1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ảnh hưởng của tư tưởng phật giáo nam tông đến đời sống tinh thần của đồng bào khmer tỉnh trà vinh hiện nay

75 524 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ác tư tưởng trong Phật giáo Nam Tông giúp cho việc x y dựng, phát triển, n ng cao đời sống tinh thần của đ ng bào hmer ngày một tiến bộ và hơn nữa khi mỗi chúng ta thực hiện việc tín ngư

Trang 1

-   -

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐẾN ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG BÀO KHMER

TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY

Chuyên ngành: Sƣ phạm Giáo dục công dân

Mã ngành: 52140204

Giảng viên hướng dẫn:

TS.GVC Đinh Ngọc Quyên Sinh viên thực hiện:

Lê Nguyễn Lâm Thiên Lý

MSSV: 6106627 Lớp: SP.GDCD-01/K36

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, em đã gặp

không ít khó khăn và trở ngại Nhưng được giúp đỡ nhiệt tình của Thầy hướng dẫn cùng sự ủng hộ và động viên của các bạn, giờ

luận văn của em đã được hoàn thành

Nay em xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy cô trong khoa Khoa Học Chính Trị đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em bao năm qua và các bạn lớp SP.GDCD K36 luôn hỗ trợ Thêm vào đó em xin cảm ơn các

cô chú công tác tại những nơi mà em đã đến tìm tài liệu thực hiện luận văn để em hoàn thành luận văn của mình một cách thuận lợi Đặc biệt,

em xin chân thành cảm ơn thầy Đinh Ngọc Quyên đã luôn trực tiếp hướng dẫn và chỉ bảo em trong suốt quá trình làm luận văn

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện luận văn mặc dù em đã cố gắng và nỗ lực hết mình nhưng cũng không thể tránh khỏi những hạn chế Nên em rất mong được sự đống góp ý kiến nhận xét và bổ sung của quý thầy cô cùng các bạn để luận văn của em hoàn thiện hơn -Chân thành cảm ơn-

Trang 3

1.1.2 Tổng quan về người hmer ở tỉnh Trà Vinh và một số đặc điểm nổi bật về

văn hóa tinh thần - 9 -

1.1.3 Đ ng bào hmer tỉnh Trà Vinh với Phật giáo Nam Tông - 12 -

1.2 Quá trình du nhập và những đặc điểm của Phật giáo Nam Tông ở tỉnh Trà Vinh………- 14 -

1.2.1 Quá trình du nhập và phát triển của Phật giáo Nam Tông vào Đ ng b ng

sông ửu ong và tỉnh Trà Vinh - 14 -

1.2.1 Đặc điểm tư tưởng Phật giáo Nam Tông - 17 -

1.2.2 Tình hình Phật giáo Nam Tông ở tỉnh Trà Vinh hiện nay - 21 -

Ch ng II THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO NAM

TÔNG ĐỐI V I ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG O KHM R TỈNH

TRÀ VINH HIỆN NAY - 25 -

2.1 Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đối với phong tục tập quán - 25 -

2.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đến đời sống t m linh và

đạo đức lối sống - 40 -

2.2.1 Đời sống t m linh đ ng bào hmer tỉnh Trà Vinh - 40 -

2.1.2 Lối sống đạo đức của đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh trên nền tảng tư

tưởng Phật giáo Nam Tông - 44 -

2.3 Ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đối với văn học và nghệ thuật - 46 -

Ch ng III M T SỐ GIẢI PHÁP NH M PHÁT HU ẢNH HƯỞNG TÍCH

CỰC V KH C PHỤC NH NG ẢNH HƯỞNG TI U CỰC CỦA TƯ TƯỞNG

Trang 4

PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐỐI V I ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG O

KHM R Ở TỈNH TR VINH HIỆN NA - 55 -

3.1 Những quan điểm định hướng cho việc x y dựng những giải pháp thúc đ y mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực của tư tưởng Phật giáo Nam Tông - 55 - 3.2 Những giải pháp nh m phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng Phật giáo Nam Tông - 57 -

3.2.1 ảo t n phát huy những giá trị văn hóa tích cực của đ ng bào hmer trong x y dựng nền văn hóa mới - 57 -

3.2.2 ế th a những giá trị đạo đức tốt đ p trong tư tương Phật giáo Nam Tông của đ ng bào hmer trong x y dựng nền đạo đức mới - 59 -

3.2.3 Quan tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế vùng d n cư có đ ng bào Phật giáo hmer, để góp phần n ng cao chất lượng cuộc sống của họ - 61 -

3.2.4 Tích cực vận động đ ng bào thực hiện tốt chính sách d n tộc và tôn giáo của Đảng và Nhà nước đã đặt ra hắc phục các biểu hiện lợi dụng tôn giáo để chia r khối đoàn kết d n tộc - 63 -

C T U N - 66 -

PH 68

-E TÀI LIỆU THAM KHẢO……… - 74 -

Trang 5

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 do chọn i

Tín ngưỡng tôn giáo đối với văn hóa xã hội là một hiện tượng lịch sử của văn minh loài người Phật giáo là một trong những tác nh n làm định hình và định tính không ít các phong tục tín ngưỡng d n gian ở hầu hết các nước phương Đông, góp phần tạo nên những sắc thái truyền thống của văn hóa tinh thần phương Đông

Và Việt Nam cũng không ngoại lệ, là một đất nước có 54 d n tộc anh em nên sắc thái phong tục tín ngưỡng rất đa dạng nhưng cũng rất dung h a Trải qua quá trình phát triển của lịch sử d n tộc, Việt Nam đã chịu nhiều ảnh hưởng t các trào lưu văn hóa-tôn giáo vốn đã du nhập vào nước ta nên nền văn hóa đã ít nhiều chịu ảnh hưởng cả mặt tích cực lẫn tiêu cực

Phật giáo, Phật giáo Nam Tông chính là một trong những tư tưởng triết học tôn giáo được truyền vào nước ta t rất sớm hịu ảnh hưởng nhiều nhất và l u dài nhất không thể không nhắc đến đ ng bào d n tộc hmer Điều đó được thể hiện r

n t trong sinh hoạt đời sống tinh thần như đời sống t m linh, đạo đức lối sống, văn học-nghệ thuật ác tư tưởng trong Phật giáo Nam Tông giúp cho việc x y dựng, phát triển, n ng cao đời sống tinh thần của đ ng bào hmer ngày một tiến bộ và hơn nữa khi mỗi chúng ta thực hiện việc tín ngưỡng tôn giáo một cách đúng đắn s góp phần thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo–tín ngưỡng t đó góp phần không nhỏ trong việc bình ổn đất nước, đưa đất nước đi lên

Để tìm hiểu r hơn về những ảnh hưởng đó nên tác giả chọn đề tài “ nh

hư ng của ư ư ng h gi T ng n i ng inh hần ủ ng Khmer tỉnh T inh hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cho mình Vị trí lựa

chọn là tỉnh Trà Vinh-nơi có mật độ dân số hmer sinh sống khá đông đúc và có nhiều truyền thống đậm sắc thái của đ ng bào hmer đã được truyền qua nhiều thế

hệ cho đến ngày nay ấy tư tưởng Phật giáo Nam Tông làm t m điểm-tôn giáo gắn liền với đ ng bào hmer ở tỉnh Trà Vinh-qua đó làm r những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đến đời sống tinh thần của đ ng bào hmer nơi đ y để tìm ra những giải pháp thiết thực phát huy tính tích cực và hạn chế tính tiêu cực

Trang 6

nh m cải thiện và n ng cao hơn nữa đời sống tinh thần của đ ng bào hmer ở Trà Vinh nói riêng và đ ng bào hmer cả nước nói chung

Nhiệm vụ:

Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Khái quát về Phật giáo Nam Tông và đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh

- Phân tích những ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông đối với đời sống tinh thần của đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh hiện nay

- Nêu một số giải pháp nh m phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục những ảnh hưởng tiêu cựu của Phật giáo Nam Tông đối với đời sống tinh thần đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh hiện nay

3 Đối ợng và ph m vi nghiên c

Với hình thức một luận văn tốt nghiệp, dưới gốc độ Triết học, tác giả chỉ tìm hiểu về sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo Nam Tông tỉnh Trà Vinh và khảo sát qua mảng đời sống tinh thần của người hmer tỉnh Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay

4 C n h ng h nghi n

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ đã nên luận văn được thực hiện trên cơ

sở lí luận của chủ ngh a ác- ênin, tư tưởng H hí inh và đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam Luận văn sử dụng các phương pháp của chủ ngh a duy vật biện chứng và chủ ngh a duy vật lịch sử Và còn kết hợp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, gắn lí luận với thực tiễn để thực hiện nhiệm vụ đề tài đặt ra

Trang 7

5 ố ụ n n

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn g m 3 chương 7 tiết

Trang 8

B PHẦN N I DUNG

Ch ng I KHÁI QUÁT V PHẬT GIÁO NAM TÔNG V ĐỒNG O KHMER

TỈNH TR VINH

1.1 Khái t ồng Kh nh T Vinh

1.1.1 V a t nh Trà Vinh

Tỉnh Trà Vinh là một tỉnh duyên hải thuộc đ ng b ng sông ửu Long, với

tổng diện tích là 2.292 km², vị trí địa lí giới hạn t 9°31’46” đến 10°4’5” v độ Bắc

và t 105°57’16” đến106°36’04” kinh độ Đông Tỉnh Trà Vinh phía Đông giáp

biển Đông, phía T y giáp tỉnh V nh ong, phía Nam giáp với tỉnh Sóc Trăng, phía

ắc giáp tỉnh ến Tre có đường bờ biển dài 65km

Tỉnh Trà Vinh được thành lập vào ngày 1/1/1900 Đến năm 1976, tỉnh Trà Vinh và tỉnh V nh Long sáp lập lại thành ửu Long họp thứ X, Quốc hội khóa VIII đã ra quyết định tách tỉnh ửu Long thành hai tỉnh Trà Vinh và V nh Long Ngày 5/5/1992, tỉnh Trà Vinh được tái lập và đi vào phát triển đến ngày nay Theo

số liệu thống kê của y ban dân tộc tỉnh Trà Vinh năm 2012 với số dân khoảng 1.015.284 triệu người và trên địa bàn có 29 d n tộc trong đó người inh là đông nhất chiếm 67 , chiếm 31 d n số là đ ng bào d n tộc hmer, 1 là d n tộc Hoa

c n lại là d n tộc anh em khác ả tỉnh có 8 đơn vị hành chính, g m 1 thành phố trực thuộc tỉnh và 7 huyện àng ong, h u Thành, ầu , Tiểu ần, ầu Ngang, Trà ú và uyên Hải Trung t m của tỉnh là thành phố Trà Vinh, cách tp.H hí inh 200km và cách tp ần Thơ 100km

Trà Vinh n m ở phần cuối cù lao h p giữa sông Tiền và sông Hậu, là đứa con của biển Đông và sông ửu Long, nên là một vùng đất có hệ sinh thái phong phú, đa dạng cùng nhiều tiềm năng kinh tế khác nhau, vào thế kỉ thứ XVII đã có chủ nh n là một cộng đ ng d n cư đa d n tộc Việt, hmer, Hoa,… o điều kiện giao thoa giữa các d n tộc đó mà Trà Vinh là kho tàng văn hóa rất đặc sắc và đa dạng cho nền văn hóa l u đời của d n tộc Việt Nam

Trang 9

Đ y là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đ ng dân tộc Khmer có nhiều nét văn hóa dân tộc đặc trưng: tiếng nói riêng, chữ viết riêng, món ăn mang đậm hương vị

d n tộc, những giai điệu m nhạc độc đáo…Riêng n t đời sống tinh thần của đ ng bào chịu sự ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo Nam Tông nên tất cả hoạt động đời sống đều hướng về đức Phật cao qu Vì thế, hệ thống chùa chiền hệ Phật giáo Nam Tông của đ ng bào hmer nơi đ y rất đ sộ đứng thứ nhất cả nước

c n là một vùng đất hoang vu các loại c y r ng trùm lên những giòng đất, những đầm lầy và sông rạch ch ng chịt, d n cư thì thưa thớt

Vào thế kỉ XVII, các quốc gia phong kiến như Việt Nam, Trung Quốc, ampuchia…trong bối cảnh chung của thế giới không thể tránh khỏi sự khủng hoảng và suy yếu Ở Việt Nam cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn 1627-1673) chia cắt đất nước thành hai đàng trong và đàng ngoài” lấy sông Gianh làm ranh giới Điều này đã làm cho hàng vạn nông d n l m vào thảm họa bị tiêu diệt, phải đi tìm

c i sống ở Phương Nam

Trên thực tế khách quan đó, vào cuối thế kỉ XVII, các chúa Nguyễn đã chủ động tổ chức di d n người Việt vào vùng đất Nam ộ, thực thi những chính sách chiêu mộ lưu d n và đưa qu n đội vào Nam khai phá đất đai ùng với người Việt, người hmer và người Hoa cũng được chúa Trịnh tạo điều kiện để cùng nhau khai phá và định cư trên vùng đất phía Nam này, trong đó có vùng đất Trà Vinh

Người hmer sắc tộc cuối cùng mà người Việt ở cuối chặng đường tiến về Nam gặp gỡ, chung sống và giao hảo với nhiều thiện cảm, có l vì đức tính hiền lành, kín đáo và văn hóa độc đáo đ p đ của họ Nhà báo ửu Ngôn viết: Ở Nam

ộ bạn có thể gặp người Hoa khắp nơi, họ là chủ quán ăn, chủ tiệm tập hóa…Nhưng người hmer thì ít thấy, mặc dầu họ đông không k m do là người

Trang 10

hmer có khuynh hướng sống kh p kín trong sóc, xa thành phố” [6/tr98] Nếp sống của họ có thể kh p kín nhưng văn hóa thì rất cởi mở như cửa Phật rộng mở tại gần

141 ngôi chùa hmer ở tỉnh Trà Vinh

Người hmer được chia làm hai hệ đó là hmer- rộm và hmer- ơ, hmer- rộm sống ở Việt Nam ph n bố chủ yếu ở đ ng b ng sông ửu ong c n hmer- ơ thì sống ở ampuchia Theo ngôn ngữ d n tộc thì họ được xếp vào nhóm ôn- hmer phiên bản tiếng nh hmer-tiếng Hán gọi là ao iên hay người Việt ta hay gọi là d n tộc iên Ngoài ra c n nhiều tên gọi khác như ur, ul, u, Thổ, Việt gốc iên…Đặc trưng chủng tộc dễ nhận biết ở nười hmer là màu da đen xám, đa số có mái tóc quăn Người hmer ngày xưa không có họ riêng nên khi con được sinh ra lấy tên cha đ làm họ và cứ tiếp tục như thế, con mình lấy tên mình làm họ cho cháu mình…nối tiếp đời này qua đời khác hính vì thế người hmer không truy tìm được gia phả của mình nên ở thời vua Gia ong 1802-1819) triều đình nhận thấy điều đó, người hmer phải có họ để con cháu họ sau này c n tìm về ngu n cội của mình, r i vua Gia ong đã ban sắc phong cho người hmer

Đ ng b ng sông ửu ong các họ như im, Thạch, Sơn, anh, iên…đến ngày nay vẫn c n và người hmer tỉnh Trà Vinh cũng thuộc những d ng họ ấy

à một dân tộc ít người ở nước ta có mặt khá sớm ở đ ng b ng sông ửu ong nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng, nhiều địa danh ở đ y đến nay vẫn c n mang dấu tích cư trú xa xưa của người hmer, sống tập trung trên các gi ng phù sa

cổ, tiếng hmer gọi là Phnor” Ở đ y, có nước ngọt lẫn nước mặn và không khí thoáng đãng thuận lợi cho người hmer là cư d n nông nghiệp chuyên canh tác lúa

và hoa màu Người hmer ở đ y sống tập trung, quần cư Những tụ điểm quần cư của người hmer vốn là những phum sóc”-một đơn vị xã hội truyền thống của người d n hmer ở Nam ộ ởi đối với người hmer, phum, sóc bao giờ cũng là một không gian sinh t n, không gian t m linh thiêng liêng, không thể phai mờ Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu thì riêng đối với người hmer, phum, sóc là một địa vực, đ ng thời là một không gian văn hóa thiêng liêng, có khả năng cấu kết con người và có tác dụng kiểm tra xã hội-đạo đức thật h n nhiên” Văn hóa của người hmer ở tỉnh Trà Vinh rất đa dạng và phong phú, ngoài cái chung của người

Trang 11

hmer Nam ộ c n có những n t riêng của địa phương như ngôn ngữ, một số tập tục sinh hoạt tín ngưỡng, đạo đức lối sống và n t kiến trúc, văn học - nghệ thuật đặc sắc riêng

Nh ật

Đa số người Khmer quan niệm đi tu, mặc áo cà sa là con Phật, tu không phải

để thành Phật mà để làm người có nh n cách Ngôi chùa là trung t m sinh hoạt của người hmer, tổ chức lễ hội và học tập… và là nơi có sức ảnh hưởng lớn nhất trong nếp sống của họ nên chùa được x y ở nơi tôn nghiêm nhất và họ x y nhà xung quanh chùa để thuận lợi cho việc tín ngưỡng Đạo Phật Phật giáo Nam Tông trở thành lí tưởng sống của người hmer với họ đi tu là tích phúc đức cho mình và cho con cháu Trung bình mỗi chùa có t 25 đến 30 vị Sư Sãi Trà Vinh có 141 ngôi chùa lớn nhỏ vói khoảng 3.500 Sư Sãi , mỗi khi sư đi khất thực, rất nhiều người trong phum sóc d ng cơm, coi đ y là sự tích phúc, là trách nhiệm họ phải lo Định chế tu cho ph p người trai thuộc mọi tầng lớp trong xã hội đều có thể đi tu và hoàn tục điều đó làm cho việc đạo và việc đời gắn bó với nhau Đ y cũng là nền tảng xem x t đạo đức và nh n cách làm người của mỗi người Khmer trong cộng đ ng

Nhìn chung, người hmer tỉnh Trà Vinh ngay th ng, thật thà, nhiệt tình, hiếu khách và rất tôn trọng đạo lí hầu hết thanh niên lớn lên đều được gia đình đưa vào chùa tu học để r n luyện đạo đức, tri thức, nh n cách trước khi vào đời o hoàn cảnh, điều kiện sống, phần lớn họ chưa có vốn tri thức khoa học đủ và ngành nghề tốt để h a nhập xã hội, nên đa phần cuộc sống của họ c n ngh o và gặp nhiều khó khăn

ễ xuất gia đi tu thường bắt đầu t tuổi 12, tu hành với thời gian dài hay ngắn hoặc cả đời là tùy Trong lễ cưới, người hmer vẫn giữ tập tục mời Sư Sãi đến tụng kinh cầu phước ể các trong đám tang các Sư Sãi cũng là người trì hành, lễ với các nghi thức rất phức tạp t t m liệm, cách thức cúng, đ cúng, cầu an, cầu siêu…điều tu n theo các nghi thức truyền thống Đặc biệt người hmer sau khi chết

s mang xác đi thiêu và tro cốt s được gửi vào chùa, họ tin là vong h n luôn được nghe kinh và s siêu thoát

Trang 12

Thượng tọa Thạch Oai, trụ trì hùa ông t, một chùa l u đời, nổi tiếng

thành phố trực thuộc tỉnh Trà Vinh, cho biết:

700 3 000 ậ

” [22/tr 125]

ác lễ hội của người hmer được tổ chức theo mùa vụ như tục cúng thần lúa, thần ruộng, thần mục súc… ác lễ có tính thuần túy tôn giáo g m lễ Phật đản, lễ Nhập hạ, lễ Ra hạ, lễ ng y…Trong năm người hmer có ba ngày lễ tết lớn là Tết Chôl Chnăm Thm y t ngày 13 đến 15 tháng 4 ương lịch , lễ Sen Đônta là lễ cúng ông bà diễn ra vào ngày 30/10 m lịch, lễ oc Om Bóc là lễ cúng Trăng vào ngày r m tháng 12 theo lịch của người hmer Đ y là các lễ mang đậm màu sắc Phật nên các vị Sư Sãi và các Sadi đóng vai tr rất quan trọng

Trong gia đình cũng như trong cộng đ ng người cao tuổi và Sư Sãi rất được tôn trọng; các cha, Sư cả luôn được mọi người tính nhiệm Đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh có chữ viết riêng, dùng để ghi ch p những kinh Phật hay những sáng tác

d n gian Sự học cũng được người hmer chú trọng và giữa vai tr chính yếu là các chùa, chùa s tổ chức các lớp học và các Sư Sãi s là giáo viên, họ thường dạy chữ Pali và chữ hmer

Họ c n điểm trang thêm cho cuộc sống của mình sự rực rỡ và vui nhộn qua các m sắc t những nhạc cụ độc đáo, những điệu múa điệu nghệ và lối triến trúc cổ kính thiêng liêng mang n t riêng của d n tộc mình ùng nghệ thuật và những âm sắc độc đáo thì người Khmer tỉnh Trà Vinh cũng rất khéo léo chế biến những nguyên liệu có s n thành những món ăn đặc vị, để ai đó một lần đến giao lưu với họ

s nhớ mãi những gì đã thấy, đã nghe và đã thưởng thức trong văn hóa của đ ng bào nơi đ y mang lại

1.1.3 Đồng Kh nh T Vinh i Ph gi N T ng

Phật giáo Nam Tông theo ta được biết là một tôn giáo đến sau, trước đó người hmer Trà Vinh cũng có theo tư tưởng một số tôn giáo khác Nhưng đến khi

tư tưởng Phật giáo Nam Tông du nhập vào đời sống của người Khmer thì tôn giáo

Trang 13

này gần như chiếm vị trí độc tôn Được vậy là do, tôn giáo này có giáo lí gần gũi, dễ hiểu và thỏa mãn đời sống tâm linh của người Khmer

Họ sống gắn bó với tôn giáo này rất lâu dài và mật thiết, với lòng tôn kính không thay đổi, nó được truyền t đời này sang đời khác Trong mọi sinh hoạt h ng ngày họ đều tin là có sự phổ độ của đức Phật Điều đó thể hiện rõ nét qua phong tục-tập quán, lối sống sinh hoạt thường nhật và trong cả các loại hình văn hóa nghệ thuật… uộc sống gắn liền với đạo, t khi sinh ra cho đến khi mất đi trong t m vẫn

có hình ảnh của đức Phật Người hmer có c u S ng vào chùa g i thân, ch t vào

chùa g i c ” họ đặt niềm tin tuyệt đối vào đức Phật, vào tôn giáo Nam Tông

Một lòng tin và học theo giáo lí nhà chùa, nhà chùa là nơi giáo dục về mọi mặt, chùa nơi lưu trữ vô vàn các giá trị văn hóa vật chất lẫn tinh thần của người Khmer Trong cuộc sống vui bu n hay gặp những vấn đề nan giải họ điều đến chùa bày tỏ, để được các Sư, Sãi giải quyết, để có đức Phật phổ độ Khi có việc cần giải quyết nhà chùa s tập trung Phật tử đến chùa bàn bạt để thống nhất đưa ra kiến chung hi trong phum sóc, có gia đình Phật tử nào lầm đường, nhà chùa phối hợp cùng cơ quan chính quyền có biện pháp khuyên răn, khuyên răn không được s có những hình thức phạt nghiêm b ng sự cô lập: nhà đó Sư, Sãi s không đến khất thực nữa, trong phum sóc có lễ hội thì s không được mời, có việc gì xảy ra s không ai can thiệp…Nhà chùa c n là nơi tuyên truyền-giáo dục cho mọi Phật tử các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nơi kêu gọi l ng đoàn kết của đ ng bào

Đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh với Phật giáo Nam Tông tuy hai mà một,

đ ng bào hmer kí gởi” cả tâm h n, tài sản và cả công sức của mình vào tôn giáo

mà họ đã chọn Cùng nhau hòa nhập vào con sóng công nghiệp hóa-hiện đại hóa, luôn phấn đấu trao d i vốn trí thức của dân tộc mình và cả những điều tốt đ p của dân tộc khác, giao lưu học tập lẫn nhau, để chung tay đưa nước Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập

Trang 14

1.2 Quá trình du nh p nh ng i m ủa Ph t gi o Nam Tông nh

T Vinh

1.2.1 Q nh nh và phát tri n ủ Ph gi N T ng Đồng ng ng C ng nh T Vinh

ật o Nam Tông

Đ ng b ng sông ửu ong xưa kia là lãnh thổ của vương quốc Phù Nam Theo sử liệu Trung Hoa thì vương quốc này thành lập khoảng thế kỉ XII T N, nhưng theo nhà khảo cổ phương T y dựa vào bia k khắc trên đá, vách thành đã được tìm thấy dưới l ng đất thì quốc gia này lập quốc vào thế kỉ I S N Nhưng vương quốc Phù Nam bị h n ập chiếm và tiêu diệt vào cuối thế kỉ VI Trên bản

đ , Phù Nam không c n nữa Trải qua năm tháng được triều Nguyễn của Việt Nam bảo hộ chống nội loạn và ngoại chiến nên vua h n ập nhượng đất để đền

ơn đáp ngh a vào năm Đinh sửu năm 1759

T khi lập quốc đến thế kỉ VI sau T y lịch các vua Phù Nam cai trị T thế kỉ

VI đến 1759 là các triều đại của vua h n ạp Đến năm 1867, Pháp chiếm miền Nam Việt Nam làm thuộc địa, để ph n định hai quốc gia với lối cai trị khác nhau vị toàn quyền Pháp và quốc vương ampuchia ấn định l n ranh giới giữa hai nước

đ ng kí vào bản nghị định ngày 9/7/1870 do vậy miền nam có mặt trên bản đ thế giới với tên gọi do Pháp đặt ra ochinchinne, gọi là Nam Năm 1945, chế độ thực d n Pháp sụp đổ, nước Việt Nam Dân Chủ ộng H a ra đời danh t Nam đổi thành miền Nam Việt Nam Nhưng miền Nam vẫn chịu sự kiểm soát của chế độ Việt Nam Công Hòa Ngày 30/4/1975, chế độ Việt Nam ộng H a không c n nữa, đất nước chúng ta thống nhất t Nam Quan đến à au Người Việt gốc hmer vẫn sinh sống trong lãnh thổ Việt Nam cũng được hưởng quyền tự do bình đ ng như người Việt Nam

Ngày nay, những nhà khảo cổ đã phát hiện những cổ vật, tháp, tượng Phật, tượng thần ở ong n, iên Giang, Đ ng Tháp, Trà Vinh…có niên đại 530, 400,

300 năm T N, điều đó cho thấy những địa điểm trên đã có một nền văn hóa thật sự văn minh và phát triển tại đ y

Trang 15

Đ ng thời trong ahàvamsa, lịch sử truyền bá của Phật giáo thì có nhắc đến phái đoàn truyền giáo sang sứ Suvannabhùmi của vua soka vào thế kỉ III T N do hai vị a Hán Sona và Uttara lãnh đạo ác nhà sử học thật khó khăn để th m định ranh giới của địa danh Suvannabhùmi này ở đ u Nhưng đa số cho r ng vùng Đông Nam ụ thể hơn ông ymonier cho r ng Phù Nam là miền Nam Việt Nam hiện nay hính vì thế lịch sử Phật giáo những quốc gia như Thái lan, iến Điện,

ào, Việt Nam, ampuchia đều có ghi nhận là vào thế kỉ III T N phái đoàn soka

có truyền đạo đến đất nước của mình T đó chúng ta có thể đưa ra những kết quả niên đại Phật giáo du nhập vào miền Nam Việt Nam sau:

M t là nếu địa danh Suvannabhùmi là tiền thân của vương quốc Phù Nam thì

Phật Giáo Nguyên Thủy Nam Tông đã có mặt tại miền Nam Việt Nam vào thế kỉ III

T N, ch ng những ở miền Nam mà c n cả miền ắc, Đ Sơn-Hải Ph ng theo sử liệu Phật giáo Việt Nam của ê ạnh Thát dựa vào lịch sử Trung Quốc có ghi là ở

ẫu Sơn thuộc Hải Ph ng có chùa và tháp của phái đoàn soka x y dựng, ảo tháp đó tàn phế hoảng giữa thế kỉ XI vua Thánh Tông tiếp tục x y dựng bảo tháp Tường ong trên nền tháp cũ và ngày nay bảo tháp đó vần c n Theo Phật giáo Việt Nam của Thích Đức Nghiệp có ghi lại trong Gia phả họ Hoàng, hiện nay ông Hoàng Gia ỹ có giữ bài thơ Tháp Sơn Hoài ổ Nội dung bài thơ đ cập xuất xứ hại bảo tháp, một tháp do vua soka, hai tháp vua Thánh Tông

Hai là vương quốc Phù Nam xuất hiện vào thời nhà h u ở Trung Hoa vào

thế kỉ XII trước ương lịch, vì có thuyết cho r ng xứ giả Phù Nam có gởi phái đoàn sang Trung Hoa Nhưng thuyết này không được các sử gia th a nhận, vì không có

b ng chứng cụ thể Vào thể kỉ thứ I S N, vau aundinya cưới công chúa Thủy Tề Soma, cũng có thuyết cho là cưới công chúa ieou-Ye và lập nên vương quốc Phù Nam Đời vua này chúng ta không thấy dấu vết Phật giáo Nhưng đến đời Kaundinya Jayavarman ông lên ngôi năm nào không rõ nhưng băng hà 514 gởi thiền sư Nagasena sang Trung Hoa cầu quân tiếp viện dể chống lại quân Chiêm Thành (Lâm Ấp) , bị vua tàu t chối Theo lá Sớ nhà vua trình lên Triều Ðình Bắc Kinh thì Phật giáo Nguyên Thủy- Nam tông rất thịnh hành ở Phù Nam Đ ng thời vua có gởi hai thiền sư tên andrasena và Sanghapala đến Trung Hoa dịch kinh

Trang 16

Phật b ng Phạn ngữ ăn cứ ngu n sử liệu đó, chúng ta tin chắc r ng Phật giáo Nguyên thủy đã có mặt ở Miền Nam Việt Nam chúng ta dưới triều vua đó Tên ba

vị thiền sư trên, chúng ta nhận thấy là tiếng Pàli Truyền thống Phật giáo nguyên thủy tên chư Tăng thường sử dụng tiếng Pàli Tóm lại, nói một cách nghiêm túc, thời k vương quốc Phù Nam dưới triều vua Kaundinya Jayavarman Phật giáo Nguyên thủy- Nam tông rất thịnh hành

Ba là t thế kỷ thứ 6 đến năm 1759 vương quốc Phù Nam do vua Chân Lạp

cai trị Theo lịch sử Camphuchia vào thế kỷ thứ 8 phân chia quốc gia thành hai: Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp, Thủy Chân Lạp thuộc hướng nam là Miền nam Việt Nam, Lục Chân Lạp hướng bắc tức Camphuchia Dân số người Việt gốc hơme ở đ y quá ít và có nhiều đ ng hoang cỏ dại Theo thống kê của người Pháp năm 1862 thì tổng số người Việt gốc khơme 146.718 người, so với người Việt 1.732.316 người Trong 11 thế kỷ chiếm đất Phù Nam vua thủy chân lạp không có

kế họach gì để phát triển vùng đất này, ngọai tr xây ngôi bảo tháp ở Đ ng Tháp ười Điều cho thấy r ng Phật giáo thời đó vẫn có vị trí mạnh m trong xã hội Đất hoang, người dân ít mà xây dựng bảo tháp tôn giáo là một điều hiếm có Thực ra Phật giáo nguyên thủy thời k Phù Nam và thời k Thủy Chân Lạp không có gì khác biệt, vì Phật giáo Nguyên thủy chư tăng hành trì giáo pháp thống nhất nhau

Những ngôi chùa Nam Tông Khmer ở miền Nam Việt Nam có niên đại nhiều thế kỷ qua và t n tại đến hôm nay Cụ thể là chùa Samrông Ek ở tỉnh Trà Vinh xây dựng vào năm 1642 Phật lịch 1185), chùa Sanghamangala xây dựng hơn 600 năm

ật o Nam Tông

Phật giáo Nam Tông có ngu n gốc t Ấn Độ, ra đời cách đ y hơn 2500 năm

về trước do Thái tử Tất Đạt Đa sáng lập Sau khi Ngài viên tịch ba tháng các vị đệ

tử của Ngài mở cuộc đại hội để đọc lại những gì đức Phật thuyết giảng sau 45 năm thuyết pháp o có nhiều m u thuẫn trong quan điểm nên các đệ tử của Ngài đã có hai lu ng tư tưởng khác nhau 1 Phật giáo Nam Tông Tiểu th a hay Thượng tọa

bộ g m các trưởng lão với hệ tư tưởng giữ và làm nguyên thủy lời dạy của đức Phật 2 Phật giáo ắc Tông Đại th a g m các vị T kheo tr , cấp tiến và cách t n lời đức Phật

Trang 17

ả hai hệ phái này đều có mặt ở Việt Nam So với Phật giáo ắc Tông, Phật giáo Nam Tông du nhập vào Việt Nam muộn hơn nhiều Theo một số tài liệu, Phật giáo Nam Tông du nhập và miền Nam Việt Nam khoảng thế kỉ XVIII b ng con đường hàng hải quốc tế Nhưng phần lớn người hmer cả nước nói chung và tỉnh Trà Vinh nói riêng họ đều theo tư tưởng và giáo lí Phật giáo Nam Tông và trở thành tôn giáo-tín ngưỡng chính thống của họ

Trước khi chưa có tư tưởng Phật giáo Nam Tông người hmer tỉnh Trà Vinh

đã tin theo tín ngưỡng Tô-tem của đạo à-la-môn ột tôn giáo cũng du nhập rất sớm và có ảnh hưởng khá s u đậm t đế quốc Phù Nam Ngày nay, những nét văn hóa à-la-môn vẫn c n ảnh hưởng khá nhiều trong nghi thức lễ bái, tập tục, thờ tự…của người hmer trong địa bàn tỉnh

Mặc dầu là tôn giáo du nhập trễ nhưng Phật giáo Nam Tông c n t n tại và phát triển cho đến ngày nay Sở v duy trì được điều đó vì có hệ thống giáo lí nguyên thủy giữ nguyên những gì Phật dạy, lời giảng gần gũi, dễ hiểu không cần tư duy cao siêu mà được cầm tay chỉ dẫn…phù hợp với trình độ người hmer lúc bấy giờ

Phật giáo Nam tông Khmer và đ ng bào Khmer tỉnh Trà Vinh tuy hai mà một Không có tư tưởng ấy thì người Khmer không theo đúng ngh a của nó và ngược lại cũng thế Bởi l , đối với người hmer, Phật giáo là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu trong mỗi con người Người hmer đến với Phật không thuần tu là

để sinh hoạt tôn giáo mà là một n t văn hóa tinh thần truyền thống có t l u đời trong cộng đ ng d n tộc này

1.2.1 Đ i ng Ph gi N T ng

M t s k i m v Phật giáo Nam Tông

Tiểu th a Hinayana trong đó Hina: tiểu; yana: thặng th a-phạm trù phật giáo chỉ r ng người ta có thể thoát khỏi v ng sinh tử nếu người ta thi hành những

ch n lí mà Phật dạy là một tông phái được họp thành do các vị Sư đã gìn giữ, bảo

t n trật tự và truyền ra bên ngoài những giáo lí của Phật dạy và những điều luật mà

phật đã ban hành

Trang 18

Tiểu th a tiểu: nhỏ; th a: cổ xe là cổ xe nhỏ nên mỗi lúc chỉ có thể chở vài

người Trong Phật giáo Hinayana có ngh a là cổ xe nhỏ tiểu thặng” Nguyên

danh t của một số đại biểu bên Đại th a thường dùng chỉ những người theo Phật

giáo Nguyên thủy” thuật ngữ này hàm lăng mạ, chỉ trích Ngày nay ngh a chê

bai của danh t đó không c n nữa nhưng nó vẫn c n là tên gọi của một tông phái

Phật giáo Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có định thay thế danh t này nhưng

không đạt kết quả vì danh t này đã khắc ghi s u trong tư tưởng của Phật giáo

ấy sư Đại th a” dùng danh t Tiểu th a” để chỉ một tông phái cứ giữ gìn

phong hóa và luật lệ nhà Phật chứ không gắng sức vượt lên những điều th m thúy

và cao siêu như bên tông phái Đại th a Và cho r ng Tiểu th a là ngoại đạo, không

biểu thị được cái tinh hoa Phật giáo bởi quá cố chấp theo văn tự.[7/tr56]

ật o Nam Tông t tên i

Phật giáo Nam Tông có tên gọi khác theo khuynh hướng, sự hình thành và

theo địa lí Phật giáo Nam Tông đã có những tên gọi như sau: Phật giáo Nguyên

Thủy, Thượng tọa bộ Therravada và Phật giáo Nam Tông

*Phật giáo Nguyên Thủy là tên gọi do cac vị lãnh đạo Phật giáo thay thế

danh t Tiểu th a” trong kì Hội nghị Phật giáo Thế giới tại That andu

xứ Nepal năm 1956 để tránh ngộ nhận danh t Tiểu th a” làm cho nhiều người

hiểu lầm lại có hàm chê bai không đúng Đại biểu phái này cho r ng theo sát

những gì Phật dạy nguyên thủy của đức Phật, do đức Phật nói ra Và đây là tên gọi

được hiểu theo ngh a của t nguyên thủy: đó là các nhà sư, tăng đ bên Tiểu th a

vẫn hành đạo theo lối cổ, cố giữ lấy và làm theo những gì Phật truyền dạy, không

thay đổi hay đổi lời, vẫn bảo t n trật tự cũ của các chủ trương, báo, kinh, luật,

luận…như khi mới ra đời

*Thượng tọa bộ là hệ phái thứ 15 trong số 18 hệ phái của Phật giáo Tiểu

th a, song vì hiện nay Tiểu th a chỉ c n duy nhất một hệ phái là Thượng tọa bộ hay

c n gọi là Therravada, nên t một ngh a nào đó Therravada cũng chính là Phật giáo

Tiểu th a à hệ phái được hình thành t 100 năm sau khi đức Phật viên tịch, tăng

chúng họp lại với nhau để đọc kinh điển Phật giáo Nhưng vì có sự bất đ ng kiến

với nhau s u sắc nên hàng ngũ Phật giáo chia ra làm hai hệ phái: Thượng tọa bộ và

Trang 19

Đại chúng thượng tọa hủ trương nghiêm túc là phái chính thống–phái bảo thủ–tự cho mình là chính thống và chỉ thị vào tăng giả những vị T hưu” mà thôi ngh a

là chỉ nhận nam tu không nhận nữ tu

* Phật giáo Nam Tông danh t này lấy theo địa lí Tiểu th a được gọi là Nam Tông Phật giáo vì được hình thành tại các nước Nam và Đông Nam như: Srilanca, Thailand, Việt Nam, yanmar, ombodia, aos anh t này được hình thành t khi Phật giáo chia thành hai phái Tiểu th a và Đại th a, ph n nhau cả về vùng đất truyền bá đạo tràng, mỗi bên thịnh hành một hướng Đại th a về hướng trên phương ắc và Tiểu th a về hướng dưới phương Nam

o c ậ

Đại biểu của phái này cho r ng mình theo sát những lời dạy nguyên thủy của đức Phật, do chính đức Phật nói ra và cho đó chính là giáo lí, giáo luật c n được giữ nguyên như ban đầu ít có sự thay đổi Giới luật của Tiểu th a hoàn toàn dựa vào uật Tạng” trong tì đạt ma, dựa vào để ph n tích và hệ thống hóa giáo luật của Phật

Tiểu th a tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến tự giải thoát ác lí luận triết học không đóng vai tr quang trọng, chúng thậm chí được xem là trở ngại trên con đường giải thoát Tiểu th a ph n tích r trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu chấp ngã và chỉ ra phương pháp giải thoát khỏi sự khổ duhkha

Tất cả các trường phái của Tiểu th a đều có một quan điểm chung về sự vật đang hiện hữu: khổ có thật, phải giải thoát khỏi khổ, cái khổ Giải thoát khỏi lu n

h i Samsana , thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết bàn Nirvara là mục đích cao nhất của Tiểu th a uốn đạt được mục đích này người tu phải dựa vào sức mình,

xa lánh thế gian Vì vậy, Tiểu th a quan niệm phải sống viễn ly, sống cuộc đời của một k tu hành Đối với Tiểu th a cuộc sống tại gia không thể đưa đến sự giải thoát Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu th a là la hán rhat là người dựa vào tự lực để giải thoát o đó, Tiểu th a chỉ quan t m đến sự tự giác ngộ của chính bản th n

Tiểu th a tránh không đưa lí thuyết gì về Niết bàn vì mục đích cuối cùng là

sự hành nghiệm, tự giác ngộ, trong đó người tu hành chứng được vô ngã và t bỏ tham ái Đối với Tiểu th a, Phật là một nh n vật lịch sử, là một con người như bao

Trang 20

người và là thầy dạy đạo làm người chứ không phải hóa th n của một thế lực nào cả

Nh ậ

Phải thoát khỏi cảnh trần vì ở đó con người chịu khổ não, nguy hại và chịu

sự chết đi sống lại mãi, người ta chết đi r i sinh ra trở lại là do nơi bốn ch n lí, c n gọi là Tứ diệu đế”:

- hổ đế: nguyên nhân tạo nên cái khổ do con người tạo nên tám cái khổ ở đời sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ

-Tập đế: nguyên nhân cái khổ là do con người tham, s n, si

- iệt đế: Sự kh ng định tiêu diệt cái khổ

-Đạo đế: con đường tiến tới tiêu diệt cái khổ mà cũng do nơi Thập nhị nh n duyên (Pratity Samutpanda)

Trong các kinh sách, Tiểu th a khuyên dạy con người h ng cắt bỏ những d y luyến ái, chính nó làm cho c n người liên hệ với trần gian ch ng những ở đời này

mà c n ở các đời sau nữa Tiểu th a cũng dạy r ng nên làm nhiều công đức mở mang những đức hạnh của mình, nhất là phải bố thí và không được lấy của người,

tr của ấy chính tay người cho mình Tiểu th a lại dạy r ng muốn giải thoát trọn

v n, muốn giác ngộ cần phải tham thiền nhập định tức là: làm phước bố đức không phải là sức mạnh đủ cho mình tỉnh ngộ, sự suy ngh chính chắn trong t m mới thật

sự làm cho mình tự giác ngộ

t n a ật o Nam Tông

Do giữ gìn cổ luật lệ của nhà Phật, nên chùa của Phật giáo Nam Tông hmer chỉ thờ Phật Thích a ngay chính điện của chùa hùa là nơi tập trung học đạo và tổ chức các lễ trong năm, là trung t m văn hóa, giáo dục tôn giáo-tín ngưỡng cho cả cộng đ ng Ngôi chùa của Phật giáo Nam Tông chiếm vị trí rất quan trọng người Khmer sinh ra và lớn lên cuộc đời gắn bó với ngôi chùa Cuộc đời con người tức là

t khi sinh ra cho đến lúc chết họ luôn theo và tin đức Phật lễ đặt tên trong chùa, lớn lên học hành học đạo trong chùa, lễ nghi gì quan trọng cũng đến chùa, thờ cúng cũng đến chùa và khi chết tro cốt cũng s gởi vào chùa… Phật giáo Nam Tông hmer không có nữ tu, chỉ có nam tu hi đi tu không cần phải tu suốt đời mà thời

Trang 21

gian tu là theo nguyện, người tu khi hoàn tục vẫn rất được coi trọng, vì tu là để trả hiếu, để thành người có đạo đức…Đ y c n được xem là yếu tố xác nhận người nam

đã đủ tư cách lập gia đình và bước vào xã hội

Phật giáo Nam Tông hmer ăn mặn không ăn chay, chỉ kiêng ăn mười thứ: thịt chó, rắn, voi, ngựa, thỏ, người, rùa, hổ, báo, sư tử ác thứ khác đều dùng được, nhưng do người khác giết và các tín đ bố thí gì thì dùng nấy Nhà Sư sống không dựa vào sản xuất kinh tế mà sống nhờ vào sự bố thí của Phật tử ỗi ngày Sư Sãi thay nhau cầm bát đi khất thực” theo giờ quy định, họ đến các gia đình trong khu vực (phum sóc) chùa để lấy thức ăn, chỉ được lấy thức ăn do chính tay Phật tử cho, khi đã đủ thì quay về cùng nhau dùng Riêng buổi trưa nếu như quá 12 giờ thì các

sư không được ph p dùng vật thực, chỉ được dùng chất lỏng như nước, trà, sữa…

Sư Sãi trong chùa người xuất gia tu hành) phải giữ 10 giới chính của đức phật: không sát sinh, không trộm cắp, không tà d m, không nói láo, không ăn nhiều, không uống rượu, không ng i chỗ cao đ p, không giữ tiền bạc, không nghe đàn và xem hát, không dùng múi thơm và đ trang sức [22/tr 91] Sư Sãi thường ngày phải tụng kinh tại chùa ngày 3 lần: sáng, trưa và chiều tối Nhiệm vụ của Sư là đọc kinh, giữ giới, là truyền thụ kiến thức tốt đ p cho Phật tử, ngược lại Phật tử phải tôn trọng

Sư Sãi, giữ 5 giới và mỗi tháng lên chùa tụng kinh vào các ngày 5, 8, 15, 20, 23, 30 (âm lịch) và luôn tự giác ý thức trao d i kiến thức cho bản thân Y phục tăng s của Phật giáo Nam Tông là dùng chung cho các cấp bậc, không may thành quần áo, mà chỉ là dùng vải vàng nghệ hoặc nâu quấn, vắt lên ngưới với các kiểu khác nhau tùy

t ng trường hợp

Phật giáo Nam Tông Khmer không có người ngộ đạo vì người hmer khi

v a lọt l ng m đã được xem là tín đ của Phật Vì vậy, tuyệt đại đa số người hmer là tín đ Phật tử, chỉ những người bận đi làm ăn xa nên đôi khi theo tư tưởng tôn giáo khác, nhưng đó chỉ là số ít

Trang 22

ong được thiên nhiên ưu đãi bởi hai ngu n phù sa t sông Tiền và sông Hậu nên tạo điều kiện sinh sống gắn kết cho cộng đ ng d n tộc inh- hmer-Hoa Và chính những con người vùng đất ấy đã đấu tranh hào hùng vì nền h a bình, tự do d n tộc, không những thế trong thời đại công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước hôm nay một lần nữa họ lại phấn đấu phát triển không ng ng

Trong những năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm ngh o, đời sống văn hóa tinh thần của người d n t ng bước n ng cao, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, việc tu học của chư Tăng được hoàn thiện hơn, việc x y cất trùng tu cơ ngơi thờ tự chùa chiền, đền điện… khang trang, thoáng mát và sạch đ p hơn

Với những phát triển tích cực chung cơ bản trên, được sự quan t m của Đảng

ủy các cấp hính quyền, ặt trận tổ quốc, an trị sự Phật giáo…riêng tình hình Phật giáo Nam Tông cũng đã đạt được một số kết quả sau:

Về công tác ho ng pháp Phật giáo Nam Tông tỉnh Trà Vinh phối hợp với cơ quan chức năng tổ chức thuyết giảng cho phật tử am hiểu về giáo lí nhà Phật, giáo dục Phật tử sống h a thuận, gương mẫu, làm lành lánh dữ, là con hiền, cháu thảo trong gia đình và là người có ích cho xã hội theo lời đức Phật dạy ên cạnh đó phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Nghị định 22/NĐ- P của hính phủ Hướng dẫn thi hành một số điều Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo”; Nghị quyết 06 của tỉnh Về phát triển toàn diện trong vùng đ ng bào d n tộc”; Thông tri 04 của U TW TTQVN Về cuộc vận động toàn d n đoàn kết, x y dựng đời sống văn hóa ở khu d n cư”; Triển khai điều lệ Hội Phật giáo và Hội đoàn kết Sư Sãi yêu nước…; ở lớp tập huấn kiến thức an ninh quốc ph ng cho các Sư Sãi trong chùa và truyền đến đ ng bào… T đó chư Tăng và Phật tử n ng cao thức tín ngưỡng, ph n biệt đúng sai trong những luận điệu xuyên tạc về m mưu diễn biến hóa bình của thế lực thù địch Nhìn chung các chư Tăng và Phật rất phấn khởi, an t m tu học, lao động sản xuất, luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước góp phần ổn định, phát triển huy những truyền thống của d n tộc x y dựng xã hội ngày càng giàu đ p

Trang 23

Về tu học và hành đạo luôn theo truyền thống tu học của chư Tăng Phật giáo Nam Tông hmer để đảm bảo tu hành được tốt đ p tỉnh Hội thường xuyên đôn đốc

và hướng dẫn các vị Trụ trì, an quản trị các chùa tổ chức các nghi lễ Tôn giáo như:

ễ xuất gia, an cư kiết hạ, d ng y cà sa, Phật định, Phật đản…các lễ hội trong phum sóc thực hiện đúng theo truyền thống Phật giáo Nam Tông hmer, phong tục tập quán của d n tộc, đúng theo Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đúng theo quy định nhà nước [biểu bảng 2/phụ lục]

Về văn hóa xã hội, Hội và các cơ quan chú trọng đến việc xây dựng khóm ấp

và gia đình văn hóa Nhà chùa theo Phật giáo Nam Tông chính là trung t m văn hóa, luôn thể hiện và giữ gìn bản sắc vốn có của mình vì vậy vịêc tu tạo và bảo vệ chùa là trách nhiệm hàng đầu của người d n hmer T năm 2010 đến nay, các chùa trùng tu, x y dựng lại được 19 hánh điện, 32 Trai đường, 25 Phật đường và nhiều công trình phụ khác như: hàng rào bao quanh chùa, tr ng thêm c y xanh, c y cảnh trong khuôn viên chuà làm cho môi trường cảnh quan tăng thêm n t đ p cổ kính chùa chiền Ngoài ra các chùa c n quan t m duy trì lối kiến trúc cổ, bảo vệ và lưu giữ các di sản văn hóa đặc trưng thể hiện qua những họa tiết, cấu trúc độc đáo của đ ng bào d n tộc hmer ết quả đến nay có 47 chùa và văn ph ng tỉnh Hội được công nhận là ơ sở thờ tự, cơ quan Tôn giáo tín ngưỡng văn minh, có 03 ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cách mạng cấp tỉnh, 03 ngôi chùa được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc, cách mạng quốc gia Thêm nữa các nghi lễ, các hoạt động trong l nh vực văn hóa được tổ chức chu đáo và hoành tráng hơn như lễ Tết hôl Chnăm Thmây, Sen Đônta, oc Om Bok, Phật Đản và các ngày lễ truyền thống khác có thêm nhiều loại hình văn hóa phong phú hơn, phù họp với thời đại hơn… để thu hút khách du lịch n ng cao kinh tế và truyền bá n t văn hóa của mình với các nước bạn

Về giáo dục đào tạo, được sự quan tâm của các cấp y, hính quyền địa phương đã tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, cơ sở pháp l : có 58 ph ng đọc sách, 107 phương tiện truyền thông, 119 máy truyền hình công cộng, 156 bộ Tam tạng kinh điển Pali hmer , 11 bộ hú giải kinh Tam tạng, tặng nhiều sách giáo

Trang 24

khoa song ngữ Việt-Khmer thuộc nhiều l nh vực ở các lớp Pali hmer và tạo điều kiện cho Tăng học sinh học thêm chương trình bổ túc văn hóa t cấp II đến cấp III, con em thanh thiếu niên d n tộc được học ngữ văn hmer trong 3 tháng

h …nh m n ng cao d n trí có bà con đ ng bào hmer của tỉnh ngày một phát triển hông chỉ giáo dục cho mọi người các hư Tăng Phật giáo Nam Tông cũng siêng năng n ng cao kiến thức cho mình theo học ở các trường Đại học trong khu vực và cả nước ngoài góp phần x y dựng phát triển đất nước

Nhất là việc chư Tăng, Phật tử trong Phật giáo Nam Tông hmer tỉnh Trà Vinh phát huy truyền thống yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử, luôn cùng các

d n tộc anh em đoàn kết lập nên những kì tích trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam th n yêu uôn hướng dẫn đ ng bào nêu cao thức phục vụ đạo pháp và d n tộc, cùng nhau chung tay đưa đ ng bào phát triển mọi mặt, góp phần là cho kinh tế xã hội, đất nước không ng ng đi lên bền vững ỗi thành viên của Phật giáo Nam Tông tỉnh Trà Vinh đều là thành viên đáng tin cậy trong hàng ngũ khối đại đoàn kết toàn d n tộc theo tiêu chí thống nhất chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức”, thực hiện các hoạt động Phật sự theo phương ch m Đạo pháp- n tộc- hủ ngh a xã hội”

Công tác t thiện là những hoạt động đạo đức mang tính tích cực và trong sáng, đượm n t t bi cứu khổ của đạo Phật, là công tác trọng t m của Phật giáo

Nam Tông hmer tỉnh Trà Vinh Vì thế và ậ

Nam Tông của tỉnh Trà Vinh đã kết hợp hoạt động tích cực và có hiệu quả rất cao

trong các năm qua: giúp đỡ tr em m côi, các em ngh o hiếu học, các cụ già neo đơn, thăm viếng và tụng kinh cầu an cho người bệnh, giúp đỡ và hỗ trợ tang lễ các

hộ khó khăn, lập quỹ vì người ngh o, khuyến khích và giúp đỡ Tăng sinh gặp khó trên con đường tu học….dù vật chất không nhiều nhưng chứa đựng tinh thần t bi

cứu khổ của đạo Phật và đạo lí d n tộc Việt Nam

” góp phần không nhỏ cho việc n ng cao đời sống của

người hmer cũng như cả d n tộc

Trang 25

Ch ng II THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG TƯ TƯỞNG PHẬT GIÁO NAM TÔNG ĐỐI V I ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA ĐỒNG O KHM R

TỈNH TRÀ VINH HIỆN NAY 2.1 Ảnh h ng ủ ng Ph gi N T ng ối i h ng ụ án

Phong tục-tập quán là khái niệm rộng nó bao g m cả hội hè, lễ tết, trang phục, ăn-mặc-ở, cưới xin, tang ma…và hàng loạt các tr chơi giải trí Là một dân tộc có lịch sử l u đời và nền văn hóa cổ truyền trải qua nhiều thế kỉ, dân tộc Khmer Nam Bộ, trong đó có d n tộc Khmer Trà Vinh Có những phong tục-tập quán rất đa dạng và phong phú và qua đó c n thể hiện cái h n dân tộc sâu sắc

Người Khmer lấy tư tưởng Phật giáo Nam Tông là tư tưởng chính cho cuộc sống, thế nên các hình thức phong tục-tập quán của họ mang màu sắc Phật giáo rất đậm n t, dưới đ y là một số góc cạnh điển hình:

t u a

Người hmer tỉnh Trà Vinh sống quần tụ trong các được thiết lập

l u đời, trên các g đất cao, bao quanh các ngôi chùa Phật giáo Nam Tông, giữa những hàng c y cổ thụ xum xuê cao vút, ở giữa c n thường có ao rộng được cộng

đ ng đào để giữ nước quanh năm dùng chung o à Om và một số ao h lớn nhỏ khác… Người hmer xưa kia vốn ở nhà sàn tránh lũ lụt và thú dữ nhưng kiểu nhà này hiện nay c n rất ít chỉ thi thoảng thấy ở biên giới Việt- ampuchia, một số nhỏ trong các chùa Phật giáo hmer là nơi họp của sư sãi và tín đ , nhiều hơn và thường thấy nhất là ở ven các kênh, sông thì s thấy rất nhiều nhà sàn nhưng có mái lợp b ng tole… họ c n chọn định cư ven sông, kinh, rạch, gần đường…một số ít định cư tại ruộng rẫy của mình

Nhà ở của họ đơn giản, chủ yếu nền đất hộ khá giả thì nhà nền gạch, vách ván hoặc tường , vật liệu làm nhà cũng thô sợ như m y, tre, nứa, lá d a nước…nhà

Trang 26

theo kiểu mái dài về phía sau, nhà thường hướng về phái Đông hướng để đón nhận được ban phúc lành do đức Phật ban và chiều dài của nhà là những con số l Nhà được chia làm hai phần theo chiều ngang, một làm nơi ở, một dành cho bếp núc Phần dành để ở lại chia làm hai phần theo chiều dọc: phía trước và ở giữa kê bàn ghế tiếp khách, bên cạnh thường có tủ kính đựng những chiếc gối thêu thủ công

v a để trang trí v a để tiện dụng cho khách Sau bộ bàn ghế tiếp khách là bàn thờ Phật, đặc biệt người hmer rất ít thờ tổ tiên trong nhà vì hài cốt của ông-bà, cha-m , người th n s được mang vào chùa để các vị sư sãi tung kinh cầu phúc Nửa sau c n lại, bên phải là bu ng của vợ ch ng chủ nh n ngôi nhà, bên trái là

bu ng của con cái Đ y là kiểu nhà truyền thống của người hmer, c n hiện nay do

sự giao thoa văn hóa và điều kiện sinh sống ngôi nhà của họ cũng đa dạng và tinh tế hơn nhưng trang trí bên trong vẫn giữ lại những n t đặc trưng của đ ng bào qua những đ vật trang trí

Qua kết cấu kiểu nhà ở đơn giản của người hmer và nhìn lại kiến trúc khang trang, lộng lẫy của những ngôi chùa ở trung t m phum sóc cho ta thấy được với họ ngôi nhà ở của mình chỉ bình dị là được ngược lại đóng góp vào việc x y cất chùa chiền mới là việc v nh h ng mai sau Phật là đức tin lớn nhất của họ và d ng lên Phật những điều tốt đ p nhất là nhiệm vụ của mọi người hmer

Trang c a ng

Đối vời người Khmer, trang phục không chỉ để mặc mà c n phải thỏa mãn cả

về mỹ thuật, tín ngưỡng và t m linh Trang phục truyền thống của người hmer được bảo t n qua nhiều thế hệ

Thường nam giới trung niên và người già thường mặc bộ bà ba đen, quấn khăn r n trên đầu.Trong dịp lễ, tết họ mặc áo bà ba trắng hoặc áo đen , quần đen

đ y là loại quần truyền thống của người hmer, quần được vấn t thắt lưng xuống đến ống ch n, có nhiều hoa văn, họa tiết, màu trông sặc sỡ quấn khăn r n ch o ngang hông vắt lên vai trái Ngày nay, để phù hợp với thời đại mới và thuận tiện

Trang 27

cho công việc, hanh niên dân tộc thích mặc quần u và áo sơmi Còn trang phục truyền thống chỉ mặc trong các ngày lễ tết

Trước đ y phụ nữ hmer thường mặc xăm pốt” váy hình ống, kín và do họ dệt b ng tơ t m , hiện nay thường phục của phụ nữ hmer cũng giống người inh

ở địa phương hỉ mặc trong những ngày lễ, tết k o dài cả tuần, người phụ nữ hmer đi lễ, mỗi ngày mặc chiếc váy màu sắc khác nhau Tùy theo t ng hoàn cảnh khác nhau mà họ chọn cho mình những bộ trang phục phù hợp Trang phục này khá cầu kì và màu sắc rực rỡ Đó là sự kết hợp hài h a giữa áo tầm vông” c n gọi áo

cổ v ng , vận xà rông và sbay” cùng với những hạt cườm, hạt kim sa lấp lánh được đính trên nền hoa văn tinh xảo o tầm vông thường được dệt thủ công b ng tơ tầm hay chỉ kim tuyến với nhiều họa tiết hoa văn khác nhau, xà rông là một mảnh thổ

c m rộng khoảng 1m, dài 3,5m khi mặc thì cuốn lại che nửa người phía dưới Để tôn thêm n t dịu dàng uyển chuyển đầy nữ tính trong bộ lễ phục này không thể thiếu sbay” là một loại khăn lụa mềm được uốn ch o t vai trái xuông bên sườn phải Người phụ nữ hmer cũng có áo dài riêng của họ gọi là Wện hay áo bịt tà, th n áo rộng và dài qua gối, cổ áo thấp và x trước ngực v a đủ chui đầu vào, hai tay áo chật, hai bên sườn thường gh p thêm bốn miếng vải, thường vải k o dài t mách đến gầu áo o này cũng là một trong số những trang phục dành cho lễ hội Hay xăm pốt ch n khen” nam nữ đều mặc được à một loại trang phục đặc biệt của người hmer và điểm làm nên sự đặc biệt ấy là cách mặc xăm pốt lên người Họ

lu n váy giữa hai ch n t sau ra trước r i k o lên vắt cạnh hông tạo thành dạng như chiếc quần ngắn và rộng Quần được mặc với áo nhiều màu và trên có thêu những hoa văn cầu kì, sắc xảo thể hiện n t riêng của đ ng bào

Trong đám cưới chú rể thường mặc bộ xà rông” hôl và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ đ y là kiểu áo x ngực, cổ đứng cài cúc, quàng khăn trắng vắt qua vai) và đeo thêm con dao cưới” kầm pách với ng a bảo vệ cô d u ô d u thường mặc

chiếc màu tím sẫm hay màu h ng cánh sen, áo dài màu đỏ thẫm, quàng khăn ch o qua người, đội mũ pkel plac hay loại mũ tháp nhọn nhiều tầng b ng kim loại hay giấy b i

Trang 28

Trang phục truyền thống không chỉ phong phú về màu sắc, họa tiết, hoa văn

mà c n phong phú ở kiểu dáng của t ng kiểu trang phục khác nhau Thông dụng

hiện nay là bộ trang phục đi lễ chùa với n t trang nhã, kín đáo; bộ trang phục dùng

cho liên hoan, tiệc m ng thì có v cách t n, duyên dáng và bộ trang phục cưới rực

rỡ mang đậm n t truyền thống Đặc biết vào dịp lễ tết, phum sóc hmer vô cùng

sống động, đầy màu sắc bởi trang phục của các nam thanh nữ tú trong các tr chơi

d n gian hay lễ d ng bánh trái c y lên chùa, r i các đôi trai gái nhịp nhàng trong

điệu múa cổ truyền như những đôi bướm bay lượm h a theo tiếng nhạc vang động…

Bên cạnh những trang phục v a nêu, chúng ta chú đến chiếc và

khi nghe đến hai t khăn r n chúng ta s ngh ngay đến chiếc khăn tiện dụng và

luôn gắn bó với các chiến s bộ đội Việt Nam cũng như trong các cuộc kháng chiến

hào hùng của d n tộc Theo các nhà nghiên cứu thì chiếc khăn r n ấy xuất phát t

người hmer do trong quá trình cộng cư với nhau trên lãnh thổ Việt Nam và vùng

đất Đ ng b ng sông ửu ong nói riêng nó đã là phụ kiện trang phục chung của

nhiều d n tộc hiếc khăn thường có màu đen và trắng hay n u và trắng Hai màu

đan vào nhau, tạo thành ô vuông nhỏ, trải dài khắp mặt khăn và có l các l n ngang

dọc ấy là gốc gác tên gọi hiếc khăn c n có các tên gọi khăn choàng hay

choàng tắm, có chiều dài khoảng 1,2m, rông ch ng 40-50cm, không cầu kì, sặc sỡ

mà rất đỗi bình dị, giản đơn nhưng lại rất tiện dụng: lau, đội, vấn, quàng, che…nên

đến nay nó vẫn c n được dùng rất phổ biến

Ngày nay, vì để phù hợp với thời đại và tiện dụng trong sinh hoạt h ng ngày

và cũng có sự ảnh hưởng bởi các d n tộc anh em mà trang phục của đ ng bào

hmer được lớp tr cánh t n, biến tấu theo nhiều kiểu mới, lạ và đ p mắt nhưng vẫn

không hề mất đi v đ p s n có bao đời

c

Hôn nhân thường do cha m xếp đặt, có sự thỏa thuận của con cái Người

Khmer rất coi trọng lễ cưới, lễ cưới là ngày trọng đại nhất và có sự ảnh hưởng lớn

Trang 29

nhất đối với cuộc đời của mỗi con người, thế nên ngày lễ này rất được quan t m và

tổ chức rất chu đáo hế độ đa thê, vấn đề ly hôn, loạn lu n giữa những người có huyết thống trực hệ hoặc vấn ngoại tình ít xảy ra và tuyệt đối nghiêm cấm

và có phạm vi th n tộc rất rộng nên hôn nh n không chỉ việc hệ trọn đời

người mà c n là vấn đề có ngh a rất lớn với kết cấu th n tộc trong phum sóc” Nên nguyên tắc này có mối liên hệ về tình cảm, kinh tế giữa hai họ với nhau, ngoài ra

c n suy nghỉ cho tài sản và cuộc sống tương lai Hình thái cư trú sau hôn nh n của người hmer do tính chất của gia đình quy định Đặc điểm phổ biến của họ là ở bên

vợ nếu có ra riêng thì cũng cất nhà ở gần họ vợ trong cùng một phum sóc

Trang 30

Ngày nay thì trạng này đã không c n phổ biến nữa vì họ đã được giáo dục thức theo thời đại nên nam nữ hmer ngày nay được tự do yêu đương, được chọn

vợ ch ng theo mình và dưới sự chấp thuận của cha m hai bên Và tục ở bên nhà

họ vợ cũng vậy mà họ có thể tự do theo điều kiện kinh tế thích hợp của mình Điều này phản ánh họ đã mở rộng tư tưởng hơn không c n bó h p suy ngh như trước đ y

mà biết giao lưu phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội của gia đình cũng như địa phương của họ

Người hmer rất coi trong lễ cưới, nên nghi lễ cưới hỏi của họ rất phức tạp

và cầu kì ễ cưới thường dùng màu đỏ vì đ y là màu của máu, của lửa, của trái tim, tượng trưng cho niềm vui, hạnh phúc và sự may mắn Họ tin nếu theo đủ lễ thì tình cảm của đôi vợ ch ng s được trọn đời và khó phai mờ hông chỉ con cái họ được hạnh phúc mà gia đình, d ng họ cũng hãnh diện với mọi người ễ thường diễn ra vào mùa khô tránh mùa Nhập hạ hay t tháng 10 đến tháng 4 theo Phật lịch, để mọi việc được diễn ra suông s , tốt đ p

Đám cưới thường mời 9 vị sư sãi đến làm lễ t sáng sớm, phong tục cưới của

đ ng bào hmer trải qua gần 10 nghi lễ chứa đựng quan niệm sống, t m tư, tình cảm cũng như t m linh Phật giáo đới với cuộc sống tinh thần của d n tộc hmer:

nhà trai thăm d tứ của cha

m , gia đình nhà gái, nếu nhận được thiện thì hỏi tuổi tác, mang khơi trầu thưa chuyện

Si sla kân seng (nh nhà trai mang vật đến nhà gái đặt vấn đề

cưới hỏi

Si sla banh cheabpeak ( t bên cạnh khơi trầu, quả cau nhà

trai c n mang theo tặng vật dành riêng cho cô d u tương lai như nhẫn, v ng vàng, bạc và nhiều thứ khác

ập gia ( nh y i) nhà trai mang tới các lễ vật theo cặp đôi, vì

số ch n tượng trưng cho cặp vợ ch ng hi đến nhà gái, lúc này cửa nhà gái s đóng

Trang 31

điều này tượng trưng cho sự thanh cao của cô d u Sau trình lễ nhà gái s cho nhà trai vào, chú rể s được đi vái ông Neak, xin được ông nhận là thành viên mới của phum sóc

c được tiến hành sau lễ nhập gia, vào giờ tốt đã chọn t trước, lễ cưới

s được tiến hành với sự tham dự của họ hàng hai bên, khách khứa, bạn b và có các

vị sư sãi đến tụng kinh chúc phúc cho cô d u chú rể hú rể s d ng bánh trái cho cha m cô d u để tỏ l ng nhớ ơn người đã sinh thành vợ của mình

c tay) trong lễ này ông Maha s nhảy múa trước

cổ d u chú rể và mời mọi người dự lễ buộc chỉ cổ tay chúc phúc cho cô d u, chú rể,

v ng chỉ để buộc cổ tay cũng được làm thành đôi Sau lễ mọi người tặng quà m ng hoặc tiền cho cô d u chú rể

l ập ng) lúc này ông Maha s dẫn đôi vợ ch ng

mới vào ph ng t n hôn, cô d u đi trước chú rể đi sau nắm vạt áo cô dâu Nó biểu hiện cho tình cảm vợ ch ng n ng thắm Tục này thể theo hình ảnh của hoàng tử Thông nắm vạt áo công chúa Rắn đi xuống thủy cung trong một truyền thuyết của

d n tộc hmer

B tr i u) một người già đông con nhiều cháu, mạnh khỏe

s mang chiếu ra và hỏi: i chuộc chiếu này không i chuộc được s giàu có, đông con lắm cháu, bảo ban ai cũng nghe… những điều tốt đ p nhất s được nói lên trong lúc này ” úc này chú rể s là người đứng ra chuộc chiếu, trải ra cho mọi người ng i tr chuyên Xong ông aha cuốn chiếu lại và thay mặt cô d u chú rể nhận quà

uối cùng là nó giống như lễ

động ph ng của người inh ô d u chú rể s được hai phụ nữ có con cháu đầy đàn, gia đình hạnh phúc buông màn và đúc chuối cũng những lời chúc tốt đ p

Trang 32

Ngày nay, việc cưới hỏi trong đ ng bào hmer tỉnh Trà Vinh đã được giảm tiết hợp lí với cuộc sống mới Tuy vậy vẫn giữ lại những lễ chính trọng nh m lưu giữ n t đ p d n tộc và sự quan trọng của việc cưới hỏi trăm năm

tang a ng o Khmer nh Vinh

Tang ma (Bônsôp) là phong tục của người hmer chịu sự ảnh hưởng rất lớn

tư tưởng Phật giáo Nam Tông Theo quan niệm của người hmer cũng như tư tưởng Phật giáo Nam Tông thì người chết chưa phải là hết mà họ vẫn tiếp tục sống

ở một thế giới khác dưới dạng linh h n Vì thể tang ma được tổ chức rất long trọng, xem đ y như là một buổi đưa tiễn, đám được che rạp để đón khách đến chia bu n và điều không thể thiếu là sự có mặc của các nhà sư đến tụng kinh cầu siêu vào mỗi buổi tối, riêng người th n phải làm nhiều điều phước nhất là đối với nhà chùa Họ tin nếu được như vậy thì người th n của họ chết đi về thế giới bên kia vẫn s sống

có phúc dưới lời kinh Phật soi đường và những điều con cháu đã cống hiến cho họ theo nhang khói đi cùng họ

Nên khi nhà người hmer có người chết họ s treo cờ báo tang màu trắng, sau đó họ đến chùa nhờ các vị ục cả coi ngày giờ t m liệm, động quan và hỏa táng Người hmer sau khi chết thường s hỏa táng tr trường hợp đột tử hoặc tai nạn s thổ táng Tục này có ngu n gốc t alamon, quan niệm mỗi người là một tiểu vũ trụ được sinh ra t linh h n vũ trụ, chính vì thế khi chết cần phải được hỏa táng để linh h n người chết được nhanh chóng về với vũ trụ

ễ được diễn ra dưới sự phụ trách nghi lễ của ban đạo t trong phum sóc,

người đứng đầu ban đạo t gọi là Acha Duki” họ lo các việc như t m liệm, trình tự

nghi lễ và hướng dẫn ban hộ niệm đọc kinh cầu an, cầu siêu những lúc không có các

vị ục của chùa đến tụng kinh

Người chết s được đặt vào một bu ng riêng có treo ảnh của đức Phật với ngụ đức Phật s mãi ngự trị trong c i l ng người ấy, s được thay đ và dùng nước thơm Tuk-op để người chết sạch s và rửa tội lỗi , miệng ngặm một đ ng bặc trắng lộ phí đi đường , đặt lên bụng 1 nải chuối sống và 3 lá trầu có ghim 3 c y

Trang 33

nhang hướng về phía đầu thi hài chết đi luôn mang đức Phật trong tim , cả thi hài phủ b ng vải trắng và họ lập 1 bàn thờ ngay đầu n m người chết, bày trên bàn có:

6 lít gạo, 1 nải chuối, 1 con gà đã luộc chín, 1 trái d a khô bỏ vỏ, 1 chai rượu, 1 cái Sla chôm, 1 n i đất, 1 một con dao nhỏ, 4 ch n cơm, 4 đôi đũa, 1 đ n cốc cùng

1 ch n ng-ko ôl có đựng gạo, tiền và cặp đ n cầy hoảng nửa ngày người ta tiến hành lễ v y nước cầu siêu do các ông ục tiến hành để rửa trôi điều không may của người chết

Sau khi thực hiện các nghi thức để liệm xác vào quan tài , quan tài đó s được mang đến nơi hỏa táng ở trong khuôn viên chùa hoặc nhà hỏa táng của phum sóc Trước khi đưa đi sư sãi s tụng kinh cầu siêu lần cuối, tiếp theo là phần tụng

niệm của ban đạo t , cha đốt và cầm nhang đi 3 v ng quanh quan tài đọc Otarapo

r i gom nhang lại khấn xin trời đất được đem quan tài đem đi hỏa táng Ở bên ngoài được chu n bị hai kiệu, kiệu thứ nhất có hai bàn thờ nhỏ là ơrông và pithôn kinh báo hiếu , kiệu thứ hai dùng để đưa quan tài đi hỏa táng c n gọi là nhà vàng , trên kiệu này được bố trí bốn ông ục đứng bốn góc quan tài inh cữu được khiêng

đi trong tiếng trống, c ng và dàn nhạc ngũ m đi trước, cha cầm cờ và n i đất đi

kế kiệu của các nhà sự đang tụng kinh cầu phước, suốt quảng đường đi con cháu cầm di ảnh người chết và mang theo lúa cùng bông g n rãi dọc đường đi với phước và tội lỗi không bao giờ đi chung cũng như lúa và bông g n sau khi được rãi

Điểm đặc biệt là s có sợi d y cỏ tranh S’b u Ph’leang nối kiệu có che màn của sư tụng kinh đến kiệu khiêng quan tài v a để cho mọi người đi có trật tự

v a có ngh a là bà con, họ hàng gắn bó mật thiết yêu thương nhau Đến nơi quan tài được khiêng v ng quanh chính điện và nhà thiêu mỗi chỗ 3 v ng, khi đến chỗ thiêu lại được xoay 3 v ng và cuối cùng là hướng đầu của người chết về hướng Đông đ y là hướng Phật phổ độ chúng sinh Để chu n bị thiêu ông ục s tụng kinh cấu siêu lần nữa Người nhà được nhìn mặt lần cuối, r i quan tài được đưa vào

l thiêu úc lửa cháy đỏ rực thì cũng là lúc các Sư xuống tóc và phát cà sa cho con hoặc cháu trai nào muốn vào tu bảo hiếu cho người th n đã khuất và chỉ được tu ở bậc Sadi Sau khi thiêu xong, cha uki đánh tiếng c ng báo hiệu và họ s tưới

Trang 34

nước lên đống than cho nguội để con cháu có thể đến nhặt xương bỏ vào m m có lót vải trắng, nhặt hết s để vào hũ để thờ ở nhà hoặc gởi ở tháp của nhà chùa đa số người hmer s gởi tro cốt người th n ở chùa vì tin s cận kề đức Phật Sáng hôm sau, gia đình người mất s mang d ng đến chùa những lễ vật như đ cúng, áo cà sa, chiếu, mền, mùng…với quan niệm những thứ ấy s dành cho người th n quá cố của

họ đang sống ở thế giới bên kia thong qua các nhà Sư úc này lễ tang kết thúc

Như đã giới thiệu, đ ng bào Khmer có tôn giáo chính là Phật giáo Nam Tông nên những lễ hội của họ tất cả các nghi thức thờ cúng, vui chơi đều chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo và gắn liền với ngôi chùa Người dân Khmer tỉnh Trà Vinh cũng giống như đ ng bào Khmer cả nước, trong năm họ có ba ngày lễ hội lớn

và rất nhiều lễ hội nhỏ khác, các lễ giao nhau giữa chùa chiền - Phật giáo - đời sống nông nghiệp” Nhưng trong luận văn này xin trình bày ba lễ hội lớn: Chol Chnam Thmay (Tết năm mới hay Lễ chịu tuổi), Sen Donta (Cúng ông bà), Ook Om Bok ( Lễ cúng trăng

T t Chol Chnam Thmay

Giống như Tết năm mới của người Kinh, Tết hol hnam Thmay cũng được tính theo âm lịch nhưng họ tính theo lịch mặt trăng riêng của họ Tết nh m vào tháng 4 (tháng Khchét), kéo dài trong 3 ngày Tết cũng có ba ngày chính như người Kinh, trong 3 ngày này không khí ở các chùa rất náo nhiệt, tưng b ng trong tiếng nhạc, những điệu múa, những tr chơi d n gian…các vị Sư thì tụng kinh cầu phúc, những ngày này mọi người trong phum sóc tập họp gần như suốt ngày đêm Ngày nay, không chỉ có người hmer đi lễ mà người inh cũng đến chung vui lễ hội

cùng nhau

Để chu n bị Tết, gia đình nào cũng tập trung ăn mặc đ p, các tr em được may, sắm những bộ quần áo mới Mọi nhà đều sửa sang, quét dọn, trang trí lại, chu n bị đ ăn, thức uống đầy đủ cho những ngày Tết Trước đ y người ta giã gạo, chà gạo s n, làm bánh Ngày nay, họ chu n bị gạo đầy đủ, cùng các đ ăn, bánh trái,

Trang 35

hoa quả, cá, thịt, rau…tất cả đều s n sàng Mọi công việc thường ngày đều d ng lại, mọi người nghỉ ngơi, tr u b thả tự do Chu ng trâu, bò phải đầy rơm, đầy rạ Người người hào hứng chăm lo cho ngày Tết Đ y cũng là dịp để các gia đình có con trai đủ tuối đi tu, nếu có ý muốn thì đưa con mình đến chùa để các Sư tổ chức lễ xuất gia, học Phật

Lễ Tết quan trọng nhất trong 3 ngày cũng như mùng 1-2-3 của người Kinh,

người Hoa) Ngày th nh t: t ng đoàn người diện những bộ quần áo trang trọng, sắc

sở, trên tay cầm nhang, đ n, hoa quả vào chùa cùng nhau rước Đại Nông lịch (thần

bốn mặt quanh chính điện r i vào lễ Phật, đọc kinh m ng năm mới Ngày th

hai: Phật tử d ng cơm cho các nhà Sư và thực hiện lễ truyền thống là đắp núi cát

Các nhà Sự thì đọc kinh cầu siêu cho người chết và cầu an cho người đang sống

Ngày th ba: là lễ tắm tượng Phật và tắm cho các vị Sư Sãi cao niên

Trong lễ hội người Khmer, tôn giáo-tín ngưỡng như h a quyện vào trong đời sống của thiện tín thể hiện qua các truyền thuyết và nghi lễ Trong ba ngày Tết, cũng giống như tục lệ người inh, người hmer đi thăm hỏi lẫn nhau, chúc nhau tài lộc, sức khỏe, phát đạt và cùng nhau tham gia các tr vui Hàng quán được bày các nơi trong khuôn viên chùa là dịp để đ ng bào Khmer giới thiệu với các bạn phương

xa về nền văn hóa m thực độc đáo của mình Các món m thực như bún nước lèo, bánh ống khoai mì, bánh g ng Num h’nh y , bánh t t nh n mỡ (Nùm chruốt), bánh d a nhân chuối (Nùm chết), bánh ít (Nùm Tiên), bánh bột nhân d a ( Nùm bóc cháp) Buổi tối, người ta thường tổ chức nhiều tr chơi như đốt đ n trời, đốt ông lối, đánh quay lửa…các cụ già kể truyện cổ tích, thần thoại, chuyện cũ cho con cháu nghe Trong những ngày lễ Tết, những người tr tuổi tập trung tham gia trò chơi truyền thống như haol hhoung n m bóng và as ng unh gieo hạt) Còn không thì họ tham gia chơi k o co, đấu vật, chạy đua, bịt mắt bắt dê hoặc múa ăm Vông, múa trống Xà ăm, hát day hay Yu ê, diễn Rôbăm…không khí của thời gian lễ hội lúc nào cũng vui v

Trang 36

Những truyền thống tốt đ p trong văn hóa Tết của người hmer được gìn giữ cho đến ngày nay rất có giá trị với cuộc sống tinh thần của họ Ngày xưa lễ kéo dài và rất tốn k m nhưng ngày nay họ ý thức được đời sống khó khăn nên gói gọn

và tiết kiệm chỉ trong ba ngày

L Pithi Sen Donta

Trong đời sống tâm linh của người inh theo đạo Phật, có lễ Vu Lan diễm vào tháng 7 âm lịch h ng năm Vu an là mùa báo hiếu”, một n t đ p về lòng tri

ân, hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha m ũng tương tự vậy, người Khmer theo đạo Phật giáo Nam Tông có lễ Sen ĐonTa, được tổ chức khoảng cuối tháng 8

âm lịch (Khmer gọi là tháng Photrobot Sen onta” ngh a tiếng Việt là cúng ông bà”, được bắt ngu n t tín ngưỡng dân gian T xưa, người Khmer tin r ng ngoài thế giới hiện hữu còn thế giới khác gọi là c i v nh h ng nơi đó linh h n người chết vẫn t n tại Nh m tưởng nhớ công ơn cha m , tỏ l ng thành, đền ơn đáp ngh a cho đấng sinh thành ũng như những vị anh hùng, đã cống hiến sức mình để bảo vệ

đ ng bào, bảo vệ dân tộc

hông tưng bưng như hol hnam Thmay, không nhộn nhịp như Ook Om Bok, lễ Sen Donta thâm trầm, mang n t văn hóa-tín ngưỡng là giá trị tinh thần, đạo đức, giáo dục sâu sắc uống nước nhớ ngu n” của người Việt Nam Bên cạnh ý ngh a trên, đ y c n là cơ hội để gia đình sum họp, đầm ấm; thắt chặt tình đoàn kết thương yêu giúp đỡ nhau trong phum sóc Lễ vật tượng trưng cho ngày Sen onta

và cũng không thể thiếu đó là bánh t t”, hình ảnh thắt chặt tình cảm gia đình cũng như cả phum sóc

Lễ diễn ra trong ba ngày chính: Th nh t con cháu chu n bị lễ vật lên chùa

rước ông bà (tụng kinh, xem hát, vui chơi, tr chuyện…như có sự hiện diện của tổ

tiên bên con cháu) Th hai rước ông bà về nhà và làm cơm d ng cúng, cu i cùng

cúng đưa tiễn ( mời mọi người đến dự, sau khi xong s làm thuyền lễ tiễn đưa ông

bà về nơi đã đến) Kết thúc lễ, nhà nhà s cất lễ vật c n thận vào tủ để năm sau lại đón ông bà về vui với con cháu

Trang 37

L Ook Om Bok (l ú

Đ ng bào Khmer cử hành các lễ theo Phật lịch Nam Tông, theo lịch một năm

có 354 ngày, chia thành 12 tháng Lễ Ook Om ok cũng theo lịch mà tổ chức vào ngày 15 tháng doeh là đêm r m trăng tr n tháng 12 cuối cùng, khép lại một năm

của người Khmer

Trong lễ có hội, hội được mong đợi nhất là hội đua ghe Ngo”, hội này thu hút nhiều người tham gia cả người Kinh-Hoa-Khmer Hội bắt đầu cho lễ Ook Om Bok, diễn ra khoảng lúc 13 giờ và kết thúc khoảng lúc 18 giờ Trước khi đua, ban tổ chức s tiến hành lễ hạ thủy và cũng để các đội tập luyện, còn gọi là nghi thức mặc

áo cho ghe Ngo” Đến giờ đua thì các ghe xếp thành hai hàng theo thứ tự, chờ đến lượt tranh tài Cuộc đua thi diễn ra ba vòng: vòng loại, vòng chung kết và v ng đua phân thứ hạng Lễ đua ghe Ngo làm cho an tổ chức, các vận đông viên và khán giả thấy cái hay của ngày hội, giúp sảng khoái tinh thần khi nhìn mọi người sống hành

xử tốt đ p với nhau Hội đua ghe Ngo kết thúc mọi người dọn rửa sạch s để bước vào lễ cúng trăng lúc về đêm

Lễ Ook Om Bok còn có các tên gọi khác như cúng trăng, đút cốm d p, lễ đưa nước Trong lễ món ăn không thể thiếu đó là cốm d p”, được làm t những hạt nếp

do chính tay người dân vun tr ng và trải qua các bước tỉ mỉ để có món cốm d p

d ng cúng Trăng, cùng với loại nông ph m khác như d a tươi, khoai môn, khoai lang, chuối, mía, đậu phộng…tất cả được bày trí thật đ p trước khi đặt lên bàn cúng Người người của liên gia quây quần nơi bàn cúng để thực hiện các nghi lễ Khi trăng lên cao, tỏ ánh sáng vàng rực rỡ cũng là lúc các nghi lễ được bắt đầu Trong ngày lễ, khi cúng xong, tr con s được chủ lễ lần lượt đút cốm d p” lần lượt cho

t ng đứa và s được hỏi: ?” Và tất nhiên s là những điều

nguyện cầu tốt đ p và chân thật và mang nhiều ngh a cho cuộc sống Tiếng nhạc rộn ràng nổi lên, ca múa, vui chơi, tr chuyện…không khí được đưa đến sân chùa, mọi người họp lại buổi lễ hội cũng thêm vui và cuộc sống thêm ngh a

Ngày đăng: 14/10/2015, 12:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w