Chỉ thị số 32CTTW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ, nhân dân ngày 09 tháng 12 năm 2003. Quyết định phê duyệt Đề án Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường Số: 1928QĐTTg ngày 20 tháng 11 năm 2009b. Vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong môn GDCD ở trường trung họcThảo luận: Tại sao phải dạy pháp luật cho học sinh? Giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm giúp các em hiểu biết về pháp luật cơ bản. Từ đó các em có thể nhận biết, phân biệt những hành vi đúng pháp luật và hành vi sai trái. Các em có tinh thần, trách nhiệm trong việc hành động đúng pháp luật, phát hiện những sai trái pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật. Đồng thời, các em có khả năng tự làm chủ bản thân trong cuộc sống, biết đánh giá hành vi pháp luật
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
BÀ RỊA – VŨNG TÀU Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM
Bà Rịa, ngày 2 tháng 10 năm 2014
QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI HỌC VIÊN CÁC LỚP BỒI DƯỠNG
Nhằm đảm bảo quyền lợi học tập của học viên và xây dựng nề nếp, kỷ cương,môi trường sư phạm tại trường Cao đẳng Sư phạm, mỗi học viên khi học tập tại trườngcần thực hiện những điều quy định sau đây:
1 Học viên phải đi học đúng giờ quy định:
- Giờ học buổi sáng: từ 7h30 đến 11h30 (giải lao từ: 9h30 đến 9h45)
- Giờ học buổi chiều: từ 13h30 đến 17h30 (giải lao từ: 15h30 đến 15h45)
2 Học viên đi trễ 15 phút không được vào lớp và tính 1 buổi vắng Học viên có lý
do cần về sớm phải được sự đồng ý của giảng viên giảng dạy
3 Trong giờ học, học viên không được sử dụng điện thoại, không hút thuốc,
không làm việc riêng, không nói chuyện hoặc làm việc khác ảnh hưởng đến giờ học
4 Không mang thức ăn, thức uống vào lớp học, phải đảm bảo vệ sinh lớp học.
5 Khi đi học hoặc tham quan thực tế, học viên cần trang phục theo quy định của
viên chức nhà nước lúc đi làm việc
6 Học viên phải thực hiện đầy đủ các cột điểm được quy định trong chương trình
bồi dưỡng Nếu nghỉ quá 20% số tiết quy định trong môn học hoặc không làm bàikiểm tra của môn học, học viên không được tính điểm quá trình của môn học đó Danhsách học viên không hoàn thành môn học sẽ được giảng viên thông báo trước lớp
7 Hoàn thành khóa bồi dưỡng, học viên được cấp chứng nhận theo quy định của
Bộ GD&ĐT
8 Học viên thực hiện nội quy nghiêm túc và có kết quả học tập xuất sắc sẽ được
Nhà trường đề xuất với Sở GD&ĐT khen thưởng Học viên nào không chấp hành nộiquy và kế hoạch học tập, tùy mức độ vi phạm, Nhà trường sẽ thông báo cho đơn vị chủquản của học viên
HIỆU TRƯỞNG
(Đã ký)
TS HỒ CẢNH HẠNH
Trang 2MỤC LỤC
Trang
KIẾN THỨC BẮT BUỘC
1 Chuyên đề 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật
nước CHXHCN Việt Nam; vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong
môn GDCD ở trường trung học – GV: Th.s Nguyễn Thị Thanh Thủy
2 Chuyên đề 2: Những nội dung cơ bản về Hiến pháp nước CHXHCN VN,
Luật Hành chính, Luật Hình sự - GV: Th.s Hồ Viết Hùng
3 Chuyên đề 3: Những nội dung cơ bản về Luật Dân sự, Luật Hôn nhân
và Gia đình, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em, Luật thương mại
- GV: Th.s Hồ Viết Hùng
4 Chuyên đề 4: Pháp luật trong lĩnh vực Văn hoá - Giáo dục - Môi trường,
Luật Lao động, Luật An toàn giao thông, Luật Quốc tế
- GV: Th.s Hồ Viết Chiến
5 Chuyên đề 5: Phương pháp dạy học pháp luật trong môn GDCD ở trường
trung học - GV: Th.s Nguyễn Văn Tráng
6 Chuyên đề 6: Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật ở trường
trung học - GV: Th.s Nguyễn Văn Tráng
7 Chuyên đề 7: Kỹ năng phổ biến giáo dục pháp luật - GV: Hoàng Trọng Ánh
KIẾN THỨC TỰ CHỌN
8 Chuyên đề 9: Giáo dục pháp luật trong trường phổ thông ở các nước phát triển
hiện nay - GV: TS Hồ Cảnh Hạnh
9 Chuyên đề 10: Các điều ước quốc tế về quyền con người và việc thực hiện
ở Việt Nam - GV: Th.s Hồ Viết Chiến
Trang 3Chuyên đề 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM; VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC DẠY PHÁP LUẬT TRONG MÔN
a Chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về việc dạy pháp luật trong môn GDCD ở trường trung học
- Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Khóa IX) về tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức pháp luậtcủa cán bộ, nhân dân ngày 09 tháng 12 năm 2003
- Quyết định phê duyệt Đề án "Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp
luật trong nhà trường" Số: 1928/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009
b Vai trò và ý nghĩa của việc dạy pháp luật trong môn GDCD ở trường trung học
Thảo luận: Tại sao phải dạy pháp luật cho học sinh?
- Giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm giúp các em hiểu biết về pháp luật cơ bản Từ
đó các em có thể nhận biết, phân biệt những hành vi đúng pháp luật và hành vi sai trái
- Các em có tinh thần, trách nhiệm trong việc hành động đúng pháp luật, phát hiệnnhững sai trái pháp luật, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật Đồng thời, các em có khảnăng tự làm chủ bản thân trong cuộc sống, biết đánh giá hành vi pháp luật
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về Nhà nước và Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
1.2.1 Nguồn gốc, bản chất, chức năng của nhà nước và pháp luật
A NHÀ NƯỚC
Chủ nghĩa Mác - Lênin : Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh,phát triển, tiêu vong Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến mộtgiai đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại của
nó mất đi
I Nguồn gốc của nhà nước
1 Chế độ cộng sản nguyên thuỷ, tổ chức thị tộc - bộ lạc và quyền lực xã hội
Thị tộc là hình thức tự quản đầu tiên trong xã hội Để tổ chức và điều hành hoạtđộng chung của xã hội, thị tộc cũng đã có quyền lực và một hệ thống quản lý côngviệc của thị tộc Quyền lực trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ mới chỉ là quyền lực xãhội do toàn xã hội tổ chức ra và phục vụ cho lợi ích của cả cộng đồng
Hệ thống quản lý các công việc của thị tộc bao gồm:
Hội đồng thị tộc là tổ chức quyền lực tổ chức quyền lực cao nhất của thị tộc gồmnhững thành viên lớn tuổi của thị tộc Hội đồng thị tộc quyết định tất cả các vấn đềquan trọng của thị tộc như tổ chức lao động sản xuất, giải quyết các tranh chấp nội bộ,tiến hành chiến tranh Những quyết định của Hội đồng thị tộc là bắt buộc đối với tất
cả mọi người
Hội đồng thị tộc bầu ra người đứng đầu thị tộc như tù trưởng, thủ lĩnh quân sự đểthực hiện quyền lực, quản lý các công việc chung Những người đứng đầu thị tộc cóquyền lực rất lớn, quyền lực này được tạo trên cơ sở uy tín cá nhân, họ có thể bị bãimiễn bất kỳ lúc nào nếu không còn uy tín và không được tập thể cộng đồng ủng hộ
Trang 4nữa Những tù trưởng và thủ lĩnh quân sự không có bất kỳ một đặc quyền và đặc lợinào so với các thành viên khác trong thị tộc.
Như vậy, trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ đã tồn tại quyền lực, nhưng quyềnlực này không phải là quyền lực đặc biệt do một giai cấp hay một cá nhân tổ chức ra,
mà đó là quyền lực xã hội được tổ chức và thực hiện trên cơ sở dân chủ thực sự, quyềnlực này xuất phát từ xã hội và phục vụ lợi ích của cả cộng đồng
2 Sự tan rã của tổ chức thị tộc và sự xuất hiện nhà nước
Qua ba lần phân công lao động xã hội: 1, chăn nuôi tách khỏi trồng trọt; 2, thủcông nghiệp tách khỏi nông nghiệp; 3, thương nghiệp xuất hiện đã làm cho nền kinh
tế xã hội có sự biến chuyển sâu sắc, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều, xuất hiện sảnphẩm dư thừa, vì thế kéo theo hiện tượng chiếm của cải dư thừa làm của riêng Quátrình phân hoá tài sản làm xuất hiện chế độ tư hữu và kéo theo là sự phân chia giai cấptrong xã hội
Theo Ph Ăngghen có ba hình thức xuất hiện nhà nước điển hình
1 Nhà nước Aten
2 Nhà nước La Mã
3 Nhà nước Giéc Manh
Ở các nước phương Đông, nhà nước xuất hiện khá sớm, khi chế độ tư hữu và sựphân chia giai cấp trong xã hội chưa ở mức cao Nguyên nhân thúc đẩy sự ra đời củacác nhà nước phương Đông là do nhu cầu trị thuỷ và chống giặc ngoại xâm
Ở Việt Nam, nhu cầu xây dựng, quản lý những công trình trị thuỷ đảm bảo nềnsản xuất nông nghiệp và tổ chức lực lượng chống giặc ngoại xâm đã thúc đẩy quá trìnhliên kết các tộc người và hoàn thiện bộ máy quản lý Kết quả này đã cho ra đời nhànước Việt Nam đầu tiên - Nhà nước Văn lang của các Vua Hùng
II Bản chất của nhà nước
Nhà nước là sản phẩm của xã hội có giai cấp và là sự biểu hiện của sự khôngthể điều hoà được của các mâu thuẫn giai cấp đối kháng Nhà nước là tổ chức quyềnlực chính trị đặc biệt
Mặc dù có sự khác nhau về bản chất nhưng tất cả các nhà nước đều có chungcác dấu hiệu Những dấu hiệu đó là:
Thứ nhất, nhà nước phân chia dân cư theo các đơn vị hành chính lãnh thổ Thứ hai, nhà nước thiết lập quyền lực công.
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia.
Thứ tư, nhà nước ban hành pháp luật và buộc mọi thành viên xã hội phải thực
hiện
Thứ năm, nhà nước quy định và tiến hành thu các loại thuế.
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, có bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý xã hội nhằm thể hiện và bảo
vệ trước hết lợi ích của giai cấp thống trị trong xã hội có giai cấp đối kháng (của giai cấp công nhân và nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản trong xã hội xã hội chủ nghĩa).
III Chức năng của nhà nước
Nhiệm vụ của nhà nước là mục tiêu mà nhà nước hướng tới, là những vấn đềđặt ra mà nhà nước cần giải quyết Nhiệm vụ của nhà nước tuỳ thuộc vào bản chất vàvai trò xã hội của nhà nước, vào điều kiện lịch sử của mỗi quốc gia qua từng giai đoạn
cụ thể
Chức năng của nhà nước là những phương diện, loại hoạt động cơ bản của nhà nước nhằm thực hiện những nhiệm vụ đặt ra trước nhà nước.
Trang 5Có thể phân loại chức năng của nhà nước thành: các chức năng đối nội và cácchức năng đối ngoại; hoặc thành chức năng cơ bản và các chức năng không cơ bản;hoặc thành các chức năng lâu dài và chức năng tạm thời
Các chức năng của nhà nước được thực hiện bằng những hình thức và phươngpháp nhất định Nội dung những hình thức và phương pháp ấy bắt nguồn và trực tiếpthể hiện bản chất cũng như mục tiêu của nhà nước
Các hình thức pháp lý cơ bản để thực hiện chức năng của nhà nước bao gồm:hoạt động lập pháp, hoạt động chấp hành pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật
B PHÁP LUẬT
I Nguồn gốc của pháp luật
Pháp luật được hình thành bằng hai con đường: Thứ nhất nhà nước thừa nhận cácquy phạm xã hội - phong tục, tập quán chuyển chúng thành pháp luật, thứ hai, bằnghoạt động xây dựng pháp luật định ra những quy phạm mới
II Bản chất của pháp luật
Bản chất của pháp luật cũng giống như nhà nước là tính giai cấp của nó, không có
“pháp luật tự nhiên “ hay pháp luật không có tính giai cấp
Tính giai cấp của pháp luật trước hết ở chỗ, pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giaicấp thống trị
Tính giai cấp của pháp luật còn thể hiện ở mục đích điều chỉnh của pháp luật
III Chức năng của pháp luật
Pháp luật có ba chức năng chủ yếu:
hệ xã hội Pháp luật là công cụ để thực hiện quyền lực nhà nước và là cơ sở pháp lý cho đời sống xã hội có nhà nước
1.2.2 Các hình thức nhà nước và pháp luật trên thế giới
A NHÀ NƯỚC
Hình thức nhà nước là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước và những biệnpháp để tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước Hình thức nhà nước là một kháiniệm chung được hình thành từ 3 yếu tố: hình thức chính thể, hình thức cấu trúc nhànước và chế độ chính trị
a Hình thức chính thể
Hình thức chính thể là cách thức tổ chức các cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước, cơ cấu, trình tự thành lập và mối liên hệ giữa chúng và mức độ tham gia của nhân dân vào việc thiết lập các cơ quan này.
Hình thức chính thể có hai dạng cơ bản là chính thể quân chủ và chính thể cộnghoà
Chính thể quân chủ là hình thức trong đó quyền lực tối cao của nhà nước tậptrung toàn bộ (hay một phần) vào trong tay người đứng đầu nhà nước theo nguyên tắcthừa kế Chính thể quân chủ có hai biến dạng: quân chủ tuyệt đối và quân chủ hạn chế
Chính thể cộng hoà là hình hức chính thể trong đó quyền lực tối cao của nhànước thuộc về những cơ quan đại diện được bầu ra trong một thời hạn nhất định.Chính thể cộng hoà cũng có hai biến dạng là cộng hoà dân chủ và cộng hoà quý tộc
Trang 6b Hình thức cấu trúc nhà nước
Hình thức cấu trúc nhà nước là sự tổ chức nhà nước thành các đơn vị hành chính lãnh thổ, đặc điểm của mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận cấu thành của nó, giữa cơ quan nhà nước trung ương với cơ quan nhà nước địa phương.
Có hai hình thức cấu trúc nhà nước cơ bản là cấu trúc nhà nước đơn nhất và cấutrúc nhà nước liên bang
Trên thực tiễn tồn tại thêm loại hình nhà nước liên minh Nhà nước liên minhchỉ là sự liên kết tạm thời của các nhà nước với nhau nhằm thực hiện những mục đíchnhất định
Trong chế độ chính trị dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng chủ yếuphương pháp giáo dục - thuyết phục Tuy nhiên, phương pháp dân chủ có nhiều dạngkhác nhau, phụ thuộc vào bản chất của từng nhà nước cụ thể, như: dân chủ hình thức,dân chủ thực sự, dân chủ giả hiệu, dân chủ rộng rãi Ví dụ như chế độ dân chủ trongnhà nước tư sản là biểu hiên cao độ của chế độ dân chủ hình thức, còn chế độ dân chủ
xã hội chủ nghĩa là dân chủ thực sự và rộng rãi
Trong chế độ chính trị phản dân chủ, giai cấp thống trị thường sử dụng các hìnhthức, phương pháp mang nặng tính cưỡng chế, đỉnh cao của chế độ này là chế độ độctài, phát xít
Các hình thức nhà nước trên thế giới
1 NHÀ NƯỚC CHỦ NÔ
Nhà nước chủ nô là nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đờitrên cơ sở sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thuỷ Là hình thức tổ chức và thựchiện quyền lực thống trị của giai cấp chủ nô
Bản chất của nhà nước chủ nô trước hết được thể hiện ở các chức năng đối nội
và đối ngoại cơ bản của nó
Các chức năng đối nội cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a Chức năng củng cố và bảo vệ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất
và nô lệ
b Chức năng đàn áp bằng quân sự đối với sự phản kháng của nô lệ và các tầng lớp nhân dân lao động khác
c Chức năng đàn áp về mặt tư tưởng
Các chức năng đối ngoại cơ bản của nhà nước chủ nô bao gồm:
a Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược
b Chức năng phòng thủ chống xâm lược
Lịch sử phát triển của nhà nước chủ nô gắn với các hình thức chính thể: quânchủ, cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc
Về hình thức cấu trúc nhà nước, tất cả các nhà nước chủ nô đều có cấu trúc
nhà nước đơn nhất
Trang 7Về chế độ chính trị, ở các nước phương Đông chủ yếu tồn tại chế độ độc tài
chuyên chế Ở các nước phương Tây, chế độ chính trị đã mang tính dân chủ, tuy nhiên
về bản chất đó chỉ là chế độ dân chủ chủ nô Về cơ bản, nền dân chủ được thiết lập ởnhững quốc gia này vẫn là chế độ quân phiệt, độc tài với đại đa số nhân dân lao động
2 NHÀ NƯỚC PHONG KIẾN
Nhà nước phong kiến ra đời trên cơ sở của sự sụp đổ của xã hội chiếm hữu nô
lệ, ở một số quốc gia nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước đầu tiên, ví dụ như ViệtNam, Triều Tiên
Nhà nước phong kiến được xây dựng trên cơ sở của phương thức sản xuấtphong kiến mà nền tảng là nền kinh tế dựa trên sở hữu của giai cấp địa chủ phong kiếnđối với ruộng đất cũng như một số tư liệu sản xuất khác và sở hữu cá thể của nông dântrong sự lệ thuộc vào giai cấp địa chủ
Bản chất của nhà nước phong kiến được quy định bởi các chức năng đối nội vàđối ngoại của nó
Nhà nước phong kiến có các chức năng đối nội cơ bản sau:
a Chức năng bảo vệ và phát triển chế độ sở hữu phong kiến, duy trì sự bóc lột của phong kiến đối với nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
b Chức năng đàn áp sự chống đối của nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác.
c Chức năng đàn áp tư tưởng.
Nhà nước phong kiến có các chức năng đối ngoại sau:
a Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược.
b.Chức năng phòng thủ chống xâm lược.
Hình thức chính thể phổ biến trong nhà nước phong kiến là quân chủ, lịch sử
tổ chức quyền lực nhà nước phong kiến cho thấy sự tồn tại và phát triển của chính thểquân chủ với những biểu hiện cụ thể: quân chủ phân quyền cát cứ, quân chủ trungương tập quyền, quân chủ đại diện đẳng cấp và cộng hoà phong kiến
1 Chức năng củng cố, bảo vệ, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản
Chức năng này bao hàm những nội dung sau:
- Củng cố và bảo vệ chế độ tư hữu tư sản
+ Nhà nước áp dụng các biện pháp để bảo vệ nền sản xuất trong nước trước sức
ép của thị trường kinh tế quốc tế
3 Chức năng xã hội
Trang 8Nhà nước tư sản thực hiện chức năng xã hội để giải quyết các vấn đề xã hộinhư: việc làm, thất nghiệp, dân số, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường, vấn đề bảo trợ xãhội cho người già, giải quyết các tệ nạn xã hội Chính sách xã hội và việc thực hiệnchức năng xã hội của nhà nước tư sản tuỳ thuộc vào tương quan các lực lượng chính trịtrong nhà nước tư sản ở các giai đoạn phát triển và trong từng quốc gia cụ thể.
4 Chức năng tiến hành chiến tranh xâm lược và chống phá các phong trào cách mạng thế giới
5 Chức năng đối ngoại hoà bình, hợp tác quốc tế
Trên cơ sở của nguyên tắc phân chia quyền lực, về cơ bản bộ máy nhà nước tưsản bao gồm những bộ phận sau:
Trong các nhà nước có chính thể quân chủ lập hiến có hai dạng biến dạng chính
là chính thể quân chủ nhị nguyên và quân chủ đại nghị
2 Hình thức cấu trúc nhà nước tư sản
Nhà nước Tư sản có các hình thức cấu trúc sau: Hình thức liên bang và hìnhthức đơn nhất
Nhà nước đơn nhất là hình thức cấu trúc phổ biến của các nhà nước tư sản Nhànước đơn nhất có những dấu hiệu đặc trưng:
4 NHÀ NƯỚC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của đại đa số nhân dân lao động trong xãhội mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tríthức
Các chức năng đối nội của nhà nước xã hội chủ nghĩa
a Chức năng kinh tế
b Chức năng xã hội
Trang 9c Chức năng giữ vững an ninh - chính trị, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, bảo vệcác quyền tự do, dân chủ của công dân.
Các chức năng đối ngoại của nhà nước xã hội chủ nghĩa
a Chức năng bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
b Chức năng củng cố, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước theonguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ củanhau
B PHÁP LUẬT
Là một bộ phận thuộc kiến trúc thượng tầng dựa trên cơ sở kinh tế của một xãhội nhất định, vì thế tương ứng với các hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp có cáckiểu pháp luật :
- Pháp luật chủ nô ghi nhận sự thống trị tuyệt đối của gia trưởng đối với các con trong gia đình
- Pháp luật chủ nô quy định những hình phạt dã man, tàn bạo
- Pháp luật chủ nô có quan hệ mật thiết tới tôn giáo, đạo đức, luân lý và những quy tắc ứng xử trong gia đình cũng như trong xã hôi.
2 PHÁP LUẬT PHONG KIẾN
- Pháp luật phong kiến là pháp luật đẳng cấp và đặc quyền
- Pháp luật phong kiến mang tính dã man, tàn bạo.
- Pháp luật phong kiến là pháp luật của kẻ mạnh.
- Pháp luật phong kiến liên quan mật thiết tới tôn giáo và đạo đức phong kiến.
3 PHÁP LUẬT TƯ SẢN
Nhà nước tư sản củng cố và bảo vệ nền trật tự xã hội phù hợp, có lợi cho giaicấp tư sản, là công cụ chuyên chính tư sản nhằm củng cố, bảo vệ các lợi ích kinh tế,chính trị, tư tưởng của giai cấp tư sản Mặt khác bản chất, nội dung của pháp luật tưsản do chính những điều kiện tồn tại của giai cấp tư sản- chế độ tư hữu tư bản quyếtđịnh
4 PHÁP LUẬT XHCN
Pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống quy tắc xử sự có tính thống nhất nội tạicao Pháp luật là một hệ thống các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặcthừa nhận
Pháp luật xã hội chủ nghĩa thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và đông đảo nhân dânlao động
Pháp luật xã hội chủ nghĩa do Nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảmthực hiện
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với chế độ kinh tế xã hội chủnghĩa Trong mối quan hệ này, chế độ kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật.Pháp luật luôn phản ánh trình độ phát triển của chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trang 10Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ mật thiết với đường lối, chủ trương chínhsách của đảng cộng sản.
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với các quy phạm xã hội kháctrong chủ nghĩa xã hội
1.2.3 Hình thức nhà nước và pháp luật ở Việt Nam
A NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa củadân, do nhân dân và vì nhân dân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nềntảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam
- Nguyên tắc Đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội
- Nguyên tắc bảo đảm sự tham gia đông đảo của nhân dân lao động vào côngviệc quản lý nhà nước
- Nguyên tắc tập trung dân chủ
- Nguyên tắc pháp chế XHCN: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật
Hệ thống chính trị nước ta gồm có các bộ phận cấu thành sau: Đảng cộng sảnViệt Nam, Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các tổ chức chính tri, xã hội như: Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội liên hiệpphụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niện cộng sản Hồ Chí Minh
B PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
1 Bản chất và các đặc trưng của pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thể hiện ý chí của giaicấp công nhân và đông đảo nhân dân lao động
- Pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phản ánh đường lối,chính sách của Đảg Cộng sản Việt Nam
- Về tính cưỡng chế trong pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam:Pháp luật Việt Nam là hệ thống các quy tắc xử sự được thể hiện trong các văn bản quyphạm pháp luật do các cơ quan nhà nước khác nhau ban hành như: Quốc hội, Chínhphủ, Các Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh (thành phố)……
2 Vai trò của pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Pháp luật thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước
- Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội
- Pháp luật là phương tiện bảo đảm thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm công bằng xã hội
- Pháp luật là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước
3 Những nguyên tắc chung của pháp luật nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
- Nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân
- Nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa
- Nguyên tắc nhân đạo
- Nguyên tắc sự thống nhất giữa quyền và nghĩa vụ
- Nguyên tắc mọi công dân bình đẳng trước pháp luật
- Nguyên tắc công bằng
1.2.4 Hệ thống pháp luật
Quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa là quy tắc xử sự chung do nhà nước xã hội chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của
Trang 11nhân dân lao động để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa
CƠ CẤU CỦA QUY PHẠM PHÁP LUẬT
Quy phạm pháp luật bao gồm 3 bộ phận: giả định, quy định và chế tài
1.Giả định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu lên những
hoàn cảnh, điều kiện có thể xảy ra trong cuộc sống và cá nhân hay tổ chức nào ở vào những hoàn cảnh, điều kiện đó phải chịu sự tác động của quy phạm pháp luật đó.
Trong giả định của quy phạm pháp luật cũng nêu lên chủ thể nào ở vào những điều kiện, hoàn cảnh đó.
2 Quy định: là một bộ phận của quy phạm pháp luật trong đó nêu cách xử sự
mà tổ chức hay cá nhân ở vào hoàn cảnh, điều kiện đã nêu trong bộ phận giả định của quy phạm pháp luật được phép hoặc buộc phải thực hiện.
3 Chế tài: là một bộ phận của quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp
tác động mà nhà nước dự kiến để đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.
- Những biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính trừng phạt có liên quan tớitrách nhiệm pháp lý Loại chế tài này gồm có:
+ Chế tài hình sự;
+ Chế tài hành chính;
+ Chế tài dân sự;
+ Chế tài kỷ luật;
PHÂN LOẠI CÁC QUY PHẠM PHÁP LUẬT
1 Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh có thể phân
chia quy phạm pháp luật thành các ngành luật: quy phạm pháp luật hình sự, quy phạmpháp luật hành chính, quy phạm pháp luật dân sự, quy phạm pháp luật kinh tế Vớicách tiếp cận này có thể chia quy phạm pháp luật thành những nhóm nhỏ hơn ngànhluật như phân ngành luật hoặc chế định pháp luật
2 Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật có thể chia quy phạm pháp
luật thành: quy phạm pháp luật định nghĩa, quy phạm pháp luật điều chỉnh và quyphạm pháp luật bảo vệ
Quy phạm pháp luật định nghĩa có nội dung giải thích, xác định một vấn đề nào
đó hoặc nêu những khái niệm pháp lý
Quy phạm pháp luật điều chỉnh có nội dung trực tiếp điều chỉnh hành vi củacon người và hoạt động của các tổ chức (quy định quyền và nghĩa vụ cho cá nhân và tổchức tham gia vào quan hệ đó)
Quy phạm pháp luật bảo vệ có nội dung xác định biện pháp cưỡng chế nhànước liên quan đến trách nhiệm pháp lý
3 Phụ thuộc vào hình thức mệnh lệnh nêu trong quy phạm pháp luật có thể
chia quy phạm pháp luật thành quy phạm pháp luật dứt khoát, quy phạm pháp luậtkhông dứt khoát (quy phạm pháp luật tuỳ nghi) và quy phạm pháp luật hướng dẫn
Quy phạm pháp luật dứt khoát là những quy phạm trong đó chỉ quy định mộtcách xử sự rõ ràng, chặt chẽ
Quy phạm pháp luật không dứt khoát (tuỳ nghi) là những quy phạm trong đónêu ra hai hoặc nhiều cách xử sự và cho phép chủ thể lựa chọn cho mình cách xử sự từnhững cách đã nêu
Quy phạm pháp luật hướng dẫn (nội dung của nó thường khuyên nhủ, hướngdẫn các chủ thể tự giải quyết một số công việc nhất định)
Trang 124 Phụ thuộc vào cách trình bày quy phạm pháp luật có thể chia quy phạm
pháp luật thành quy phạm pháp luật bắt buộc, quy phạm pháp luật cấm đoán và quyphạm pháp luật cho phép
Quy phạm pháp luật bắt buộc quy định cho chủ thể nghĩa vụ phải thực hiện một
số hành vi có lợi nhất định
Quy phạm pháp luật cấm đoán quy định những hành vi không cho pháp chủ thểthực hiện
Quy phạm pháp luật cho phép quy định cho chủ thể khả năng tự chọn cách xử
sự (thường là những quy định về quyền và tự do của công dân)
Ngoài ra còn nhiều cách phân chia khác như:
Quy phạm pháp luật nguyên tắc là những quy phạm không trực tiếp điều chỉnhmột loại quan hệ xã hội nào, không quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủthể, chúng chỉ nêu những nguyên tắc cơ bản để xử sự chứ không nêu cách xử sự cụthể
Quy phạm pháp luật khen thưởng nêu những hình thức khen thưởng, động viênnhững chủ thể có hành vi đem lại lợi ích lớn cho xã hội
Quy phạm pháp luật nội dung xác định quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của cácchủ thể pháp luật
Quy phạm pháp luật hình thức xác định trình tự, thủ tục để các chủ thể thựchiện quyền, nghĩa vụ hay trách nhiệm của mình
1.2.5 Quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa là hình thức pháp lý của quan hệ xã hội, xuất hiện dưới sự tác động của các quy phạm pháp luật, theo đó các bên tham gia quan hệ có quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý theo quy định của quy phạm pháp luật, quyền và nghĩa vụ đó được pháp luật ghi nhận và nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, cưỡng chế nhà nước.
Phân loại quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật tồn tại trong xã hội rất đa dạng và phong phú, điều này chothấy sự cần thiết phải phân loại chúng Có các căn cứ để phân loại:
a Căn cứ vào đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh, quan hệ pháp luật được phân chia thành các nhóm lớn tương ứng với các ngành luật như: quan hệ
pháp luật dân sự, quan hệ pháp luật hình sự, quan hệ pháp luật hành chính
b Căn cứ vào cách thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể, quan hệ pháp luật được phân loại thành quan hệ pháp luật cụ thể và quan hệ pháp luật chung.
Quan hệ pháp luật cụ thể là quan hệ nảy sinh giữa các chủ thể nhất định có quyền
và nghĩa vụ pháp lý
Quan hệ pháp luật chung là quan hệ phát sinh từ Hiến pháp, các đạo luật và là cơ
sở của sự hình thành các quan hệ pháp luật cụ thể
c Căn cứ vào cách quy định quyền và nghĩa vụ của những bên tham gia, ta có quan hệ pháp luật phức tạp và quan hệ pháp luật đơn giản.
Quan hệ pháp luật phức tạp là quan hệ mà trong đó các chủ thể tham gia có cảquyền và nghĩa vụ
Quan hệ pháp luật đơn giản là quan hệ trong đó thuần tuý một bên chủ thể thamgia có nghĩa vụ
d Căn cứ vào tính chất của những nghĩa vụ được trao cho các bên tham gia, ta
có quan hệ pháp luật tích cực và quan hệ pháp luật thụ động.
Trang 13Trong quan hệ pháp luật tích cực, bên có nghiã vụ thực hiện nghĩa vụ của mìnhbằng hành vi tích cực Trong quan hệ pháp luật thụ động, bên có nghĩa vụ thực hiệnnghĩa vụ của mình dưới dạng không hành động.
đ Căn cứ đặc trưng của sự tác động, ta có quan hệ pháp luật điều chỉnh và quan
THÀNH PHẦN CỦA QUAN HỆ PHÁP LUẬT
Quan hệ pháp luật được cấu thành bởi: chủ thể, nội dung và khách thể
Chủ thể của quan hệ pháp luật là các bên tham gia quan hệ pháp luật, nói cách khác, đó là các bên tham gia vào quan hệ pháp luật trên cơ sở những quyền và nghĩa
vụ do nhà nước quy định trong pháp luật Chủ thể của quan hệ pháp luật có thể là cá nhân, tổ chức.
+ Các loại chủ thế quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa
Chủ thể quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm cá nhân, pháp nhân
* Chủ thể là cá nhân gồm có công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch.Công dân là loại chủ thể cá nhân phổ biến và chủ yếu của quan hệ pháp luật.Người nước ngoài và người không quốc tịch có thể trở thành chủ thể quan hệpháp luật theo các điều kiện áp dụng đối với công dân Việt Nam
* Pháp nhân
Pháp nhân là tổ chức dược nhà nước thừa nhận là chủ thể của quan hệ pháp luật.Pháp nhân là một thực thể nhân tạo được cá nhân hoặc nhà nước dựng lên Pháp nhânchỉ xuất hiện khi được nhà nước cho phép, tức là được nhà nước thành lập hoặc thừanhận Tuy nhiên, không phải tổ chức nào do nhà nước lập ra hoặc thừa nhận cũng có
tư cách pháp nhân Pháp nhân là một khái niệm pháp lý phản ánh địa vị pháp lý củamột tổ chức Để được công nhận là pháp nhân tổ chức phải có những điều kiện sau:
+ Nội dung của quan hệ pháp luật
Nội dung của quan hệ pháp luật xã hội chủ nghĩa bao gồm quyền và nghĩa vụ chủthể
a Quyền chủ thể
Quyền chủ thể là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến hành Nóicách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định đượcpháp luật cho phép
Quyền chủ thể có những đặc tính sau:
- Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép
Trang 14- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt các hành vi cản trở mình thực hiệncác quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu tôn trọng các nghĩa vụ tương ứng phát sinh từquyền và nghĩa vụ này.
- Khả năng các chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệ lợiích của mình
Các thuộc tính kể trên của quyền chủ thể là thống nhất không thể tách rời
b Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể
Nghĩa vụ của chủ thể là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc chủ thể phải tiếnhành nhằm đáp ứng việc thực hiện quyền của chủ thể khác
Nghĩa vụ pháp lý có những đặc điểm sau:
- Chủ thể cần phải tiến hành những hành vi bắt buộc nhất định
- Việc thực hiện những hành vi bắt buộc nhằm đáp ứng quyền chủ thể của chủthể bên kia
- Phải chịu trách nhiệm pháp lý khi không thực hiện những hành vi bắt buộc.Quyền và nghĩa vụ chủ thể là hai hiện tượng pháp lý không thể thiếu trong mộtquan hệ pháp luật cụ thể Trong quan hệ pháp luật, quyền và nghĩa vụ chủ thể luônthống nhất, phù hợp với nhau Nội dung, số lượng và các biện pháp bảo đảm thực hiệnchúng đều do nhà nước quy định hoặc do các bên xác lập trên cơ sở các quy định đó
+ Khách thể của quan hệ pháp luật
Cá nhân, tổ chức khi tham gia vào một quan hệ pháp luật nào đó đều nhằm thoảmãn những nhu cầu nhất định về vật chất, văn hoá, tinh thần Lợi ích mà các bênhướng tới nhằm đạt được khi tham gia vào quan hệ pháp luật là một yếu tố không thểthiếu của quan hệ pháp luật.Từ đó có thể xác định khách thể quan hệ pháp luật nhưsau:
Khách thể quan hệ pháp luật là lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xã hội khác có thể thoả mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức hoặc cá nhân mà vì chúng các chủ thể tham gia vào các quan hệ pháp luật, nghĩa là, vì chúng mà họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ chủ thể của mình.
1.2.6 Thực hiện pháp luật
Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật.
Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã xác địnhnhững hình thức thực hiện pháp luật sau:
- Tuân thủ pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chếkhông tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Ở hình thức thực hiện này đòi hỏichủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dướidạng không hành động, ví dụ như không tiến hành những hành vi trôm cắp tài sản,cướp của, giết người chính là đã tuân thủ pháp luật
- Sử dụng pháp luật
Trang 15Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiệnquyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép).
Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thựchiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứkhông bị bắt buộc phải thực hiện, chẳng hạn như công dân thực hiện quyền khiếu nại,
tố cáo
- Áp dụng pháp luật
Là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quannhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thựchiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của phápluật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt nhữngquan hệ pháp luật cụ thể
Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là những hình thứcthực hiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng phápluật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặcnhà chức trách có thẩm quyền Áp dụng pháp luật là một hình thức rất quan trọng củathực hiện pháp luật liên quan đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước vì thế cầnthiết phải đi sâu nghiên cứu
1.2.7 Vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý
* Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo vệ.
Cấu thành vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháp lý, song để truy cứutrách nhiệm pháp lý trước hết phải xác định cấu thành của vi phạm pháp luật Cấuthành vi phạm pháp luật gồm các yếu tố:
- Mặt khách quan của vi phạm pháp luật;
- Khách thể của vi phạm pháp luật;
- Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật;
- Chủ thể của vi phạm pháp luật
Phân loại vi phạm pháp luật
Theo tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội có thể phân vi phạm pháp luật
ra làm 2 loại: tội phạm và các loại vi phạm pháp luật khác
Tiêu chí thứ hai được sử dụng nhiều hơn trong thực tế là dựa vào mối quan hệgiữa vi phạm pháp luật với các ngành luật, chế định pháp luật, ta có:
- Tội phạm ( vi phạm hình sự): là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy địnhtrong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc,xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự
an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ,danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân,xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Chủ thể vi phạm hình sự chỉ là cá nhân
- Vi phạm hành chính: là hành vi do cá nhân ,tổ chức thực hiện một cách cố ýhoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự
và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính
Chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức.
Trang 16- Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi của các cá nhân, tổchức có năng lực trách nhiệm dân sự, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhânthân.
Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân cũng có thể là tổ chức.
- Vi phạm kỷ luật nhà nước: là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế,quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ cơ quan, xí nghiệp, trường học , nói khác đi, làkhông thực hiện đúng kỷ luật lao động, học tập, phục vụ được đề ra trong cơ quan, xínghiệp, trường học đó
Chủ thể vi phạm kỷ luật có thể là cá nhân, cũng có thể là tập thể và họ phải cóquan hệ ràng buộc với cơ quan, đơn vị, trường học nào đó
* Trách nhiệm pháp lý là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà nước (thông qua cơ quan nhà nước có thẩm quyền) và chủ thể vi phạm pháp luật, trong đó nhà nước (thông qua cơ quan có thẩm quyền) có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế có tính chất trừng phạt được quy định ở chế tài quy phạm pháp luật đối với chủ thể vi phạm pháp luật và chủ thể đó phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất, tinh thần do hành vi của mình gây ra.
Các loại trách nhiệm pháp lý
Tương ứng với các dạng vi phạm pháp luật là các dạng trách nhiệm pháp lý.Thông thường, trách nhiệm pháp lý được phân loại như sau:
- Phụ thuộc vào các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng trách nhiệm pháp
lý, ta có: trách nhiệm do Toà án áp dụng và trách nhiệm do cơ quan quản lý nhà nước
áp dụng
- Căn cứ vào mối quan hệ của trách nhiệm pháp lý với các ngành luật, ta có:trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kỷ luật,trách nhiệm vật chất
a Trách nhiệm hình sự được Toà án áp dụng đối với những người có hành viphạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự Chế tài trách nhiệm hình sự là nghiêmkhắc nhất trong số các biện pháp trách nhiệm pháp lý khi xem xét ở góc độ chungnhất
b Trách nhiêm hành chính chủ yếu do các cơ quan quản lý nhà nước hay nhàchức trách có thẩm quyền áp dụng đối với các chủ thể có hành vi vi phạm hành chính
c Trách nhiệm dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Toà án áp dụng đối vớicác chủ thể vi phạm dân sự
d Trách nhiệm kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý áp dụng đối với chủ thể viphạm kỷ luật, do thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tiến hành
đ Trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, đơn vị ápdụng đối với cán bộ, công chức, công nhân, người lao động của cơ quan, đơn vịmình trong trường hợp họ gây thiệt hại về tài sản cho cơ quan, đơn vị
2 Vận dụng kiến thức lý luận về nhà nước và pháp luật vào dạy học pháp luật trong môn GDCD ở trường trung học
a) Các kiến thức lý luận về nhà nước và pháp luật vào dạy học pháp luật trong chương trình GDCD hiện hành
(Thảo luận)
Tích hợp phổ biến giáo dục pháp luật trong môn GDCD
- Bản chất vai trò của nhà nước và pháp luật
- Chức năng và bộ máy nhà nước
- Hình thức pháp luật và quy phạm pháp luật
- Hệ thống pháp luật
Trang 17TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Học viện hành chính, Giáo trình Lý luận nhà nước và pháp luật, Nxb Khoa học và
kỹ thuật, Hà Nội, 2011
2 Giáo trình pháp luật, Nxb Đại học Sư phạm, 2007.
Chuyên đề 2: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HIẾN PHÁP NƯỚC
CHXHCNVN, LUẬT HÀNH CHÍNH, LUẬT HÌNH SỰ
GV: Th.s Hồ Viết Hùng
Chuyên đề: Những nội dung cơ bản về Hiến pháp nước CHXHCNVN
1 Những nội dung cơ bản về Hiếp pháp nước CHXHCNVN năm 2013
1.1 Lịch sử lập hiến ở nước ta (1945 – Nay).
1.1.1 Hiến pháp năm 1946: Ngay sau khi cách mạng tháng tám thành công, nước ViệtNam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập, thì một trong bốn nhiệm vụ cấp bách hàngđầu của chính quyền cách mạng là: củng cố chính quyền dân chủ nhân dân mà nhiệm
vụ hàng đầu là xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp Trước nhu cầu thực tế đó,ngày 6/1/1946 đã tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội, lần đầu tiên trong lịch sử mấyngìn năm của dân tộc ta nhân dân có quyền bầu cử, có quyền quyết định vận mệnhchính trị Quốc hội đã họp phiên đầu tiên vào ngày 2 tháng 3 năm 1946 Tuy còn nhiềukhó khăn trong những ngày đầu lập quốc, nhưng đến tháng 11 năm 1946 Quốc hộicũng đã thông qua bản hiến pháp của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa bao gồm lờinói đầu, 7 chương và 70 điều
1.1.2 Hiến pháp 1959: Một số điểm đáng lưu ý: Bản HP này gồm lời nói đầu, 10chương, 112 điều, được Quốc hội nước VNDCCH thông qua ngày 31 tháng 12 năm
1959
HP này quy định công dân có quyền ứng cử chức Chủ tịch nước (35 tuổi trở lên).Lực lượng vũ trang của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà là của nhân dân, cónhiệm vụ bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toànvẹn và an ninh của Tổ quốc, bảo vệ tự do, hạnh phúc và sự nghiệp lao động hoà bìnhcủa nhân dân
1.1.3 Hiến pháp 1980: Một số điểm đáng lưu ý: Đây là bản HP có lời nói đầu dài nhất(1709 từ), gồm 12 chương, 147 điều, được Quốc hội nước CHXHCNVN thông quangày 18 tháng 12 năm 1980
Lần đầu tiên hiến định vai trò của ĐCSVN: Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiênphong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trangbằng học thuyết Mác - Lênin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xãhội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Nhà nước giữ độc quyền về ngoại thương và mọi quan hệ kinh tế khác với nướcngoài (điều 21)
1.1.4 Hiến pháp 1992: Một số điểm đáng lưu ý: HP gồm lời nói đầu, 12 chương và
147 điều
Hp lần này đề cập nhiều điểm mới về chế độ kinh tế (chương 2)
Hp lần đầu tiên coi: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu (điều 35, 2001)Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu (điều 37, 2001)
Trang 181.2 Những nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013
1.2.1 Hoàn cảnh ra đời
1.2.2 Những nội dung cơ bản của Hiến pháp 2013:
Hiến pháp được thông qua tại kỳ họp thứ sáu - Quốc hội khóa XIII gồm 11chương, 120 điều (giảm 1 chương và 27 điều so với Hiến pháp năm 1992) có hiệu lực
từ ngày 1-1-2014 Hiến pháp (sửa đổi) đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản
về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người Sửa đổi trong Hiến phápđều hướng tới nhân dân, đảm bảo quyền và lợi ích của nhân dân, đổi mới tổ chức bộmáy Nhà nước để phục vụ nhân dân tốt hơn, bước đầu xây dựng cơ chế nhằm giảmtham ô, nhũng nhiễu người dân, đảm bảo quyền dân chủ của nhân dân được thực hiệnmột cách thực chất hơn trong thực tế
Ngay phần lời nói đầu của Hiến pháp đã được hoàn thiện, ngắn gọn hơn nhưngvẫn phản ánh được lịch sử hào hùng của dân tộc và những mốc lịch sử quan trọng,những thành quả cách mạng đã đạt được Lời nói đầu của Hiến pháp đã thể hiện ý chí,quyết tâm của nhân dân ta, thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng, kế thừa các bản Hiếnpháp trước đây, xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp vì mục tiêu “dân giàu, nướcmạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”
Sau chương quy định về chế độ chính trị là chương quy định về quyền con người,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Đây cũng là một điểm mới, thể hiện tầm quantrọng của quyền con người trong Hiến pháp Trong Hiến pháp 1992, vấn đề này đượcquy định tại chương 5 về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Với việc ghi nhậntrong Hiến pháp về quyền con người đã đảm bảo phù hợp với các điều ước quốc tế vềquyền con người mà nước ta tham gia ký kết Hiến pháp đã làm rõ hơn các quyền,nghĩa vụ cơ bản của công dân và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thựchiện quyền con người, quyền công dân; thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta.Hai điểm mới đó là ghi nhận về quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạnchế trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn
xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng và mọi người có quyền sống
Đáng chú ý, Hiến pháp mới tiếp tục khẳng định vai trò của Nhà nước và kinh tếNhà nước trong việc định hướng, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa Thừa nhận các hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế;các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế Nhà nướckhuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu
tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đấtnước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được phápluật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa Hiến pháp làm rõ thẩm quyền của Chủ tịchnước trong từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp và làm rõ hơn vai trò của Chủtịch nước trong thống lĩnh lực lượng vũ trang; giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng
và an ninh, quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc,phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưutrưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Quy định làm cơ sở để lựclượng vũ trang tham gia vào việc bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới, từngbước nâng cao vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế
Việc tổ chức chính quyền địa phương gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhândân hiện nay đều giống nhau ở các loại đơn vị hành chính đã tạo ra sự rập khuôn, cứngnhắc, ít phân biệt được sự khác nhau trong quản lý hành chính Nhà nước ở đô thị,nông thôn, miền núi, hải đảo và cũng không bảo đảm được tính tập trung cao từ trungương xuống địa phương
Trang 19Hiến pháp sửa đổi đã tạo cơ sở cho việc quy định mở về chính quyền địa phương,cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổchức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặcbiệt do luật định Nếu coi Hiến pháp 1992 hướng tới đổi mới chính quyền ở trungương (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao)thì Hiến pháp 2013 hướng tới đổi mới chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân) và các cơ quan tư pháp ở địa phương (Tòa án nhân dân, Viện kiểmsát nhân dân) tuy chưa thật rõ nét nhưng là những định hướng cơ bản cho việc đổi mớichính quyền địa phương sau này
Cũng tại Hiến pháp mới, Kiểm toán Nhà nước đã và đang hoạt động, nhưng lầnđầu tiên được quy định trong Hiến pháp, thể hiện vị trí, vai trò của cơ quan này, từngbước tạo sự kiểm soát độc lập việc quản lý và sử dụng tài chính, tài sản công Việcnâng cao vai trò Kiểm toán Nhà nước phù hợp với xu thế chung của thế giới cũng nhưmong muốn góp phần giảm tham nhũng, lãng phí trong bộ máy Nhà nước
Một cơ quan mới, lần đầu tiên thành lập là Hội đồng bầu cử quốc gia Trước đây,mỗi khi tiến hành bầu cử đều thành lập Hội đồng bầu cử có tính lâm thời, hoạt độngtrong thời gian ngắn (khoảng sáu tháng), khi bầu cử xong thì Hội đồng bầu cử hoànthành nhiệm vụ Việc có Hội đồng bầu cử quốc gia hoạt động thường xuyên, thể hiệnđầy đủ, sâu sắc hơn chủ quyền nhân dân, tạo cơ chế để nhân dân thực hiện đầy đủquyền làm chủ của mình, tăng cường hình thức dân chủ trực tiếp theo hướng hoànthiện chế định bầu cử
Có thể nói, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 đã thểhiện được ý Đảng, lòng dân, tinh thần dân chủ, đổi mới, phát huy sức mạnh đại đoànkết toàn dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và phát triển nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời
kỳ mới
Chuyên đề: Luật Hành Chính
1 Những vấn đề chung của Luật hành chính.
1.1 Khái niệm luật hành chính: Luật Hành chính là một ngành luật trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, là một hệ thống các quy tắc và các quy phạm pháp luật,điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh giữa các cơ quan hành chính nhà nướcvới các tổ chức và công dân trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước
1.2 Đối tượng điều chỉnh của luật hành chính
- Quan hệ giữa các cơ quan nhà nước cấp trên với cơ quan nhà nước cấp dưới Vd: Công an xã, phường với Công an huyện
Vd: Phòng giáo dục với Sở Giáo dục hay Bộ Giáo dục…
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức xã hội
Vd: Tỉnh ủy, UBND tỉnh với các tổ chức Tôn giáo, Với Hội cựu chiến binh, Hộinông dân, Hội khuyến học, đoàn TNCSHCM…
- Quan hệ giữa các cơ quan hành chính nhà nước với công dân
Vd: Công an khu vực với người dân nơi cư trú, cảnh sát giao thông với ngườiđang điều khiển các phương tiện giao thông…
1.1 Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính
Phương pháp điều chỉnh của luật là cách thức tác động của luật lên các mối quan
hệ xã hội Phương pháp điều chỉnh của luật hành chính là phương pháp mệnh lệnh đơn phương.
2 Một số nội dung cơ bản của luật hành chính
Trang 202.1 Khái niệm về cơ quan quản lý hành chính nhà nước: Cơ quan quản lý hành
chính nhà nước là một bộ phận của bộ máy nhà nước, do nhà nước lập ra để quản lýhành chính nhà nước
2.2 Khái niệm quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan
hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhànước được áp dụng 1 lần đối với 1 hoặc 1 số đối tượng cụ thể về 1 vấn đề cụ thể tronghoạt động quản lý hành chính (Khoản 1 điều 4 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánhành chính năm 1996)
Ví dụ : QĐ cấp GCNQSDĐ, QĐ giải quyết khiếu nại v v
2.3 Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước , của người
có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiệnnhiệm vụ, công vụ theo qui định của pháp luật ( Khoản 1 điều 4 Pháp lệnh thủ tục giảiquyết các vụ án hành chính )
Ví dụ : Pháp luật qui định chủ tịch Huyện có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lầnđầu trong 30 ngày, thế nhưng bạn gởi đơn khiếu nại mà vị này "làm thinh" cả mấytháng ! Hoặc pháp luật không qui định Trưởng thôn được quyền phạt tiền người gâyrối trật tự công cộng, thế nhưng bạn nhậu say oánh lộn bị Trưởng thôn phạt 200 ngànchẳng hạn !
2.4 Vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính là hành vi của các cá nhân, tổ
chức, cơ quan vi phạm vào các quy tắc, quy định của nhà nước, nhưng chưa đến mức
truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạmhành chính
Vd: Điểu khiển xe Môtô không có đăng ký, không có giấy phép
Hoặc : không đăng ký tạm trú, mở nhạc quá lớn, quá giờ quy định nơi côngcông…
- Đặc điểm của vi phạm hành chính:
+ Hành vi của cá nhan, tổ chức, cơ quan vi phạm các quy định của luật hànhchính
+ Những người có hành vi có lỗi cho dù là cố ý hay vô ý
+ Mức độ vi phạm chưa đến mức nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn phải xử lý
2.4 Xử lý vi phạm hành chính:
Xử phạt hành chính:
- Cảnh cáo, phạt tiền, tuớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, tịchthu tang vật hoặc phương tiện vi phạm Vd:…………
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu hoặc phá bỏ
- Buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục, tình trạng ô nhiễm mội trường,lây lan bệnh tật do hành vi vi phạm gây ra
- Buộc phải tiêu hủy những vật phẩm có hại cho người và vật nuôi
Vd:.băng đĩa đồi trụy, thức ăn bị nhiễm khuẩn, thuốc trừ sâu không rõ nguồngốc…
Các biện pháp xử lý hành chính khác:
- Giáo dục tại địa phương, gia đình
- Đưa vào trường giáo dưỡng
- Đưa vào các cơ sở giáo dục
- Đưa vào các cơ sở chũa bệnh
- Quản chế hành chính
Chuyên đề Luật Dân Sự
Trang 211 Khái niệm và các nguyên tắc của Luật Dân sự
1.1 Khái niệm Luật dân sự: Là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
là tổng thể các quy tắc và quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân, trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và độc lập với các chủ thể tham gia cácquan hệ đó
Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tranh chấp về tài sản, nhânthân, nó phát sinh qua những hành vi của con người và có dấu hiệu phạm tội
VD: Tranh chấp đất đai, tranh chấp cây cối.v.v…
1.2 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lựcpháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.(điều 14)
- Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
+ Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.+ Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản
+ Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó
1.3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
- Người không có năng lực hành vi dân sự
Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự củangười chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
- Mất năng lực hành vi dân sự
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổchức giám định Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà
án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Giao dịchdân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luậtxác lập, thực hiện
- Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản củagia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữuquan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vàphạm vi đại diện do Toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản củangười bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theopháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Khi không còncăn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu củachính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan,Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
1.4 Các nguyên tăc của Luật Dân sự
1.4.1 Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đượcpháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật,
Trang 22không trái đạo đức xã hội.Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.Cam kết, thoảthuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân,pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng.
1.4.2 Nguyên tắc bình đẳng
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt vềdân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độvăn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau
1.4.3 Nguyên tắc thiện chí, trung thực
Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào
1.4.4 Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự
Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu tráchnhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tựnguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật
1.4.5 Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dântộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết,tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trịđạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.Đồng bào cácdân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ dân sự để từng bước nângcao đời sống vật chất và tinh thần của mình.Việc giúp đỡ người già, trẻ em, người tàntật trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự được khuyến khích
1.4.6 Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó
có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền:
- Công nhận quyền dân sự của mình
- Buộc chấm dứt hành vi vi phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại
1.4.7 Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi íchcủa Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
1.4.8 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải tuân theo quy định của Bộluật này và quy định khác của pháp luật
1.4.9 Nguyên tắc hoà giải
Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định của phápluật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi thamgia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự
Chuyên đề Luật hình sự
1 Khái niệm, và nguyên tắc điều chỉnh của Luật hình sự
Trang 231.1 Khái niệm Luật hình sự Là hệ thống các quy phạm pháp luật của Nhà nước,
trong đó xác định rõ những hành vi nào nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, nhữnghình phạt cần áp dụng đối với người phạm tội, những nguyên tắc cho tội danh và quyếtđịnh hình phạt
Luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh và phòngngừa và chống tội phạm, bảo vệ lợi ích của nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợppháp của công dân, góp phần đảm bảo sự an toàn và trật tự xã hội Trong hệ thốngpháp luật Việt Nam chỉ có luật hình sự mới định tội danh và hình phạt
Đối tượng điều chỉnh của luật hình sự là những quan hệ, những hành vi nguyhiểm cho xã hội, gây tổn hại đến tính mạng, tài sản, danh dự, nhân phẩm của công dân,xâm phạm đến đạo đức, văn hóa chuẩn mực xã hội…
1.2 Những nguyên tăc của luật hình sự:
- Mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời , xử lý nhanh chóng và côngbằng trước pháp luật
- Mọi phạm nhân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam , nữ, dantộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần xã hội
- Đối tượng phạm tội lần đầu mà ít nguy hiểm biết ăn năn, hối cải có thể áp dụnghình phạt nhẹ hơn hình phạt tù (án treo ) giao họ cho các cơ quan, tổ chức họăc giađình giáo dục
- Đối với tội danh phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam,nếu có nhiều tiến bộ sẽ được giảm án, được hưởng khoan hồng ( đặc xá )
- Người chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lươngthiện và hòa nhập cộng đồng , nếu có điều kiện sẽ xóa án tích
2 Tội phạm hình sự :
2.1 Khái niệm về tội phạm hình sự:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự,
do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm
phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độchính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội,quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhânphẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm nhữnglĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi được quy địnhtrong Bộ luật hình sự, tội phạm được phân thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạmnghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
- Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù
- Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao
nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù
- Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà
mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù
- Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã
hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tùchung thân hoặc tử hình
- Cố ý phạm tội: Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra Ngườiphạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả
Trang 24của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho
hậu quả xảy ra
- Vô ý phạm tội: Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra
hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thểngăn ngừa được Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậuquả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó
- Sự kiện bất ngờ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do
sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phảithấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự
- Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách
nhiệm hình sự về mọi tội phạm Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổiphải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặcbiệt nghiêm trọng
- Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mấtkhả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịutrách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh
- Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh
khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự
- Phòng vệ chính đáng: Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc củangười khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm cáclợi ích nói trên Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.Vượt quá giới hạn phòng
vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại Người có hành vi vượt quágiới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự
- Tình thế cấp thiết: Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một
nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chínhđáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệthại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiếtkhông phải là tội phạm.Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu củatình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự
- Chuẩn bị phạm tội : Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương
tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.Người chuẩn bị phạm mộttội rất nghiêm trọng hoặc một tội đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu trách nhiệm hình
sự về tội định thực hiện
- Phạm tội chưa đạt: Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không
thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt
- Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội: Tự ý nửa chừng chấm dứt việc
phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tộiđịnh phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác,thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này
- Đồng phạm: Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực
hiện một tội phạm Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sứcđều là những người đồng phạm.Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội
Trang 25phạm.Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tộiphạm.Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tộiphạm.Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việcthực hiện tội phạm Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽgiữa những người cùng thực hiện tội phạm.
- Che giấu tội phạm: Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội
phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạmhoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phảichịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luậthình sự quy định
- Không tố giác tội phạm: Người nào biết rõ tội phạm đang đựơc chuẩn bị, đang được
thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự
về tội không tố giác tội phạm trong những trường hợp quy định tại Điều 313 của Bộluật hình sự Người không tố giác là ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợhoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợpkhông tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệtnghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật hình sự
Trang 26Chuyên đề 3: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ LUẬT DÂN SỰ, LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, LUẬT BẢO VỆ CHĂM SÓC GIÁO DỤC
TRẺ EM, LUẬT THƯƠNG MẠI
GV: Th.s Hồ Viết Hùng
LUẬT DÂN SỰ
1 Khái niệm, và các nguyên tắc của Luật Dân sự
1.1 Khái niệm Luật dân sự: Là ngành luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam,
là tổng thể các quy tắc và quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan hệ tài sản và quan
hệ nhân thân, trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và độc lập với các chủ thể tham gia cácquan hệ đó
Đối tượng điều chỉnh của luật dân sự là các quan hệ tranh chấp về tài sản, nhânthân, nó phát sinh qua những hành vi của con người và có dấu hiệu phạm tội
VD: Tranh chấp đất đai, tranh chấp cây cối.v.v…
1.2 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
- Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau.Năng lựcpháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết.(điều 14)
- Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Cá nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự sau đây:
+ Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản.+ Quyền sở hữu, quyền thừa kế và các quyền khác đối với tài sản
+ Quyền tham gia quan hệ dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó
1.3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi củamình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự
- Người không có năng lực hành vi dân sự
Người chưa đủ sáu tuổi không có năng lực hành vi dân sự Giao dịch dân sự củangười chưa đủ sáu tuổi phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
- Mất năng lực hành vi dân sự
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan,Toà án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổchức giám định Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân
sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, Toà
án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự Giao dịchdân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luậtxác lập, thực hiện
- Hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 27Người nghiện ma tuý, nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản củagia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữuquan, Toà án có thể ra quyết định tuyên bố là người bị hạn chế năng lực hành vi dân
sự Người đại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vàphạm vi đại diện do Toà án quyết định Giao dịch dân sự liên quan đến tài sản củangười bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải có sự đồng ý của người đại diện theopháp luật, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày Khi không còncăn cứ tuyên bố một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu củachính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan, tổ chức hữu quan,Toà án ra quyết định huỷ bỏ quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự
1.4 Các nguyên tăc của Luật Dân sự
1.4.1 Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thoả thuận
Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự đượcpháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật,không trái đạo đức xã hội.Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.Cam kết, thoảthuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân,pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng
1.4.2 Nguyên tắc bình đẳng
Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt vềdân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độvăn hoá, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau
1.4.3 Nguyên tắc thiện chí, trung thực
Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào
1.4.4 Nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự
Các bên phải nghiêm chỉnh thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình và tự chịu tráchnhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, nếu không tựnguyện thực hiện thì có thể bị cưỡng chế thực hiện theo quy định của pháp luật
1.4.5 Nguyên tắc tôn trọng đạo đức, truyền thống tốt đẹp
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải bảo đảm giữ gìn bản sắc dântộc, tôn trọng và phát huy phong tục, tập quán, truyền thống tốt đẹp, tình đoàn kết,tương thân, tương ái, mỗi người vì cộng đồng, cộng đồng vì mỗi người và các giá trịđạo đức cao đẹp của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.Đồng bào cácdân tộc thiểu số được tạo điều kiện thuận lợi trong quan hệ dân sự để từng bước nângcao đời sống vật chất và tinh thần của mình.Việc giúp đỡ người già, trẻ em, người tàntật trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự được khuyến khích
1.4.6 Nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự
Tất cả các quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác được tôn trọng vàđược pháp luật bảo vệ Khi quyền dân sự của một chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó
có quyền tự bảo vệ theo quy định của Bộ luật này hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền:
- Công nhận quyền dân sự của mình
- Buộc chấm dứt hành vi vi phạm;
- Buộc xin lỗi, cải chính công khai;
- Buộc thực hiện nghĩa vụ dân sự;
- Buộc bồi thường thiệt hại
Trang 281.4.7 Nguyên tắc tôn trọng lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi íchcủa Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
1.4.8 Nguyên tắc tuân thủ pháp luật
Việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự phải tuân theo quy định của Bộluật này và quy định khác của pháp luật
1.4.9 Nguyên tắc hoà giải
Trong quan hệ dân sự, việc hoà giải giữa các bên phù hợp với quy định của phápluật được khuyến khích Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi thamgia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH (Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, thay thế cho luật Hôn nhân và
gia đình 2000)
1 Khái niệm, và nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình
1.1 Khái niệm về hôn nhân gia đình
* Khái niệm luật hôn nhân gia đình: Là một ngành luật trong hệ thống phápluạt Việt Nam, là tổng thể các quy tắc và các quy phạm pháp luật, điều chỉnh các quan
hệ hôn nhân và gia đình như các quan hệ về nhân thân, quan hệ tài sản vợ , chồng,quan hệ cha, mẹ , con cái và các thành viên trong gia đình
VD : quy định độ tuổi kết hôn, vấn đề ly hôn, vấn đề tài sản vợ chồng, nghĩa vụnuôi dạy con cái sau khi ly hôn v.v
1.2 Các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình
- Hôn nhân tự nguyện , tiến bộ một vợ, một chồng và bình đẳng
- Hôn nhân giữa công dân Việt Nam với các dân tộc, tôn giáo nước ngoài thìđược pháp luật tôn trọng và bảo vệ
- Cha, mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con cái thành công dân có ích cho xã hội; Con cái
có nghĩa vụ kính trọng và chăm sóc cha mẹ, ông bà
- Nhà nước và xã hội không công nhận sự phân biệt đối xử giữa con trai, congái, con nuôi, con đẻ, con trong giá thú, con ngoài giá thú
- Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ và trẻ em, giúp đỡcác bà mẹ thực hiện tốt các chức năng cao quý của mình
2 Kết hôn , Quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ và chồng
2.1.Kết hôn: là việc nam – nữ xác lập quan hệ vợ - chồng theo quy định của
pháp luật, nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc
2.2 Các điều kiện kết hôn
- Nam từ đủ 20 tuoi3 trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự
- Không thuộc một trong các trường hợp cấp kết hôn tai điểm a,b,c,d khoản 2,điều 5 của luật này
2.3 Cấm các hành vi sau:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng vớingười khác, hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ
Trang 29chồng với người đang có vợ, có chồng (Chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.)
- Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu vềtrực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi;giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ vớicon rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
2.3 Quyền và nghĩa vụ cơ bản của vợ và chồng
- Vợ -chồng phải có nghĩa vụ: Bình đẳng, tôn trọng danh dự, uy tín của nhau;Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau, có quyền lựa chọn nơi cư trú;giúp đỡ lẫn nhau , tạo điều kiện cho nhau phát triển
-Quan hệ tài sản của vợ - chồng phải được xác định rõ ràng bao gồm : tài sảnchung của vợ, chồng ; tài sản riệng của vợ , của chồng
- Cha, mẹ phải có nghĩa vụ nuôi dạy con cái, yêu thương và tạo mọi điều kiện
để con cái phát triển tốt nhất, có nghĩa vụ khai sinh cho con cái ( kể cả con nuôi)
- Quan hệ cha mẹ với con cái không chỉ được điều chỉnh bằng pháp luật màcòn bằng đạo đức truyền thống , tốt đẹp của gia đình
- Các căn cứ cho ly hôn gồm :
+ Tình trạng trầm trọng trong dời sống chung của hai người không thể kéo dài + Một trong hai người tuyên bố là mất tích
+ Vợ, chồng không chung thủy với nhau
+ Vợ, chồng có hành vi ngược đãi, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm củanhau
Khi ly hôn việc phân chia tài sản, nghĩa vụ nuôi dạy con cái đều được quy địnhrõ
Những điểm mới của luật hôn nhân và gia đình 2014
1 Không cấm kết hôn đồng giới
Về hôn nhân đồng giới, luật HNGĐ 2000 quy định cấm kết hôn đồng giới, và vìcấm nên đi kèm sẽ có chế tài, xử phạt Nay, theo luật mới, từ 1-1-2015, Luật HNGĐ
2014 bỏ quy định “cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính” nhưng quy định cụthể “không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính-Khoản 2 Điều 8”.Như vậy những người đồng giới tính vẫn có thể kết hôn tuy nhiên sẽ không được phápluật bảo vệ khi có tranh chấp xảy ra Đây cũng được coi là một bước tiến nhỏ trongviệc nhìn nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính của nhà nước ta trong tìnhhình xã hội hiện nay
2 Nâng độ tuổi kết hôn
Nâng độ tuổi kết hôn của nữ thành đủ 18 tuổi thay vì vừa bước qua tuổi 18 nhưquy định tại Luật HNGĐ 2000 Luật mới quy định tuổi kết hôn đối với nữ là từ đủ 18tuổi trở lên đối nữ và với nam là từ đủ 20 tuổi trở lên Sở dĩ có việc thay đổi này là vìnếu quy định tuổi kết hôn của nữ là vừa bước qua tuổi 18 thì quy định này là khôngthống nhất với Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng dân sự Đó là, theo Bộ luật Dân sựngười chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên, khi xác lập, thực hiện giao dịch dân
sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý…
Trang 30Còn theo Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên mới
có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Như vậy, nếu cho phép người chưa đủ 18tuổi kết hôn là không hợp lý, thiếu đồng bộ và làm hạn chế một số quyền của người nữkhi xác lập các giao dịch như quyền yêu cầu ly hôn thì phải có người đại diện
3 Chính chức cho phép mang thai hộ
Luật HNGĐ mới chính thức cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Việcmang thai hộ chỉ được áp dụng khi có đầy đủ các điều kiện về cả người nhờ mang thai
hộ và người mang thai hộ Tuy nhiên Luật lại chỉ cho phép người thân thích cùng hàngbên vợ hoặc bên chồng mới được mang thai hộ Quy định như trên vô hình chung sẽlàm hạn chế rất nhiều trường hợp không tìm được người mang thai hộ Và nếu maymắn tìm được thì có thể người họ hàng đó không có đủ điều kiện giúp mang thai nhưquy định của Luật khi trong tình hình xã hội hiện nay “bà con họ hàng” cũng… không
có nhiều như ngày trước
4 Tài sản của vợ chồng khi kết hôn
Quy định chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Luật Hôn nhân và gia đìnhhiện hành quy định chưa rõ ràng về chế độ sở hữu của vợ chồng, thiếu cơ chế côngkhai minh bạch về tài sản chung, tài sản riêng Luật hiện hành chủ yếu đề cập đến vấn
đề đất đai, còn các tài sản khác như chứng khoán, tài sản trong doanh nghiệp thì chưađược đề cập tới, gây khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp
Nay, Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể: việc thỏa thuận phải được lập bằng vănbản có công chứng hoặc chứng thực trước khi kết hôn Thỏa thuận này vẫn có thểđược thay đổi sau khi kết hôn Quy định này sẽ làm giảm thiểu sự tranh chấp tài sảnsau ly hôn của các cặp vợ chồng trong tình hình hiện nay
5 Thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn
Luật Hôn nhân và gia đình mới cũng bổ sung thêm các đối tượng được yêu cầugiải quyết ly hôn Theo đó, thay vì chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyềnyêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì từ ngày 1-1-2015, cha, mẹ, ngườithân thích khác cũng có thể yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bịbệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi củamình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởngnghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ Chồng không có quyền lyhôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng
6 Áp dụng tập quán trong HNGĐ
Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể việc áp dụng tập quán trong hôn nhân gia đình
so với Luật năm 2000, đó là: chỉ được áp dụng tập quán trong trường hợp pháp luậtkhông có quy định và các bên không có thỏa thuận nhưng không được trái với cácnguyên tắc, vi phạm các điều cấm tại Luật này Quy định hiện hành chỉ quy định “Vậnđộng nhân dân xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huytruyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; xây dựngquan hệ hôn nhân và gia đình tiến bộ” Việc quy định chung chung tạo nhiều kẽ hở,bất cập, gây khó khăn cho tòa án khi xét xử các vụ án về hôn nhân gia đình mà phải ápdụng các phong tục tập quán
LUẬT BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC TRẺ EM ĐƯỢC QH
KHÓA 11 THÔNG QUA NGÀY 15/6/2004
1 Một số quyền cơ bản của trẻ em
Trang 31Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước
về Quyền trẻ em vào ngày 20/2/1990 Từ đó đến nay, Việt Nam đã đạt nhiều tiến bộtrong việc đưa tinh thần và nội dung của Công ước vào luật pháp quốc gia như: LuậtBảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Giáo dục, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân
sự, Luật Tố tụng Hình sự được ban hành hay sửa đổi, bổ sung đều quan tâm đếnquyền lợi của trẻ em
Xét về cấu trúc, pháp luật về trẻ em, có phạm vi rất rộng, liên quan đến nhiềulĩnh vực quan hệ xã hội, nhiều ngành luật khác nhau Mỗi một ngành luật có nhữngđặc thù riêng về việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Luật Hiến pháp điều chỉnhcác quan hệ về trẻ em trên những vấn đề mang tính nguyên tắc, là cơ sở cho tất cả cácngành luật khác Ngành luật hình sự bảo vệ quyền trẻ em trên hai phương diện: khi trẻ
em cùng với các quyền của trẻ em là đối tượng bị xâm hại, và cả khi bản thân trẻ em
có hành vi phạm tội Luật tố tụng hình sự lại điều chỉnh các quan hệ xã hội về trẻ emtheo cách riêng của mình Đó là việc quy định cho các em những quyền tố tụng để họ
có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời quy định những điều khoản nhằm đảmbảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được khách quan, toàn diện và đúngpháp luật, không để xảy ra, hạn chế việc xử lý oan sai Luật bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em có các quy định nghiêm cấm các hành vi như cha mẹ bỏ rơi con, ngườigiám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ; dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang, lợi dụngtrẻ em lang thang để trục lợi ; cản trở việc học tập của trẻ em; áp dụng biện pháp cótính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em
vi phạm pháp luật vv…Nguyên tắc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là không phânbiệt đối xử, dành lợi ích tốt nhất để trẻ em thực hiện quyền, bổn phận và phát triểntoàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, bảo đảm cho trẻ em được sốngtrong một môi trường an toàn và lành mạnh Đồng thời, Luật còn quy định về nhữngviệc trẻ em không được làm: tự ý bỏ học, bỏ nhà sống lang thang; xâm phạm tínhmạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; sử dụng văn hoá phẩm cónội dung xấu vv Cụ thể, các quyền cơ bản của trẻ em được quy định như sau:
1.1 Quyền được khai sinh
Quyền được khai sinh là một trong những quyền quan trọng đầu tiên của mỗingười Khoản 1 điều 11 luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: “Trẻ em cóquyền được khai sinh và có quốc tịch” Quyền được khai sinh là điềukiện tiên quyết đểkhẳng định mỗi trẻ em sinh ra một công dân của một quốc gia, một công dân bìnhđẳng, có những quyền và nghĩa vụ như những công dân khác
Tuyên ngôn của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em năm 1959 ghi nhận: “Trẻ emkhi sinh ra có quyền được khai sinh” Công ước Quốc tế về quyền trẻ em cũng khẳngđịnh: “Trẻ em phải được đăng ký ngày lập tức khi sinh ra…” Điều đó cho thấy phápluật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam đều đặc biệt quan tâm đến quyền được khaisinh của trẻ em
1.2 Quyền có quốc tịch
Quốc tịch là một khái niệm, một phạm trù chính trị - pháp lý xác định mối quan
hệ giữa một con người với một nhà nước Quốc tịch gắn liền với mỗi con người từ khisinh ra đến khi chết đi và là tiền đề để họ được hưởng các quyền và làm nghĩa vụ côngdân đối với Nhà nước Hệ thống pháp luật Việt Nam nhiều lần quy định về vấn đềquốc tịch của công dân nói chung và của trẻ em nói riêng Hiến pháp năm 1992 ghinhận tại điều 49: “Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người cóquốc tịch Việt Nam” Bộ luật Dân sự 2005 quy định tại điều 45: “Cá nhân có quyền cóquốc tịch…” Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 khẳng định: “Trẻ
Trang 32em có quyền được khai sinh và có quốc tịch” Vì vậy, mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổViệt Nam đều phải được xác định rõ quốc tịch và có quyền có quốc tịch.
1.3 Quyền được chăm sóc nuôi dưỡng
Được chăm sóc, nuôi dưỡng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vật chất và tinh thần ởmức cao nhất có thể là quyền của trẻ em và là mục tiêu phấn đấu của gia đình, Nhànước và xã hội Hiến pháp 1992 khẳng định chế độ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ emđồng thời đề cao trách nhiệm của gia đình, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái:
“Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dạy con thành những công dân tốt”(điều 64) “Trẻ emđược gia đình, Nhà nước và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục”(điều 65) Luật Bảo
vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 tiếp tục cụ thể hoá những quy định trên:
“Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần
và đạo đức”
Chính sách của Đáng, Nhà nước ta về trẻ em nhằm mục tiêu đảm bảo cho trẻ emmột tương lai tốt đẹp hơn với 5 nguyên tắc cơ bản là: không phân biệt đối xử với trẻem; các quyền của trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện; bảo vệ, chăm sóc và giáodục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội; dành lợi ích tốt nhất chotrẻ em; trẻ em thuộc diện chính sách xã hội, có hoàn cảnh đặc biệt được trpự giúp đểhoà nhập với gia đình, cộng đồng
1.4 Quyền sống chung với cha mẹ
“Trẻ em có quyền sống chung với cha mẹ Không ai có quyền buộc trẻ em phảicách ly cha mẹ, trừ trường hợp vì lợi ích của trẻ em”(Điều 13 Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em) Pháp luật quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền sống chung vớicon Quyền sống chung với cha mẹ là quyền tự nhiên, tất yếu và bất khả xâm phạmcủa mọi trẻ em, kể cả trường hợp trẻ em là con riêng của vợ hoặc chồng Không ai cóquyền buộc trẻ em phải cách ly cha mẹ trái với ý muốn của cha mẹ và trẻ em, trừtrường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền chăm nom, chăm sóc, giáo dục đối với con chưathành niên hoặc trường hợp cha mẹ đang thi hành án phạt tù tại trai giam thì người cóthẩm quyền thực hiện pháp luật sẽ quyết định cách ly trẻ em với bố mẹ để bảo vệ lợiích tốt nhất cho trẻ
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc giao con chưa thành niên chocha hoặc mẹ chăm nom, nuôi dưỡng, giáo dục phải căn cứ vào quyền và lợi ích mọimặt của trẻ Trường hợp trẻ em được nhận làm con nuôi Thì việc giao nhận con nuôiphải tuân theo quy định của pháp luật và phải đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em
1.5 Quyền được tôn trọng, bảo vệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự
Đây là quyền cơ bản của công dân nói chung và trẻ em nói riêng được Hiếnpháp 1992 ghi nhận tại điều 17: “Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm” Luật Bảo vệ,chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 và Bộ luật Dân sự 2005 quy định cụ thể hoáquyền này như sau: Trẻ em được gia đình, Nhà nước và xã hội tôn trọng bảo vệ tínhmạng, thân thể, nhân phẩm và danh dự; Cá nhân có quyền được đảm bảo an toàn vềtính mạng, sức khoẻ, thân thể; Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng
và được pháp luật bảo vệ Bộ luật Hình sự năm 1999 có một chương (Chương X) quyđịnh về người chưa thành niên phạm tội, và một chương (chương XII) quy định về cáctội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, dânh dự của con người trong đó đặcbiệt quan tâm tới trẻ em
1.6 Quyền được chăm sóc sức khoẻ
Trẻ em có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khoẻ Quyền này được quy định cụthể tại điều 15 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Theo đó, trẻ em dưới 6 tuổi
Trang 33được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ
sở y tế công lập; trẻ em được y tế cơ sở quản lý sức khoẻ, được tiêm chủng phòngbệnh, phòng dịch, được khám bệnh chữa bệnh
Để trẻ em được hưởng các quyền lợi về y tế, gia đình, cha mẹ và người nuôidưỡng có trách nhiệm thực hiện những quy định về kiểm tra sức khỏe, tiêm chủng theo
kế hoạch của các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe trẻ em khi ốm đau và thực hiện các chỉđịnh của thầy thuốc trong khám chữa bệnh cho trẻ
1.7 Quyền được học tập
Quyền được học tập là một quyền vô cùng quan trọng đối với con người đặc biệt
là đối với trẻ em Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã quy định: “Học tập là quyền vànghĩa vụ của công dân” Cùng với hiến pháp, quyền này còn được cụ thể hóa trongnhiều văn bản khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam Luật Bảo vệ, chăm sóc, giáodục trẻ em năm 2004 khẳng định tại điều 16: “Trẻ em có quyền được học tập” “Trẻ emhọc bậc tiểu học trong các cơ sở giáo dục công lập không phải trả học phí” Theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam bậc tiểu học là bậc giáo dục bắt buộc đối với mọi trẻ em.Mọi trẻ em không phân biệt điều kiện, hoàn cảnh đều được bình đẳng về cơ hội họctập và được nhà nước tạo điều kiện cho học tập
Luật giáo dục năm 2005 cũng khẳng định mục tiêu của giáo dục Việt Nam là
“đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm
mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hìnhthành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầucủa sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.” Với mục tiêu đó, trẻ em có quyền vàđược tạo điều kiện tiếp cận một nền giáo dục cơ bản, toàn diện và có chất lượng để trởthành một thế hệ công dân mới có đức, có tài tiếp bước cha anh xây dựng Tổ quốc
1.8 Quyền vui chơi, giải trí
Điều 17 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 có quy định: “Trẻ em
có quyền vui chơi, giải trí lành mạnh, được hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thểthao, du lịch phù hợp với lứa tuổi” Vui chơi giải trí là nhu cầu của con người Riêngđối với trẻ em đây không chỉ là nhu cầu đơn thuần mà còn là điều kiệnđể trẻ em pháttriển hài hòa về thể chất và tinh thần Trong thời đại ngày nay, khi mà trẻ em sớm phảitiếp cận, làm quen và ứng dụng khoa học kỹ thuật cũng như công nghệ tiên tiến thìviệc vui chơi giải trí lành mạnh càng trở nên quan trọng hơn, giúp tạo nên sự thoải mái
về tinh thần, cân bằng về sức khỏe Đặc biệt, việc thực hiện quyền vui chơi, giải trí củatrẻ em chính là một bước chuẩn bị về tâm lý, sự năng động và sự thích nghi cho một
xã hội công nghiệp phát triển mạnh trong tương lai
1.9 Quyền được phát triển năng khiếu
Phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài là một trong những chính sách quantrọng của Đảng và Nhà nước ta Điều đó được thể hiện rõ trong hệ thống các quy địnhcủa pháp luật Việt Nam Hiến pháp năm 1992 ghi nhận: “ Học sinh có năng khiếuđược nhà nước và xã hội tạo điều kiện hoạc tập để phát triển tài năng” Luật Bảo vệchăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định tại điều 18: “Trẻ em có quyền đượcphát triển năng khiếu Mọi năng khiếu của trẻ em đều được khuyến khích và tạo điềukiện thuận lợi để phát triển” Nội dung này tiếp tục được khẳng định tị điều 10 Luậtgiáo dục như sau: “Nhà nước và cộng đồng tạo điều kiện cho những người có năngkhiếu phát triển tài năng” Các quy định trên cho thấy việc phát triển năng khiếu củatrẻ em luôn được quan tâm chú trọng Thực hiện những quy định đó trong nhiều nămqua, cả nước đã mở nhiều lớp năng khiếu, lớp tài năng, trường chuyên, lớp chọn, tổchức nhiều cuộc thi với hình thức đa dạng, phong phú và phù hợp với lứa tuổi nhằm
Trang 34thu hút sự tham gia của các em thiếu niên, nhi đồng Qua đó kích thích khả năng sángtạo, phát hiện, bồi dưỡng các em sớ trở thành nhân tài phục vụ Tổ quốc.
1.10 Quyền có tài sản
Điều 19 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ em cóquyền có tài sản, quyền thừa kế theo quy định của pháp luật” Quy định này đã cụ thểhóa quyền tài sản của công dân được ghi nhận Hiến pháp: “Công dân có quyền sở hữu
về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn vàtài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Nhà nước bảo hộquyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân.”
Quyền có tài sản của trẻ em còn được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đìnhnăm 2000 như sau: “Con có quyền có tài sản riêng.Tài sản riêng của con bao gồm tàisản được thừa kế riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tàisản riêng của con và các thu nhập hợp pháp khác”
Quyền có tài sản của trẻ em đã được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạmpháp luật nhưng do trẻ em chưa có đủ khả năng quản lý, định đoạt tài sản riêng nênpháp luật đã quy định trách nhiệm của cha, mẹ, người giám hộ trong việc quản lý vàđịnh đoạt tài sản riêng của trẻ em
2 Các hành vi bị nghiêm cấm
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1 Cha mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi trẻ em được mình giám hộ;
2 Dụ dỗ, lôi kéo trẻ em đi lang thang; lợi dụng trẻ em lang thang để trục lợi;
3 Dụ dỗ, lừa dối, ép buộc trẻ em mua, bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng tráiphép chất ma tuý; lôi kéo trẻ em đánh bạc; bán, cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá,chất kích thích khác có hại cho sức khoẻ;
4 Dụ dỗ, lừa dối, dẫn dắt, chứa chấp, ép buộc trẻ em hoạt động mại dâm; xâm hạitình dục trẻ em;
5 Lợi dụng, dụ dỗ, ép buộc trẻ em mua, bán, sử dụng văn hoá phẩm kích độngbạo lực, đồi trụy; làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, tàng trữ văn hoá phẩm khiêudâm trẻ em; sản xuất, kinh doanh đồ chơi, trò chơi có hại cho sự phát triển lành mạnhcủa trẻ em;
6 Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, chiếm đoạt, bắt cóc, mua bán, đánh tráo trẻ em;lợi dụng trẻ em vì mục đích trục lợi; xúi giục trẻ em thù ghét cha mẹ, người giám hộhoặc xâm phạm tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của người khác;
7 Lạm dụng lao động trẻ em, sử dụng trẻ em làm công việc nặng nhọc, nguyhiểm hoặc tiếp xúc với chất độc hại, làm những công việc khác trái với quy định củapháp luật về lao động;
8 Cản trở việc học tập của trẻ em;
9 Áp dụng biện pháp có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặcdùng nhục hình đối với trẻ em vi phạm pháp luật;
10 Đặt cơ sở sản xuất, kho chứa thuốc trừ sâu, hoá chất độc hại, chất dễ gâycháy, nổ gần cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, cơ sở giáo dục, y tế, văn hoá, điểm vui chơi,giải trí của trẻ em
Trang 35Chuyên đề 4: PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC VĂN HOÁ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG, LUẬT LAO ĐỘNG, LUẬT AN TOÀN GIAO THÔNG,
-LUẬT QUỐC TẾ
GV: Th.s Hồ Viết Chiến
1 Mục tiêu:
1.1 Về kiến thức: Sau khi học tập và nghiên cứu chuyên đề này học viên sẽ:
- Học viên hiểu rõ vị trí, vai trò của Giáo dục pháp luật trong chương trình giảngdạy môn Giáo dục Công dân ở trường trung học cơ sở
- Học viên nắm bắt được những kiến thức cơ bản về một số ngành luật trong hệthống pháp luật Việt Nam có liên quan đến nội dung, chương trình môn Giáo dụcCông dân ở trường THCS
- Học viên vận dụng những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu vào quá trìnhgiảng dạy môn GDCD, nhằm góp phần quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiệnnhân cách cho học sinh THCS
1.2 Về kỹ năng:
- Học viên có thể giảng dạy tốt môn GDCD ở trường THCS, tổ chức cho học sinhtham gia các buổi thảo luận nhóm, tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động giã ngoại,tham quan thực tế để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, sau khi học xong ở mỗi cấphọc
- Học viên có thể tham gia công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong cộngđồng xã hội
1.3 Về thái độ:
- Học viên sẽ có hứng thú hơn khi giảng dạy môn GDCD
- Học viên sẽ tự tin hơn trong giảng dạy trong nhà trường cũng như tham giacông tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong cộng đồng xã hội
3 Nội dung chuyên đề.
3.1 Giới thiệu một số ngành luật trong chương trình giảng dạy môn GDCD trong trường THCS
a Một số vấn đề Pháp luật về Văn hóa
* Khái niệm pháp luật về văn hóa: Văn hóa là một khái niệm rất rộng, liên
quan đến nhiều lĩnh vực như: Văn hóa văn nghệ, Giáo dục đào tạo, Khoa học côngnghệ; Nghệ thuật; điêu khắc; Hội họa…Do đó có nhiều ngành luật tham gia điều chỉnhcác lĩnh vực này;
Trong chương trình này chúng ta không đi nghiên cứu về các ngành luật nói trên
mà chúng ta sẽ tìm hiểu một phạm vi hẹp hơn đó là: Văn hóa Pháp luật.
Trang 36+ Văn hóa pháp luật: là thuật ngữ dùng để mô tả mối quan hệ gắn bó khăng khít
giữa các giá trị pháp luật và các giá trị về văn hóa, là tống thể các hoạt động hàm chứacác giá trị pháp luật được hình thành trên cơ sở tri thức pháp luật, lòng tin, tìnhcảm đối với pháp luật và hành vi pháp lý thực tiễn Khái niệm văn hóa pháp lý hay nềnvăn hóa pháp lý vẫn còn có nhiều các hiểu khác nhau
+ Văn hoá pháp luật đề cập đến hành vi của con người dưới sự chi phối của phápluật và cách thức hành xử của họ, đồng thời phát huy năng lực bản chất của con ngườitrong các hoạt động pháp lý như phát huy các quyền và nghĩa vụ của mình
+ Cơ sở của mọi hoạt động văn hoá pháp lý là khát vọng của con người hướng tớicác giá trị pháp lý được định chuẩn bởi pháp luật Các hoạt động đó về bản chất làhướng tới các giá trị tích cực và mang tính sáng tạo, phổ biến
+ Nền văn hóa pháp luật ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt, một số quốcgia phương Tây có nền văn hóa pháp lý tương đối cao, ý thức tôn trọng và chấp hànhpháp luật của người dân cho đến cơ quan nhà nước rất rõ ràng, luôn coi trọng sự
thượng tôn của pháp luật ( Ví dụ: Một số quốc gia như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Ý… có văn hóa khiếu kiện, từ những quan hệ kinh tế, dân sự, thương mại, hôn nhân gia đình
và các lĩnh vực đời sống xã hội khác đều có thể được đem ra tòa để phân xử.)
+ Ở Việt Nam, văn hóa pháp lý còn ở trình độ thấp, mặt bằng dân trí và dân trípháp lý thấp, ý thức tôn trọng pháp luật và tính chủ động sử dụng pháp luật còn hạnchế, ảnh hưởng của các phong tục, tập quán lạc hậu và lối sống cũ rất nặng nề trongđại bộ phận dân cư; Hơn nữa sự ảnh hưởng của cơ chế quản lý cũ về tư duy và cáchứng xử còn rất lớn như tư duy quan liêu bao cấp, cơ chế xin cho, tùy tiện, bừa bãitrong hành xử, các tệ nạn tham ô, tham nhũng, hủ hóa, suy đồi về đạo đức, lối sốngđạo đức giả…của một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, đảng viên, công chức, viênchức đã làm cho ý thức văn hóa pháp luật không được tôn trọng
+ Khi nói tới văn hoá pháp luật là nói tới con người, là khát vọng của con ngườihướng tới các giá trị pháp lý được định chuẩn bởi pháp luật Các hoạt động đó về bảnchất là hướng tới các giá trị tích cực và mang tính sáng tạo, phổ biến nên văn hoá pháp
lý luôn hàm chứa các giá trị hữu ích, tích cực
+ Mọi hoạt động nếu xuất phát từ nhu cầu không chính đáng của con ngườiđương nhiên sẽ không hàm chứa các giá trị văn hoá và văn hoá pháp lý Đó là rào cảnhay mặt trái của các giá trị văn hoá đích thực
+ Văn hoá pháp lý luôn chứa đựng tính chất nhân văn và mang đặc điểm dân tộcsâu sắc Văn hoá pháp lý còn có tính kế thừa bởi nó được lưu truyền qua nhiều thế hệ,luôn thể hiện và vươn tới các giá trị đích thực của quá trình điều chỉnh pháp luật Do
đó, không nên tuyệt đối hoá tính giai cấp của văn hoá pháp lý nhất là trong điều kiệnđổi mới, hội nhập đa phương hoá và đa dạng hoá quan hệ như hiện nay
+ Nếu như văn hoá chỉ được xuất hiện trên cơ sở ý thức, nhận thức của con ngườithì văn hoá pháp lý chỉ có thể hình thành trên nền tảng ý thức pháp luật, nhận thức vềcác giá trị của pháp luật Nếu như văn hoá được nhận diện qua ứng xử của con người,cộng đồng xã hội trong các quan hệ thực tế thì văn hoá pháp lý được thể hiện trong đờisống pháp lý thông qua quá trình thực hiện pháp luật bằng hành vi pháp lý của các loạichủ thể pháp luật Văn hoá cũng như văn hoá pháp lý luôn có tính đan xen, kế thừa vàphủ định trên cả hai bình diện tích cực và tiêu cực
* Phương hướng xây dựng nền văn hoá pháp lý Việt Nam
Đất nước ta đang trong quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, pháttriển nền kinh tế thị trường XHCN và hội nhập nền kinh tế thế giới; Do đó các giá trịvăn hóa cũng trong điều kiện hội nhập với thế giới, đây là mục đích, yêu cầu khách