảm cho nhân dân có đủ sức mạnh, đánh bại mọi âm mưu và thủ đoạn của mọi kẻ thù, dưới bất cứ hình thức nào Đó cũng là cơ sở thắng lợi của việc giữ vững và bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền lợi ích quốc gia và xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội trên đất nước ta [3,tr.241-243]

Thực tế 20 năm đổi mới ở Việt Nam cho thấy tầm quan trọng của nông nghiệp đối với tăng trưởng kinh tế của nhà nước Định hướng về phát triển nông thôn phải bắt dầu

từ đổi mới nhận thức về vai trò của nông thôn theo hướng phát triển toàn diện các ngành nghề, dich vụ trên đại bàn nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn theo hướng phát triển toàn diện và vững chắc gắn với công nghiệp chế biến

Trang 15

và thị trường xuất khẩu nông sản Do vậy, cần đổi mới quan điểm và nhận thức về vai trò và vị trí của nông thôn trong sự nghiệp đổi mới

Số hộ nông dân làm nông nghiệp có 9,74 triệu hộ chiếm 93,5% số hộ nông lâm thủy sản Về lao động cả nước có 55,7% số lao động trực tiếp làm nông lâm nghiệp và thủy sản đóng góp 20% GDP trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vì vậy, tốc độ phát triển của nông nghiệp theo nghĩa rộng nông dân có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển chung của nền kinh tế

Sau hơn 20 năm đổi mới (từ năm 1986 đến nay), tuy tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và lao động nông nghiệp giảm dần nhưng tầm quan trọng của nó và vai trò của nông dân trong nền kinh tế quốc dân vẫn không ngừng được tăng lên Nông nghiệp và nông dân đã cung cấp lương thực, thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của hơn 85 triệu dân với mức tăng trên 1,2 triệu người trên một năm, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp, chế biến và xuất khẩu nông sản với số lượng và chất lượng ngày càng tăng Trong hơn 20 năm qua, sản xuất phát triển toàn diện, trồng trọt và chăn nuôi đều tăng trưởng liên tục với tốc độ tăng bình quân từ 2001 đến 2008 khoảng 3,6% Cơ cấu sản xuất nông nghiệp chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa cây trồng vật nuôi để tăng giá trị và hiệu quả kinh tế, tăng năng xuất lao động nông nghiệp

Quan điểm đúng đắn của Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn cho thấy tầm quan trọng của ngành nông nghiệp đối với nền kinh tế quốc dân và đã được khẳng định bằng kết quả cụ thể trong từng ngành và từng lĩnh vực

Nhờ có đường lối, chính sách nông nghiệp đúng đắn nên đã phát huy được vai trò của nông nghiệp, nông thôn, nông dân đối với nền kinh tế quốc dân Đóng góp vào tốc

độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhà nước Báo cáo phát triển do

WB công bố tháng 12/2007 “Tăng trưởng nông nghiệp cho phát triển” đã khẳng định đối với một nước có nền kinh tế đang chuyển đổi từ nông nghiệp sang đô thị háo như Việt Nam, nông nghiệp vẫn được coi là yếu tố quan trọng trong việc xóa đói giảm nghèo và tăng nguồn thu nhạp cho nông dân Việt Nam là một nước xóa đói giảm nghèo nhanh nhất thế giới Nông nghiệp ở Việt Nam còn mở đường cho các chính sách

Trang 16

đổi mới kinh tế nói chung bắt nguồn từ khoá 10 (năm 1981) và Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (năm 1988)

1.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về kinh tế nông thôn

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam có vai trò quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế -xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị -xã hội bảo đảm an ninh quốc phòng; giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước Thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới đã chứng minh đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông thôn, nông dân gắn với sự phát triển đất nước

Nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân, xuất phát từ tình hình đặc điểm xã hội Việt Nam và yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong từng thời kỳ cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của giai cấp nông dân trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Ngay trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (2/1930) đã xác định phải “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản” Để thực hiện được mục tiêu đó trước hết phải “xây dựng chính phủ công nông binh” và “thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân nghèo”, “bỏ sưu thế cho dân cày nghèo”

Như vậy, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định vấn đề nông dân và ruộng đất là một trong những vấn đề cốt lõi của cách mạng

Sự nghiệp giải phóng dân tộc chỉ có thể thắng lợi hoàn toàn khi giải quyết được vấn đề nông dân và ruộng đất Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam xem xét vấn đề nông dân một cách toàn diện, nghĩa là không dừng lại ở vấn đề chính trị mà gắn liền với vấn đề kinh tế, vấn đề ruộng đất và kinh tế nông nghiệp Từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, khi xem xét về mặt chính trị của vấn đề nông dân là cơ sở để xây dựng khối liên minh công nông và tri thức, cơ sở để xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất trong kháng chiến chống Pháp Sau khi dành được độc lập dân tộc, liên minh công

Trang 17

nông trí thức là nền tảng của chính quyền, là công cụ sắc bén trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chủ nghĩa xã hội Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có một vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển đất nước

Nông nghiệp nông dân, nông thôn có mối quan hệ hữu cơ cần phải có sự nhận thức đúng đắn để đề ra đường lối chính sách đúng đắn nhằm phát triển toàn diện nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam Thực tế cho thấy, không phải ngay từ đầu chúng ta đã nhận thức được một cách thấu đáo mà phải trải qua quá trình trải nghiệm thực tiễn, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận để phát triển

Thực tiễn khách quan này đòi hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam phải đổi mới tư duy

lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Từ Đại hội V (1981), Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: lấy nông nghiệp là mật trận hàng đầu, đặc biệt phải vượt qua của cải lương thực Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986), Đảng ta chủ trương đổi mới toàn diện về kinh tế Đây là cuộc cách mạng thật sự trong nhận thức, trong tư duy lý luận của Đảng về kinh tế Nổi bật nhất của tư duy mới về cơ cấu kinh tế lúc bấy giờ là phải đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cho phép và khuyến khích kinh tế tư nhân, cá thể phát triển, chú ý kích thích lợi ích cá nhân làm động lực cho phát triển kinh tế, điều chỉnh việc xây dựng cơ cấu kinh tế ngành

Đại hội VII đã xác định nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành nghề, nhiều quy mô, nhiều trình độ công nghệ; phát triển nông –lâm –ngư nghiệp gắn với công nghệ chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình phát triển kinh tế -xã hội Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, phát huy vai trò quan trọng của nông dân trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Tiến trình đổi mới ở Việt Nam được bắt đầu từ đột phá nông nghiệp với chính sách cơ chế khoán, từ khoán sản phẩm trong nông nghiệp, lợi ích cá nhân của người nông dân được coi trọng và kinh tế hộ gia đình nông dân được xác định là đơn vị kinh tế cơ bản của nông thôn Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế

Trang 18

thị trường để khơi dậy được tiềm năng sáng tạo ở nông thôn, giải phóng mọi năng lực sản xuất, tạo động lực thực sự cho nông dân bằng việc giải quyết hợp lý các quan hệ lợi ích trong nông nghiệp và nông thôn Trước yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, thực trạng kinh tê –xã hội nông thôn đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc như: thiếu việc làm, thu nhập thấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, chênh lệch mức sống ngày càng tăng… hiện đang là những thách thức, cản trở cho sự phát triển nhất là trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, vấn đề nông nghiệp nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược cần được đặc biệt quan tâm như Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam đã nêu: “Phát triển nông –lâm –ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định tình hình kinh tế xã hội”

Hội nghị lần thứ VII của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: nông nghiệp, nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở

và là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế -xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc

và bảo vệ môi trường sinh thái Đảng ta khẳng định, trong mối quan hệ của nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì nông dân là chủ thể của quá trình phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Xây dựng nông thôn mới gắn với việc xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ

và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản, phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt Đảng Cộng sản Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành Nghị quyết xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết sau Nông nghiệp và kinh tế nông thôn

là bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Nông nghiệp đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, cung cấp nguyên liệu chủ yếu cho công nghiệp và xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập, ổn định đời sống cho đa số nhân dân Nông thôn là môi trường sống, nơi bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống văn hóa dân tộc

Trang 19

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đóng vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội Qua các thời kỳ cách mạng, giai cấp nông dân luôn là lực lượng hung hậu nhất đi theo Đảng, là nền tảng chính trị của cách mạng, đóng góp sức người, sức của cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc

Phát triển nông nghiệp, nông thôn, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân là nhiệm vụ chiến lược, là cơ sở góp phần đảm bảo ổn định chính trị -xã hội, phát triển đất nước hài hòa và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều cơ hội cũng như những thách thức mới Đảng cần phải xem xét đánh giá đúng tình hình và có những quyết sách mạnh mẽ giải quyết kịp thời những vấn đề đang đặt ra

Để thực hiện tốt Nghị quyết của Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam, sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển cần thực hiện chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn để chuyển từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Trong tiến trình đổi mới, trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam đã hình thành và hoàn thiện mô hình sản xuất mới, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Nhiều mô hình tổ chức sản xuất và quản lý mới theo hướng hàng hóa trong nông nghiệp đã hình thành các doanh nghiệp nông nghiệp phát triển theo hướng đa thành phần: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Ruộng đất được giao cho hộ nông dân, hộ công dân nông trường được sử dụng lâu dài theo Luật đất đai Kinh tế nông hộ và trang trại gia đình lấy sản xuất hàng hóa làm mục tiêu phát triển mạnh Khoa học kỹ thuật phục vụ nông nghiệp đã đáp ứng khá đầy đủ các yêu cầu của nền nông nghiệp hàng hóa xuất khẩu Công nghệ sinh học, tưới tiêu, làm đất, phân bón, bảo quản sau thu hoạch ngày càng tiến bộ Năng suất lúa của Việt Nam những năm gần đây đã gấp 2 lần của Thái Lan, Philiphin và Indonesia

Trang 20

Như vậy, Nghị quyết của Đảng đã đi vào đời sống thực tiễn và làm thay đổi thực tiễn Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

đã tạo ra bước chuyển từ nền sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, thuần nông năng xuất thấp sang nền sản xuất đa ngành, đa canh theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất trong nông nghiệp đã thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế quốc dân và cơ cấu lao động trong cả nước

Vì vậy để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn định hướng xã hội chủ nghĩa thì Đảng và nhà nước đã đưa ra những quan điểm sau:

Quan điểm phát triển toàn diện và tăng trưởng bền vững

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải dựa trên quan điểm phát triển toàn diện và tăng trưởng bền vững vì chỉ có như vậy mới khắc phục được những bất cập về tính thuần nông trong cơ cấu kinh tế nông thôn, tính độc canh trong sản xuất nông nghiệp Nội dung quan điểm này chú trọng phát triển ngành nghề dịch vụ phi công nghiệp, thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi gắn với chuyên môn hóa và thâm canh cao Tăng trưởng bền vững gắn phát triển sản xuất toàn diện với tốc độ cao nhưng bảo đảm cân bằng môi trường sinh thái, khắc phục tình trạng chạy theo tốc độ phát triển nhanh trên cơ sở khai thác tài nguyên môi trường, nhất là trường đất, nước, rừng, biển, gắn tăng trưởng kinh

tế với ổn định xã hội nông thôn

Quan điểm kinh tế hàng hóa gắn với thị trường

Phát triển kinh tế nông thôn gắn liền với nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững nhất thiết phải dựa trên cơ sở kinh tế hàng hóa gắn với thị trường Chỉ có như vậy khắc phục được xu hướng tự phát, tự cung, tự cấp, phân tán nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp và nông thôn hiện nay Quan điểm sản xuất hàng hóa đặt ra yêu cầu sản xuất sản phẩm nào, số lượng bao nhiêu, chất lượng và chủng loại bao nhiêu phải do thị trường quyết định, không phải do khả năng đất đai, lao động, khí hậu, kinh nghiệm người sản xuất quyết định Trồng cây gì, nuôi con gì, sản phẩm công nghiệp và dịch vụ nông thôn như thế nào, xu hướng chuyển đổi cơ cấu

Trang 21

sản xuất và cơ cấu lao động ra sao, phải xuất phát từ yêu cầu thị trường Quan điểm này sẽ khắc phục xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tự phát một trong những bất cập lớn nhất của nước ta hiện nay

Quan điểm hiệu quả kinh tế và xã hội

Một cơ cấu kinh tế hợp lý tất yếu phải đạt hiệu quả kinh tế và xã hội cao trong nông thôn và nông nghiệp cũng vậy Sản xuất hàng hóa trong cơ chế thị trường chỉ tồn tại khi được sản phẩm có tính cạnh tranh cao và khi đó tất yếu sẽ đạt hiệu quả kinh tế

và xã hội cao Tuy nhiên hiệu quả cao được đo lường bằng các chỉ tiêu giá trị tổng hợp,

cả kinh tế và xã hội Quan điểm này sẽ là định hướng cho các giải pháp khắc phục những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hiện nay, nhất là mâu thuẫn giữa tăng trưởng kinh tế với lao động dư thừa ở nông thôn khi thực hiện cơ giới hóa, điện khí hóa nông nghiệp, tự động hóa trong sản xuất ngành nghề thủ công nghiệp

Quan điểm kinh tế mở và hội nhập với kinh tế quốc tế

Nội dung của quan điểm này là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta Hiện nay phải phù hợp với xu hướng hội nhập và mở cửa với thế giới và khu vực Nội dung này cũng nhằm khắc phục xu hướng khép kín, cát cứ, cục bộ, địa phương, tự cung

tự cấp lương thực, thực phẩm bằng mọi giá đã và đang diễn ra ở một số ngành và địa phương Quan điểm trên còn là cơ sở để hình thành các giải pháp xây dựng cơ cấu kinh

tế nông nghiệp, nông thôn hợp lý, có tính khả thi để hội nhập với kinh tế khu vực (khu vực châu Á –Thái Bình Dương, ASEAN, EU…) và quốc tế (WTO) trong những năm tới, sự chuyển dịch cơ cấu sản phẩm và lao động nông nghiệp, nông thôn nước ta phải hòa nhập với xu thế của thị trường nông sản thế giới và khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế

Quan điểm công bằng xã hội

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thế kỷ XXI ở nước ta không chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh vững chắc và toàn diện mà còn đảm bảo ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân nói chung, khu vực nông thôn nói riêng Vì vậy, cùng với phát triển công nghiệp và

Trang 22

dịch vụ ở nông thôn, phát triển nông nghiệp hàng hóa, phải gắn với mục tiêu xóa đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ở nông thôn, giữa nông thôn va thành thị

Đó là nội dung cơ bản của công bằng xã hội, là tiền đề các giải pháp có liên quan Phù hợp với mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta thời kỳ công nghiệp hóa –hiện đại hóa

Quan điểm kết hợp truyền thống và hiện đại

Nội dung quan điểm này là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta hiện nay, một mặt phải kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, bao gồm cả ngành nghề truyền thống ở nông thôn, nông nghiệp lúa nước, kinh nghiệm thâm canh cây trồng vật nuôi, giống cây đặc sản… Mặt khác phải tiếp cận với xu thế hiện đại của thế giới và khu vực, thực hiện phương châm “đi tắt đón đầu”, nhanh chóng ứng dụng những tiến bộ của khoa học kỹ thuật và quy trình công nghệ tiên tiến vào phát triển nông nghiệp, nông thôn Giải pháp khoa học công nghệ để khắc phục những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông thôn nước ta hiện nay nhất thiết phải dựa trên quan điểm này Khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, giống lúa đặc sản, giống chè thơm ngon… ở các vùng bằng công nghệ hiện đại, máy móc, thiết bị tiên tiến là một thiết bị cụ thể Một cơ cấu ngành nghề và cây trồng vật nuôi hợp lý, tiến bộ trong nông nghiệp và nông thôn nước ta hiện nay là sản phẩm của sự kết hợp hài hòa giữ truyền thống và hiện đại

Quan điểm cơ cấu kinh tế gắn với lao động nông thôn

Bất cập lớn nhất và cũng là trở ngại của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, là lao động nông thôn dư thừa quá nhiều, nhưng lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn phát triển chậm chưa có khả năng thu hút nhiều lao động dư thừa từ nông nghiệp Vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp nước ta hiện nay phải gắn với mục tiêu tăng trưởng kinh tế với phân công lao động nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp ở lĩnh vực này Đó cũng là quan điểm kết hợp kinh tế và xã hội, đảm bảo sự phát triển kinh tế nông thôn bền vững, ổn định trong đó cơ cấu lao động nông

Trang 23

thôn được điều chỉnh hợp lý Cơ cấu kinh tế gắn với cơ cấu lao động nông thôn là phương hướng lâu dài của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nước ta

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nông nghiệp gắn với quy hoạch, chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân cả nước

Nội dung của quan điểm này là sự gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn với cơ cấu kinh tế quốc dân, cả về mục tiêu, phương hướng và giải pháp Kinh tế nông thôn là một bộ phận của kinh tế quốc dân nói chung và do đó sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn phải gắn kết với chiến lược và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc dân và phân công lao động xã hội theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa Yêu cầu của quan điểm này là các giải pháp về quy hoạch, kế hoạch và đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn phải xuất phát từ quy hoạch tổng thể và chiến lược phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng cho cả nước

Quan điểm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, gắn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng cơ cấu hạ tầng nông thôn

Nội dung của quan điểm này là sự gắn kết giữa cơ cấu kinh tế nông thôn với công nghiệp hóa, đô thị hóa và cơ cấu hạ tầng nông thôn Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải phù hợp với xu hướng và tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa

và kết cấu hạ tầng nông thôn trong từng giai đoạn Mối tương quan này xuất phát từ thực tế nước ta và công nghiệp các nước công nghiệp hóa, đô thị hóa và xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vừa tạo ra điều kiện vật chất, kỹ thuật để phát triển kinh tế xã hội nông thôn, vừa thu hút lao động dư thừa khu vực này trong qúa trình công nghiệp hóa –hiện đại hóa Từ mối quan hệ đó, giải pháp cho vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn phải gắn chặt chẽ với các chính sách kinh tế -tài chính, nhất là đầu tư, cho vay, phí và lệ phí trong nông thôn và nông nghiệp

Quan điểm phát triển một nền nông nghiệp sinh thái, một nền nông –lâm –ngư nghiệp hàng hóa có năng suất và chất lượng cao

Phát triển có hiệu quả sản xuất lương thực bằng thâm canh tăng năng xuất lao động, áp dụng thành tựu khoa hoc và công nghệ, thực hiện thủy lợi hóa, điện khí hóa,

Trang 24

cơ giới hóa, sinh học hóa… xây dựng một nền nông nghiệp lớn hiện đại, kết hợp một cách hợp lý yêu cầu về những vùng chuyên canh tập trung bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến với yêu cầu một nền nông nghiệp hữu cơ sạch, trên cơ sở phát triển mô hình VAC truyền thống

Phát triển các vùng chuyên canh, đa dạng hóa sự kết hợp giữa nông –lâm –ngư nghiệp, tận dụng hiệu quả đất đai, khí hậu, sức lao động và vốn của nông dân, ngư dân

và lâm dân; làm cho đất đai, sông nước, rừng núi đều có chủ và được khai thác hợp lý nhất, đem lại hiệu quả cao về sản xuất và đời sống

Phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có sức mạnh cạnh tranh cao, sản xuất cho thị trường, vươn ra thị trường nước ngoài Sản xuất hàng hóa sẽ làm tăng thêm chất lượng sản phẩm, ứng dụng được công nghệ sinh học, và do đó tận thu được giá trị nông sản, tăng thu nhập cho nông dân chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn đòi hỏi phải gắn liền với sự phát triển toàn diện về kinh tê –văn hóa –xã hội

Quan điểm tăng dần tỉ trọng ngành nghề và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế nông thôn

Thu nhập của nông dân nước ta chủ yếu vẫn từ nông nghiệp Như vậy tính chất thuần nông đang con rất nặng nề, phát triển được ngành nghề và dịch vụ chẳng những khai thác hết sức lao động dư thừa mà quan trọng hơn là nông dân sẽ làm quen dần với môi trường sản xuất hàng hóa Thực tế nhiều vùng nông thôn cho thấy rằng, ở đâu phát triển được ngành nghề và dịch vụ thì ở đó thường tiến tới giàu có nhanh hơn Vấn đề đặt ra hiện nay là, nhà nước phải đầu tư để phát triển kết cấu hạ tầng và thị trường nông thôn, hỗ trợ cho việc phát triển ngành nghề và dịch vụ

Để phát triển kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa lớn cần đẩy mạnh sự phân công lao động xã hội trong nông thôn, phát triển mạnh mẽ các ngành nghề truyền thống, xây dựng những cơ sở công nghiệp nông thôn

Công nghiệp nông thôn là một bộ phận của công nghiệp nói chung với nhiều trình độ công nghệ khác nhau, gắn chặt với sự phát triển của nông nghiệp và việc phân

Trang 25

công lao động xã hội mới ở nông thôn, chuyển tại chỗ một bộ phận lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp [6]

Trang 26

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG THÔN CỦA TỈNH

BẠC LIÊU 2.1 Tìm hiểu khái quát về tỉnh Bạc Liêu

2.1.1 Địa giới hành chính

Trang 27

Bạc Liêu là một tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau Tỉnh có chung địa giới với tỉnh Hậu Giang, Kiên Giang ở phía Tây Bắc, Sóc Trăng ở phía Đông Bắc, Cà Mau ở phía Tây Nam, phía Đông Nam giáp biển Đông Bạc Liêu có bờ biển dài 56Km nối các biển như Gành Hào, Nhà Mát, Cái Cùng Diện tích tự nhiên 2.525,7 km2 (số liệu năm 2003) Đơn vị hành chính Bạc Liêu có 6 huyện: Hòa Bình, Vĩnh Lợi, Hồng Dân, Giá Rai, Phước Long, Đông Hải và thị xã Bạc Liêu –trung tâm hành chính của tỉnh

Bạc Liêu có địa hình tương đối bằng phẳng, chủ yếu nằm ở độ cao trên dưới 1,2 m so với mặt biển, còn lại là những giồng cát và một số khu vực trùng ngập nước quanh năm Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều kênh rạch lớn như: kênh Quản Lộ -Phụng Hiệp, Cạnh Đền, Phó Sinh, Giá Rai

2.1.2 Địa Lý

Tỉnh Bạc Liêu nằm trong vùng tọa độ từ 9000’’ đến 9038’’9’’’ vĩ Bắc và từ

105051’’54’’’ kinh Đông; Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Hậu Giang, tỉnh Kiên Giang; Đông

và Bắc giáp với tỉnh Sóc Trăng; Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau; Đông và Đông Nam giáp biển Đông với bờ Biển dài 56 km

Bạc Liêu có biển Gành Hào, Cái Cùng, Chùa Phật, Nhà Mát:Huyện kệlà điều kiện thuận lợi để giao thương, trung chuyển hàng hóa ra tỉnh –Quốc lộ 1A chạy qua địa hình tỉnh từ Đông sang Tây, nối thị xã Bạc Liêu với Thành phố Cà Mau Tuyến đường Cao Văn Lầu dài 8 km nối Quốc lộ 1A với bờ biển, cùng nhiều tuyến đường xương cá nối Quốc lộ 1A với các nơi khác trong tỉnh, thuận tiện giao thông vận tải

Địa hình: Bạc Liêu nằm trong vùng đất mới của Đồng Bằng Sông Cửu Long,

đó là vùng đồng bằng rìa châu thổ Địa hình tương đối bằng phẳng, cao trung bình 0,3 0,5m Địa hình có xu hướng dốc từ bờ biển vào nội đồng, từ Đông Bắc xuống Tây Nam Độ dốc trung bình toàn tỉnh từ 1- 1,5cm/km chia thành hai khu vực rõ rệt Khu vực phía Nam Quốc lộ 1A có địa hình với những cát biển không liên tục, cao trung bình 0,4 -0,8m, hướng nghiêng, thấp dần vào nội địa Khu vực phía Bắc Quốc lộ 1A là vùng trũng của tỉnh, cao trung bình từ 0,2 -0,3m so với mực nước biển kiểu địa hình

Trang 28

-này thuận lợi cho việc đưa nước biển vào nội đồng phục vụ nuôi trồng thủy sản, song cũng tạo thành các vùng trũng cục bộ, đặc biệt là các huyện Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai Bờ biển Bạc Liêu có những bãi bồi rộng Hàng năm tiến dần ra biển với hàng nghìn ha rừng phòng hộ Đây là môi trường thuận lợi để nuôi trồng các loài thủy hải sản có giá trị kinh tế cao như: nghiêu, sò, thềm lục địa của tỉnh có tiềm năng dầu và khí

tự nhiên

Khí hậu: Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ

rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 -2.300mm Nhiệt độ trung bình 260C, cao nhất 31,50C, thấp nhất 22,50C Số giờ nắng trong năm 2.300 giờ, lượng bức xạ trung bình khoảng 2.410 Kcal/cm2 Độ ẩm trung bình mùa khô 80% và mùa mưa là 85%

Tỉnh nằm ở vĩ độ thấp nên ít chịu ảnh hưởng của bảo và áp thấp nhiệt đới, không chịu ảnh hưởng trực tiếp của lũ lụt từ hệ thống sông Cửu Long Tuy nhiên, những năm trở lại đây, do biến đổi khí hậu, nhiều cơn bảo lớn đã quét qua địa bàn tỉnh, gây thiệt hại nặng nề như: cơn bảo số 5 năm 1997 và cơn bảo số 4 năm 2004 Nhìn chung khí hậu Bạc Liêu khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là trồng lúa

và nuôi trồng thủy sản Tuy nhiên, việc nuôi trồng thủy sản trong những năm qua đã gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái tại đây

Thủy văn: tỉnh có nhiều kênh gạch chằng chịt như: kênh Quản Lộ, kênh Canh

Điền, kênh Phước Long, kênh Phụng Hiệp, kênh sáng Cà Mau; nguồn nước cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của tỉnh là nước mặn và nước ngầm

Nước mặt: tỉnh có các con kênh dẫn nước ngọt từ song Hậu về, cung cấp chủ yếu cho sinh hoạt và sản xuất ở khu vực phía Bắc Quốc lộ 1A

Nước ngầm: thị xã Bạc Liêu và các huyện phía Nam Quốc lộ 1A chủ yếu sử dụng nước ngầm trong sinh hoạt và sản xuất Theo đánh giá của các nhà khoa học, Bạc Liêu có trữ lượng nước ngầm khá lớn Hiện tại, tỉnh đang khai thác sử dụng ở độ sâu từ

80 -100m Đây là tầng nước dễ bị nhiễm phèn, cần được quan tâm bảo vệ

Trang 29

Chế độ thủy văn của tỉnh chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều biển Đông và một phần bán nhật triều biển Tây Do đó, phần phía Bắc Quốc lộ 1A có điều kiện nuôi thủy sản, làm muối, phát triển rừng gặp mặn Hiện nay, nguồn nước mặn và nước ngầm của bạc Liêu đang có nguy cơ bị ô nhiễm do nuôi trồng thủy sản quá mức và sủ dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp Tỉnh cần có quy hoạch sử dụng hợp lý các nguồn nước, hình thành các hệ thống cấp thoát nước, tránh để nước thải chưa sử lý lan ra gây

ô nhiễm môi trường

2.1.3 Dân cư

Quy mô và sự phân bố: Bạc Liêu là tỉnh có quy mô dân số nhỏ, đứng thứ 12 trong số 13 tỉnh thành vùng Đồng bằng song Cửu Long Theo thông tin từ tổng cục thông kê, dân số bạc Liêu năm 2008 là 829,300 người, cao hơn tỉnh Hậu Giang, dân số tăng dần qua các năm Theo tài liệu cũ, vào năm 1910, dân số Bạc Liêu là 87.400 người Sau 20 năm, vào năm 1930 dân số tỉnh là 231.000 người, tăng gấp 2,64 lần Năm 1970, dân số Bạc Liêu là 293.000 người Sau 30 năm, vào năm 2000 dân số tỉnh

là 745.200 người, tăng gấp 2,5 lần so với năm 1970 Năm 2004, dân số Bạc Liêu là 793.500 người, năm 2008 là 829.300 người tăng gấp 1,045 lần so với năm 2004 [7]

Bạc Liêu là tỉnh nhỏ, diện tích hẹp, dân số thấp Theo thông tin từ tổng cục thống kê, mật độ dân số của tỉnh năm 2008 là 321 người/km2, đúng thứ 10 ở khu vực Đồng bằng song Cửu Long, cao hơn các tỉnh Long An, Kiên Giang và Cà Mau Dân cư Bạc Liêu phân bố không điều giữa các huyện và thị xã Theo số thống kê năm 2004, thị

xã Bạc Liêu có mật độ dân số 796 người/km2, cao gấp 2,5 lần mật độ dân số bình quân toàn tỉnh và 3,26 lần mật độ dân số của huyện Đông Hải Trong các huyện Giá Rai và Vĩnh Lợi có mật độ dân số cao nhất, thấp nhất là huyện Hồng Dân Theo số liệu của ban chỉ đạo điều tra dân số và nhà ở tỉnh Bạc Liêu năm 2009 dân số thành thị của tỉnh

là 227.764 người, chiếm 26,6% dân số toàn tỉnh [7]

Cơ cấu dân số

Xét theo độ tuổi, Bạc Liêu là tỉnh có dân số trẻ Năm 1999, số người trong

độ tuổi dưới 15 chiếm 33,9%, từ 15 -59 chiếm 59,8%, từ 60 tuổi trở lên chiếm 6,3%

Trang 30

So với các khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì Bạc Liêu có tỷ lệ người dưới và trong đột tuổi lao động cao hơn, tỷ lệ người trên độ tuổi lao động thấp hơn so với mức trung bình của cả nước, Bạc Liêu có tỷ lệ người dưới và trên độ tuổi lao động cao hơn,

tỷ lệ người trong độ tuổi lao động thấp hơn

Xét về giới tính, dân số Bạc Liêu thiên về nữ giới Năm 2003, nữ chiếm 51,3% dân số tỉnh, nam giới chiếm 48,7% Năm 2008 nữ giới chiếm 51,27% dân số cả tỉnh, nam giới chiếm 48,73% Sau 5 năm, khoảng cách chênh lệch dân số nữ rút ngắn không đáng kể

Về dân tộc: trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu có nhiều dân tộc cư trú, trong đó người Kinh chiếm 89,5%, người Hoa chiếm 2,5%, người Khmer chiếm 7,9%, còn lại là các dân tộc khác (Số liệu thống kê năm 2003)

2.1.4 Kinh tế

Mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng tình hình kinh tế tỉnh Bạc Liêu tiếp tục duy trì ổn định và phát triển Trong đó tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 9,826 tỷ đồng, tăng 12% so với năm 2010 Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2011 đạt gần 25 triệu đồng (tương đương 1.123 USD), cơ cấu kinh tế gồm khu vực nông nghiệp chiếm 51,7%, công nghiệp xây dựng chiếm 24,52% và dịch vụ chiếm 23,8% trong GDP Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2011 thực hiện 5.600 tỷ đồng, chiếm khoảng 25,8% GDP Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 9.958 tỷ đồng, tăng 7,8%

so với cùng kỳ, sản lượng lương thực 900 ngàn tấn, sản lượng thủy sản khai thác và môi trường cả năm lên trên 250 ngàn tấn, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh lên đến 4.356 tỷ đồng Kim ngạch xuất khẩu thực hiện 260 triệu USD, chỉ số giá cả năm tăng 16,5%, tổng mức lưu chuyển hàng hóa đạt 18.060 tỷ đồng Doanh thu du lịch đạt gần

470 tỷ đồng, với khoảng 530 ngàn lượt du khách (trong đó khoảng 17.000 lượt khách quốc tế) Tổng thu ngân sách trên địa bàn thực hiện 1.484 tỷ đồng trong đó, thu trong cân đối 871 tỷ đồng Tổng chi ngân sách địa phương trong cân đối đạt 2.490 tỷ đồng, bằng 106,9% dự toán, bằng 97,9% so với năm 2010

Trang 31

Trong năm 2011 có 78% rác thải đô thị được thu gom, 94% hộ dân sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh, trong đó khu vực nông thôn là 54% Hoạt động quản lý khoa học kỹ thuật được chuyển biến tốt, chất lượng thẩm định các đề tài khoa học từng bước được nâng lên, nhiều đề tài, dự án đã đưa vào ứng dụng mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, góp phần nâng cao năng suất lao động trên nhiều lĩnh vực và cải thiện đời sống người dân

Trong giai đoạn 6 tháng đầu năm 2012 Tuy có ảnh hưởng của suy thoái kinh

tế thế giới và những khó khăn trong nước, nhưng tình hình kinh tế -xã hội tiếp tục có những chuyển biến tích cực Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt 3.626 tỷ đồng (theo giá so sánh 1994) tăng 11,87% so với cùng kỳ Trong đó khu vực nông nghiệp tăng 8,96%, công nghiệp –xây dựng tăng 13,95% và dịch vụ tăng 14,15% so với cùng kỳ

Tháng 12 năm 2012, thực hiện theo nghị quyết số 01/NQ –CP ngày 03 tháng

01 năm 2012 Do đó, sản xuất nông nghiệp về diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch đều tăng trưởng so với cùng kỳ, công tác phòng trừ sâu hại và dịch bệnh được triển khai thực hiện tốt, nhờ thực hiện tốt kiểm soát, kiểm dịch nên chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển tốt và tăng so với cùng kỳ, giá trị sản xuất công nghiệp trong 12 tháng tăng 15,5% so với cùng kỳ Tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu tăng 20,3% so với cùng kỳ, tổng nguồn vốn đầu tư cho xây dựng tăng 17% so với cùng kỳ Về tài chính, mặc dù đang trong giai đoạn thực hiện nghị quyết số 13/NQ –CP của chính phủ về tháo

gỡ khó khăn cho doanh nghiệp nên nguồn thu trong cân đối tăng chậm, tổng thu trong cân đối ngân sách tăng 19% so với cùng kỳ, thu quản lý qua thu ngân sách trên địa bàn tỉnh tăng 16,7% so với cùng kỳ

2.1.5 Xã hội

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Bạc Liêu đạt gần 873.300 người, mật độ dân số đạt 354 người/Km2 Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 234.700 người, dân số tại nông thôn đạt 638.600 người Dân số nam đạt 434.500 người, trong khi đó

nữ đạt 438.800 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 10,1%

Trang 32

Hệ thống giáo dục của tỉnh Bạc Liêu có nhiều cấp học, bao gồm giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp Theo thống kê đến ngày 30 tháng

09 năm 2007, Bạc Liêu có 234 trường học ở các cấp phổ thông, thấp nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Năm 2009 100% xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh có phòng học kiên cố Trong đó có 64 trường mầm non, 154 trường tiểu học, 67 trường trung học cơ sở, có 85 trường trung học, chỉ tiêu phổ cập đúng độ tuổi và THCS đều đạt và vượt tiêu chuẩn do bộ giáo dục và đào tạo quy định: 96,93% đối tượng tốt nghiệp lớp 9; 81,35% đối tượng từ 15 -18 tuổi có bằng tốt nghiệp THCS, trẻ em 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,10%, trẻ em 11 -14 tuổi tốt nghiệp tiểu học đạt 90,79% 31/61 xã phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi [7]

Tạo việc làm và giải quyết việc làm mới hàng năm cho người lao động là 86.000 lượt người, trong đó lao động nữ là 45%, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo bằng các hình thức từ 35 -42% Tỷ lệ hộ nghèo giảm 6%/năm, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 10%, tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch 90%, tỷ lệ hộ dân được sử dụng điện là 97%.[1]

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu

2.2.1 Thành tựu phát triển kinh tế nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu

2.2.1.1 Trong lĩnh lực nông nghiệp- lâm nghiệp- ngư nghiệp

* Trong lĩnh vực nông nghiệp:

Theo tổng niêm giám thống kê năm 2011 về kinh tế của tỉnh Bạc Liêu giai đoạn năm 2008 đến năm 2011 thì kinh tế nông thôn của tỉnh có những thành tựu sau:

- Đối với trồng trọt: Ta tìm hiểu thành tựu trong một số năm về giá trị sản xuất trong ngành trồng trọt thì ta thấy liên tục tăng như năm 2008 là 6.218 tỷ đồng, đến năm

2009 là 6.320 tỷ đồng so với năm 2008 là 102 tỷ đồng, năm 2010 là 7.832 tỷ đồng năm

2011 là 7.986 tỷ đồng tăng so với năm 2010 là 154 tỷ đồng

+ Về cây lương thực thì giá trị sản xuất cũng tăng liên tục năm 2008 là 2.836

tỷ đồng, năm 2009 là 3.122 tỷ đồng tăng 286 tỷ đồng, năm 2010 là 3.356 tỷ đồng tăng

234 tỷ đồng, năm 2011 là 3.676 tỷ đồng tăng 320 tỷ đồng

Trang 33

Trong đó cây lúa: đối với cây lúa đông xuân thì năng xuất năm 2008 là 86,12 tạ/ha, năm 2009 là 87,86 tạ/ha tăng 1,74 tạ/ha, năm 2010 là 88 tạ/hâ tăng 0,14 tạ/ha Đối với lúa hè thu thì lại tăng không đồng đều, năm 2008 là 76,36 tạ/ha, năm 2009 giảm xuống nhưng đến năm 2010 thì lại tăng và đạt được 78,96 tạ/ha tăng so với năm

2008 và năm 2009 Đối với lúa Thu Đông năng suất tăng nhưng không đáng kể, năm

2008 là 40,62 tạ/ha, năm 2009 là 41,86 tạ/ha tăng 1,24 tạ/ha, năm 2010 là 42,76 tạ/ha tăng 0,9 tạ/ha

Đối với cây bắp thì cũng tiếp tục tăng về năng suất, ta so sánh sự gia tăng năng suất so với năm 2008 là 86 tạ/ha, năm 2009 là 89 tạ/ha tăng 3 tạ/ha, năm 2010 là 90 tạ/ha năm 2011 là 91,2 tạ/ha Sản lượng cây bắp đạt được năm 2008 là 1.470 tấn, năm

2009 là 1.481 tấn, năm 2010 là 1.581 tấn, năm 2001 là 1.590 tấn

Đối với cây có hạt thì năng suất cũng tăng nhưng tăng không liên tục: năm

2008 là 420,81 tạ/ha, năm 2009 là 422,02 tạ/ha, năm 2010 là 433,06 tạ/ha tăng so với năm 2009, năm 2011 là 443,91 tạ/ha tăng 10,85 tạ/ha so với năm 2010

+ Cây thực phẩm: các loại cây thực phẩm Bạc Liêu năng suất tăng qua các năm, năm 2008 là 548,81 tạ/ha, năm 2009 là 549,86 tạ/ha, năm 2010 là 549,96 tạ/ha, năm 2011 là 561,06 tạ/ha tăng 11,1 so với năm 2010

Diện tích rau đậu các loại cũng liên tục tăng năm 2008 là 18,609 ha, năm 2009

là 19,610 ha, năm 2010 là 22,791 ha, năm 2011 là 23,574 ha

Sản lượng rau các loại cũng tăng nhanh, năm 2008 là 345.927 tấn, năm 2009

là 486.698 tấn, năm 2010 là 456.138 tấn, năm 2011 là 496.121 tấn

+ Cây công nghiệp hàng năm:

Cây công nghiệp hàng năm của tỉnh Bạc Liêu tăng nhanh và được trồng ở nhiều nơi Về giá trị sản xuất, sản lượng và năng xuất tăng nhanh mang lại nhiều hiệu quả cho người dân Bạc Liêu và đã góp phần vào phát triển kinh tế ở tỉnh Bạc Liêu, về giá trị sản xuất cây công nghiệp hàng năm tăng nhanh Cụ thể như năm 2008 là 365.544 triệu đồng tăng 2,41 triệu đồng, năm 2010 là 380.653 triệu đồng

Trang 34

Về diện tích cây công nghiệp hàng năm cũng tăng nhưng tăng chậm, năm

2008 là 12.585 ha, năm 2009 là 12,675 ha, năm 2010 là 13,650 ha Trong đó cây mía tăng nhanh cụ thể là năm 2008 là 22,388 ha, năm 2009 là 22,968 ha, năm 2010 là 23,678 ha, năm 2011 là 23,067 ha

Về sản lượng, đối với cây mía thì sản lượng tiếp tục tăng, năm 2008 là 423.86 tấn, năm 2009 là 453.87 tấn, năm 2010 là 463.09 tấn, năm 2011 là 464.53 tấn

+ Cây công nghiệp lâu năm:

Về giá trị kinh tế cây công nghiệp lâu năm mang lại nhiều hiệu quả kinh tế cao cho tỉnh Bạc Liêu và đem lại cho người dân thu được nhiều lợi nhuận và góp phần cho cuộc sống người dân được tốt hơn Cụ thể năm 2008 là 264.942 triệu đồng, năm 2009

là 274.864 triệu đồng tăng 9.922 triệu đồng so với năm 2008, năm 2010 là 283.333 triệu đồng tăng 8.469 triệu đồng so với năm 2009, năm 2011 là 296.323 triệu đồng

Về diện tích: thì diện tích cây công nghiệp lâu năm của tỉnh Bạc Liêu tiếp tục tăng, năm 2008 là 21,762 ha, năm 2009 là 22,156 ha, năm 2010 là 22,756 ha Đó là diện tích chung đối với cây công nghiệp lâu năm, còn riêng đối với từng loại cây thì diện tích tăng như sau:

Đối với cây dừa: năm 2008 là 21,568 ha, năm 2009 là 21,798 ha, năm 2010 là 22,068 ha, năm 2011 là 22,568 ha

Đối với cây ca cao: năm 2008 là 846,3 ha, năm 2009 là 868,9 ha, năm 2010 là 870,8 ha, năm 2011 là 896,0 ha

Về năng suất: với hai loại cây công nghiệp được trồng ở tỉnh Bạc Liêu thì năng suất của hai loại cây đó đều tăng Cụ thể là:

Thứ nhất là cây Dừa: năm 2008 là 244,06 tạ/ha, năm 2009 là 256,89 tạ/ha, năm 2010 là 260,90 tạ/ha, năm 2011 là 278,06 tạ/ha

Thứ hai đó là cây Ca Cao: năm 2008 là 368,90 tạ/ha, năm 2009 là 378,06 tạ/ha, năm 2010 là 387,30 tạ/ha, năm 2011 là 391,07 tạ/ha

Về sản lượng cũng tiếp tục tăng đã góp phần cho đời sống của người dân thêm phần nào tốt hơn và sản lượng đạt được cụ thể là:

Trang 35

Thứ nhất là cây Dừa: năm 2008 là 218,368 tấn, năm 2009 là 221,768 tấn, năm

2010 là 231,726 tấn, năm 2011 là 251,389 tấn

Thứ hai đó là cây Ca Cao có sản lượng đạt cụ thể: năm 2008 là 22,86 tấn, năm

2009 là 23,96 tấn, năm 2010 là 24,89 tấn, năm 2011 là 24,99 tấn

+ Cây ăn quả:

Đối với cây ăn quả thì giá trị sản xuất cũng tiếp tục tăng, ta có thể thấy rõ qua các năm cụ thể: năm 2008 là 692.600 triệu đồng, năm 2009 là 711.301 triệu đồng tăng 18,701 triệu đồng so với năm 2008, năm 2010 là 721.368 triệu đồng, năm 2011 là 731.361 triệu đồng tăng 9,993 triệu đồng

Đối với cây Chuối: năm 2008 là 320,36 ha, năm 2009 là 326,36 ha, năm 2010

là 330,06 ha

Đối với cây Nhãn: năm 2008 là 720,38 ha, năm 2009 là 726,86 ha, năm 2010

là 730,86 ha, năm 2011 là 764,84 ha

Đối với cây Chôm Chôm: năm 2008 là 568,86 ha, năm 2009 là 578,06 ha, năm

2010 là 579,86 ha, năm 2001 là 581,07 ha

Diện tích cây Xoài cũng tăng nhanh ở Bạc Liêu: năm 2008 là 22,867 ha, năm

2009 là 23,879 ha, năm 2010 là 24,869 ha, năm 2011 là 24,968 ha

Trong đó cây có múi: cam, quýt, chanh… năm 2008 là 4,168 ha, năm 2009 là 4,216 ha, năm 2010 là4,381 ha, năm 2011 là 4,441 ha

Trang 36

- Đối với chăn nuôi:

Với ngành chăn nuôi đem lại cho tỉnh Bạc Liêu nhiều hiệu quả cao, đẩy mạnh

và phát triển nhanh về chăn nuôi ở tỉnh đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân ở tỉnh Bạc Liêu, giá trị ngành chăn nuôi đem lại cho tỉnh cũng tăng nhanh qua các năm

Ta so sánh sự gia tăng giá trị của ngành chăn nuôi qua các năm như sau: năm 2008 là 891,584 triệu đồng, năm 2009 là 896,548 triệu đồng tăng 4,964 triệu đồng so với năm

2008, năm 2010 là 897,688 triệu đồng tăng 1,14 triệu đồng, năm 2011 là 897,798 triệu đồng tăng 0,11 triệu đồng so với năm 2010

Trong chăn nuôi gia súc của tỉnh cũng tăng rất nhanh: năm 2008 là 507,756 triệu đồng, năm 2009 là 517,396 triệu đồng tăng 9,64% so với năm 2008, năm 2010 là 521,116 triệu đồng, năm 2011 là 524,216 triệu đồng tăng 3,1 triệu đồng so với năm

2010

Đối với sản lượng sản phẩm của ngành chăn nuôi thì:

Thứ nhất là đàn heo thì sản lượng của tỉnh Bạc Liêu tăng nhanh: năm 2008 là 64,265 tấn, năm 2009 là 65,275 tấn, năm 2010 là 66,433 tấn, năm 2011 là 66,456 tấn

Sản lượng bò cũng tăng nhanh: năm 2008 là 12,349 tấn, năm 2009 là 12,459 tấn, năm 2010 là 13,116 tấn, năm 2011 là 13,261 tấn

Sản lượng đàn trâu ở tỉnh cũng tăng nhanh: năm 2008 là 8,956 tấn, năm 2009

là 8,978 tấn, năm 2010 là 9,687 tấn, năm 2011 là 9,789 tấn

Đối với đàn heo thì sản lượng tăng: năm 2008 là 614,808 con, năm 2009 là 28,161 con, năm 2010 là 631,216 con, năm 2011 là 641,838 con

Đối với huyện Giá Rai: năm 2008 là 54,368 con, năm 2009 là 54,968 con, năm

2010 là 55,116 con, năm 2011 là 55,216 con

Đối với huyện Phước Long: năm 2008 là 43,116 con, năm 2009 là 43,216 con, năm 2010 là 44,217 con, năm 2011 là 44,980 con

Đối với huyện Vĩnh Lợi: năm 2008 là 33,868 con, năm 2009 là 33,896 con, năm 2010 là 34,116 con, năm 2011 là 34,234 con

Trang 37

Đối với huyện Hòa Bình: năm 2008 là 36,234 con, năm 2009 là 37,342 con, năm 2010 là 37,568 con, năm 2011 là 7,678 con [7]

* Trong lĩnh vực Lâm nghiệp:

Trong lĩnh vực lâm nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Bạc Liêu Trước năm 1997 ngành chỉ độc canh cây lúa, vì vậy chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, sau khi tái lập tỉnh, ngành đã chuyển đổi cơ cấu sang sản xuất luân canh,

đa cây đa con trên cùng một diện tích Trong nội bộ ngành cũng có sự chuyển dịch cơ cấu rõ rệt, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp tăng dần tỷ trọng lâm nghiệp

Tỉnh Bạc Liêu có diện tích rừng phòng hộ ven biển và rừng đặc dụng sân chim tương đối ổn định, hầu hết diện tích đất trồng ven biển đã được trồng rừng phòng hộ Tổng diện tích có rừng 1997 là 4.157 ha, năm 2003 là 5.390 ha Theo số liệu của Tổng cục thống kê, tính đến ngày 31 -12 -2008, tổng diện tích rừng Bạc Liêu là 4.300 ha Trong đó, rừng tự nhiên là 2.300 ha, rừng trồng là 2.000 ha, tỷ lệ che phủ đạt 1,7% Giá trị sản xuất lâm nghiệp sơ bộ năm 2008 là 19,6 tỷ đồng, sản lượng gỗ khai thác sơ bộ năm 2008 là 2.900 m2

* Trong lĩnh vực ngư nghiệp

Ngư nghiệp là ngành kinh tế mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của Bạc Liêu, ngày 10 -10 -2008 ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu phê duyệt đề án phát triển kinh tế biển đến năm 2020

Trên thực tế, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh đã không ngừng gia tăng qua các năm Theo thông tin từ website tỉnh, giá trị sản xuất thủy sản năm 1997 là 887,929 triệu đồng, năm 2006 là 17,273.000 triệu đồng tăng 9,35% Theo thông tin từ tổng cục thống kê, giá trị sản xuất thủy sản năm 2008 của tỉnh là 4.364,3 tỷ đồng Quý 1 năm

2009 tổng sản lượng thủy sản khai thác và nuôi trồng đạt 42.629 tấn (bao gồm: sản lượng nuôi trồng 21.837 tấn, bằng 83,8% so với cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng 21,837 tấn, tăng 19,4% so với cùng kỳ) [11]

Đối với ngành khai thác thủy sản: năm 2008 là 88,238 triệu đồng, năm 2009 là 88,436 triệu đồng, năm 2010 là 88,786 triệu đồng, năm 2011 là 88,796 triệu đồng

Ngày đăng: 14/10/2015, 14:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cổng thông tin điện tử tỉnh Bạc Liêu, hội nghị trực tuyến về đẩy mạnh cải cách hành chính và quản lý Nhà nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: hội nghị trực tuyến về đẩy mạnh cải cách hành chính và quản lý Nhà nước
Tác giả: Cổng thông tin điện tử tỉnh Bạc Liêu
2. Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bạc Liêu, báo cáo kết quả xây dựng và triển khai mô hình hợp tác xã và tổ hợp tác trang trại tỉnh Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo kết quả xây dựng và triển khai mô hình hợp tác xã và tổ hợp tác trang trại tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Bạc Liêu
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác –Lênin, nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác –Lênin
Nhà XB: nhà xuất bản chính trị Quốc gia
Năm: 2007
6. Nguyễn Thị Ngân, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong công cuộc đổi mới, học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân
Nhà XB: học viện Chính trị -Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh
8. Sở công nghiệp, báo cáo chính sách thương mại và thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp ở tỉnh Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo chính sách thương mại và thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp ở tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Sở công nghiệp
9. Sở công nghiệp, báo cáo tình hình phát triển công nghiệp và thu hút vốn đầu tư ở tỉnh Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo tình hình phát triển công nghiệp và thu hút vốn đầu tư ở tỉnh Bạc Liêu
Tác giả: Sở công nghiệp
10. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, báo cáo chính sách phát triển nông nghiệp xây dựng nông thôn mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo chính sách phát triển nông nghiệp xây dựng nông thôn mới
Tác giả: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
11. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu, báo cáo về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: báo cáo về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản đến năm 2020
Tác giả: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu
12. Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, về những thành tựu và những mặt hạn chế về phát triển kinh tế nông thôn ở Bạc Liêu Sách, tạp chí
Tiêu đề: về những thành tựu và những mặt hạn chế về phát triển kinh tế nông thôn ở Bạc Liêu
Tác giả: Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn
15. Website: “Chức năng và nhiệm vụ phát triển nông thôn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng và nhiệm vụ phát triển nông thôn
16. Website: “Mười lăm năm đổi mới và phát triển” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mười lăm năm đổi mới và phát triển
18. Website: “Thành tựu hai mươi năm nghiên cứu Khoa học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành tựu hai mươi năm nghiên cứu Khoa học
4. Kế hoạch phát triển kinh tế 5 năm 2011 -2015 Khác
5. Nghị quyết 04/2011/NQ –HĐND, về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bạc Liêu đến năm 2020 Khác
7. Tổng cục thống kê niên giám thống kê kinh tế tỉnh Bạc Liêu, giai đoạn 2008 - 2011 Khác
13. Sở tài nguyên và môi trường, phòng chống lụt bão tỉnh Bạc Liêu Khác
14. Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, kế hoạch đầu tư và xây dựng các khu và các cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm