1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước thực tiễn tại trung tâm thông tin di động khu vực iv

91 556 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 1,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm đạt được các mục tiêu trên, trong Luật Đấu thầu, Nghị định 85/2009/NĐ-CP, mẫu HSMT có quy định một số nội dung về việc đánh giá HSDT để so sánh, xếp hạng và xác định nhà thầu trúng

Trang 1

BỘ MÔN LUẬT THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

ĐỀ TÀI:

PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN

DI ĐỘNG KHU VỰC IV

MSSV: B110112 Lớp: Luật Hành chính khóa 37

Cần Thơ, 5/ 2014

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA 3

1.1 Lịch sử hình thành pháp luật về đấu thầu tại Việt Nam 3

1.2 Một số khái niệm về đấu thầu, đấu thầu mua sắm hàng hóa 4

1.2.1 Khái niệm đấu thầu 4

1.2.2 Khái niệm mua sắm hàng hóa 4

1.2.3 Các chủ thể có liên quan trong đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước 4

1.2.3.1 Nhà thầu 4

1.2.3.2 Bên mời thầu 6

1.2.3.3 Chủ đầu tư 6

1.2.3.4 Người có thẩm quyền 6

1.3 Mục đích, vai trò của đấu thầu mua sắm hàng hóa 6

1.3.1 Mục đích 6

1.3.2 Vai trò 8

1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu mua sắm hàng hóa trong nước 9

1.4.1 Đấu thầu rộng rãi 9

1.4.2 Đấu thầu hạn chế 9

1.4.3 Chỉ định thầu 10

1.4.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu khác 10

1.4.4.1 Mua sắm trực tiếp 10

1.4.4.2 Chào hàng cạnh tranh 10

1.4.4.3 Tự thực hiện 11

1.4.4.4 Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt 11

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC 12

2.1 Kế hoạch đấu thầu 12

2.1.1 Căn cứ lập kế hoạch đấu thầu 12

Trang 5

2.1.2 Nội dung của từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu 13

2.1.2.1 Tên gói thầu 13

2.1.2.2 Giá gói thầu 14

2.1.2.3 Nguồn vốn 15

2.1.2.4 Hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu 15

2.1.2.5 Thời gian lựa chọn nhà thầu 17

2.1.2.6 Hình thức hợp đồng 18

2.1.2.7 Thời gian thực hiện hợp đồng 19

2.1.3 Trình duyệt, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu 21

2.1.3.1 Trách nhiệm trình duyệt 21

2.1.3.2 Thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu 21

2.2 Sơ tuyển nhà thầu 23

2.2.1 Áp dụng sơ tuyển 24

2.2.2 Trình tự thực hiện sơ tuyển 24

2.2.2.1 Lập hồ sơ mời sơ tuyển 24

2.2.2.2 Thông báo mời sơ tuyển 24

2.2.2.3 Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển 24

2.2.2.4 Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển 25

2.2.2.5 Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển 25

2.2.2.6 Thông báo kết quả sơ tuyển 25

2.3 Lựa chọn nhà thầu 26

2.3.1 Quy trình lựa chọn nhà thầu 26

2.3.2 Đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế 30

2.3.2.1 Điều kiện áp dụng 30

2.3.2.2 Đấu thầu một giai đoạn 31

2.3.2.3 Đấu thầu hai giai đoạn 49

2.3.3 Chỉ định thầu 50

2.3.3.1 Các trường hợp được chỉ định thầu và điều kiện áp dụng 50

2.3.3.2 Quy trình chỉ định thầu 51

2.3.4 Mua sắm trực tiếp 53

Trang 6

2.3.4.1 Điều kiện áp dụng 53

2.3.4.2 Quy trình mua sắm trực tiếp 54

2.3.5 Chào hàng cạnh tranh 55

2.3.5.1 Điều kiện áp dụng 55

2.3.5.2 Quy trình chào hàng cạnh tranh 56

2.3.6 Tự thực hiện 57

2.3.6.1 Điều kiện áp dụng 57

2.3.6.2 Quy trình tự thực hiện 57

2.3.7 Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt 58

2.4 Giải quyết kiến nghị trong đấu thầu 58

2.4.1 Điều kiện để xem xét, giải quyết kiến nghị 58

2.4.2 Giải quyết kiến nghị 59

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC, THỰC TIỄN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN DI ĐỘNG KHU VỰC IV 60

3.1 Thực trạng đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước 60

3.1.1 Gian lận trong đấu thầu 60

3.1.1.1 Thông thầu 60

3.1.1.2 Loại các nhà thầu có năng lực 61

3.1.2 Năng lực của bên mời thầu còn hạn chế, cần nâng cao yêu cầu đối với cán bộ tham gia lựa chọn nhà thầu 61

3.2 Thực tiễn tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV (gọi tắt là Trung tâm IV) 63

3.2.1 Hình thành đấu thầu tập trung 64

3.2.2 Thời gian gửi văn bản sửa đổi hồ sơ mời thầu 65

3.2.3 Một vài kinh nghiệm rút ra từ các tình huống cụ thể trong thực tiễn công tác đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước tại Trung tâm IV 66

3.2.4 Kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước 75

KẾT LUẬN 78

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1 MẪU HỒ SƠ YÊU CẦU CHÀO HÀNG CẠNH TRANH

BAN HÀNH KÈM THEO THÔNG TƯ 11/2010/TT-BKH NGÀY 27/5/2010

PHỤ LỤC 2 QUYẾT ĐỊNH 1291/QĐ-VMS-TCKT NGÀY 11/9/2012 CỦA CHỦ TỊCH CÔNG TY THÔNG TIN DI ĐỘNG VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ VÀ THỰC HIỆN NGUỒN CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH

PHỤ LỤC 3 HỒ SƠ MỜI THẦU GÓI THẦU “TRANG BỊ MÁY PHÁT ĐIỆN

DỰ PHÒNG CÔNG SUẤT LIÊN TỤC TỐI THIỂU 8KVA CHO CÁC TRẠM BTS – ĐỢT 1 NĂM 2013” (đã phát hành tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV)

Trang 8

TỪ NGỮ VIẾT TẮT

KHĐT Kế hoạch đấu thầu

HSMT Hồ sơ mời thầu

HSYC Hồ sơ yêu cầu

HSDT Hồ sơ dự thầu

HSĐX Hồ sơ đề xuất

MSHH Mua sắm hàng hóa

TCĐG Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu

Luật sửa đổi

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 5 số 38/2009/QH12

Trung tâm IV Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đấu thầu là một trong các giải pháp kích thích sự phát triển của các hoạt động kinh tế như các ngành sản xuất trực tiếp, các ngành công nghiệp phụ trợ, chế biến Ngoài ra, vai trò tổng thầu với việc kết hợp các nhà chế tạo, nhà sản xuất, các chuyên gia tư vấn nhằm thực hiện các gói thầu quy mô lớn, tổng hợp nhiều lĩnh vực làm cho các hoạt động kinh tế được diễn ra theo hướng chuyên môn hóa và đa phương hóa Thông qua hoạt động đấu thầu, người mua (bên mời thầu) có nhiều cơ hội để lựa chọn người bán phù hợp với mình, mang lại hiệu quả cao nhất, xứng với giá trị đồng tiền mà người mua sẵn lòng chi trả Đồng thời, người bán (nhà thầu) có nhiều cơ hội để cạnh tranh nhằm đạt được các hợp đồng cung cấp hàng hóa sản xuất

ra, các kiến thức hoặc các dịch vụ mà mình có nhằm tối đa hóa lợi nhuận Với tầm quan trọng của công tác đấu thầu là nhằm quản lý việc chi tiêu, sử dụng các nguồn tiền một cách có hiệu quả nên trên thế giới hiện nay các định chế tài chính đều áp dụng các quy định về đấu thầu để giải ngân đối với các khoản tài trợ cho các quốc gia vay vốn Bên cạnh đó, hầu hết các quốc gia cũng đều có các quy định riêng về đấu thầu theo các hình thức khác nhau có thể là luật, nghị định, sắc lệnh Hoạt động đấu thầu được áp dụng vào Việt Nam trong khoảng thời gian trên mười năm trở lại đây, kể từ khi hoạt động viện trợ của các định chế tài chính được nối lại Thông qua đấu thầu, các chủ đầu tư đã lựa chọn được những nhà thầu đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện các dự án, gói thầu làm thay đổi diện mạo kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội của đất nước Là một doanh nghiệp nhà nước, Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV trực thuộc Công ty Thông tin Di động lựa chọn áp dụng Luật Đấu thầu để chọn các nhà thầu đủ năng lực và kinh nghiệm thực hiện tất cả các công việc trong hoạt động sản xuất kinh doanh Quá trình áp dụng pháp luật về đấu thầu trong tám năm qua với gần 2.000 gói thầu được triển khai đã để lại các kinh nghiệm thực tiễn, bao gồm cả kinh nghiệm xử lý các tình huống trong đấu thầu Trong bối

cảnh đó, việc nghiên cứu “Pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước –

Thực tiễn tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV” là cần thiết, có ý nghĩa cả

về lý luận lẫn thực hiện

Trang 10

2 Tình hình nghiên cứu

Pháp luật về đấu thầu nói chung được phổ biến khá nhiều trên sách, báo,… nhưng pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước nói riêng vẫn còn được

đề cập hạn chế đến thời điểm hiện tại

3 Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu

Luận văn được thực hiện hướng đến mục tiêu nghiên cứu một số quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước, thực trạng áp dụng một số quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước, trên cơ sở đó đề xuất hướng hoàn thiện

4 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước quy định khá nhiều vấn đề liên quan, vì vậy, đề tài chỉ nghiên cứu về các nội dung cơ bản như: kế hoạch đấu thầu, các hình thức lựa chọn nhà thầu (bao gồm cả nội dung hồ sơ mời thầu, tiêu chuẩn đánh giá, trình tự đánh giá,…), giải quyết kiến nghị trong đấu thầu đối với các gói thầu mua sắm hàng hóa trong nước và thực tiễn tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sẽ vận dụng một cách logic và khoa học nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp thu thập tài liệu, phương pháp tổng hợp – phân tích dữ liệu, so sánh, hệ thống… Từ đó, có được cách nhìn toàn diện, tổng thể nhất vấn đề mà đề tài nghiên cứu

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liêu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước;

Chương 2: Quy định của pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước; Chương 3: Thực trạng về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước, thực tiễn tại Trung tâm Thông tin Di động Khu vực IV

Trang 11

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA

1.1 Lịch sử hình thành pháp luật về đấu thầu tại Việt Nam

Trước đây do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam là tập trung bao cấp nên chưa

có văn bản pháp luật nào quy định về hoạt động đấu thầu nói chung và đấu thầu hàng hóa nói riêng Với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường, năm 1994 Việt Nam

đã ban hành văn bản đầu tiên quy định nguyên tắc cho hoạt động đấu thầu, đó là Quyết định số 183/TTg ngày 16/4/1994 về thành lập hội đồng xét thầu quốc gia để

tư vấn cho Thủ tướng chính phủ quyết định kết quả đấu thầu các dự án có giá trị từ

100 tỷ đồng trở lên1 Năm 1996, chính phủ ban hành Nghị quyết 43/CP ngày 16/7/1996 về việc ban hành Quy chế đấu thầu thay cho các quy định tại Quyết định 183/TTg Hoạt động đấu thầu hàng hóa, dịch vụ lần đầu được quy định trong Luật thương mại được Quốc hội thông qua ngày 10/5/1997 (từ Điều 141 đến Điều 162), Nghị định 93/CP ngày 23/8/1997 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu Ngày 1/9/1999 Chính phủ ban hành Nghị định 88/1999/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế đấu thầu thay cho Quy chế đấu thầu trước đó Sau đó, Nghị định 88/1999/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP và Nghị định 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP và Nghị định 14/2000/NĐ-CP

Trước yêu cầu hội nhập quốc tế, ngày 14/6/2005 Quốc hội đã thông qua Luật thương mại năm 2005 thay thế cho Luật thương mại năm 1997, trong đó quy định một cách khái quát các vấn đề liên quan đến đấu thầu mua sắm hàng hóa, dịch vụ Luật thương mại năm 2005 đã giải quyết được tình trạng chồng chéo trong các văn bản pháp luật về đấu thầu khi quy định rõ “Các quy định trong Luật này không áp dụng đối với đấu thầu mua sắm công theo quy định của pháp luật2” Hoạt động đấu thầu do Luật đấu thầu năm 2005 và các Luật chuyên ngành và các điều ước quốc tế liên quan điều chỉnh Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội khóa XI, kỳ

Trang 12

họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2006 quy định về đấu thầu

1.2 Một số khái niệm về đấu thầu, đấu thầu mua sắm hàng hóa

1.2.1 Khái niệm đấu thầu

Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế3

1.2.2 Khái niệm mua sắm hàng hóa

Hàng hóa gồm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng và các dịch vụ không phải là dịch vụ tư vấn6

Mua sắm hàng hóa là việc mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng và các dịch vụ không phải là dịch vụ tư vấn Tất cả các hàng hóa trên đều có thể tham gia đấu thầu, trừ các hàng hóa thuộc danh mục kinh doanh có điều kiện, cấm kinh doanh

Tóm lại, đấu thầu mua sắm hàng hóa là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu để thực hiện các gói thầu mua sắm máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng và các dịch vụ không phải là dịch vụ tư vấn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đấu thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

1.2.3 Các chủ thể có liên quan trong đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước

Trang 13

định thành lập đối với các tổ chức không có đăng ký kinh doanh; hạch toán kinh tế độc lập; không bị cơ quan có thẩm quyền kết luận về tình hình tài chính không lành mạnh, đang lâm vào tình trạng phá sản hoặc nợ đọng không có khả năng chi trả; đang trong quá trình giải thể7 Một nhà thầu có đủ tư cách hợp lệ thì họ được quyền tham gia đấu thầu với tư cách là nhà thầu độc lập hoặc nhà thầu liên danh8 Khi nhà thầu tự thấy đủ khả năng cạnh tranh, nhà thầu thường tham dự đấu thầu một cách độc lập Trong Luật Đấu thầu gọi đây là “nhà thầu độc lập” Đây là hình thức được nhà thầu ưa thích vì nhà thầu có thể tự quyết định mọi vấn đề liên quan tới đấu thầu

mà không cần bàn bạc, thống nhất với ai Nhà thầu độc lập chịu trách nhiệm tham gia đấu thầu, đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Trong Luật Đấu thầu gọi đây là “nhà thầu chính” và được gọi là “nhà thầu tham gia đấu thầu”9 Các quy định trong Luật, Nghị định và mẫu HSMT đều đề cập đến nhà thầu tham gia đấu thầu tức nhà thầu chính Đã là nhà thầu chính thì có quyền và nghĩa vụ nêu ở Điều 64 Luật Đấu thầu, trong số đó có nghĩa vụ ký hợp đồng với chủ đầu tư Đối với nhà thầu phụ thì hiện tại không có quy định trách nhiệm của nhà thầu này với chủ đầu tư vì Luật quy định nhà thầu phụ không chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, có thể thực hiện một phần công việc của gói thầu thông qua thỏa thuận hoặc hợp đồng ký với nhà thầu chính Do vậy trong luật mới quy định rằng “nhà thầu chính” chỉ được tham gia trong 1 HSDT đối với 1 gói thầu10 , còn

“nhà thầu phụ” thì có thể quan hệ, hợp tác với tất cả các “nhà thầu chính” trong 1 gói thầu

Tuy nhiên, có những gói thầu có giá trị lớn, phức tạp mà một nhà thầu (có tư cách hợp lệ) không đủ sức tham gia hoặc giá chào không cạnh tranh thì nhà thầu này sẽ liên kết với một hoặc một số nhà thầu khác (cũng có tư cách hợp lệ) để cùng tham gia đấu thầu bằng cách phân chia với nhau về trách nhiệm thực hiện các công việc của gói thầu Cách tham gia đấu thầu như vậy (gồm vài nhà thầu riêng lẻ ví dụ A+B) thì Luật Đấu thầu gọi là nhà thầu liên danh (cũng là nhà thầu chính) Gọi là nhà thầu liên danh để thể hiện rằng họ tham gia đấu thầu với tư cách là một nhà thầu (không khác gì một nhà thầu độc lập) Do vậy nhà thầu liên danh (nhà thầu chính) chịu trách nhiệm tham gia đấu thầu, đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng Trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP cho phép trong liên danh có thể cử

7

Khoản 11 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2005

8 Khoản 1 Điều 64 Luật Đấu thầu năm 2005

Trang 14

người đại diện (người đứng đầu liên danh) thay mặt liên danh chịu trách nhiệm đứng tên mua HSMT, đại diện liên danh ký đơn dự thầu, nộp bảo đảm dự thầu, thương thảo, hoàn thiện hợp đồng với điều kiện trong thỏa thuận liên danh (theo mẫu nêu trong HSMT) đề cập tới nội dung này Nhưng việc ký hợp đồng trong trường hợp nhà thầu liên danh trúng thầu thì Luật Đấu thầu yêu cầu phải có chữ ký của tất cả các thành viên trong liên danh11

1.2.3.2 Bên mời thầu

Là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu12

1.2.3.3 Chủ đầu tư

Là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án Hiện tại chủ đầu tư được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng (mà trước đây trong Luật Đấu thầu năm 2005 giao cho nguời

có thẩm quyền) như toàn quyền xử lý các tình huống trong đấu thầu, phê duyệt hồ

sơ mời thầu, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu13

1.2.3.4 Người có thẩm quyền

Là người được quyền quyết định dự án theo quy định của pháp luật14 Người

có thẩm quyền không nên ký hồ sơ có tính kỹ thuật, chuyên môn, do vậy trong Luật

số 38 năm 2009 đã bổ sung 03 trách nhiệm của người có thẩm quyền vào quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư (đề cập ở trên)

1.3 Mục đích, vai trò của đấu thầu mua sắm hàng hóa

1.3.1 Mục đích

Đấu thầu mua sắm hàng hóa nhằm mục đích lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng mua sắm hàng hóa trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Trang 15

Nhằm đạt được các mục tiêu trên, trong Luật Đấu thầu, Nghị định 85/2009/NĐ-CP, mẫu HSMT có quy định một số nội dung về việc đánh giá HSDT

để so sánh, xếp hạng và xác định nhà thầu trúng thầu như sau:

- Về tiêu chuẩn đánh giá các HSDT: TCĐG về năng lực, kinh nghiệm và

kỹ thuật: sử dụng tiêu chí đạt/ không đạt, nghĩa là đưa ra mức yêu cầu tối thiểu nào

đó (phù hợp với yêu cầu của gói thầu) rồi căn cứ vào thông tin do nhà thầu cung cấp

để đánh giá, nếu đáp ứng hoặc tốt hơn mức yêu cầu tối thiểu thì được đánh giá là

“đạt”, trường hợp ngược lại là “không đạt” TCĐG về tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạng các HSDT: sử dụng giá đánh giá Giá này dựa trên cơ sở giá dự thầu của nhà thầu sau khi tiến hành sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch (nếu có) rồi đưa về một mặt bằng chung cho các HSDT (mặt bằng về các yếu tố kỹ thuật, tài chính, thương mại)15

- Trình tự đánh giá HSDT: gói thầu MSHH không phải là quy mô nhỏ thì gồm đánh giá sơ bộ (đánh giá theo điều kiện tiên quyết, theo yêu cầu về năng lực và kinh nghiệm trong HSMT), đánh giá chi tiết (đánh giá về mặt kỹ thuật theo TCĐG, đánh giá về mặt tài chính, thương mại để xác định giá đánh giá)16

Như vậy, chỉ những HSDT vượt qua bước đánh giá về mặt kỹ thuật mới được xác định giá đánh giá trên một mặt bằng theo TCĐG trong HSMT Nhưng để được xác định giá đánh giá thì HSDT không được vi phạm quy định về sửa lỗi (trong đó có lỗi số học), về hiệu chỉnh sai lệch17 Nhà thầu được xếp hạng theo giá đánh giá, nhà thầu có giá đánh giá thấp nhất được xếp hạng nhất Điều này nói lên rằng HSDT này mang lại hiệu quả cao nhất Nhưng xếp thứ nhất về giá đánh giá mới là điều kiện cần, còn để được đề nghị trúng thầu thì nhà thầu này cần thêm điều kiện đủ là phải có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu18 Điểm cần quan tâm là trong đấu thầu thì không có khái niệm đáp ứng tốt hơn, có sản phẩm tốt hơn bởi lẽ nó không có định lượng Trong đấu thầu có nhiều loại giá khác nhau (giá gói thầu, giá dự thầu, giá dự thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch, giá đánh giá,…) Bản thân “giá dự thầu” chưa nói lên điều gì bởi vì trong quá trình đánh giá, giá dự thầu

sẽ thay đổi (tăng lên hoặc giảm xuống theo việc sửa lỗi, hiệu chỉnh sai lệch) Cuối cùng, giá đánh giá mới là cơ sở để quyết định thứ hạng của nhà thầu Nếu nhà thầu

Trang 16

nào đó chào sản phẩm tốt thì hiểu rằng sự tốt đó là mang lại lợi ích cho chủ đầu tư (thông qua giá đánh giá của nhà thầu này thấp hơn các nhà thầu khác) Để đảm bảo mục tiêu công bằng, minh bạch, cạnh tranh trong đấu thầu thì việc đánh giá HSDT

để so sánh, xếp hạng không thể dựa vào cảm tính, mà cần được đánh giá thông qua TCĐG trong HSMT

1.3.2 Vai trò

Công tác đấu thầu đóng góp những thành tựu to lớn cho sự phát triển kinh

tế, thể hiện vai trò quan trọng trong các hoạt động của kinh tế thị trường, cụ thể vai trò của hoạt động đấu thầu thể hiện cơ bản qua các mặt sau:

Là một công cụ quan trọng của kinh tế thị trường, giúp người mua (bên mời thầu) và người bán (nhà thầu) gặp nhau thông qua cạnh tranh;

Phát triển các ngành sản xuất theo hướng chuyên môn hóa và hợp tác hóa, thông qua đấu thầu, nhiều nhà thầu lớn mạnh, nhiều doanh nghiệp được thành lập mới hoặc đặt chân vào thị trường đấu thầu, kích thích thị trường trong nước phát triển chống được sự độc quyền Các chủ đầu tư, bên mời thầu cũng được tăng cường về năng lực, họ có thêm kiến thức, thông tin và trở thành những người mua ngày một thông thái hơn Bên cạnh đó, hoạt động đấu thầu góp phần tạo động lực cho sự phát triển nhờ tăng cường sự công khai, minh bạch, công bằng, hiệu quả và thúc đẩy cạnh tranh đặc biệt là các hoạt động mua sắm bằng nguồn vốn của Nhà nước cho các công trình công cộng;

Là một công cụ quan trọng giúp các chính phủ quản lý chi tiêu, sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước sao cho có hiệu quả và chống thất thoát, lãng phí Đó

là những khoản tiền được chi dùng cho đầu tư phát triển có sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước ở một mức độ nào đó, cũng như cho mục tiêu duy trì các hoạt động của bộ máy Nhà nước;

Cùng với pháp luật về thực hành tiết kiệm chống lãng phí, pháp luật về phòng, chống tham nhũng tạo thành công cụ hữu hiệu để chống lại các hành vi gian lận, tham nhũng và lãng phí trong việc chi tiêu các nguồn tiền của Nhà nước, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ xã hội nhờ thực hiện các hoạt động mua sắm công theo đúng luật pháp của Nhà nước;

Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các quốc gia, các tổ chức phát triển với các quốc gia đang phát triển Hoạt động đấu thầu không chỉ diễn ra trong phạm vi hẹp mà được diễn ra trên toàn thế giới Các

Trang 17

nhà thầu danh tiếng trên thế giới là những người sẵn sàng và có khả năng tham gia vào tất cả các hoạt động của các quốc gia, thông qua đó họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm;

Việc chi tiêu, sử dụng tiền của Nhà nước thông qua đấu thầu sẽ giúp các

cơ quan quản lý có điều kiện xem xét, quản lý và đánh giá một cách minh bạch các khoản chi tiêu vì quá trình đấu thầu phải tuân thủ các quy trình chặt chẽ với sự tham gia của nhiều bên;

Tạo điều kiện để thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế từ cơ chế tập trung bao cấp, cơ chế “xin”, “cho” sang cơ chế cạnh tranh

1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu mua sắm hàng hóa trong nước

1.4.1 Đấu thầu rộng rãi

Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham

dự, việc mời thầu được đăng tải trên Báo Đấu thầu (đối với đấu thầu rộng rãi trong nước không có sơ tuyển) hoặc gửi thư mời thầu (đối với đấu thầu rộng rãi trong nước đã qua sơ tuyển) Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu mang lại tỉ lệ tiết kiệm (tỉ lệ giữa giá trúng thầu trên giá gói thầu) là cao nhất so với các hình thức còn lại

Trong hầu hết trường hợp, đấu thầu rộng rãi là hình thức được khuyến khích

sử dụng nhiều nhất, dù là nguồn vốn thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu hay không, do tính chất ưu việt là đảm bảo được sự cạnh tranh tối đa (thông qua mời thầu rộng rãi trên Báo Đấu thầu (bắt buộc đối với các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đấu thầu) và các phương tiện thông tin đại chúng khác (theo quy định của Nghị định 85/2009/NĐ-CP và Thông tư liên tịch 20/2010/TTLT-BKH-BTC Nhà thầu được tạo đủ điều kiện để tiếp nhận thông tin về cuộc đấu thầu

1.4.2 Đấu thầu hạn chế

Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác Đây là hình thức lựa chọn nhà thầu theo yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu; gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật

Trang 18

có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu19

1.4.3 Chỉ định thầu

Hình thức lựa chọn nhà thầu này luôn được coi là trường hợp đặc biệt và phải có đủ điều kiện theo quy định mới được xem xét, gồm: sự cố bất khả kháng do thiên tai, địch họa, sự cố cần khắc phục ngay; gói thầu do yêu cầu của nhà tài trợ nước ngoài; gói thầu mang tính chất bí mật quốc gia; gói thầu thuộc dự án cấp bách

vì lợi ích quốc gia; gói thầu mua sắm các loại vật tư, thiết bị để phục hồi, duy tu, mở rộng công suất của thiết bị trước đó đã được mua từ một nhà thầu cung cấp và không thể mua từ các nhà thầu cung cấp khác do phải bảo đảm tính tương thích của thiết bị, công nghệ20 Ngay khi thuộc diện để xem xét chỉ định thầu trong KHĐT thì trong Luật Đấu thầu (được sửa đổi bởi Luật số 38) yêu cầu “phải đảm bảo việc chỉ định thầu hiệu quả hơn đấu thầu” Khi thực hiện chỉ định thầu, phải lựa chọn một nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm đáp ứng các yêu cầu của gói thầu và phải tuân thủ quy trình thực hiện chỉ định thầu do Chính phủ quy định

1.4.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu khác

1.4.4.1 Mua sắm trực tiếp

Mua sắm trực tiếp được áp dụng khi hợp đồng đối với gói thầu có nội dung tương tự được ký trước đó không quá sáu tháng Khi thực hiện mua sắm trực tiếp, được mời nhà thầu trước đó đã được lựa chọn thông qua đấu thầu để thực hiện gói thầu có nội dung tương tự Đơn giá đối với các nội dung thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các nội dung tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó Được áp dụng mua sắm trực tiếp để thực hiện gói thầu tương tự thuộc cùng một dự án hoặc thuộc dự án khác21

1.4.4.2 Chào hàng cạnh tranh

Chào hàng cạnh tranh là một trong những hình thức lựa chọn nhà thầu có

sự khác biệt so với đấu thầu rộng rãi và hạn chế là không yêu cầu nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu Chào hàng cạnh tranh được áp dụng trong trường hợp gói thầu có giá gói thầu dưới hai tỷ đồng; nội dung mua sắm là những hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và

Trang 19

tương đương nhau về chất lượng Khi thực hiện chào hàng cạnh tranh, phải gửi yêu cầu chào hàng cho các nhà thầu Nhà thầu gửi báo giá đến bên mời thầu một cách trực tiếp, bằng fax hoặc qua đường bưu điện Đối với mỗi gói thầu phải có tối thiểu

ba báo giá từ ba nhà thầu khác nhau22

1.4.4.3 Tự thực hiện

Đây là hình thức mà chủ đầu tư trực tiếp thực hiện gói thầu thuộc dự án

do mình quản lý Chủ đầu tư phải bảo đảm có đủ năng lực, kinh nghiệm, có chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với yêu cầu của gói thầu; đủ nhân lực chủ chốt, đủ nguồn lực23 Đây là hình thức duy nhất trong các hình thức lựa chọn nhà thầu mà trình tự thực hiện đấu thấu không có quá trình thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng (do đặc thù của hình thức tự thực hiện là chủ đầu tư thực hiện gói thầu thuộc dự án do mình quản lý) Ngoài ra, hình thức tự thực hiện cũng có điểm đặc biệt khác với các hình thức lựa chọn nhà thầu khác là không quy định thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng

1.4.4.4 Lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt

Trường hợp gói thầu có đặc thù riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu nêu trên thì chủ đầu tư phải lập phương án lựa chọn nhà thầu, bảo đảm mục tiêu cạnh tranh và hiệu quả kinh tế trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định24

22

Điều 22 Luật Đấu thầu năm 2005

23 Điều 23 Luật Đấu thầu năm 2005

24

Điều 24 Luật Đấu thầu năm 2005

Trang 20

CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐẤU THẦU MUA SẮM HÀNG HÓA TRONG NƯỚC

Trong chương này tác giả tập trung trình bày các một số các quy định của pháp luật có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đấu thầu mua sắm hàng hóa tại Việt Nam hiện nay: kế hoạch đấu thầu, sơ tuyển nhà thầu, lựa chọn nhà thầu (gồm đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, chỉ định thầu,

các hình thức lựa chọn nhà thầu khác), giải quyết kiến nghị trong đấu thầu

1 Kế hoạch đấu thầu

Nội dung KHĐT được quy định khá chặt chẽ trong Luật, Nghị định, cụ thể như sau: kế hoạch đấu thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt bằng văn bản sau khi phê duyệt quyết định đầu tư hoặc phê duyệt đồng thời với quyết định đầu tư trong trường hợp đủ điều kiện để làm cơ sở pháp lý cho chủ đầu tư tổ chức lựa chọn nhà thầu, trừ gói thầu cần thực hiện trước khi có quyết định đầu tư Kế hoạch đấu thầu phải lập cho toàn bộ dự án; việc phân chia dự án thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện, bảo đảm tính đồng bộ của dự án và có quy mô gói thầu hợp lý Mỗi gói thầu chỉ có một hồ sơ mời thầu và được tiến hành đấu thầu một lần Một gói thầu được thực hiện theo một hợp đồng; trường hợp gói thầu gồm nhiều phần độc lập thì được thực hiện theo một hoặc nhiều hợp đồng25

2.1.1 Căn cứ lập kế hoạch đấu thầu

Có năm căn cứ để tiến hành lập kế hoạch đấu thầu, như sau:

1 Quyết định đầu tư và các tài liệu có liên quan;

2 Điều ước quốc tế hoặc văn bản thỏa thuận quốc tế đối với các dự án sử dụng vốn ODA;

3 Thiết kế, dự toán được duyệt (nếu có);

Trang 21

2.1.2 Nội dung của từng gói thầu trong kế hoạch đấu thầu

Có bảy nội dung cơ bản trong kế hoạch đấu thầu được quy định chi tiết như sau27:

2.1.2.1 Tên gói thầu

Tên gói thầu thể hiện tính chất, nội dung và phạm vi công việc của gói thầu, phù hợp với nội dung nêu trong dự án Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt (nhiều lô), trong kế hoạch đấu thầu cần nêu tên thể hiện nội dung cơ bản của từng phần28

Một trong những điểm cần lưu ý liên quan đến “gói thầu” là “mỗi gói thầu chỉ có một HSMT và được tiến hành đấu thầu một lần29” Khi đã có một gói thầu được phê duyệt trong KHĐT thì việc thực hiện đấu thầu (lựa chọn nhà thầu) chỉ được tiến hành một lần, không thể tuần này tổ chức đấu thầu cho một phần của gói thầu, tuần sau lại đấu thầu cho phần tiếp theo, tức là chỉ với một HSMT30 Nếu việc thực hiện đấu thầu không thành công thì mọi công việc lại phải bắt đầu lại từ đầu Bởi vì KHĐT đã phê duyệt là không thực hiện được Chủ đầu tư phải báo cáo người

có thẩm quyền để xem xét quyết định điều chỉnh KHĐT cho phù hợp

Tuy nhiên trong trường hợp một gói thầu lại gồm nhiều phần (công việc) độc lập (còn được gọi là lô) thì trong HSMT có thể cho phép nhà thầu chào cho từng phần (từng lô) để nâng cao tính cạnh tranh Bằng cách này nhà thầu chỉ có khả năng chào cho một phần hoặc nhà thầu đủ khả năng chào cho cả gói thầu đều có thể tham gia đấu thầu, làm tăng tính cạnh tranh mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn cho gói thầu Khi đó nhà thầu tham gia dù chỉ cho một lô nào đó thì vẫn phải mua HSMT cho cả gói thầu vì chỉ có một HSMT Để thực hiện theo hình thức này thì ngoài đặc thù của gói thầu gồm những phần công việc độc lập, riêng biệt, cần phải nêu cách lựa chọn này trong KHĐT31

Trang 22

Bên cạnh đó, việc phân chia dự án thành các gói thầu là một nội dung của kế hoạch đấu thầu quy định tại Luật Đấu thầu32 và trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP, theo đó không có quy định là nhất thiết phải chia dự án thành bao nhiêu gói thầu Việc phân chia này Luật dành cho chủ đầu tư khi xây dựng kế hoạch đấu thầu, người thẩm định và người duyệt (người quyết định đầu tư dự án) tự xem xét, quyết định Tại Điều 6 Luật Đấu thầu quy định có tính nguyên tắc rằng việc phân chia dự

án thành các gói thầu phải căn cứ theo tính chất kỹ thuật, trình tự thực hiện, bảo đảm tính đồng bộ của dự án và có quy mô hợp lý Một số nội dung trong Luật, Nghị định được quy định không định lượng (đôi khi là không thể) mà quy định mang tính nguyên tắc, định tính Trong những trường hợp như vậy thì những người có trách nhiệm liên quan tự chịu trách nhiệm với quyết định của mình Vì vậy, năng lực, phẩm chất của từng người tham gia hoạt động đấu thầu là hết sức quan trọng

2.1.2.2 Giá gói thầu

Giá gói thầu được xác định trên cơ sở tổng vốn đầu tư, dự toán được duyệt (nếu có) và các quy định liên quan Trường hợp gói thầu gồm nhiều lô thì nêu rõ giá trị ước tính cho từng phần trong giá gói thầu33

Giá gói thầu là một nội dung thuộc KHĐT, KHĐT phải được đăng tải công khai trên Báo Đấu thầu34, do vậy giá gói thầu được công khai cùng với KHĐT Việc công khai giá gói thầu nhằm mục tiêu “minh bạch” trong đấu thầu Trong quá trình hình thành một dự án, các thông tin như tổng mức đầu tư, quy mô, thời gian dự kiến hoàn thành,… thường được công khai Do vậy trị giá một gói thầu thuộc một dự án

đã duyệt dễ dàng có thể biết được Vấn đề đơn giản như vậy mà thường được quan trọng hóa, coi dự toán (giá gói thầu) là điều bí mật thì đây lại là tiền đề cho những hành động tiêu cực, phải bỏ chi phí để săn lùng Càng công khai bao nhiêu thì sự tiêu cực cũng giảm theo

Tuy nhiên, chất lượng (độ chính xác) của dự toán (giá gói thầu) là rất quan trọng, đặc biệt khi thực hiện chỉ định thầu, còn trong đấu thầu (rộng rãi hoặc hạn chế) sự cạnh tranh giữa các nhà thầu sẽ làm cho giá gói thầu đã công khai không còn nhiều ý nghĩa Bởi vì các nhà thầu đưa ra giá dự thầu không chỉ dựa vào dự toán (giá gói thầu) mà còn phải tính tới sự cạnh tranh đối với các đối thủ (các nhà thầu khác)

Trang 23

Việc công khai giá gói thầu đã được Luật Đấu thầu quy định phải thực hiện công khai trên Báo Đấu thầu Để hạn chế ảnh hưởng không tích cực của vấn đề này thì chỉ nên áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi tạo sự cạnh tranh tối đa Mặt khác, theo Luật Đấu thầu, một nhà thầu sẽ chỉ được đề nghị trúng thầu khi có hồ sơ hợp

lệ, đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật, xếp thứ nhất và có giá đề nghị trúng thầu không vượt giá gói thầu Do vậy chất lượng của công tác xây dựng, thẩm định, phê duyệt

dự toán (giá gói thầu) là hết sức quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của gói thầu Bằng cách tuân thủ đúng quy định, nâng cao chất lượng các hồ sơ, tài liệu liên quan tới gói thầu thì việc công khai hay không công khai giá gói thầu chỉ có ý nghĩa ở mức độ nhất định

2.1.2.3 Nguồn vốn

Đối với mỗi gói thầu phải nêu rõ nguồn vốn hoặc phương thức thu xếp vốn

để thanh toán cho nhà thầu35 Đây là điều kiện cần thiết để đảm bảo quyền lợi của nhà thầu vì chủ đầu tư phải có đủ nguồn vốn cần thiết để thanh toán cho nhà thầu khi nhà thầu hoàn thành nghĩa vụ của mình

2.1.2.4 Hình thức lựa chọn nhà thầu, phương thức đấu thầu

Khi xây dựng KHĐT để người có thẩm quyền xem xét phê duyệt, chủ đầu tư phải hiểu đặc thù của gói thầu, các điều kiện để áp dụng một hình thức lựa chọn nhà thầu nào đó theo quy định

KHĐT phải nêu hình thức lựa chọn nhà thầu36; phương thức đấu thầu theo quy định sau:37

Phương thức đấu thầu một túi hồ sơ được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa Nhà thầu nộp hồ sơ

dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu Việc mở thầu được tiến hành một lần

Phương thức đấu thầu hai giai đoạn được áp dụng đối với hình thức đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế cho gói thầu mua sắm hàng hóa có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, đa dạng và được thực hiện theo trình tự sau đây:

Trang 24

Thứ nhất, trong giai đoạn một, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn một, các

nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính nhưng chưa có giá dự thầu; trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai;

Thứ hai, trong giai đoạn hai, theo hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, các nhà

thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu giai đoạn hai bao gồm:

đề xuất về kỹ thuật; đề xuất về tài chính, trong đó có giá dự thầu; biện pháp bảo đảm dự thầu.38

Cần hiểu nhóm từ “phương thức đấu thầu” không phải là theo nghĩa đen, do vậy phải hiểu theo ý nghĩa đích thực của nó Thông qua nội dung trên thì hiểu rằng

“phương thức đấu thầu một túi hồ sơ” nghĩa là tiến hành mở thầu một lần, phương thức này áp dụng cho các gói thầu mua sắm hàng hóa

Như vậy quy định về phương thức đấu thầu liên quan tới việc mở HSDT để đánh giá Tất cả các quy định đấu thầu trên thế giới đều quy định việc mở thầu phải tiến hành công khai và nhà thầu tham dự thầu phải được mời tới dự Thông thường

lễ mở thầu là một dấu ấn, một sự kiện mang lại niềm hy vọng trúng thầu của nhà thầu này nhưng cũng gây ra sự tiếc nuối của nhà thầu khác Trong đấu thầu MSHH, yếu tố về giá sẽ quyết định thứ hạng các nhà thầu đã vượt qua đánh giá về mặt kỹ thuật Trong Luật Đấu thầu của chúng ta (cũng như thông lệ đấu thầu trên thế giới)

sử dụng giá đánh giá để so sánh, xếp hạng HSDT Giá này được xây dựng trên cơ

sở giá dự thầu (được công bố trong lễ mở thầu), sau khi tiến hành sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch (nếu có) của HSDT Thư giảm giá (nếu có) cũng điều chỉnh giá

dự thầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá mà thư này không được nêu trong buổi mở thầu thì sau này có phát hiện ra trong quá trình đánh giá thì cũng không được xem xét Ý nghĩa các thông tin về giá trong buổi mở thầu là quan trọng và cũng dễ có tiêu cực nếu không được công khai ngay từ khi mở thầu nên có lẽ vì thế đối với gói MSHH việc mở thầu chỉ thực hiện một lần

Tuy nhiên, đối với gói thầu dịch vụ tư vấn thì chi phí (giá dự thầu) không phải là vấn đề quan trọng nhất Công việc tư vấn đòi hỏi các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm chuyên môn Bởi lẽ trong đấu thầu dịch vụ tư vấn việc mở thầu lần đầu để đánh giá là mở hồ sơ đề xuất kỹ thuật nhằm xác định đội ngũ chuyên gia của nhà thầu là đáp ứng yêu cầu của gói thầu Chỉ nhà thầu nào đạt điểm

38

Điều 26 Luật Đấu thầu năm 2005

Trang 25

kỹ thuật vượt qua mức yêu cầu tối thiểu (70% đối với dịch vụ tư vấn không yêu cầu

kỹ thuật cao, 80% đối với dịch vụ tư vấn yêu cầu kỹ thuật cao) thì được mở hồ sơ

đề xuất tài chính

Như vậy cách mở và đánh giá HSDT đối với hai nhóm lĩnh vực (dịch vụ tư vấn và không phải dịch vụ tư vấn) là khác nhau xuất phát từ mong muốn lựa chọn nhà thầu đáp ứng yêu cầu đặc thù của từng lĩnh vực Phương thức đấu thầu quy định tại Điều 26 nêu trên cũng là cách làm thông dụng trên thế giới

Điều cần lưu ý là nhóm từ “phương thức đấu thầu một túi (hoặc hai túi) hồ sơ” viết đầy đủ như vậy mới có ý nghĩa, bỏ bớt nhóm từ “phương thức đấu thầu” thì không còn ý nghĩa nữa

2.1.2.5 Thời gian lựa chọn nhà thầu

Thời gian tổ chức thực hiện việc lựa chọn nhà thầu thực hiện gói thầu để bảo đảm tiến độ của gói thầu Thời gian lựa chọn nhà thầu được tính từ ngày phát hành

hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu đến ngày ký kết hợp đồng Trường hợp đấu thầu rộng rãi có áp dụng thủ tục lựa chọn danh sách ngắn, thời gian lựa chọn nhà thầu được tính từ ngày phát hành hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời quan tâm đến ngày ký kết hợp đồng39

Như vậy, việc tiếp cận thời gian lựa chọn nhà thầu sẽ bao gồm hai nội dung: Thứ nhất: thời gian tổ chức để lựa chọn được nhà thầu (ví dụ vào tháng 10 hoặc quý IV/2014)

Thứ hai: khoảng thời gian (ví dụ bao nhiêu ngày) kể từ ngày phát hành HSMT (HSYC) đến ngày ký kết hợp đồng Khoảng thời gian này bao gồm nhiều công việc và phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, chẳng hạn gồm thời gian dành cho nhà thầu chuẩn bị HSDT (HSĐX), thời gian đánh giá HSDT (HSĐX), thời gian thẩm định kết quả đánh giá, thời gian xem xét, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, thời gian thương thảo, hoàn thiện hợp đồng và thời gian để xử lý tình huống

Thời gian lựa chọn nhà thầu là một trong những yêu cầu quan trọng (điều kiện tiên quyết) của HSMT để loại bỏ HSDT Để có yêu cầu trong HSMT về thời gian có hiệu lực của HSDT thì người xây dựng HSMT phải nắm được chuỗi thời gian từ lúc bắt đầu phát hành HSMT, thời gian danh cho nhà thầu chuẩn bị HSDT, thời gian

39

Điều 10 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng

Trang 26

đánh giá HSDT, thời gian thẩm định kết quả, thời gian phê duyệt kết quả và thời gian thương thảo, hoàn thiện để ký hợp đồng Chuỗi thời gian này được xác định trong KHĐT, nghĩa là khi xây dựng KHĐT đã phải tính toán thời gian lựa chọn nhà thầu sẽ kéo dài bao nhiêu ngày để từ đó trình và duyệt trong KHĐT Chuỗi thời gian này chính là yêu cầu về thời gian có hiệu lực của HSDT đối với nhà thầu khi tham gia đấu thầu để đảm bảo rằng cho tới khi ký kết hợp đồng thì HSDT của nhà thầu

trúng thầu vẫn còn hiệu lực, phù hợp với quy định “Việc ký kết hợp đồng phải đảm

Đối với thời gian lựa chọn nhà thầu, khi thực hiện gặp khó khăn thì chủ đầu tư cần báo cáo lý do để người có thẩm quyền xem xét, quyết định các điều chỉnh cẩn thiết để đảm bảo sự đồng bộ giữa các gói thầu thuộc dự án và hạn chế lãng phí có thể xảy ra

2.1.2.6 Hình thức hợp đồng

Tùy theo tính chất của gói thầu, xác định các hình thức hợp đồng áp dụng đối

với hợp đồng cho gói thầu như sau “hình thức trọn gói, hình thức theo đơn giá, hình

thức theo thời gian, hình thức theo tỷ lệ phần trăm” 41 Trường hợp trong một gói thầu có nhiều công việc tương ứng với nhiều hình thức hợp đồng thì hợp đồng đối với gói thầu đó có thể bao gồm nhiều hình thức hợp đồng.42

Hình thức trọn gói: áp dụng cho những phần công việc được xác định rõ về

số lượng, khối lượng;

Hình thức theo đơn giá: áp dụng cho những phần công việc chưa đủ điều

kiện xác định chính xác về số lượng hoặc khối lượng;

Hình thức theo thời gian: áp dụng cho những phần công việc nghiên cứu

phức tạp, tư vấn thiết kế, giám sát xây dựng, đào tạo, huấn luyện;

Hình thức theo tỷ lệ phần trăm: áp dụng cho những phân công việc tư vấn

thông thường, đơn giản

Trang 27

2.1.2.7 Thời gian thực hiện hợp đồng

Nội dung này được quy định như sau: thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng, bảo đảm việc thực hiện gói thầu phù hợp với tiến độ thực hiện dự án43 Tuy nhiên, trong thực tế sẽ có trường hợp thời gian thực hiện thực tế chậm hơn thì liệu rằng có phải điều chỉnh kế hoạch đấu thầu hay không Khi đó, cần xác định rõ là KHĐT được người có thẩm quyền xem xét, phê duyệt làm cơ sở pháp lý cho việc triển khai, thực hiện Do vậy, khi thực hiện có phát sinh không đảm bảo các yêu cầu đặt ra trong KHĐT thì chủ đầu tư (là người trình và cũng là người thực hiện) cần báo cáo người duyệt (người có thẩm quyền) xem xét, quyết định Có mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung nêu tại mục 2.1.2.5 thời gian lựa chọn nhà thầu và nội dung nêu tại mục 2.1.2.7 này theo hướng sau:

Thời gian thực hiện hợp đồng theo khoản 7 Điều 10 Nghị định

85/2009/NĐ-CP là tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ trong hợp đồng Tuy nhiên, Luật Đấu thầu quy định thời gian có hiệu lực của bảo đảm thực hiện hợp đồng44 (để bảo đảm trách nhiệm thực hiện hợp đồng của nhà thầu trúng thầu) kéo dài cho đến khi chuyển sang thực hiện nghĩa vụ bảo hành Chính vì vậy, trong mẫu HSMT (do Bộ Kế hoạch & Đầu tư ban hành) quy định “thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến ngày chuyển sang nghĩa vụ bảo hành (nếu có)” Như vậy thời gian hợp đồng không bao gồm thời gian bảo hành Khi nhà thầu thực hiện xong hợp đồng thì vẫn còn nghĩa vụ bảo hành (nếu có)45 Như vậy nếu thời gian thực hiện hợp đồng bị kéo dài thì việc này xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng, nghĩa là xảy ra sau khi đã tổ chức đấu thầu và ký hợp đồng với thời gian thực hiện hợp đồng quy định trong KHĐT Do vậy, vấn đề phụ thuộc vào các điều khoản của hợp đồng mà chủ đầu tư

đã ký với nhà thầu, còn việc báo cáo người có thẩm quyền xem xét điều chỉnh KHĐT trong quá trình thực hiện hợp đồng là không còn ý nghĩa

Ngoài ra, việc phân tích sâu nội dung “thời gian thực hiện hợp đồng” sẽ bộc lộ các bất cập như sau:

Trang 28

“Thời gian thực hiện hợp đồng” là nhóm từ được hiểu theo nghĩa đen, chỉ rõ quãng thời gian mà nhà thầu phải hoàn thành các công việc nêu trong hợp đồng được hai bên (chủ đầu tư và nhà thầu) ký xác nhận Nó là một nội dung cực kỳ quan trọng đối với mỗi hợp đồng

Trong Luật Đấu thầu có đề cập đến nhóm từ này ở một số điều (tuy không chi tiết): Thứ nhất, trong KHĐT phải có nội dung “thời gian thực hiện hợp đồng”46

để làm cơ sở đưa vào HSMT và cũng là cơ sở để ký kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự hài hòa về tiến độ giữa các gói thầu thuộc dự án “Thời gian thực hiện hợp đồng” của từng gói thầu được đảm bảo thì dự án mới đảm bảo đúng tiến độ vạch ra, mới đảm bảo hiệu quả của toàn bộ dự án Chính vì tầm quan trọng của nội dung này nên

“thời gian thực hiện hợp đồng” phải được người có thẩm quyền xem xét, phê duyệt trong KHĐT;

Thứ hai, khi có nhà thầu trúng thầu thì trong văn bản phê duyệt kết quả đấu thầu cần bao gồm 4 nội dung, trong đó có nội dung về “thời gian thực hiện hợp đồng”47

Khoản 7 Điều 10 Nghị định 85/2009/NĐ-CP quy định về “thời gian thực hiện hợp đồng”, còn ngày hợp đồng có hiệu lực thì được quy định ở Điều 55 Luật Đấu thầu Theo đó, hợp đồng chỉ có hiệu lực khi nhà thầu nộp bảo đảm thực hiện hợp đồng (điều tất nhiên là hai bên đã ký hợp đồng)

Nhưng nghĩa vụ quy định trong hợp đồng là một khái niệm rộng Một cách khái quát thì nghĩa vụ chính của từng bên như sau:

Đối với chủ đầu tư: có nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng khi các công việc

nhà thầu thực hiện được nghiệm thu;

Đối với nhà thầu: thực hiện các công việc nêu trong hợp đồng để được

nghiệm thu và tiếp đó được thanh toán; thực hiện nghĩa vụ bảo hành đối với gói thầu mua sắm hàng hóa48

Như vậy, theo Điều 10 Nghị định 85/2009/NĐ-CP thì “thời gian thực hiện hợp đồng” đối với nhà thầu bao gồm cả hai nội dung trên, nghĩa là “thời gian thực hiện hợp đồng” phải tính tới khi nhà thầu hoàn thành trách nhiệm bảo hành

Trang 29

Tuy nhiên, trong mẫu HSMT mua sắm hàng hóa đã có sự điều chỉnh kịp thời về

cụm từ “thời gian thực hiện hợp đồng” Tại mục 1 của mẫu HSMT định nghĩa: “thời

gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến ngày

Qua so sánh giữa định nghĩa trong Nghị định 85/2009/NĐ-CP và trong mẫu HSMT thấy có sự khác nhau Tuy nhiên, khi tổ chức đấu thầu để lựa chọn nhà thầu thì chỉ sử dụng mẫu HSMT, mọi quy định của Luật, Nghị định đã được cụ thể hóa trong HSMT Mặt khác, đối với những người tổ chức lựa chọn nhà thầu thì HSMT

là căn cứ để đánh giá HSDT, để thương thảo, hoàn thiện hợp đồng Về nguyên tắc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì văn bản có tính pháp lý thấp hơn không được mâu thuẫn với văn bản có tính pháp lý cao hơn Giả định có sự mâu thuẫn giữa mẫu HSMT và Nghị định 85/2009/NĐ-CP nhưng sự mâu thuẫn này vẫn không hoặc chưa được điều chỉnh thì văn bản vẫn có đầy đủ tính pháp lý để thực hiện Nội dung bất cập này chưa được điều chỉnh trong Luật Đấu thầu năm 2013,

Hy vọng các bất cập này sớm được cơ quan Nhà nước xem xét, điều chỉnh để đảm bảo sự thống nhất trong các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện không phải trả lời những câu hỏi đặt ra của các cơ quan thanh kiểm tra hoặc cơ quan liên quan về nội dung “thời gian thực hiện hợp đồng”

2.1.3 Trình duyệt, thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu

2.1.3.2 Thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu

Thẩm định kế hoạch đấu thầu là việc tiến hành kiểm tra, đánh giá các nội dung theo quy định Cơ quan, tổ chức thẩm định kế hoạch đấu thầu phải lập báo cáo kết quả thẩm định trình người có thẩm quyền phê duyệt

Trang 30

Người có thẩm quyền hoặc người được ủy quyền quyết định đầu tư; người đứng đầu cơ quan chủ đầu tư hoặc người đứng đầu đơn vị được giao nhiệm vụ chuẩn bị

dự án trong trường hợp gói thầu được thực hiện trước khi có quyết định đầu tư có trách nhiệm phê duyệt kế hoạch đấu thầu trong thời hạn không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo của cơ quan, tổ chức thẩm định Việc phê duyệt kế hoạch đấu thầu thuộc trách nhiệm của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện theo Quy chế làm việc của Chính phủ51

Cụ thể hóa các quy định của Luật, Nghị định thì người phê duyệt kế hoạch đấu thầu khi có yêu cầu điều chỉnh như sau: về nguyên tắc, ai duyệt KHĐT đồng thời là người duyệt chỉnh sửa, bổ sung Nhưng Điều 70 Nghị định 85/2009/NĐ-CP có quy định về việc sửa đổi từng nội dung của KHĐT trong từng trường hợp là khác nhau,

cụ thể là:

 Những sửa đổi điều chỉnh KHĐT bắt buộc phải trình người có thẩm quyền:

“Trường hợp vượt tổng mức đầu tư phải thực hiện điều chỉnh tổng mức

thế giá gói thầu dẫn đến làm tăng tổng mức đầu tư thì phải do người có thẩm quyền xem xét, quyết định;

“Trường hợp cần điều chỉnh giá gói thầu trong kế hoạch đấu thầu đã

duyệt thì người có thẩm quyền có trách nhiệm phê duyệt điều chỉnh trong thời gian

quy định chi tiết thời gian điều chỉnh giá gói thầu trong KHĐT đã duyệt;

“Trường hợp có một phần hoặc nhiều phần thuộc gói thầu không có nhà

thầu tham gia đấu thầu hoặc không có nhà thầu đáp ứng yêu cầu về mặt kỹ thuật, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền để điều chỉnh kế hoạch đấu thầu của gói thầu theo hướng tách các phần đó thành gói thầu riêng với giá gói thầu là tổng chi

với các gói thầu chia theo lô, đặc biệt khi KHĐT được lập mà không khảo sát thực

Trang 31

tế các nhà thầu tại địa phương, hoặc giá trị từng lô là nhỏ nên không thu hút được nhiều nhà thầu, dẫn đến một hoặc nhiều phần của gói thầu không có nhà thầu tham

dự, hoặc không đáp ứng về mặt kỹ thuật, khi đó việc xử lý tình huống theo quy định này, nhưng bất kỳ phần việc nào thuộc KHĐT được điều chỉnh thì tiến độ chung của dự án sẽ bị ảnh hưởng, dù ít hay nhiều

 Nội dung điều chỉnh không cần trình người có thẩm quyền:

“Trường hợp dự toán cao hơn giá gói thầu dẫn đến hình thức lựa chọn

nhà thầu được phê duyệt trong KHĐT không còn phù hợp thì chủ đầu tư xem xét, quyết định chuyển đổi hình thức lựa chọn nhà thầu cho phù hợp với quy định của

dung KHĐT không còn phù hợp khi dự toán cao hơn giá gói thầu, chủ đầu tư phải thực hiện chuyển đổi hình thức lựa chọn nhà thầu phù hợp, đặc biệt nếu hình thức lựa chọn nhà thầu là chỉ định thầu, gói thầu quy mô nhỏ thì càng phải lưu ý đến điều kiện áp dụng (chỉ định thầu) và thời gian tiến hành các bước tiếp theo (gói thầu quy

mô nhỏ, vì thời gian sẽ rút ngắn cho từng bước đối với gói thầu này)

Trường hợp dự toán của gói thầu (không bao gồm dự phòng) được duyệt thấp hơn hoặc cao hơn giá gói thầu đã duyệt thì dự toán này sẽ thay thế giá gói thầu

để làm cơ sở xem xét kết quả lựa chọn nhà thầu mà không phải thực hiện điều chỉnh giá gói thầu trong KHĐT đã duyệt (tất nhiên phải đảm bảo tổng mức đầu tư của dự

án không bị vượt)

Như vậy, việc sửa đổi, điều chỉnh KHĐT (tức thay đổi bất kỳ nội dung nào trong KHĐT đã duyệt) được quy định xử lý theo từng trường hợp nêu trên Trong thực tiễn nếu có xuất hiện các tình huống khác thì chủ đầu tư xem xét, quyết định nếu thuộc thẩm quyền của mình thì chủ đầu tư quyết định, nếu vượt ra ngoài thẩm quyền thì trình người có thẩm quyền

2 Sơ tuyển nhà thầu

Việc sơ tuyển được thực hiện trước khi tổ chức đấu thầu nhằm mục đích qua sơ tuyển thì bên mời thầu chọn được các nhà thầu có đủ năng lực (năng lực kỹ thuật và tài chính) và kinh nghiệm đối với gói thầu để mời tham gia đấu thầu

55

Khoản 2 Điều 70 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng

Trang 32

2.2.1 Áp dụng sơ tuyển

Căn cứ tính chất, quy mô của gói thầu, có thể áp dụng sơ tuyển nhà thầu nhằm chọn được các nhà thầu có đủ năng lực và kinh nghiệm theo yêu cầu của gói thầu để mời tham gia đấu thầu

Việc sơ tuyển nhà thầu phải được người có thẩm quyền phê duyệt trong kế

hoạch đấu thầu56

2.2.2 Trình tự thực hiện sơ tuyển

2.2.2.1 Lập hồ sơ mời sơ tuyển

Bên mời thầu lập hồ sơ mời sơ tuyển trình chủ đầu tư phê duyệt Hồ sơ mời

sơ tuyển bao gồm thông tin chỉ dẫn về gói thầu và các yêu cầu đối với nhà thầu: yêu cầu về năng lực kỹ thuật, yêu cầu về năng lực tài chính và yêu cầu về kinh nghiệm

Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển được xây dựng theo tiêu chí "đạt",

"không đạt" và được nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển57

2.2.2.2 Thông báo mời sơ tuyển

Thông báo mời sơ tuyển phải được đăng tải trên Báo Đấu thầu 3 kỳ liên tiếp

và trên trang thông tin điện tử về đấu thầu Ngoài việc đăng tải theo quy định trên

có thể đăng tải đồng thời trên các phương tiện thông tin đại chúng khác

Hồ sơ mời sơ tuyển được cung cấp miễn phí cho các nhà thầu kể từ ngày đầu tiên đăng tải thông báo mời sơ tuyển và được kéo dài đến thời điểm hết hạn nộp hồ

sơ dự sơ tuyển (đóng sơ tuyển)58

2.2.2.3 Tiếp nhận và quản lý hồ sơ dự sơ tuyển

Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự sơ tuyển tối thiểu là 10 ngày, kể từ ngày đầu tiên phát hành hồ sơ mời sơ tuyển

Bên mời thầu tiếp nhận hồ sơ dự sơ tuyển do các nhà thầu nộp và quản lý theo quy định Hồ sơ dự sơ tuyển được nộp theo đúng yêu cầu nêu trong hồ sơ mời

Trang 33

sơ tuyển sẽ được mở công khai ngay sau thời điểm đóng sơ tuyển Hồ sơ dự sơ tuyển được gửi đến sau thời điểm đóng sơ tuyển là không hợp lệ và bị loại59

2.2.2.4 Đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển

Việc đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển do bên mời thầu thực hiện theo tiêu chuẩn đánh giá nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển60

2.2.2.5 Trình và phê duyệt kết quả sơ tuyển

Bên mời thầu chịu trách nhiệm trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả sơ tuyển61

2.2.2.6 Thông báo kết quả sơ tuyển

Sau khi chủ đầu tư phê duyệt kết quả sơ tuyển, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về kết quả sơ tuyển đến các nhà thầu tham dự sơ tuyển và mời tất cả nhà thầu trúng sơ tuyển tham gia đấu thầu.62

Theo quy định nêu trên thì công tác sơ tuyển chỉ áp dụng cho việc đấu thầu lựa chọn nhà thầu cung cấp hàng hóa Điều lưu ý là việc lựa chọn nhà thầu có qua bước sơ tuyển hay không thì do người có thẩm quyền phê duyệt trong KHĐT

Sơ tuyển là một hoạt động chuẩn bị đấu thầu và toàn bộ công việc tiến hành

sơ tuyển nhà thầu đều được giao cho chủ đầu tư toàn quyền quyết định63 Những nội dung chính về sơ tuyển như nội dung mời sơ tuyển (hồ sơ mời sơ tuyển, tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự sơ tuyển), thông báo mời sơ tuyển, tiếp nhận quản lý, đánh giá hồ

sơ dự sơ tuyển, đã được quy định tại Điều 14 Nghị định 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 Và vì là bước chuẩn bị đấu thầu nên khi thấy bước chuẩn bị này không đáp ứng yêu cầu hoặc có thể gây bất lợi cho chủ đầu tư (ví dụ như có ít hơn ba nhà thầu được đánh giá là vượt qua sơ tuyển), thì chủ đầu tư có thể đưa ra các quy định

bổ sung sao cho vừa đảm bảo tiến độ đầu tư, vừa đảm bảo các mục tiêu về cạnh tranh để mang lại hiệu quả cho dự án Cụ thể như trong trường hợp có ít hơn ba nhà thầu như trên thì việc tìm biện pháp tăng thêm số lượng nhà thầu được mời tham gia

Trang 34

đấu thầu để tăng tính cạnh tranh trong đấu thầu là cần thiết, nhưng cần đảm bảo rằng yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm đối với nhà thầu nêu trong hồ sơ mời sơ tuyển là phải đáp ứng yêu cầu của gói thầu

Việc hiệu chỉnh hồ sơ mời sơ tuyển nếu thấy cần thiết để có thêm số lượng nhà thầu được mời tham gia đấu thầu là hết sức quan trọng, cần thiết, nhưng cần đảm bảo các điều sau: không làm giảm yêu cầu đối với gói thầu, các nhà thầu đã được đánh giá vượt qua sơ tuyển (lần đầu) không bị loại theo hồ sơ mời sơ tuyển được hiệu chỉnh (lần hai) Theo quy định, chủ đầu tư hoàn toàn có đủ thẩm quyền

để hiệu chỉnh hồ sơ mời sơ tuyển và chịu trách nhiệm với việc hiệu chỉnh đó Tuy nhiên, việc này sẽ làm cho thời gian sơ tuyển dài thêm nghĩa là thời gian phát hành

hồ sơ mời thầu tiếp theo có thể không đúng KHĐT đã duyệt Do vậy, để đảm bảo

cơ sở pháp lý cho việc thực hiện thì nếu cần thiết chủ đầu tư nên tiến hành xin điều chỉnh KHĐT (về thời gian lựa chọn nhà thầu) sao cho phù hợp với tình hình thực tế

3 Lựa chọn nhà thầu

Việc lựa chọn nhà thầu cho bảy hình thức lựa chọn nhà thầu (đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh, mua sắm trực tiếp, tự thực hiện và lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt) được quy định trong Luật Đấu thầu về cơ bản là giống nhau, tùy từng hình thức lựa chọn nhà thầu mà các bước sẽ được gia giảm để đảm bảo tiêu chí cho từng hình thức khác nhau, ví dụ ưu tiên của nhóm hình thức chỉ định thầu và mua sắm trực tiếp là tiết kiệm về thời gian, trong khi ưu tiên của đấu thầu rộng rãi là hướng đến sự cạnh tranh, còn chào hàng cạnh tranh là hình thức lựa chọn nhà thầu đặc thù cho các gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường Nội dung này bao gồm hầu hết các vấn đề quan trọng và thực tế áp dụng có nhiều vấn đề cần thảo luận, xử lý tình huống, do vậy, tác giả sẽ trình bày theo cách thức như sau: trước tiên là nêu quy trình lựa chọn nhà thầu, sau đó việc trình bày các quy định của Luật Đấu thầu năm 2005 cho bảy hình thức lựa chọn nhà thầu sẽ theo hướng trình bày chi tiết quy định cho hình thức đấu thầu rộng rãi, các hình thức lựa chọn nhà thầu còn lại sẽ chỉ nêu các điểm đặc thù

2.3.1 Quy trình lựa chọn nhà thầu

Quy trình lựa chọn nhà thầu quy định trong Luật Đấu thầu năm 2005 như sau: trên cơ sở kế hoạch lựa chọn nhà thầu (kế hoạch đấu thầu) được người có thẩm quyền duyệt thì các bước tiếp theo gồm: chuẩn bị, tổ chức, đánh giá, thẩm định, phê duyệt, thông báo kết quả, hoàn thiện hợp đồng và ký hợp đồng Sơ đồ dưới đây sẽ

Trang 35

minh họa trình tự lựa chọn nhà thầu Đây là sơ đồ tóm tắt các bước chi tiết nêu tại các mục từ 2.3.2 đến 2.3.4

Trang 36

Khái quát Kế hoạch đấu thầu

Quyết định đầu tư

Thời gian thực hiện hợp

đồng Thời gian lựa chọn nhà thầu

Hình thức hợp đồng

Trang 37

Trình tự thực hiện đấu thầu (lựa chọn nhà thầu) tổng quát

kết quả đấu thầu

Thương thảo, hoàn thiện

hợp đồng

Ký kết hợp đồng

- Sơ tuyển (nếu có)

- Thông báo/gửi thư mời thầu

- Báo cáo kết quả thẩm định

- Tên nhà thầu trúng thầu/

được lựa chọn

- Giá trúng thầu

- Hình thức và thời gian thực hiện hợp đồng

- Ngay sau khi có quyết định

- Không giải thích lý do

- Mời nhà thầu được lựa chọn

- Chi tiết hóa

- Các xem xét khác

Trang 38

2.3.2 Đấu thầu rộng rãi và đấu thầu hạn chế

Theo thống kê tình hình thực hiện đấu thầu hàng năm trong nước thì hình thức đấu thầu rộng rãi mang lại tỉ lệ tiết kiệm (tỉ lệ giữa giá trúng thầu trên giá gói thầu)

là cao nhất so với các hình thức còn lại64 Trong đấu thầu rộng rãi, các nhà thầu tham gia đấu thầu luôn tìm biện pháp bảo mật các thông tin trong quá trình chuẩn bị HSDT Sự bí mật giữa các nhà thầu tạo nên sự cạnh tranh trong đấu thầu mang lại hiệu quả kinh tế cho gói thầu và cho dự án

2.3.2.1 Điều kiện áp dụng

Đấu thầu rộng rãi: việc lựa chọn nhà thầu để thực hiện gói thầu thuộc các dự

án sử dụng vốn nhà nước từ 30% trở lên cho mục tiêu đầu tư phát triển, dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của

cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; dự án sử dụng vốn nhà nước để mua sắm tài sản nhằm phục vụ việc cải tạo, sửa chữa lớn các thiết bị, dây chuyền sản xuất, công trình, nhà xưởng đã đầu tư của doanh nghiệp nhà nước phải áp dụng hình thức đấu thầu rộng rãi65 Đấu thầu rộng rãi thì không hạn chế số lượng nhà thầu tham dự Trước khi phát hành hồ sơ mời thầu, bên mời thầu phải thông báo mời thầu để các nhà thầu biết thông tin tham

dự Bên mời thầu phải cung cấp hồ sơ mời thầu cho các nhà thầu có nhu cầu tham gia đấu thầu Trong hồ sơ mời thầu không được nêu bất cứ điều kiện nào nhằm hạn

chế sự tham gia của nhà thầu hoặc nhằm tạo lợi thế cho một hoặc một số nhà thầu

gây ra sự cạnh tranh không bình đẳng

Đấu thầu hạn chế: được áp dụng trong các trường hợp: Theo yêu cầu của nhà

tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu; gói thầu có yêu cầu cao

về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm mà chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng yêu cầu của gói thầu Khi thực hiện đấu thầu hạn chế, phải mời tối thiểu năm nhà thầu được xác định là có đủ năng lực và kinh nghiệm tham gia đấu thầu; trường hợp thực tế có ít hơn năm nhà thầu, chủ đầu tư phải trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác66 Liên quan đến

Trang 39

đấu thầu hạn chế thì lưu ý một tình huống được nêu ra để xử lý như sau “Khi phê

duyệt danh sách nhà thầu được mời tham gia đấu thầu hạn chế, trường hợp có 1 hoặc 2 nhà thầu, chủ đầu tư báo cáo người có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép tiếp tục tổ chức đấu thầu hạn chế hoặc áp dụng hình thức lựa chọn khác Trường hợp có 3 hoặc 4 nhà thầu thì chủ đầu tư xem xét cho phép phát hành hồ sơ mời thầu ngay cho các nhà thầu trong danh sách ngắn hoặc gia hạn thời gian để

2.3.2.2 Đấu thầu một giai đoạn

2.3.2.2.1 Chuẩn bị đấu thầu

Theo quy định, HSMT là căn cứ pháp lý để nhà thầu dựa vào đó chuẩn bị HSDT, còn bên mời thầu dựa vào HSMT để đánh giá và xếp hạng HSDT68 Do tầm quan trọng như vậy nên quy trình để có HSMT phát hành cho nhà thầu gồm: lập, thẩm định và phê duyệt Những cá nhân tham gia vào từng khâu phải có kiến thức chuyên môn, có chứng chỉ về đấu thầu HSMT được coi là đầu bài thi trong cuộc thi đấu thầu, nên sự trình bày trong HSMT phải rõ ràng, chính xác, khoa học, khách quan để mọi người cùng hiểu như nhau nhằm đảm bảo sự minh bạch, công bằng

Bước 1: Sơ tuyển nhà thầu như nêu tại mục 2.2

Bước 2: Lập hồ sơ mời thầu

Căn cứ lập hồ sơ mời thầu: quyết định đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư;

kế hoạch đấu thầu được duyệt; các quy định của pháp luật về đấu thầu và các quy định của pháp luật liên quan69

Nội dung hồ sơ mời thầu:

Hồ sơ mời thầu là một tài liệu mô tả các yêu cầu cho một gói thầu cụ thể Yêu cầu càng đầy đủ, chi tiết thì càng thuận lợi cho nhà thầu xây dựng hồ sơ dự thầu, đặc biệt là giá dự thầu

Hồ sơ mời thầu phải theo mẫu hồ sơ mời thầu do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành (Đối với gói thầu mua sắm hàng hóa thực hiện theo Thông tư số 05/2010/TT-BKH ngày 10/2/2010 quy định mẫu hồ sơ mời thầu mua sắm hàng

Trang 40

hóa) Lưu ý: các gói thầu đã thực hiện sơ tuyển, trong hồ sơ mời thầu không cần quy định tiêu chuẩn đánh giá về kinh nghiệm và năng lực của nhà thầu nhưng cần yêu cầu nhà thầu khẳng định lại các thông tin đã kê khai trong hồ sơ dự sơ tuyển và cập nhật thông tin về năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu70

Đặc biệt là hồ sơ mời thầu không được nêu yêu cầu về nhãn hiệu, xuất

xứ cụ thể của hàng hóa Trường hợp đặc biệt phải nêu nhãn hiệu, catalô của một nhà sản xuất nào đó, hoặc hàng hóa từ một nước nào đó để tham khảo, minh họa cho yêu cầu về mặt kỹ thuật của hàng hóa thì phải ghi kèm theo cụm từ “hoặc tương đương” sau nhãn hiệu, catalô hoặc xuất xứ nêu ra và quy định rõ khái niệm tương đương nghĩa là có đặc tính kỹ thuật tương tự, có tính năng sử dụng là tương đương với các hàng hóa đã nêu Nếu HSMT đưa ra yêu cầu quá nhiều, quá khắt khe thì khó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng hoặc chọn được nhà thầu đáp ứng với chi phí cao, cao đến mức không huy động hết, không cần thiết

Hồ sơ mời thầu luôn là tài liệu được in ấn, đóng dấu làm căn cứ pháp lý cho một cuộc thầu Nhưng cần hiểu rằng đây là một công cụ, một phương tiện để dựa vào đó lựa chọn được nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của gói thầu nhưng lại phải đảm bảo các mục tiêu là công bằng, minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế Lưu

ý là bốn mục tiêu trong đấu thầu (trong lựa chọn nhà thầu) cần đạt được đồng thời,

không có mục tiêu nào được ưu tiên hơn mục tiêu nào

Hồ sơ mời thầu phải bao gồm các yêu cầu quan trọng (điều kiện tiên quyết) để loại bỏ hồ sơ dự thầu như sau: nhà thầu không có tên trong danh sách mua

hồ sơ mời thầu; nhà thầu không bảo đảm tư cách hợp lệ nêu tại mục 1.2.3; không có bảo đảm dự thầu hoặc có bảo đảm dự thầu nhưng không hợp lệ: có giá trị thấp hơn, không đúng đồng tiền quy định, thời gian hiệu lực ngắn hơn, không nộp theo địa chỉ

và thời gian quy định trong hồ sơ mời thầu, không đúng tên gói thầu, tên nhà thầu, không phải là bản gốc và không có chữ ký hợp lệ (đối với thư bảo lãnh của ngân hàng, tổ chức tài chính); không có bản gốc hồ sơ dự thầu; đơn dự thầu không hợp lệ; hồ sơ dự thầu có giá dự thầu không cố định, chào thầu theo nhiều mức giá hoặc giá có kèm điều kiện gây bất lợi cho chủ đầu tư; nhà thầu có tên trong hai hoặc nhiều hồ sơ dự thầu với tư cách là nhà thầu chính (nhà thầu độc lập hoặc thành viên trong liên danh); nhà thầu vi phạm một trong các hành vi bị cấm trong đấu thầu theo quy định; hiệu lực của hồ sơ dự thầu không bảo đảm yêu cầu theo quy định trong

70

Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15 tháng 10 năm 2009 hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng

Ngày đăng: 14/10/2015, 12:33

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức thực hiện  Chủ đầu tư - pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước thực tiễn tại trung tâm thông tin di động khu vực iv
Hình th ức thực hiện Chủ đầu tư (Trang 36)
Bảng so sánh sự khác nhau trong quá trình lựa chọn nhà thầu - pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước thực tiễn tại trung tâm thông tin di động khu vực iv
Bảng so sánh sự khác nhau trong quá trình lựa chọn nhà thầu (Trang 56)
Hình thức lựa - pháp luật về đấu thầu mua sắm hàng hóa trong nước thực tiễn tại trung tâm thông tin di động khu vực iv
Hình th ức lựa (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w