Công tác giáo dục học sinh dân tộc thiểu số còn chịu sự tác động của những yếu tố đan xen như văn hóa, truyền thống dân tộc, phong tục tập quán của đồng bào…Mặc dù, mấy năm gần đây, vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ ĐỨC THẢNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ ĐỨC THẢNH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Cấn Thị Thanh Hương
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình nghiên cứu xây dựng đề tài “Quản lý hoạt động ngoài giờ
lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang” tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Ban giám hiệu, các thầy cô
giáo trong trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Để đạt được kết quả này tôi trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, giáo viên
và học sinh các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang.
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn TS Cấn Thị Thanh Hương - cán bộ
hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Trân trọng cảm ơn các anh, chị học viên lớp Cao học Quản lý giáo dục 2 K12, đã chia sẻ tinh thần, tình cảm, kinh nghiệm trong suốt khóa học.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong việc nghiên cứu, thử nghiệm và hoàn thiện luận văn, song do thời gian có hạn, chắc chắn còn nhiều hạn chế thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để tôi tiếp tục thực hiện có hiệu quả đề tài vào công việc được giao.
Tác giả
Vũ Đức Thảnh
Trang 4
MỤC LỤC
Lời cảm ơn……… ……… …….i
Mục lục……… ……ii
Danh mục bảng, biểu……… ….…….v
MỞ ĐẦU i
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ 14
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 15
1.2. Các khái niệm cơ bản 18
1.2.1. Quản lý 18
1.2.2. Quản lý nhà trường 21
1.2.3. Hoạt động ngoài giờ lên lớp 23
1.2.4. Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp 24
1.3. Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp 24
1.3.1. Rèn kỹ năng sống cho học sinh……….………18
1.3.2. Giúp học sinh củng cố kiến thức văn hóa 26
1.4. Các nội dung quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp 27
1.4.1. Lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp 27
1.4.2. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp 29
1.4.3. Quản lý nội dung hoạt động ngoài giờ lên lớp 31
1.5. Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú 32
1.5.1. Trường phổ thông dân tộc bán trú 32
1.5.2. Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú 32
1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú 37
1.6.1. Kinh tế, xã hội 37
1.6.2. Đặc điểm của học sinh 37
1.6.3. Đặc điểm của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên 38
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG 42
2.1. Đặc điểm về phát triển kinh tế xã hội và phát triển giáo dục huyện Quang Bình 42
2.1.1. Giới thiệu về huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang 42
2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục và đào tạo tại huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang 42
2.1.3. Kết quả khảo sát thực trạng giáo dục trường phổ thông dân tộc bán trú của huyện 45
2.2. Thực trạng quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú 47
2.2.1. Thực trạng công tác lập kế hoạch triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp 48
2.2.2. Thực trạng công tác chỉ đạo thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp 50
2.2.3. Thực trạng quản lý hoạt động rèn kỹ năng sống của học sinh bán trú trường phổ thông dân tộc bán trú 52
2.2.4. Thực trạng quản lý hoạt động tự học của học sinh bán trú 58
Tiểu kết chương 2 69
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ HUYỆN QUANG BÌNH TỈNH HÀ GIANG 71
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú 71
3.1.1. Đảm bảo tính khoa học 71
3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn 71
3.1.3. Đảm bảo tính hệ thống 71
3.1.4. Đảm bảo tính kế thừa 72
3.1.5. Đảm bảo tính hiệu quả 72
Trang 6dân tộc bán trú 72
3.2.1. Nâng cao nhận thức của giáo viên, cán bộ phục vụ, học sinh và phụ huynh học sinh 72
3.2.2. Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên 77
3.2.3. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp 81
3.3.4. Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp 84
3.3.5. Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp 87
3.4. Mối liên hệ giữa các biện pháp 89
3.5. Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 91
3.5.1. Các hoạt động khảo nghiệm 91
Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
1. Kết luận 98
2. Khuyến nghị 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 7
DANH MỤC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1. Số học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú trong những
năm vừa qua
38 Bảng 2.2. Thực trạng công tác lập kế hoạch triển khai hoạt động ngoài giờ lên lớp
41 Bảng 2.3. Kỹ năng giao tiếp của học sinh bán trú 45
Bảng 2.4. Kỹ năng ra quyết định 47
Bảng 2.5. Các hành vi giải quyết mâu thuẫn với bạn bè 48
Bảng 2.6. Cách giải tỏa căng thẳng tâm lý của học sinh bán trú 49
Bảng 2.7. Kỹ năng tìm kiếm sự giúp đỡ 50
Bảng 2.8. Kỹ năng lao động sản xuất 51
Bảng 2.9. Thực trạng về nhận thức vai trò, ý nghĩa của tự học 52
Bảng 2.10. Thực trạng quản lý, hướng dẫn xây dựng kế hoạch tự học cho học sinh bán trú
54 Bảng 2.11. Thực trạng hướng dẫn học sinh bán trú xây dựng nội dung tự học
56 Bảng 2.12. Thực trạng hướng dẫn học sinh bán trú phương pháp tự học
57 Bảng 2.13. Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động tự học của học sinh bán trú
58 Bảng 2.14. Thực trạng các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của học sinh bán trú
59 Bảng 2.15. Thực trạng công tác chỉ đạo quản lý hoạt động tự học 60
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
85 Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp đề xuất 86 Bảng 3.3. Mối quan hệ giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
87 Biểu đồ 3.1. Mối quan hệ giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp
88
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn xác định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người Đứng trước bối cảnh nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới, với tốc độ phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đặc biệt là công nghệ thông tin, đòi hỏi ngành giáo dục phải có những thay đổi mạnh mẽ phù hợp với bối cảnh thế giới và đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Mục
tiêu của giáo dục là: "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có
đạo đức, có tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc"[23]
Nước ta có 54 dân tộc, dân tộc kinh chiếm khoảng 90%, có 53 dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 10% dân số cả nước. Các dân tộc này sống ở những vùng có đời sống kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt về an ninh quốc phòng, những nơi phên dậu của đất nước với điều kiện về giáo dục thấp kém. Đảng và Nhà nước ta luôn ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. và quan tâm hoàn chỉnh hệ thống mạng lưới trường lớp, cơ sở vật chất - kỹ thuật các cấp học, mở thêm các trường phổ thông dân tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú và có chính sách đảm bảo đủ giáo viên cho vùng này. Điều 10 của Nghị định về công tác dân tộc của Chính phủ đối
với chính sách phát triển giáo dục và đào tạo đã nêu rõ: “Phát triển giáo dục
vùng dân tộc thiểu số theo chương trình chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc” [26]. Vì vậy, việc
thực hiện bình đẳng các cơ hội giáo dục, nâng cao nguồn nhân lực cho các vùng này có ý nghĩa quan trọng.đối với chính sách phát triển giáo dục và đào
Trang 9chung quốc gia; xây dựng chính sách giáo dục ở tất cả các cấp học phù hợp với đặc thù dân tộc” [26]. Vì vậy, việc thực hiện bình đẳng các cơ hội giáo
dục, nâng cao nguồn nhân lực cho các vùng này có ý nghĩa quan trọng.
Muốn nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục vùng dân tộc đặc thù miền núi nói riêng, yếu tố quan trọng cần đặc biệt quan tâm là nâng cao chất lượng hoạt động dạy học và rèn các kỹ năng, năng lực cho học sinh. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 14/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế nêu rõ: "Phát triển giáo dục
và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo" [27]
Trong những năm qua, toàn ngành giáo dục đã có nhiều nỗ lực nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học như: đổi mới quản lý; đổi mới phương pháp dạy học; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; thí điểm đổi mới chương trình sách giáo khoa; đổi mới kiểm tra, đánh giá nên chất lượng giáo dục đã có những thay đổi trên cả nước nói chung và tỉnh Hà Giang nói riêng.
Quang Bình là huyện mới thành lập của tỉnh Hà Giang và có trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mức trung bình. Huyện có hệ thống giáo dục tương đối
Trang 10hoàn thiện, chất lượng giáo dục tuy đã đạt những bước chuyển biến tích cực song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội. Hơn 70% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số sống rải rác quanh triền đồi, đời sống nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn, việc đầu tư quan tâm đến học tập cho con em mình còn hạn chế. Cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học chưa đáp ứng nhu cầu đổi mới phương pháp dạy học, đội ngũ giáo viên tuy đã đáp ứng nhu cầu về số lượng, nhưng lại bất cập về cơ cấu bộ môn và hạn chế về trình độ chuyên môn. Chất lượng giáo dục trong toàn huyện không đồng đều, nhất là tại các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Học sinh thiếu và yếu các kỹ năng. Công tác giáo dục học sinh dân tộc thiểu số còn chịu sự tác động của những yếu tố đan xen như văn hóa, truyền thống dân tộc, phong tục tập quán của đồng bào…Mặc dù, mấy năm gần đây, vấn đề giáo dục và quản lý giáo dục ở các trường phổ thông dân tộc bán trú đã được quan tâm nhiều hơn, so với mặt bằng chung của giáo dục phổ thông song công tác quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường phổ thông dân tộc bán trú vẫn còn nhiều yếu kém. Điều đó đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác quản lý giáo dục, đặc biệt
là quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm rèn các kỹ năng sống, hoạt động
tự học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở các xã vùng khó.
Học sinh dân tộc thiểu số đang học tại các trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn huyện hầu hết ở các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên các em ít có điều kiện giao tiếp, thiếu mạnh dạn, tự tin trong hoạt động và học tập; trong hoạt động tự học và hòa nhập với cuộc sống tập thể Có thể nói các em còn thiếu các kỹ năng trong các hoạt động ngoài giờ học chính khóa.
Để từng bước nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường phổ thông dân tộc bán trú, bên cạnh nâng cao chất lượng dạy học chính khóa thì các hoạt động ngoài giờ lên lớp rất cần thiết và quan trọng.
Là cán bộ quản lý trường học tại trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở Bản Rịa huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, đã có 4
Trang 11năm gắn bó với trường, với học sinh đồng bào dân tộc thiểu số, nhận thức được tính cấp thiết của việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho địa phương, rèn các năng lực cho người học ở các trường miền núi, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang” nhằm nâng cao trình
độ nghiên cứu lý luận, đồng thời tìm ra những biện pháp quản lý cụ thể góp phần nâng cao chất lượng quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường phổ thông dân tộc bán trú nói chung và các trường có học sinh bán trú trong huyện Quang Bình nói riêng
2 Mục đích nghiên cứu
Qua nghiên cứu cơ sở lí luận về quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp và thực tiễn triển khai quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trên địa bàn huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú một cách khoa học và hiệu quả.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp
3.2 Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang
3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú ở các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang
3.4 Khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Trang 125. Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng quản lý học sinh bán trú ngoài giờ lên lớp của trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình như thế nào?
Nội dung quản lý học sinh bán trú ngoài giờ lên lớp tiếp cận theo hướng nào?
Biện pháp nào có thể sử dụng để quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú tại trường phổ thông dân tộc bán trú?
6 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh dân tộc thiểu số
ở các trường phổ thông dân tộc bán trú trong huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang trong vài năm trở lại đây có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, công tác quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong các nhà trường cho học sinh dân tộc thiểu
số tiểu học và trung học cơ sở vẫn chưa phù hợp, các nội dung mới chỉ dừng lại
ở kế hoạch tổng thể, nghĩa là mới chỉ đưa ra kế hoạch thời gian biểu mà chưa
cụ thể hóa các hình thức tổ chức hoạt động. Các hình thức tổ chức chưa phong phú, đa dạng, có chiều sâu để cuốn hút học sinh và nâng cao nhận thức sâu sắc, tình cảm và niềm tin mạnh mẽ để hình thành và phát triển nhân cách một cách toàn diện. Nếu thực hiện được các biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh dân tộc thiểu số các trường phổ thông dân tộc bán trú trong huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang phù hợp thì chất lượng và hiệu quả các hoạt động ngoài giờ lên lớp sẽ tốt hơn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
7 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý tại các trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang
Trang 13Các số liệu thống kê được sử dụng trong luận văn là số liệu giai đoạn từ năm học 2011 - 2012 đến nay của các trường phổ thông dân tộc bán trú
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài.
8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp quan sát
Phương pháp này được thể hiện bằng việc quan sát công tác quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của cán bộ giáo viên và học sinh các trường khảo sát.
8.2.2 Phương pháp điều tra
Mục đích: Thu thập các số liệu nhằm nhận định khách quan thực trạng hoạt động ngoài giờ lên lớp và quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của ban giám hiệu các trường tham gia khảo sát, đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp quản lý đã đề xuất.
Nội dung: Xây dựng các bảng hỏi điều tra theo những nguyên tắc và nội dung chủ định của người nghiên cứu.
Cách triển khai:
Cán bộ giáo viên: Thông qua danh sách giáo viên của các trường lựa chọn ngẫu nhiên số cán bộ, giáo viên dự định khảo sát.
Học sinh: Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm lớp có học sinh dự định khảo sát, lựa chọn ngẫu nhiên thông qua danh sách lớp.
8.2.3 Phương pháp khảo nghiệm, bằng phiếu hỏi
Phương pháp này được sử dụng với mục đích chủ yếu là đánh giá mức độ cần thiết và khả thi của các giải pháp đã đề xuất.
8.2.4 Trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh để tìm hiểu thêm những nội dung mà tác giả quan tâm
8.2.5 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
8.3 Phương pháp xử lý thông tin
Trang 1410 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú.
Chương 2. Thực trạng quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang.
Chương 3. Biện pháp quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ
LÊN LỚP Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ
Trang 151.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Một trong những mục tiêu của chương trình giáo dục và đào tạo hiện nay là thực hiện đa dạng hóa các hình thức giáo dục và đào tạo nhằm phát triển toàn diện mọi khả năng của người học ở các nhà trường nói chung và các trường phổ thông dân tộc bán trú nói riêng. Việc kết hợp các hoạt động dạy học và giáo dục
từ lâu đã trở thành chương trình chủ yếu xuyên suốt năm học để đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất.
Đối với các trường phổ thông dân tộc bán trú, học sinh ở trường cả tuần trừ thứ 7 và chủ nhật, ngoài giờ học trên lớp theo quy định thì thời gian còn lại, nhà trường phải sắp xếp thời gian hợp lý để học sinh nghỉ ngơi, sinh hoạt tập thể, tự học Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng. Hoạt động ngoài giờ học ở trường bao gồm 2 nội dung cơ bản là rèn kỹ năng sống và tự học của học sinh.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp về thực chất chính là hình thức giáo dục mang tính chất tập thể xã hội, với các hoạt động đan xen vừa học tập vừa vui chơi bằng những nội dung phong phú đem lại kết quả giáo dục thiết thực.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp không chỉ bó hẹp trong phạm vi trường học
mà có thể thực hiện cả bên ngoài nhà trường, không chỉ ở một vài nội dung, một vài đề tài mà được thực hiện một cách đa dạng, không phải chỉ có sự kết hợp của các lực lượng giáo dục trong nhà trường mà còn có sự kết hợp của các lực lượng xã hội khác. Chính vì vậy, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp phải được xây dựng thành kế hoạch có tính khoa học và hệ thống với nguyên tắc quản lý, phương án quản lý, mục tiêu quản lý rõ ràng cụ thể ở từng nội dung sao cho giữa mỗi nội dung phải có những yêu cầu riêng, hình thức thực hiện phù hợp với yêu cầu giáo dục và điều kiện nhà trường tránh các hoạt động dàn trải, không đúng đối tượng cần được giáo dục và lứa tuổi giáo dục, dẫn tới chất lượng và hiệu quả thu được sẽ không cao, thậm chí còn trở nên thiếu thu hút, hấp dẫn.
Rèn kỹ năng sống và nâng cao hiệu quả hoạt động tự học cho người học
đã được đề cập đến trong nhiều công trình khoa học.
Trang 16Những công trình nghiên cứu về rèn kỹ năng sống cho học sinh:
Cuốn sách "Giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số" của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa chủ biên. Đây là cuốn sách tham khảo có giá trị trong việc tìm hiểu cơ sở lý luận, giúp tác giả nghiên cứu về đặc điểm tâm sinh lý của tuổi vị thành niên và học sinh dân tộc thiểu số; những nội dung cơ bản trong giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống; phương pháp giáo dục giá trị sống kỹ năng sống. Cuốn sách viết lồng ghép giữa giáo dục giá trị sống luôn là nền tảng, kĩ năng sống là công cụ và phương tiện
để tiếp nhận và thể hiện giá trị sống.
Cuốn sách "Tổ chức hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học cơ sở vùng khó khăn" của tác giả Đặng Thị Thanh Huyền (chủ biên). Đây
là cuốn sách được biên soạn dành riêng cho các nhà quản lý, giáo viên trường trung học cơ sở ở các vùng khó khăn nhằm hỗ trợ cho họ phát triển năng lực tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Ngô Thị Bình Yên (2013), "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường trung học phổ thông Chi Lăng tỉnh Lạng Sơn": Luận văn nghiên cứu việc rèn kỹ năng sống cho học sinh dân tộc thiểu số cấp trung học phổ thông lồng ghép trong các hoạt động học tập giờ học chính khóa.
Những công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học của người học:
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Phan Thị Kim Dung (2013), "Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học viên trung cấp ở trường Cao đẳng Công nghệ và Kỹ thuật Ô tô, Bộ Quốc Phòng": Trong luận văn này, học viên của trường quân đội có đặc điểm là trường nội trú, nhà trường có trách nhiệm quản lý học sinh 24/24 giờ. Ngoài giờ học trên lớp nhà trường phải quản lý các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh bao gồm các hoạt động rèn kỹ năng sống và hoạt động tự học. Luận văn đã đi sâu nghiên cứu một trong hai hoạt động, đó là hoạt động tự học.
Trang 17Những công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Luận văn Thạc sĩ của tác giả Cà Thị Hoan (2009), "Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng xây dựng nhà trường thân thiện ở trường trung học phổ thông vùng dân tộc thiểu số": Luận văn tập trung nghiên cứu các hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh trung học phổ thông thuộc vùng dân tộc thiểu số tỉnh Bắc Kạn gắn với các hoạt động xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực trong giờ học chính khóa.
Luận văn Thạc sĩ của tác giả Hoàng Nghĩa Kiên (2013), "Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong nhà trường trung học phổ thông huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên": Luận văn đề cập đến các kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông ở vùng đồng bằng, vùng phát triển thuận lợi.
Những công trình nghiên cứu về trường phổ thông dân tộc bán trú:
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Phạm Huy Trà (2010), “Mô hình quản lý trường Phổ thông dân tộc bán trú ở các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh Hà Giang”. Tác giả đề cập về mô hình và quản lý mô hình học sinh bán trú dân nuôi ở các xã khó khăn, những đặc điểm về học sinh, về quản lý và đưa biện pháp quản lý theo mô hình bán trú dân nuôi trên địa bàn tỉnh. Luận văn đề cập những đặc điểm chung, cơ bản nhất của mô hình khi mới hình thành và đi vào hoạt động.
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Xuân Diệu (2013), "Biện pháp quản lý hoạt động dạy học trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang": Luận văn đề cập đến hoạt động dạy học ở các trường phổ thông dân tộc bán trú cấp trung học cơ sở của huyện
Sáng kiến kinh nghiệm của tác giả Vũ Đức Thảnh "Một số biện pháp quản lý duy trì sĩ số nâng cao chất lượng ở trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở Bản Rịa huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang" (Sáng kiến được công nhận cấp tỉnh năm học 2012 - 2013). Sáng kiến đã đề xuất các biện pháp quản lí nhằm duy trì sĩ số học sinh.
Trang 18Như phân tích ở trên, các công trình nghiên cứu, các luận văn, sáng kiến nghiên cứu về rèn kỹ năng sống, giá trị sống, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tự học của học viên về kinh nghiệm quản lý trường phổ thông dân tộc bán trú đề cập đến những lĩnh vực nhất định, mang tính đặc thù của địa phương. Luận văn “Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang” nghiên cứu tổng thể các hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú trong huyện Quang Bình tỉnh Hà Giang hoặc các trường phổ thông có học sinh bán trú khác.
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Quản lý
Ngay từ xã hội nguyên thuỷ, con người đã sống theo từng đám đông để chống chọi với thiên nhiên và thú dữ. Để tập hợp một đám đông thành một sức mạnh thống nhất thì hoạt động quản lý như một tất yếu tự nhiên.
Quản lý xuất hiện, phát triển cùng với sự xuất hiện, phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một nghề phức tạp trong xã hội hiện đại.
Hiện nay, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý. Người ta có thể tiếp cận khái niệm quản lý bằng nhiều cách khác nhau. Theo góc độ tổ chức thì quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, kiểm tra. Dưới góc độ điều khiển học thì quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy. Tuy nhiên, phân tích kỹ thì các nội dung đều có nhiều điểm tương đồng và khác biệt được giải thích trên cơ
sở những cách tiếp cận khác nhau.
Cách tiếp cận theo thực tiễn: Trên cơ sở phân tích sự quản lý bằng cách nghiên cứu kinh nghiệm thông thường qua các trường hợp cụ thể. Từ việc nghiên cứu những trường hợp thành công hoặc thất bại, sai lầm ở các trường hợp cá biệt của những người quản lý cũng như những dự định của họ để giải quyết những vấn đề đặc trưng, từ đó giúp họ hiểu được phải làm như thế nào
để quản lý có hiệu quả trong những hoàn cảnh tương tự.
Trang 19tố và mối liên hệ tương tác giữa các nhân tố để đạt được mục tiêu đã xác định. Cách tiếp cận theo thuyết hành vi: Dựa trên những ý tưởng cho rằng quản
lý là làm cho công việc hoàn thành thông qua con người. Do vậy, việc nghiên cứu nên tập trung vào mối quan hệ giữa người với người. Đây là trường hợp phải tập trung vào khía cạnh con người trong quản lý, vào niềm tin khi con người làm việc cùng nhau để hoàn thành các mục tiêu thì “con người nên hiểu con người”. Học thuyết này giúp người quản lý ứng xử một cách có hiệu quả hơn với những người dưới quyền.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý:
Theo Phùng Đức Hải: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể người quản lý đến tập thể người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu đã dự kiến” [17,tr.20]
Theo tác giả Trần Khánh Đức:“Quản lý là hoạt động có ý thức của con
người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu
đề ra một cách hiệu quả nhất” [13]
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: "Định nghĩa
quản lý một cách kinh điển nhất là: tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức"
[8,tr.9].
Hay:"Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận
dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra"[8,tr.9]
Từ sự phân tích cách tiếp cận và quan niệm của các học giả đã nêu ta có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa tổ chức đạt đến mục tiêu đã định và làm cho nó
Trang 20Quản lý có 4 chức năng cơ bản:
Chức năng lập kế hoạch hóa: Thông qua những quy định về chủ trương quản lý quan trọng trên cơ sở những yêu cầu cơ bản kết hợp với thực tiễn để đưa ra những phương hướng, kế hoạch cho phù hợp và có tính khả thi cao. Chức năng tổ chức: Thực hiện các quyết định, chủ trương, bằng cách xây dựng cấu trúc tổ chức của đối tượng quản lý, tạo dựng mạng lưới tổ chức, tuyển chọn, sắp xếp, bồi dưỡng cán bộ làm cho mục tiêu trở nên có ý nghĩa, tăng tính hiệu quả về mặt tổ chức.
Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, vận động, điều chỉnh và phối hợp với các lực lượng tích cực, chủ động theo sự phân công như kế hoạch đã định.
Chức năng kiểm tra, đánh giá: Chức năng liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hoạt động của hệ thống. Nó thực hiện việc xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có đánh giá đúng đắn.
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất với một trình tự nhất định, trong đó từng chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với chức năng khác. Quá trình ra quyết định quản lý là quá trình thực hiện các chức năng quản lý theo một trình tự nhất định. Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất cứ một chức năng nào đều có tác động xấu đến quá trình và hiệu quả của quản lý.
Trang 211.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một hệ thống độc lập trong xã hội từ Trung ương đến địa phương, là khách thể chính của mọi cấp quản lý giáo dục. Chất lượng của giáo dục và đào tạo chủ yếu do các nhà trường chịu trách nhiệm. Vì vậy, nói đến quản lý giáo dục phải nói đến quản lý nhà trường cũng như hệ thống các nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [17,tr.61].
Như vậy, quản lý nhà trường là một chuỗi hoạt động quản lý mang tính
tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho quá trình giáo dục và đào tạo vận hành một cách tối ưu tới mục tiêu dự kiến
Xét về lý luận và thực tiễn thì quản lý nhà trường gồm hai loại:
Tác động của những chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường. Đây là những tác động quản lý của các cơ quan quản lý giáo dục cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy, học tập, giáo dục của nhà trường, bao gồm các chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường, hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
Quản lý nhà trường do chủ thể quản lý bên trong nhà trường bao gồm các hoạt động như: quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý quá trình dạy học của giáo viên, quản lý hoạt động học tập của học sinh, quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, quản lý tài chính Chủ thể quản lý bên trong nhà trường là hiệu trưởng với tư cách là người đứng đầu trường học chịu trách nhiệm trước Nhà nước, Pháp luật trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm
vụ giáo dục. Mối quan hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý là mối quan hệ biện chứng. Chủ thể quản lý đề ra các kế hoạch, nội dung, mục đích,
Trang 22phương pháp nhằm tổ chức chỉ đạo các hoạt động giáo dục. Khách thể quản lý (đối tượng quản lý) là những người thực hiện kế hoạch (hiện thực hoá kế hoạch) theo mục tiêu đề ra (nói rộng ra khách thể quản lý ở đây còn bao gồm
cả chính nội dung và hình thức của hoạt động giáo dục). Xuất phát từ tầm quan trọng của các hoạt động ngoài giờ lên lớp trong việc phát triển hoàn thiện nhân cách cho học sinh, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp đòi hỏi nhà quản lý phải có được kỹ năng khoa học cho việc tổ chức, chỉ đạo, điều hành, phối hợp
Để đạt được hiệu quả quản lý, nhà quản lý phải dựa vào điều kiện khách quan của tất cả các yếu tố liên quan tới quá trình giáo dục, nói cách khác quản
lý phải phù hợp với quy luật khách quan của đối tượng quản lý chứ không thể tuyệt đối hoá vai trò chủ quan của chủ thể quản lý, đồng thời phải dựa trên những nguyên tắc hoạt động giáo dục, những nguyên tắc trường học và mối quan hệ hữu cơ trong toàn bộ hệ thống nhà trường. Nguyên tắc quản lý giáo dục là các yêu cầu cơ bản quy định chỉ đạo công tác quản lý hoạt động dạy học và giáo dục trong nhà trường.
- Nguyên tắc tập trung dân chủ yêu cầu trong quản lý hoạt động giáo dục phải phát huy cao độ mọi khả năng trí tuệ của cả tập thể.
- Nguyên tắc kết hợp hài hoà lợi ích nhằm đảm bảo lợi ích của mọi người, của tổ chức, của cả xã hội. Vì lợi ích chính là động lực tạo ra hiệu quả giáo dục.
- Nguyên tắc sử dụng toàn diện các phương pháp quản lý: Người cán bộ quản lý phải biết kết hợp các nguyên tắc hành chính, kinh tế, với các biện pháp tâm lý đối với người được giáo dục nhằm tạo ra sự thống nhất giữa các khâu, các cấp quản lý, đồng thời tác động lên tâm lý, tình cảm, tư tưởng của đối tượng giáo dục làm cho đối tượng giáo dục thấy được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với tập thể, tạo tâm lý tích cực, say mê, sáng tạo với công việc được giao. Phương pháp kinh tế là nhấn mạnh đến lợi ích của mọi cá
Trang 23- Nguyên tắc toàn diện thống nhất: cần có sự tác động đồng bộ đến tất cả các khâu, các mặt, có biện pháp xử lý kịp thời có hiệu quả các khâu còn yếu. Muốn vậy nhà quản lý phải có những thông tin chính xác về tất cả những vấn
đề liên quan ảnh hưởng tới hoạt động giáo dục ở cả bên trong và bên ngoài nhà trường nắm bắt một cách toàn diện quá trình để xác định những yếu kém cần khắc phục và tìm giải pháp kịp thời giải quyết những yếu kém tránh việc hoạt động tràn lan, phân tán kém hiệu quả mà phải tập trung mọi nguồn lực, điều kiện để hoàn thành tốt mục tiêu.
- Cuối cùng là nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả. Hiệu quả của hoạt động ngoài giờ lên lớp phải tính đến cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và đặc biệt
là hiệu quả giáo dục. Hiệu quả đó chính là mục tiêu cần đạt được. Trong điều kiện sự đầu tư của Nhà nước cho giáo dục còn hạn chế thì vấn đề đặt ra là làm sao phải có được kế hoạch quản lý một cách tối ưu và khoa học nhất để vừa khắc phục được khó khăn nhưng lại có được hiệu quả tốt. Việc quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp được thể hiện cả ở nhận thức cũng như hoạt động quản
lý thực tiễn của chủ thể quản lý cũng như các khách thể liên quan trong quá trình hoạt động.
1.2.3 Hoạt động ngoài giờ lên lớp
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là hoạt động giáo dục có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức được thực hiện trong các hoạt động thực tiễn về lao động, hoạt động xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, giáo dục hướng nghiệp, tự học buổi tối được thực hiện ngoài giờ lên lớp nhằm hình thành và phát triển toàn diện cho học sinh, đặc biệt đối với học sinh dân tộc bán trú. Có thể chia hoạt động ngoài giờ lên lớp thành 2 nhóm:
1.2.3.1 Nhóm hoạt động rèn kỹ năng sống cho học sinh
Trang 24Kỹ năng sống chính là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói một cách khác, kỹ năng sống là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác, với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Nhóm này gồm những hoạt động như lao động, hoạt động xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, giáo dục hướng
nghiệp
1.2.3.2 Hoạt động tự học
Trong quá trình học tập, sinh hoạt, bên cạnh những hoạt động rèn kỹ năng sống được tiến hành dưới sự tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh bán trú còn tiến hành hoạt động tự học vào buổi tối để thực hiện các bài tập thầy
cô giao về nhà và chuẩn bị bài cho buổi hôm sau, hoạt động tự học đa số dưới
sự điều khiển của giáo viên từ tự học trên lớp dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy cô giáo đến tự học hoàn toàn độc lập không có sự hướng dẫn trực tiếp của thầy cô giáo.
1.2.4 Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp
Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp là tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng đến giáo viên, nhân viên và những lực lượng giáo dục khác nhằm huy động, điều khiển, chỉ đạo họ tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp theo nhiệm vụ nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhân cách toàn diện của học sinh dân tộc bán trú. Trong trường phổ thông dân tộc bán trú, quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp tập trung vào 2 nhiệm vụ chủ yếu đó là: quản lý rèn kỹ năng sống và quản lý hoạt động tự học cho học sinh.
1.3 Vai trò của hoạt động ngoài giờ lên lớp
Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh hiện nay ở các trường phổ thông nhằm giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và tự học tập ở nhà cho học sinh. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hiện nay là một môn học trong chương trình giáo dục phổ thông bao gồm sinh hoạt chào cờ đầu tuần, sinh hoạt lớp cuối tuần và sinh hoạt theo các chủ điểm trong năm học;
Trang 25hoạt động tự học định hướng cho các em học tập ngoài giờ học chính khóa trên lớp.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là hoạt động quan trọng đối với việc phát triển tâm hồn, trí lực, thể lực và các năng lực khác trong quá trình hoàn thiện nhân cách học sinh. Hoạt động ngoài giờ lên lớp có nội dung phong phú, hình thức đa dạng hấp dẫn, phạm vi tiến hành rộng, khả năng kết hợp các lực lượng giáo dục lớn hơn nhiều so với dạy học văn hóa. Do đó, nó giúp khép kín chu trình giáo dục cả về không gian và thời gian. Đó là điều kiện thuận lợi
để học sinh phát huy vai trò chủ thể của mình, tính tự giác, tính tích cực chủ động sáng tạo, trong mọi hoạt động.
Phạm vi kiến thức của hoạt động ngoài giờ là sự tích hợp kiến thức của các môn văn hoá và các lĩnh vực trong đời sống xã hội cùng với những ứng
xử giao tiếp hàng ngày. Vì thế nó giúp học sinh củng cố các kiến thức về văn hoá, nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực xã hội, tích luỹ thêm kinh nghiệm giao tiếp và hoạt động tập thể, phát triển thái độ tích cực trong học tập, rèn luyện hàng ngày cũng như ý thức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Hoạt động ngoài giờ lên lớp rất quan trọng trong việc hình thành các kỹ năng cho học sinh. Ở trường phổ thông (cấp tiểu học và trung học cơ sở), việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh chủ yếu do tổng phụ trách đội, giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn là chính, bước đầu đã tạo không khí sôi nổi hơn, toàn diện hơn, được học sinh hứng thú, háo hức chờ đón; còn hoạt động tự học chủ yếu do phụ huynh hướng dẫn và sự cố gắng của bản thân học sinh.
1.3.1 Rèn kỹ năng sống cho học sinh
Giáo dục kỹ năng sống là trang bị cho học sinh những kỹ năng cơ bản, giúp các em vượt qua khó khăn, thách thức, tận dụng được những cơ hội quý giá trong cuộc sống, sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, xã hội. Giáo dục kỹ năng sống giúp học sinh có hiểu biết sâu sắc hơn về động cơ
và trách nhiệm có liên quan tới những sự lựa chọn của cá nhân và xã hội một cách tích cực, giúp các em trở nên mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn, học sinh
Trang 26Thông qua hoạt động giáo dục kỹ năng sống, học sinh được rèn luyện năng lực tư duy, năng lực hòa nhập.
Có rất nhiều kỹ năng sống mà con người cần học trong suốt cuộc đời, nhưng đối với học sinh dân tộc bán trú, nội dung giáo dục kỹ năng sống cần tập trung vào một số kỹ năng cơ bản cần thiết sau: kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng kiểm soát cảm xúc, kỹ năng lao động sản xuất.
1.3.2 Giúp học sinh củng cố kiến thức văn hóa
Trong giờ học chính khóa trên lớp do thời gian của tiết học có hạn, nội dung chương trình trong tiết học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nên học sinh ở các trường phổ thông dân tộc bán trú tiếp thu không đồng đều, một số tiếp thu chậm. Một buổi học có nhiều môn học, do vậy học sinh tiếp thu nhưng chưa vững kiến thức, vì thế cần có thời gian tự học để học sinh củng cố kiến thức đã học trong ngày và chuẩn bị cho buổi học tiếp theo.
Tuy các trường phổ thông đã có những cố gắng trong việc tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh nhưng đó mới chỉ ở một số bộ phận, một
số thời điểm, mà còn thiếu tính hệ thống, tính thường xuyên và theo quy định theo số tiết mỗi tháng của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Tiềm năng của học sinh chưa được khai thác tích cực, vai trò chủ thể của học sinh đôi khi bị mờ nhạt, nhất là trong tiết sinh hoạt cuối tuần. Trong những tiết này, giáo viên thường lặp đi lặp lại vài hình thức hoạt động đơn giản như sơ kết lớp, tuyên dương khen thưởng, phê bình, nhắc nhở, kỷ luật hay dặn dò, giao nhiệm vụ Nếu có
tổ chức thì nội dung hoạt động ít thay đổi, hình thức hoạt động đơn điệu, do
đó chưa tạo ra hứng thú cần thiết cho học sinh tham gia. Còn hoạt động tự học cũng chưa có sự định hướng cho học sinh các kỹ năng xây dựng và thực hiện
kế hoạch tự học của bản thân.
Trang 271.4 Các nội dung quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp
1.4.1 Lập kế hoạch tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp
Kế hoạch phải xây dựng một cách toàn diện hệ thống đảm bảo tính liên tục, tính thống nhất của mọi hoạt động ngoài giờ lên lớp trong suốt một năm học. Để thực hiện tốt kế hoạch đó cần phân công trách nhiệm rõ ràng những nhiệm vụ hoạt động cụ thể ở từng ngày, từng tuần, từng tháng cho từng cá nhân phụ trách.
Xây dựng kế hoạch của nhà trường có mục đích là dự báo đích cần đạt tới trong năm học, mô hình hoá nội dung công việc, chương trình hoá hành động, lựa chọn các biện pháp thực hiện tối ưu nhất, kinh phí, điều kiện và thời gian hoàn thành các hoạt động đó.
Trong quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp cần lập kế hoạch cụ thể:
- Kế hoạch hàng ngày: thời gian tiến hành, nội quy, nền nếp học tập, sinh hoạt, chú ý nhất tới nền nếp học tập, đó là những quy định chung có tính bắt buộc được duy trì đều đặn, thường xuyên theo nội quy.
