1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự thể hiện yếu tố hậu hiện đại ở một số tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông

22 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 124,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, sự phát triển hoàn thiện nội hàm thuật ngữhậu hiện đại như cách hiểu của chúng ta ngày nay, phải đợi đến khoảng thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, với sự ra đời của “cương lĩnh”

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Với tư cách một thuật ngữ, “chủ nghĩa hậu hiện đại” (postmodernism) có lẽ

ra đời từ ngay những năm cuối thế kỷ XIX Theo Perry Anderson, họa sĩ JohnWaitkins Chapman đã sử dụng từ “postmodern” trong cuốn The origins ofpostmodernity (1870) Đầu thế kỷ XX, mà tập trung vào khoảng thập niên 40, thuậtngữ “postmodern” và “postmodernism” đã được sử dụng một cách phổ biến trongcác công trình trên nhiều lĩnh vực khác nhau của J.M.Thompson, R.Pannwitz,B.I.Bell… Nổi tiếng nhất trong giới nghiên cứu ngữ văn, phải kể đến F de Onistrong Anatologica de la poesia espanola e hispanoamerica (1934), sau đó, trên lĩnhvực sử học, phải kể đến công trình Religion for Living: A Book for Postmodernistscủa Arnold Toynbee (1939) Tuy nhiên, sự phát triển hoàn thiện nội hàm thuật ngữhậu hiện đại như cách hiểu của chúng ta ngày nay, phải đợi đến khoảng thập niên

60, 70 của thế kỷ XX, với sự ra đời của “cương lĩnh” tư tưởng mà J.F.Lyotard đã

đề xuất trong La condition postmoderne: rapport sur le savoir (1968) và tiếp tụchoàn thiện trong Le différend (1983) – như một dự án đối thoại, tranh luận triết họcnổi tiếng với Jurgen Habermas về thời hiện đại và hậu hiện đại Cho đến thập niên

80 thế kỷ XX, chủ nghĩa hậu hiện đại đã trở thành một trào lưu văn hóa nghệ thuậttoàn cầu, tuy biểu hiện cụ thể ở từng nền văn học dân tộc luôn có đặc thù riêng Từnhững nền tảng tư tưởng triết học hậu hiện đại mà Derrida, Foucault, Baudrillard,Jameson, Rorty… đã đặt ra, sự hình thành của những công trình mỹ học - lý luậnvăn học hậu hiện đại hết sức phong phú, sinh động, tiêu biểu là những công trìnhcủa I.Hassan, Jane Flax, L.Fiedler, I.Howe, H.Bertens, L.Hutcheon… Đến nay, yêucầu đặt ra đối với việc khái quát, hệ thống hóa lại tiến trình tư tưởng của chủ nghĩahậu hiện đại trong văn học vẫn còn nguyên tính thời sự, giá trị khoa học và tính cấpbách của nó.[1]

Những người giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông là những ngườixây dựng nền tảng cho niềm đam mê của học sinh và chính họ là động lực của

Trang 2

những bước đi đầu tiên trên con đường phát triển văn chương sau này của các em.

Do vậy, ngoài việc có một kĩ năng nghề nhiệp giỏi, cần phải có sự cập nhật tìnhhình phát triển của bộ môn mình giảng dạy để có cái nhìn không lạc hậu về ngànhkhoa học mà mình truyền thụ Thiết tưởng việc này cũng có phần quan trọng khôngkém gì trau dồi kĩ năng và đạo đức nghề nghiệp Với ý hướng đó, chúng tôi chọntrình bày những nét chính về lý thuyết hậu hiện đại trong văn học và những biểuhiện của nó trong một số tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong nhà trường Với

chuyên đề “Sự thể hiện yếu tố hậu hiện đại qua một số tác phẩm văn học trong nhà trường phổ thông”, chúng tôi không có tham vọng bao quát những phạm trù

lý luận của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học, chỉ muốn đưa ra vài cách hiểuchủ nghĩa hậu hiện đại và sự thể hiện của nó trong một số tác phẩm văn học ViệtNam Chuyên đề chỉ là sự thể hiện niềm đam mê văn chương và nổ lực bổ sungthêm kiến thức của người viết nhằm hiểu đúng bản chất hơn một số tác phẩm vănhọc Việt Nam trong nhà trường còn gây khó khăn cho việc giảng dạy Như vậy, ýnghĩa cuối cùng và quan trọng nhất của chuyên đề là phục vụ cho việc giảng dạymôn Ngữ văn trong nhà trường được hiệu quả hơn, làm cho học sinh có kiến thức

và lòng đam mê môn Ngữ văn nhiều hơn

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trong những năm qua, ở Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều công trình nghiêncứu về chủ nghĩa Hậu hiện đại Đầu tiên phải kể đến các bài báo khoa học của các

nhà nghiên cứu chuyên sâu về chủ nghĩa Hậu hiện đại Phương Lựu với Tìm hiểu

về chủ nghĩa hậu hiện đại in trên tạp chí Nhà văn số 8 năm 2000 Đào Tuấn Ảnh với Những yếu tố hậu hiện đại trong văn xuôi Việt Nam qua so sánh với văn xuôi Nga Lã Nguyên với Những dấu hiệu của chủ nghĩa Hậu hiện đại trong văn học Việt Nam qua sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp và Phạm Thị Hoài in trên tạp chí Nghiên cứu văn học số 12 năm 2007 Phan Tuấn Anh với Đặc trưng truyện trinh thám hậu hiện đại trong tiểu thuyết “Tin tức về một vụ bắt cóc” của Gabriel García Márquez, in trên Tạp chí Châu Mỹ ngày nay số 3 năm 2010; Bút pháp hậu

Trang 3

hiện đại trong truyện ngắn “Dấu máu em trên tuyết” của G.G.Márquez , in trên Tạp

chí Châu Mỹ ngày nay, số 4 năm 2011; Đặc trưng yếu tố huyền ảo hậu hiện đại trong văn xuôi G.G.Márquez, in trên Tạp chí Sông Hương số 4 năm 2013

Ngoài ra còn những công trình nghiên cứu hệ thống và đồ sộ Đó là Truyện ngắn hậu hiện đại thế giới do Lê Huy Bắc tuyển chọn, Nxb Hội Nhà văn xuất bản năm 2003; Chủ nghĩa hậu hiện đại – các vấn đề nhận thức luận của Trần Quang Thái do nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2011; Lí thuyết văn học hậu hiện đại của Phương Lựu do nhà xuất bản Đại học Sư phạm xuất bản năm 2011; Văn học hậu hiện đại – lí thuyết và thực tiễn xuất bản tại Nhà xuất bản Đại học Sư phạm năm 2013; Văn học hậu hiện đại – diễn giải và tiếp nhận do nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 2013.

Chúng ta còn phải kể đến rất nhiều công trình nghiên cứu về chủ nghĩa Hậu

hiện đại được dịch ở Việt Nam như Nhập môn chủ nghĩa Hậu hiện đại của Richard Appignanesi do Trần Tiễn Cao Đăng dịch, Hoàn cảnh Hậu hiện đại của Francois

Lyotard do Ngân Xuyên dịch

Như vậy, chủ nghĩa Hậu hiện đại không còn là một thứ lí luận mới mẻ ở ViệtNam mà đã trở thành quá quen thuộc Việc thức nhận nó cũng chính là nổ lực làmmới tri thức của mình trong tính vô tận, mênh mông của sự học

3 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề là một số phương diện lýluận của chủ nghĩa Hậu hiện đại và sự thể hiện của nó trong hai tác phẩm được

giảng dạy trong trường phổ thông là truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu và trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba, da hàng thịt của Lưu

Quang Vũ Nhằm mục đích tìm hiểu và cập nhật hệ thống lý thuyết đồ sộ và khónắm bắt của chủ nghĩa Hậu hiện đại, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào giới thuyết

về chủ nghĩa Hậu hiện đại Sự vận dụng lý thuyết vào tiếp cận hai tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa và Hồn Trương Ba, da hàng thịt là sự minh chứng cho tính hợp lý

và ưu thế của lý thuyết này trong nghiên cứu văn học

Trang 4

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của chuyên đề là phương pháp cấu trúc - hệ thống,phương pháp thi pháp học và một số thao tác bổ trợ như phân loại, so sánh, phântích

5 Đóng góp của đề tài

Đề tài dự kiến sẽ có đóng góp trên phương diện chỉ ra một số đặc trưng lý

luận của chủ nghĩa Hậu hiện đại và sự thể hiện của nó trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu và trích đoạn vở kịch Hồn Trương Ba, Da hàng thịt của Lưu Quang Vũ.

Trang 5

B NỘI DUNGCHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH XUẤT HIỆN VÀ NHỮNG NỘI DUNG

CHỦ YẾU CỦA CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI 1.1 Hoàn cảnh xuất hiện

Trước tiên, về cơ sở hạ tầng, chúng ta có thể thấy giai đoạn hậu hiện đại (nửasau thế kỷ XX cho đến nay) là giai đoạn bùng nổ trên cả hai phương diện, bùng nổ

về sản xuất tri thức, thông tin và bùng nổ về sản xuất hàng hóa Về sản xuất hànghóa, chưa một giai đoạn nào lại chứng kiến số của cải vật chất làm ra, hiệu năngsản xuất cũng như sự phát triển của công nghệ lại nhanh chóng đến như thế Theo

Michel Beaud, trong Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500 đến 2000, chỉ trong khoảng

thời gian xấp xỉ 25 năm, tăng trưởng thương mại đạt 7,3%, tăng trưởng côngnghiệp đạt 5,6%, khối lượng sản xuất của chủ nghĩa tư bản chiếm 3/5 (công nghiệp)

và 2/3 (thương mại) toàn thế giới Chính sự bùng nổ về của cải và sản xuất vật chất

đã tạo điều kiện cho sự ra đời của xã hội tiêu dùng (consumer society), tức xã hộihậu công nghiệp (post-industry society) Chúng ta vẫn thường gọi quá trình hìnhthành và phát triển ra phạm vi toàn cầu của cơ sở hạ tầng chủ nghĩa tư bản hậu kỳbằng một thuật ngữ hết sức phổ biến: “toàn cầu hóa” (globalization)

Toàn cầu hóa và hậu hiện đại dẫu không thực sự đồng nghĩa, có thể trước khitoàn cầu hóa bắt đầu (thập niên 90 của thế kỷ XX trở đi), chủ nghĩa hậu hiện đại đãphát triển (đỉnh cao là thập niên 80 thế kỷ XX) Theo Malcolm Waters, trong

Globalization, hậu hiện đại và toàn cầu hóa còn là hai giai đoạn kế tiếp nhau,

nhưng toàn cầu hóa lại mang những đặc trưng cơ sở hạ tầng đặc thù, tiêu biểu,thậm phồn (hyper) nhất của thời hậu hiện đại Nói cách khác, những dự cảm, dựphóng có tính thế năng về mặt kinh tế, sản xuất, truyền thông mà những nhà hậuhiện đại như Lyotard, Baudrillard, McLuhan… đã đề ra trong những thập niêntrước, thì đến thời toàn cầu hóa mới được chuyển thành động năng, thành hiệnthực Do đó, không phải ngẫu nhiên mà một trong hai định nghĩa của Lyotard vềhậu hiện đại lại nhấn mạnh đến “hoàn cảnh của tri thức trong các xã hội phát triển

Trang 6

nhất” [1,53] Xét vào thời điểm 1968, khi Lyotard viết những dòng mở đầu ấy cho

cuốn sách tuyên ngôn Điều kiện hậu hiện đại, thì nó mới chỉ là lời tiên tri Phải đến

khi toàn cầu hóa diễn ra, xu hướng “mạng hóa” và “viễn thông hóa” phát triển trênphạm vi toàn cầu, thì thực sự thân phận của tri thức mới bị biến thành hàng hóa.Lúc đó, sự hợp thức hóa tri thức/thông tin mới hoàn toàn diễn ra trên mạng máytính, và sự tồn tại hay bị loại bỏ của tri thức/thông tin mới phụ thuộc “hoàn toàn”vào khả năng, điều kiện số hóa và mạng hóa của nó Như vậy, toàn cầu hóa là sự cụthể hóa những dự phóng mà hậu hiện đại đã tiên báo, nó chính là sự kịch phát vàphát triển ở mức độ thậm phồn cơ sở hạ tầng của thời hậu hiện đại

Sự khốn cùng và cơn khủng hoảng của tính hiện đại, trên phương diện sụp

đổ niềm tin vào khoa học và lý tính còn bị gây ra bởi sự kiện hai quả bom nguyên

tử ném vào Hiroshima và Nagasaki, cũng như sự căng thẳng chạy đua vũ trang (màcốt lõi là chạy đua vũ khí hạt nhân) sau thế chiến thứ II Khoa học và lý trí, từ chỗ

là niềm tin cho việc phát triển nền văn minh của con người, đã lộ rõ sự phi lý và trởthành động lực chết chóc khi sáng tạo ra vũ khí hủy diệt hàng loạt, dẫn đến nguy cơxóa sổ toàn bộ nhân loại khi các kho vũ khí hạt nhân cùng bị kích hoạt

Ngoài ra, cũng cần phải kể đến sự khủng hoảng tinh thần trong xã hội, đượcbiểu hiện bằng cuộc đấu tranh của sinh viên và thanh niên châu Âu (mà chủ yếu là

ở Đức, Ý và Pháp) trong năm 1968 [1;85] Trong không khí sôi sục đó, một số họcgiả cấp tiến như Lyotard và Foucault đã đứng về phía giới trẻ trong cuộc đấu tranh,như “là một cuộc mời gọi thay đổi tinh thần, nếu không sẽ không thể nào thay đổithế giới” (Bernard Sichère) Nhiều cuộc biểu tình, bãi khóa, thậm chí là bạo độngchiếm nhà trường đã diễn ra tại châu Âu cuối thập niên 60 Nó biểu hiện cho tìnhtrạng căng thẳng xã hội sau chiến tranh thế giới thứ hai, chống lại sự trì trệ, bảo thủcủa hệ thống giáo dục đại học, sự xung đột thế hệ trong gia đình và xã hội Chínhtrong không khí cách mạng tư tưởng đó, Jean Francois Lyotard với tư cách mộtngười thầy đã đứng về cuộc đấu tranh của giới trẻ Năm 1979, nhà xuất bản Minuittại Paris đã giới thiệu cuốn sách nhỏ, nhưng có tính cương lĩnh về hậu hiện đại có

Trang 7

tên: Điều kiện hậu hiện đại: bản tường trình về tri thức (La condition postmoderne: rapport sur le savoir) Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy những

điều kiện về tri thức và đời sống tinh thần hậu hiện đại đã xuất hiện (từ thập niên 40đến 60), trước khi hoàn cảnh cơ sở hạ tầng của chủ nghĩa tư bản hậu kỳ theo kịp(vào thập niên 90 thế kỷ XX cho đến nay), nhằm xác lập nên một cách hoàn chỉnhtrạng huống hậu hiện đại [1]

1.2 Những nội dung chủ yếu của chủ nghĩa Hậu hiện đại

Triết học hậu hiện đại là một hệ hình phức tạp bậc nhất trong lịch sử Phứctạp vì có sự tham gia của quá nhiều triết gia, nhưng lại không có cùng một xuấtphát điểm, một trường phái Trước tiên, chúng ta cần biết đôi chút về Thomas

Kuhn, với lý thuyết hệ hình (paradigm) nổi tiếng của ông Trong Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học (The Structure of Scientific Revolutions), Kuhn đã đề xuất

khái niệm hệ hình, xuất phát từ một thuật ngữ ngôn ngữ học biểu đạt mẫu chiađộng từ, nhằm chỉ “mô hình lý thuyết về tư duy, xác định phương hướng suy nghĩa

và nghiên cứu khoa học vào một thời điểm nhất định… biểu hiện toàn bộ tập hợpnhững tín niệm, những giá trị được thừa nhận và những kỹ thuật mà mọi thành viêncủa một nhóm hay cộng đồng có chung; mặt khác nó biểu thị yếu tố riêng biệt củatập hợp ấy” [49,12] Trong công trình của mình, Kuhn viết: “Nghiên cứu tỉ mỉ một

bộ môn khoa học nhất định vào một thời điểm nhất định về mặt lịch sử sẽ thấy nổilên một tập hợp những minh họa lặp đi lặp lại và gần như được chuẩn hóa của các

lý thuyết khác nhau trong những ứng dụng trên mặt bằng quan niệm, mặt bằngquan sát và mặt bằng công cụ của chúng Đó là những mẫu hình của một cộng đồngkhoa học được thể hiện trong các giáo trình, các bài giảng, và các bài tập thínghiệm của cộng đồng ấy” [1,55] Từ lý thuyết hệ hình của Kuhn, các nhà khoa họcngữ văn đã áp dụng để chia toàn bộ tư duy sáng tạo và lý luận văn học của nhânloại trong lịch sử thành ba hệ hình chính, tương ứng với ba chủ thể đóng vai trò

trung tâm, bao gồm: tiền hiện đại – tác giả; hiện đại – văn bản; và hậu hiện đại – người đọc.

Trang 8

Chúng ta cần đề cập đến những thuật ngữ nổi tiếng nhất của chủ nghĩa hậuhiện đại, do Lyotard đề xuất với tư cách như những định nghĩa báo hiệu sự ra đời

của thời hậu hiện đại, đó là đại tự sự (grand narrative) và tiểu tự sự (petit narrative) Đại tự sự hay còn được gọi là siêu truyện (méta récit), hoặc tiểu tự sự

còn được gọi là tiểu truyện (petit récit), là những thuật ngữ mà Lyotard sáng tạonên dưới cảm hứng về sự lên ngôi của triết học ngôn ngữ Chủ nghĩa cấu trúc mà

cụ thể hơn là hậu cấu trúc đã xem ngôn ngữ là trung tâm không chỉ của triết học,

mà còn của chính đời sống “Không có gì ngoài ngôn ngữ”, “tự sự có ở khắp mọi

nơi”, mọi thứ đều trở thành tự sự Lyotard trong cương lĩnh Hoàn cảnh hậu hiện đại cho rằng tri thức trong thời hậu hiện đại đã bị tha hóa thành một thứ hàng hóa,

nó chỉ tồn tại nếu được hợp thức hóa qua ngả tin học Tri thức khoa học đã mấtthẩm quyền trong đời sống, vì nó tách rời chủ thể ra khỏi tri thức Từ đó, thời hậuhiện đại chứng kiến sự lên ngôi của những tự sự (truyện kể), bởi tự sự không xáclập quyền lực của mình dựa trên sự hợp thức đúng – sai mang tính loại trừ như trithức khoa học Tự sự luôn đề cao tính mở, tính bất định, tính dị bản, ý nghĩa của nóđược kiến tạo từ phía người nghe/đọc và các tự sự luôn có xu hướng kết nối thànhnhững liên văn bản [1,76]

Do đánh mất tính niềm tin vào các đại tự sự, nên trong nhận thức luận hậu

hiện đại hình thành thế giới quan tiêu biểu là bất tín nhận thức (espistemological uncertainty) Bất tín nhận thức là một thái độ, cảm quan có tính phê phán đối với

chủ nghĩa duy lý và tri thức khoa học – những loại tri thức đã tự hợp pháp chính nótrong lịch sử và “truyền thống lấy ngôn từ làm trung tâm của phương Tây” [1,37]

Tính bất tín nhận thức đã tạo thành cảm quan hậu hiện đại (postmodern sensibility) Theo Ilin, cảm quan hậu hiện đại thể hiện trên hai phương diện, đó là

cảm quan hỗn độn (chaos) bởi sự vắng mặt của những chủ thể, sự khủng hoảngnguyên tắc cá nhân trong triết học: khủng hoảng bản thể luận triết học, từ thượng

đế đến con người, đến khoa học và cuối cùng, cả ngôn ngữ (với sự ra đời của giảicấu trúc) Những vấn đề này còn liên quan đến thuật ngữ giải nhân cách hóa mà

Trang 9

chúng ta sẽ trình bày ở sau Cảm quan hỗn độn này đã tạo ra tính mảnh vỡ (fragment), tính đa trị (multivalent), tính cắt dán (collage) trong sáng tạo và

nghiên cứu văn học hậu hiện đại, với tư cách vừa là thủ pháp, lại vừa là cảm quan

mỹ học Việc đọc văn bản hậu hiện đại không còn là sự truy tìm ý thức của chủ thể

(tác giả), mà đơn thuần chỉ là việc giải mã văn bản Từ đó thuật ngữ mã kép (double code) ra đời, dưới ảnh hưởng của các nhà tự sự học, kí hiệu học, mà đặc

biệt là những quan điểm của R.Barthes Theo ông, mọi tác phẩm đều có thể chialàm năm loại mã (kí hiệu, tượng trưng, văn hóa, giải thích, trần thuật) [1,46], nhữngloại mã này không cố định như những hệ thống kí hiệu chính xác, có quy luật, màđược cấu tạo như những liên văn bản, những trường văn học Các hình thức mã nàytương tác và qui định lẫn nhau

Những nhà nghiên cứu như Guilelmi, Porier F.Jameson, I.Hassan dựa trênnền tảng văn hóa thậm phồn, ngụy tạo hậu hiện đại đã đưa ra định nghĩa về tính

pastiche (giễu nhại/phỏng nhại/hợp thể) Pastiche là một thuật ngữ vốn dùng để

chỉ những trích đoạn tạp khúc, ca kịch của sân khấu Nó là một thuật ngữ dùng đểchỉ sự giễu nhại đặc thù của chủ nghĩa hậu hiện đại – giễu nhại mang tính tự giễunhại chính mình Ngoài ra, pastiche còn để nhằm chỉ quan điểm xóa bỏ ranh giớicao – thấp, hàn lâm – bình dân, nghệ thuật – phi nghệ thuật trong văn hóa hậu hiệnđại Với Jameson, pastiche là sự giễu nhại gắn liền với cảm thức “mất niềm tin vàochuẩn mực ngôn ngữ” Với D’haen, mô thức mỉa mai hậu hiện đại luôn gắn với sựphê phán trước “tính ảo tưởng của truyền thông đại chúng”, nhằm hóa giải sự mêhoặc trước những ngụy tạo mà nền hiện thực thậm phồn tạo ra [1]

Trang 10

CHƯƠNG 2: SỰ HOÀI NGHI CÁC ĐẠI TỰ SỰ VÀ TÍNH CHẤT ĐỐI

THOẠI TRONG CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA

2.1 Sự hoài nghi các đại tự sự

Như trên chúng tôi đã trình bày, đại tự sự hay còn được gọi là siêu truyện(méta récit), hoặc tiểu tự sự còn được gọi là tiểu truyện (petit récit), là những thuậtngữ mà Lyotard sáng tạo nên Đại tự sự là các học thuyết lớn, được cấu trúc và vậnhành theo lối tri thức khoa học, tức nó mang tính toàn thể, có tham vọng giải quyếtbao quát mọi vấn đề, và luôn loại trừ tính trò chơi Tiểu tự sự là những truyện kể cótính vi văn bản, được vận hành theo lối trò chơi Chấp nhận tiểu tự sự đồng nghĩavới việc chấp nhận quyền nói sai, ngộ luận, chấp nhận những bất đồng Và địnhnghĩa về hậu hiện đại theo Lyotard đó là: “Nói thật đơn giản: “hậu hiện đại” là sựhoài nghi đối với các siêu tự sự” [1,54]

Điều đầu tiên khi người đọc tiếp cận văn bản Chiếc thuyền ngoài xa là

Nguyễn Minh Châu thể hiện sự hoài nghi với quan niệm đã trở thành khuôn mẫu, làkhuôn vàng thước ngọc cho những người sáng tác và thẩm định tác phẩm nghệthuật: cái đẹp phải là đạo đức Nhưng, liệu trong cuộc sống đó có phải luôn là chân

lý hay chỉ là ước mơ của con người? Hãy cùng dõi theo dòng tự sự của NguyễnMinh Châu:

“Lúc bấy giờ trời đầy mù từ ngoài biển bay vào Lại lác đác mấy hạt mưa.Tôi rúc vào bên bánh xích của một chiếc xe tăng để tránh mưa, đang lúi húi thayphim, lúc ngẩng lên thấy một chuyện hơi lạ: một chiếc thuyền lưới vó mà tôi đoán

là trong đám đánh cá ban nãy đang chèo thẳng vào trước mặt tôi

Có lẽ suốt đời cầm máy tôi chưa bao giờ thấy một cảnh “đắt” trời cho nhưvậy: trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ [ ] toàn bộkhung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơngiản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái

gì bóp thắt vào Chẳng biết ai đó lần đầu đã phát hiện ra bản thân cái đẹp chính làđạo đức? Trong giây phút bối rối, tôi tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân

Trang 11

lý của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn”[3;70].

Ở đây, đã có nhiều ý kiến cho rằng Nguyễn Minh Châu muốn khẳng địnhchức năng giáo dục thống nhất cùng chức năng thẩm mỹ của tác phẩm nghệ thuật

Đó là cách hiểu hợp lý trong văn cảnh Nhưng đi xa hơn, ta sẽ thấy tác giả của

Chiếc thuyền ngoài xa nói với chúng ta nhiều hơn chừng ấy vấn đề Bởi tiếp sau

bức họa mực tàu tuyệt mỹ đó là cảnh người chồng đánh vợ một cách phũ phàng,thằng Phác để bênh vực mẹ đã đánh chính bố nó Và đắng cay hơn, đó lại là chuyệndiễn ra thường ngày trong gia đình hàng chài nọ Vậy ở đây, bức ảnh tuyệt mỹ củaPhùng là hiện thực hay cảnh người chồng đánh vợ là hiện thực? Cái nào mới làđiều thực hơn? Về vấn đề này, chủ yếu những người tiếp cận văn bản đều phân tíchtheo hướng cho rằng Nguyễn Minh Châu đề xuất thông điệp tác phẩm nghệ thuậtphải có sự kết hợp hài hòa với chân lý cuộc đời, tránh cái nhìn đơn giản, một chiều

mà cần có cái nhìn đa diện, nhiều chiều về cuộc sống để phản ánh đúng bản chấtcủa cuộc sống Nhưng chúng ta lại quên mất chi tiết kết thúc tác phẩm: “khôngnhững trong bộ lịch năm ấy mà mãi mãi về sau, tấm ảnh chụp của tôi vẫn còn đượctreo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật” [3;77] Vậy là, vẫn córất nhiều người tôn thờ cái đẹp của chiếc thuyền chài trong sương sớm mà khôngcần biết đằng sau nó là một hiện thực khác đầy phũ phàng Có nghĩa là trong cuộcsống và trong nghệ thuật, có những cái đẹp hình thành từ ý nghĩa tự thân nó chứkhông phải bao giờ cũng phải từ cú hích đầu tiên là đạo đức Cái đẹp khi thăng hoađến đỉnh điểm sẽ tạo ra hiệu ứng thanh tẩy (katharsis) cho tâm hồn con người,nhưng sự xuất hiện của cái đẹp không phải chỉ vì phục vụ nhu cầu giáo dục đạođức Chúng ta có thể tìm thấy minh chứng cho điều này qua các tác phẩm như

Chém treo ngành của Nguyễn Tuân hay bi kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy

Tưởng Xa hơn, mọi công trình kiến trúc cổ đại được nhân loại ngày nay tôn vinhnhư Kim tự tháp, Vạn lý trường thành không phải đã được hình thành bởi máu và

nước mắt của nhân dân lao khổ đó sao Như vậy, với Chiếc thuyền ngoài xa,

Ngày đăng: 14/10/2015, 12:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w