- Kế hoạch hàng tuần: chào cờ đầu tuần là hình thức sinh hoạt nghi lễ, để nghe phổ biến kết quả đánh giá tuần học trước và nội dung hoạt động tuần học mới, các hoạt động thể dục thể thao, vui chơi, sinh hoạt cán bộ lớp, đội cờ
đỏ. Riêng việc sinh hoạt cán bộ lớp thực hiện dưới hình thức đánh giá rút kinh nghiệm khả năng tổ chức, duy trì kỷ luật, tự quản đối với tập thể học sinh của mỗi cán bộ lớp, từ đó có ảnh hưởng tới kết quả của mỗi tập thể lớp trong tuần như thế nào.
- Kế hoạch hàng tháng theo chủ điểm cụ thể theo các đợt thi đua lớn trong năm học
Trang 28Việc phân định rõ ràng nội dung sẽ được tiến hành trong một thời gian cụ thể từ tháng 8 khi học sinh bắt đầu đến học tập và ở tập trung cho đến cuối năm học.
Muốn cho việc lập kế hoạch được tốt có nghĩa là việc đề ra nội dung, mục tiêu, kết quả được chính xác và có hiệu quả cao thì người hiệu trưởng phải nắm vững một số vấn đề đặt ra như phải xác định, trả lời được các câu hỏi: chúng ta phải làm gì? Muốn đạt được mục đích nào? Làm sao cho mục đích
đó có hiệu quả cao nhất?
Trên cơ sở đó xác định được các lực lượng sẽ tham gia vào hoạt động giáo dục, trước hết là ở việc tham gia lập kế hoạch và họ phải chịu trách nhiệm với việc mà họ được phân công, từ đó xem xét những mặt thuận lợi, khó khăn trong điều kiện của trường mình và điều kiện địa phương cho phép, đồng thời biết phân tích những điểm mạnh, điểm yếu của tất cả các yếu tố trong tổ chức giáo dục, từng bước giải quyết mọi vấn đề của tổ chức giáo dục (cụ thể giải quyết các mâu thuẫn ví dụ: mâu thuẫn giữa yêu cầu cần phải mở rộng quy mô trong khi cơ sở vật chất của nhà trường không cho phép, mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển về giáo dục với khả năng của nhà trường ở một giới hạn nhất định )
Từ việc nắm bắt các vấn đề trên, hiệu trưởng sẽ xây dựng chiến lược và
kế hoạch hành động cho cả năm học, cuối cùng là kiểm tra xem xét mặt nào tích cực, mặt nào còn hạn chế, đánh giá việc đã đạt được, việc chưa đạt được, khâu nào còn yếu kém, khâu nào tiếp tục phát huy hiệu quả, các vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện, những biến động và tác động của môi trường
để có biện pháp thay đổi kế hoạch cho phù hợp, tính kết quả bằng tỷ lệ % và chú ý tới vấn đề hiệu quả đạt được ra sao khi tính hết yếu tố chi phí cho hoạt động ấy.
Mặt khác khi xây dựng kế hoạch cho hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhà quản lý cần phải hiểu rõ các phương pháp cơ bản chẳng hạn như phương pháp
Trang 29điều tra thu thập để có được thông tin chính xác bằng nhiều hình thức như quan sát, phỏng vấn, điều tra, , phương pháp phân tích môi trường bên trong
và môi trường bên ngoài, những mặt mạnh và yếu của các yếu tố bên trong, bên ngoài để có phương án xây dựng kế hoạch khả thi.
Ngoài ra, nhà quản lý còn sử dụng phương pháp dự báo, trên cơ sở phân tích những dữ kiện của quá khứ (những năm học trước), xu thế hiện tại để dự báo tương lai như thế nào?
Tóm lại, các phương pháp xây dựng kế hoạch là cơ sở cho việc lập kế hoạch, trên cơ sở xác định mối quan hệ biện chứng giữa nhà trường với môi trường khách quan, các tổ chức xã hội, đồng thời xác định rõ đặc trưng của giáo dục là tổ chức xã hội đặc biệt của tất cả đối tượng giáo dục, mục tiêu giáo dục, sản phẩm của giáo dục chính là những con người. Do vậy, nhà quản
lý phải luôn luôn thấy được các yếu tố thống nhất hữu cơ trong tổ chức giáo dục để lập kế hoạch cụ thể và hiện thực hoá kế hoạch.
1.4.2 Chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp
Đây là nội dụng cơ bản của quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp. Nó phát huy được trí tuệ, khả năng của tập thể ngay từ khi xây dựng kế hoạch và trong
cả quá trình thực hiện kế hoạch. Để chỉ đạo hoạt động có hiệu quả cần thành lập ban chỉ đạo bao gồm hiệu trưởng (hoặc phó hiệu trưởng) làm trưởng ban, các phó hiệu trưởng (phó ban), các thành viên bao gồm giáo viên chủ nhiệm, chủ tịch công đoàn, tổ trưởng chuyên môn, tổng phụ trách đội, thường trực hội cha mẹ học sinh, cán bộ y tế trường học.
Ban chỉ đạo có nhiệm vụ giúp hiệu trưởng xây dựng nội dung kế hoạch,
cụ thể hoá kế hoạch, phân rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi thành viên chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
+ Trưởng ban: phụ trách chung, xây dựng kế hoạch hoạt động, phân công
và giao nhiệm vụ cho các thành viên, kiểm tra việc tổ chức thực hiện;
+ Phó trưởng ban 1: theo dõi hoạt động rèn kỹ năng sống của học sinh, kiểm tra đôn đốc các thành viên theo nhiệm vụ được phân công;
Trang 30+ Thành viên là chủ tịch công đoàn: theo dõi, đôn đốc, động viên cán bộ giáo viên thực hiện nhiệm vụ được phân công. Phối hợp với hiệu trưởng trong việc đảm bảo các chế độ chính sách cho giáo viên;
+ Thành viên là tổ trưởng chuyên môn: trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trực theo dõi đôn đốc thành viên trong tổ thực hiện theo kế hoạch của nhà trường; + Thành viên là tổng phụ trách đội: xây dựng lịch tập luyện rèn kỹ năng sống cho học sinh, phân công vị trí các lớp, các phòng ở thực hiện công tác vệ sinh chung, vệ sinh cá nhân, đôn đốc đội cờ đỏ, tự quản chấm các hoạt động của các lớp;
+ Thành viên là giáo viên chủ nhiệm lớp: theo dõi đôn đốc học sinh trong lớp thực hiện nhiệm vụ được giao, hướng dẫn học sinh ăn, ở, sinh hoạt bán trú, hướng dẫn học sinh trồng chăm sóc rau, cây cảnh theo vị trí lớp được phân công, chăm sóc vật nuôi;
+ Thành viên là thường trực hội cha mẹ học sinh: phối hợp với ban giám hiệu nhà trường, giáo viên chủ nhiệm trong việc vận động phụ huynh cho con
em đến trường đúng thời gian nhà trường quy định, tổ chức cho đại diện phụ huynh đưa đón các em đúng thời gian đảm bảo an toàn cho học sinh, theo dõi nấu ăn cho học sinh;
+ Thành viên là cán bộ y tế trường học: xây dựng kế hoạch kiểm tra sức khỏe định kì cho học sinh, kiểm tra theo dõi công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường.
Trong các hoạt động trên có sự kết hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường.
- Tổ chức chỉ đạo ngoài giờ lên lớp được thực hiện:
+ Tích hợp trong giờ lên lớp
Trang 31Lồng ghép trong các tiết học, các môn học trong các hoạt động nhỏ của tiết học để công tác hoạt động ngoài giờ lên lớp có hiệu quả hơn, học sinh nhớ
và thực hiện tốt hơn.
+ Hoạt động theo chủ điểm
Gắn liền với những ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước như: Ngày Quốc khánh, khai giảng năm học mới, chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam
Các hoạt động này có nội dung, mục tiêu rõ ràng. Mỗi hoạt động là một chủ đề nói về ngày kỷ niệm.
Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân
- Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm
Rèn luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác.
Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hoá, chung sống hoà bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội.
- Tổ chức các hoạt động vui chơi, lành mạnh.
Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích
sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh
Trang 32Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan dã ngoại.
- Tổ chức hướng dẫn hoạt động tự học cho học sinh
Hướng dẫn cho học sinh các kỹ năng tự học, tự xây dựng kế hoạch học tập, góc học tập tại gia đình, khuyến khích phụ huynh theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn học sinh tự học, cách thức tự học.
1.5 Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú
1.5.1 Trường phổ thông dân tộc bán trú
Theo Thông tư 24/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: "Trường phổ thông
dân tộc bán trú là trường chuyên biệt, được Nhà nước thành lập cho con em các dân tộc thiểu số, con em gia đình các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhằm góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này Trường phổ thông dân tộc bán trú có số lượng học sinh bán trú theo quy định
Học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày". [35]
1.5.2 Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông dân tộc bán trú
1.5.2.1 Đặc điểm quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường dân tộc bán trú
Ở các trường phổ thông các em học sinh chỉ học tập và sinh hoạt trong giờ chính khóa, các hoạt động rèn kỹ năng thường được lồng ghép trong các tiết học, ra chơi giữa giờ, sinh hoạt đầu tuần hoặc các hoạt động theo chủ đề. Nhà trường và giáo viên chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh, một phần cũng do thời gian học sinh ở trường hạn chế. Học sinh ở trường phổ thông dân tộc bán trú đa số các em có độ tuổi còn nhỏ, phải sống xa gia đình, sinh hoạt tập trung 5 ngày/tuần nên ngoài giờ học
Trang 33nhà trường và các tổ chức trong nhà trường cần có kế hoạch cụ thể hướng dẫn các nội dung hoạt động cụ thể cho học sinh để đạt được hiệu quả quản lý và chất lượng hoạt động đảm bảo tuyệt đối an toàn cho học sinh trong các hoạt động, tạo hứng thú cho học sinh khi ở trường, làm cho các em gắn bó với trường, với thầy cô, bạn bè như ở chính gia đình của các em.
1.5.2.2 Nội dung quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp ở trường dân tộc bán trú
Hoạt động ngoài giờ lên lớp là các hoạt động ngoài thời khóa biểu chính khóa trong nhà trường. Đối với học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú hoạt động này vô cùng quan trọng giúp học sinh thích nghi với môi trường nhà trường như ở gia đình để các em bớt thiếu hụt so với ở gia đình. Ngoài giờ lên lớp ở trường có rất nhiều hoạt động, trong đó có hai nội dung cần quan tâm hơn cả là rèn kỹ năng sống và tự học của học sinh.
1.5.2.3 Quản lý giáo dục, rèn kỹ năng sống cho học sinh ở trường dân tộc bán trú
Có rất nhiều kỹ năng cần quan tâm giáo dục cho học sinh. Dưới đây là một số kỹ năng rất cần thiết đối với học sinh bán trú của trường phổ thông dân tộc bán trú.
thân với điều kiện thực tế và yêu cầu của xã hội.
b, Kỹ năng giao tiếp ứng xử
Trang 34Kỹ năng giao tiếp là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân mình theo hình thức nói, viết hoặc các hành động khác một cách phù hợp với hoàn cảnh, văn hóa, ngôn ngữ, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng các ý kiến của người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Bày tỏ ý kiến bao gồm cả bày tỏ
về suy nghĩ, ý tưởng, nhu cầu, mong muốn và cảm xúc, đồng thời nhờ sự giúp
đỡ, tư vấn khi cần thiết.
Kỹ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp phù hợp, hiệu quả, cởi mở bày tỏ suy nghĩ và cảm xúc nhưng không gây hại hay gây tổn thương cho người khác. Kỹ năng này giúp chúng ta có mối quan hệ tích cực với người khác.
ra quyết định và giải quyết vấn đề tốt hơn.
d, Kỹ năng lao động sản xuất
Đây là một loại hình đặc trưng của trường phổ thông dân tộc bán trú. Thông qua lao động sản xuất các em sẽ thấy được giá trị sức lao động, từ đó giúp các em có ý thức lao động lành mạnh, các em còn được định hướng các
kỹ năng lao động cần thiết để khi về với gia đình các em là các nhân tố chính trong việc giúp gia đình xóa đói, giảm nghèo, áp dụng các cách trồng trọt chăn nuôi mới vào gia đình. Lao động sản xuất sẽ giúp các em vận dụng kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống ngay tại nhà trường. Lao động sản xuất trong trường phổ thông dân tộc bán trú ngoài giờ học đa số tập trung vào các công việc chính sau: trồng và chăm sóc rau theo mùa, tính toán số tiền bỏ ra
Trang 35và thu về trong một đơn vị thời gian trên cùng một đơn vị diện tích đất; kỹ thuật và cách chăm sóc lợn nuôi nhốt theo đàn, thời gian nuôi, bán.
1.5.2.4 Nội dung quản lý hoạt động tự học
b, Quản lý hướng dẫn học sinh nội dung tự học
Học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú bao gồm các em từ lớp 1 đến lớp 9 do đó khả năng tự học còn hạn chế nên những ngày đầu cần có giáo viên hướng dẫn cụ thể cho từng lớp, định hướng cho học sinh để đảm bảo các em hoàn thành hết nhiệm vụ giáo viên giao sau giờ học trên lớp.
c, Quản lý kế hoạch tự học
Ban đầu giáo viên phải định hướng cho học sinh xây dựng kế hoạch tự học, định hướng cho các em tự ý thức, chủ động trong tự học góp phần nâng cao chất lượng tự học. Kế hoạch tự học là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo, nhằm hướng tới mục tiêu môn học.
Trang 36Kế hoạch tự học giúp cho học sinh thực hiện các nhiệm vụ tự học một cách khoa học, hiệu quả. Quản lý hướng dẫn xây dựng kế hoạch và quản lý thực hiện kế hoạch tự học sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học của học sinh.
d, Quản lý phương pháp tự học
Phương pháp tự học đúng sẽ góp phần nâng cao chất lượng tự học.
Quản lý phương pháp tự học phải hướng dẫn bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh. Nội dung quản lý phương pháp tự học gồm:
+ Quản lý tri thức (bài tập về nhà và chuẩn bị cho hôm sau), học sinh nắm được cách học đối với yêu cầu của từng môn học
+ Quản lý thao tác tự học: nghe (giảng trên lớp), đọc (sách giáo khoa, sách bài tập), trao đổi nhóm học sinh.
đ, Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học của học sinh bán trú
Kiểm tra việc xây dựng kế hoạch tự học của học sinh (tuần, tháng, học kỳ), niêm yết chung tại lớp.
Kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tự học theo các mục tiêu, yêu cầu nhiệm
vụ tự học. Phát hiện thiếu sót, hạn chế giúp học sinh điều chỉnh các hoạt động
tự học.
e, Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học của học sinh bán trú Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trên lớp, thời gian dành cho tự học để giáo viên và học sinh cùng tích cực trong dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh.
Trong quản lý hoạt động tự học của học sinh, cần phải phối hợp quản lý chặt chẽ tất cả các nội dung trong mối quan hệ thống nhất. Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lý hoạt động tự học nhằm đảm bảo thời gian tự học của học sinh.
+ Quản lý cơ sở vật chất học tập trên lớp, tự học: bố trí đủ phòng học, bàn ghế, ánh sáng,
Trang 37+ Quản lý các hoạt động đảm bảo thời gian cho học tập của học sinh. 1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh bán trú
1.6.1 Kinh tế, xã hội
Trường phổ thông dân tộc bán trú được thành lập trên địa bàn các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông đi lại không thuận lợi, cách trở núi cao, suối sâu thường bị chia cắt khi mùa mưa lũ; Đời sống kinh tế của nhân dân còn khó khăn, tỉ lệ hộ đói nghèo cao, nhân dân được sự hỗ trợ đầu tư nhiều của Nhà nước nên một bộ phận nhân dân có tư tưởng trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ mà chưa chủ động vượt khó vươn lên thoát đói nghèo. Nhận thức của người dân còn hạn chế, sự quan tâm đến việc học tập của con em chưa cao. Cán bộ giáo viên còn phải đi tuyên truyền vận động để phụ huynh cho con em đến trường; đời sống sinh hoạt còn ảnh hưởng bởi các hủ tục lạc hậu như cưới hỏi, tang lễ cho người đã mất kéo dài, nạn tảo hôn
1.6.2 Đặc điểm của học sinh
Phần lớn học sinh là người dân tộc thiểu số nên khi mới ra trường nhất là khối tiểu học thì ngôn ngữ là rào cản lớn nhất đối với các em. Thực tế đó đòi hỏi cần phải có những phương pháp dạy học thích hợp, tăng cường dạy tiếng Việt, giao lưu tiếng Việt cho học sinh tiểu học để giúp học sinh vượt qua được rào cản ngôn ngữ giúp trẻ tiếp thu tốt các kiến thức tại trường.
Các em thường ngại khi giao tiếp với thầy cô, nhút nhát và tự ti (do ít có điều kiện giao tiếp). Các em học sinh đều đến từ các thôn bản có địa hình phức tạp thiếu kỹ năng sinh hoạt tập thể, nhất là trong trường cùng chung sống hòa nhập với các bạn dân tộc khác. Đặc điểm tâm lý nổi bật nhất là các
em vốn nhút nhát, ngại giao tiếp, hay tự ti, mặc cảm nhưng lòng tự ái rất cao. Học sinh khối trung học cơ sở thường hay xin về nhà để giúp đỡ gia đình
Trang 38có trình độ không đồng đều và được thể hiện ở kết quả học tập, sự nỗ lực về
tỷ lệ chuyên cần. Học sinh phần lớn là đạt kết quả học tập ở mức độ yếu và trung bình. Động cơ học tập của học sinh chưa tích cực nên đa số các em học hết lớp 9 sẽ ở nhà làm kinh tế hoặc đi học nghề.
Phụ huynh do trình độ học vấn thấp dẫn tới việc chưa quan tâm đầy đủ, thiếu đôn đốc nhắc nhở, kết hợp giáo dục các em mà có tư tưởng việc học của các em là do nhà trường.
1.6.3 Đặc điểm của cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên
* Cán bộ quản lý
Trường phổ thông dân tộc bán trú là trường chuyên biệt ở địa bàn xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên:
Phải nắm vững chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, chế độ của học sinh được thụ hưởng
Hiệu trưởng phải là người am hiểu phong tục tập quán của, văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số tại nơi công tác, sử dụng được tiếng nói của đồng bào địa phương
Tâm huyết, gắn bó với giáo dục vùng khó
Biết động viên, khích lệ cán bộ giáo viên cùng đóng góp công sức, trí tuệ cho giáo dục vùng khó
Có uy tín trong nhân dân và phụ huynh nơi công tác
* Giáo viên
- Giáo viên được hưởng chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Giáo viên trường phổ thông dân tộc bán trú còn phải:
+ Biết sử dụng ít nhất một tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương để giao tiếp với học sinh và cộng đồng;
Trang 39+ Tìm hiểu, nắm vững phong tục tập quán và đặc điểm tâm lý học sinh các dân tộc nơi công tác;
+ Vận dụng phương pháp dạy học phù hợp đối tượng học sinh dân tộc; tham gia quản lý, giáo dục học sinh ngoài giờ lên lớp.
Bên cạnh những đặc điểm chung thì giáo viên trường phổ thông dân tộc bán trú như những người cha, người mẹ thứ 2, luôn sẵn sàng hỗ trợ, chia sẻ, động viên kịp thời học sinh. Thông qua dạy kiến thức giáo viên dạy, rèn kĩ năng, cho học sinh.
* Nhân viên
+ Học ít nhất một tiếng dân tộc thiểu số ở địa phương để sử dụng trong giao tiếp với học sinh và cộng đồng;
+ Tìm hiểu phong tục tập quán và đặc điểm tâm lý học sinh các dân tộc thiểu số nơi công tác.
Nhân viên của trường phổ thông dân tộc bán trú cần hiểu tâm lý, sức khỏe học sinh, biết điểm mạnh, điểm yếu của từng nhóm học sinh, ăn uống, sinh hoạt của học sinh
Trang 40Tiểu kết chương 1 Qua tìm hiểu các vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, có thể rút ra một số kết luận sau:
Hoạt động ngoài giờ lên lớp của học sinh trường phổ thông dân tộc bán trú là rất cần thiết, cấp bách, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, nền nếp của nhà trường.
Quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm tạo cho các em học sinh bán trú tự tin, chủ động hòa nhập và tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể,
cố gắng vươn lên trong học tập.
Công tác quản lý của nhà trường luôn đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện hoạt động ngoài giờ lên lớp. Muốn nâng cao chất lượng hoạt động ngoài giờ lên lớp trong trường phổ thông dân tộc bán trú thì người hiệu trưởng phải quản lý tốt các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục trong nhà trường theo hướng tiếp cận quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp. Hiệu trưởng cần chú trọng đến tất cả các khâu từ việc lập kế hoạch, tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện đến việc kiểm tra đánh giá của các lực lượng tham gia quản lý hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường. Ban giám hiệu nhà trường cần xây dựng, triển khai kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch đối với cán bộ giáo viên, các tổ chức trong nhà trường và biết phối hợp với các lực lượng giáo dục khác ngoài nhà trường, làm tốt các nhiệm vụ được nhà trường giao: cán bộ giáo viên đôn đốc học sinh thực hiện tốt thời gian biểu đã ban hành để các em thực hiện các công việc đúng giờ, hướng dẫn học sinh những lúc học sinh thực hiện chưa đúng hoặc làm sai, uốn nắn tỉ mỉ cụ thể, giao nhiệm vụ cho học sinh lớn có kinh nghiệm hướng dẫn các em nhỏ mới vào trường, hướng dẫn các em giờ tự học (thầy cô là người cha người
mẹ thứ hai của các em).
Nhà trường tuyên truyền để phụ huynh học sinh đưa, đón học sinh đến lớp đúng ngày giờ quy định, chuẩn bị đầy đủ tư trang cho các em hàng tuần, góp ý kiến cho nhà trường tạo sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong