PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU HỢP CHẤT TRONG CÂY BÒ KHAI Ở THÁI NGUYÊN Một vấn đề lớn đặt ra cho học sinh các trường THPT nói chung và trường THPT chuyên nói riêng đó là
Trang 1PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM DÙNG TRONG NGHIÊN CỨU HỢP CHẤT
TRONG CÂY BÒ KHAI Ở THÁI NGUYÊN
Một vấn đề lớn đặt ra cho học sinh các trường THPT nói chung và trường THPT chuyên nói riêng đó là vấn đề thực nghiệm trong hóa học Từ thực nghiệm giúp các em có thể nắm bắt được các vấn đề về lý thuyết nhanh hơn, nhớ lâu hơn và biết hóa học có ý nghĩa lớn lao như thế nào trong cuộc sống và sản xuất Từ đó giúp các em có thêm nhiều hơn tình cảm với bộ môn hóa học, có sự hứng thú với bộ môn và giúp các em phát huy những năng khiếu, năng lực về bộ môn hóa học Từ thực nghiệm về hóa học cũng cho các em tiếp cận nhanh hơn với những vấn đề mới trong hóa học cùng với những phương pháp nghiên cứu truyền thống giúp các em nhanh chóng trưởng thành về tư duy thực nghiệm và nhạy bén hơn trong việc tiếp cận vấn đề mới về thực tiễn Từ đó giúp các em có những đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu khoa học dành cho học sinh
Ở nước ta có rất nhiều các loài cây cỏ, động vật trong chúng chứa rất nhiều hợp chất có ý nghĩa trong y học, trong sản xuất cũng như đời sống hàng ngày Đó cũng là một tài nguyên
có thể nói là vô cùng phong phú và đa dạng mà các học sinh, sinh viên rồi các nhà khoa học hướng tới để nghiên cứu nhằm tạo ra những chế phẩm giúp ích cho con người Vì vậy việc nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên đóng vai trò quan trọng
Chính vì tầm quan trọng của thực nghiệm với hóa học và đặc biệt trong nghiên cứu hợp chất
thiên nhiên nên tôi quyết định lựa chọn chuyên đề: Phương pháp thực nghiệm nghiên cứu thành phần trong cây bò khai ở Thái Nguyên Qua chuyên đề này tôi muốn gửi gắm tới các
đồng nghiệp cũng như các em học sinh phương pháp làm thực nghiệm cơ bản khi nghiên cứu
về thành phần của thực vật nói chung và cây bò khai nói riêng
II NỘI DUNG.
1 Những hiểu biết chung về cây bò khai.
a Đặc điểm thực vật học và phân bố.
Cây bồ khai (Erythropalum scandens Blume) có tên gọi khác là dây hương thuộc họ dương
đầu Ngoài ra cây còn có tên gọi khác là cây dây hương [1] [2] [4] [21]
Đây là loài có ở Trung Quốc và Việt Nam Cây mọc hoang ở ven rừng phục hồi, rừng ẩm từ Thái Nguyên, Lạng Sơn cho đến Gia Lai, Đắc Lắc Dây hương cũng thường được trồng và người có thể thu hái gần quanh năm chỉ trừ vài tháng mùa đông quá lạnh vì ngọn non không mọc được Lá non
và lá bánh tẻ vào mùa xuân, hè và thường dùng khi tươi; nhưng mùa thu hái nhiều nhất vẫn là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9-10 [21]
b Đặc điểm sinh thái.
1 Dạng cây: Cây có dây leo bằng tua cuốn, có cành mềm thòng xuống, vỏ xanh [2] [4]
2 Lá: Lá mọc so le, hình trứng rộng, đầu nhọn, gốc tròn hay hình tim, dài khoảng 10-15cm, rộng khoảng 5-7 cm, có 3 gân gốc, 3-5 đôi gân bên, mặt dưới mốc mốc, cuống lá dài 5-10 cm, phù ở hai
Trang 2đầu và hơi dớnh vào phớa trong phiến lỏ; tua cuốn ở nỏch lỏ dài 15-20 cm thường chẻ hai Hoa nhỏ, lưỡng phỏi [2] [4]
3 Cụm hoa: Cụm hoa xim hai ngà, cú cuống chung dài 10-15 cm Hoa nhỏ, đơn tớnh Quả mọng, hỡnh trỏi xoan dài 10-15 mm, màu vàng hay đỏ, chứa một hạt lớn [2] [4]
4 Quả và hạt: Phỡ quả hỡnh xỏ lị, vàng hay đỏ, dài khoảng 2cm Quả cú một hạt [2] [4]
c Những nghiờn cứu về cõy Erythropalum scandens Blume ở nước ngoài.
Cho đến nay nhiều loài thực vật thuộc họ Olacaceae được sử dụng trong y học cổ truyền cỏc
nước nhưng lại thuộc cỏc chi Ximenia, Olax Cũn những loài thực vật thuộc chi Erythropalum
thỡ hầu như chưa thấy cú tài liệu nào đề cập đến nghiờn cứu thành phần hoỏ học
Do cõy dõy hương là loại rau ăn nờn trờn thực tế chỉ cú Trung Quốc sử dụng cõy Erythropalum scandens Blume để chữa viờm gan, viờm ruột, viờm niệu đạo, viờm thận cấp tớnh [4].
d Những nghiờn cứu về cõy Erythropalum scandens Blume trong nước.
Trước đõy một vài nghiờn cứu sơ bộ ban đầu về hoỏ học của cõy bồ khai cho biết thành phần dinh dưỡng tớnh theo thành phần % trong cõy như: Nước 78,8%; protit 6,1%, xơ 7,5% Theo mg% thỡ Canxi 138; Photpho 40,7; caroten 2,6 và vitamin C 60 [4]
Ngoài ra khi định tớnh thành phần hoỏ học một số nhúm chất của cõy bồ khai cũng đó cho một
số kết quả sau [3]:
Kết quả định tớnh thành phần húa học cõy bồ khai (Erythropalum scandens Blume )
Khi phõn tớch định tớnh cỏc nhúm chất trong cỏc dịch chiết từ cõy bồ khai tỏc giả [3] cho biết đó xỏc định được cỏc axớt amin như: L-Cystein, DL-ornithine monohyđro chloride, L-arginine, Dserine, glutamic axit, Dthionine Trong đó có 8 axit amin không thể thay thế đợc: L-cystein, Leucine, methionine, isoleucine, threonine, β-phenyl alanin, DL-valine, L-arginine
Ngoài tác giả [3] còn xác định đợc một số nhóm chất hữu cơ nh: cumarin, steroit saponin, xyanglycozit
Trang 3HiÖn cha cã mét c«ng tr×nh nµo trªn thÕ giíi c«ng bè vÒ viÖc nghiªn cøu thµnh phÇn ho¸ häc c©y bß khai [14]
e Những ứng dụng của cây bồ khai (Erythropalum scandens Blume).
Cây dây hương có tên khoa học Erythropalum scandens Blume được sử dụng trong một số bài
thuốc dân gian để chữa viêm gan, viêm ruột, viêm niệu đạo viêm thận cấp tính, tiểu tiện không thông với liều lượng hàng ngày là 12-14 gam, sắc lấy nước uống [4] [21]
Còn ở Việt nam do cây bồ khai có vị đắng, mùi khai, tính bình nên có tác dụng thanh nhiệt, lợi niệu Theo kinh nghiệm trong nhân dân dây hương là một vị thuốc quí, nó thường được dùng
để chữa các bệnh về thận như viêm thận, gan, nước tiểu vàng và đái rát Người ta thường dùng
lá và ngọn non thái nhỏ, vò kỹ, rửa sạch để khử mùi khai rồi nấu canh, luộc hoặc xào ăn có mùi thơm ngon nên gọi là cây rau khai Dùng 20-40 gam lá tươi giã nát, thêm nước gạn uống Có khi dùng phối hợp với lá Bòng bong Kinh nghiệm dân gian ở Bắc Thái dùng toàn cây sắc nước uống chữa gan siêu vi trùng đạt kết quả tốt Ngoài ra thân cành tươi bỏ lá, thái mỏng phơi khô, ngâm rượu uống chữa sốt, tê thấp [21]
Ngoài giá trị trong y học dây hương còn có giá trị thực phẩm và kinh tế to lớn Dây hương là loại rau cổ truyền của đồng bào miền núi Mỗi năm một gia đình ở đây bình quân thu hái 5-10kg dây hương để làm thức ăn Khoảng gần mười năm nay, dây hương được bán nhiều ở các chợ thị xã Lạng Sơn và Cao Bằng, trở thành món ăn đặc sản được nhiều người ưa thích Vì vậy cần phát triển gieo trồng loại rau này để cung cấp cho thị trường trong nước ngày một mở rộng Dây hương cũng là một cây có thể xóa đói giảm nghèo Một số gia đình ở xã Khang Ninh, thuộc vùng đệm của Vườn quốc gia Ba Bể mới trồng thử quanh hàng rào và trong vườn gia đình nhưng hàng năm cũng bán được hàng trăm nghìn đồng [20] [21]
Khi chế biến để ăn, người ta thường lấy lá và ngọn non vò kỹ, rửa sạch cho hết mùi khai rồi luộc, nấu canh hoặc xào với thịt hay lòng gan gia súc, gia cầm Có lẽ ngọn và lá non dây hương xào thịt bò là ngon hơn cả Được ăn một lần sẽ nhớ mãi món ăn này [21]
2 Thực nghiệm nghiên cứu cây bò khai
Cây bồ khai (Erythropalum scandens Blume) là thực vật có ý nghĩa to lớn trong y học dân
gian làm thuốc chữa bệnh gan, bệnh thận, viêm đường tiết niệu Ngoài ra cây này thuộc loài thực vật rất có ý nghĩa kinh tế và thực phẩm to lớn Nhưng hiểu biết về thành phần hoá học và tác dụng dược
lý của cây Bồ khai vẫn còn rất sơ sài, hầu như chưa được nghiên cứu sâu về thành phần hoá học
Nhiệm vụ của luận văn này là tìm hiểu thành phần hoá học phần trên mặt đất của cây Bồ khai
(Erythropalum scandens Blume) được trồng tại Thái Nguyên.
2.1 Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Thu mẫu, xác định tên khoa học và phương pháp xử lý mẫu.
Trang 4Nguyên liệu để nghiên cứu là phần thân và lá của cây Bồ khai Mẫu tươi thu vào tháng 10/2007 tại Thái nguyên đem phân loại riêng rẽ từng phần lá, thân cành
Mẫu cây đem nghiên cứu hoá thực vật đã được TS Ninh Khắc Bản (Viện Sinh thái tài
nguyên sinh vật - Viện khoa học và công nghệ Việt Nam ) giám định tên khoa học là Erythropalum scandens Blume họ Erythropalaceae hay Olacaceae Ngoài ra còn có tên là cây dây hương.
Ảnh 2.1: Hình ảnh cây bồ khai ( Erythropalum scandens Blume )
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu.
Mẫu cây tươi thu được đem phân loại riêng biệt lá và thân cành Sau đó các bộ phận mẫu được sấy ở nhiệt độ 1100C trong 15 phút để diệt men, sau đó hong khô ở nơi thoáng mát rồi sấy ở nhiệt
độ 50-600C tới khi khô giòn Mẫu khô thu được 300gam lá và 250gam thân cành đem nghiền nhỏ, cho vào bình ngâm chiết bằng Etanol hoặc Metanol
Sau khi cất loại dung môi dưới áp suất giảm, cặn chiết tổng thu được đem chiết lần lượt bằng các dung môi có độ phân cực tăng dần (Hexan, Etylaxetat, Metanol) Các dịch chiết được làm khan bằng
Na2SO4 rồi cất kiệt dung môi ở áp suất giảm Cặn chiết thu được đem cân tới khối lượng không đổi
Việc phân lập các chất ra khỏi hỗn hợp của chúng được kết hợp những phương pháp khác nhau: dùng dung môi có độ phân cực tăng dần để phân chia các chất có độ phân cực gần như nhau, làm cho hỗn hợp ban đầu đơn giản hơn, sau đó dùng cách kết tinh phân đoạn hoặc tách trên sắc kí cột lặp lại nhiểu lần v v để được chất tinh khiết
Quá trình nghiên cứu nêu chi tiết ở phẩn thực nghiệm
2.1.3 Phương pháp phân tích, phân lập các hợp chất từ dịch chiết.
Để phân tích và phân tách hỗn hợp các chất như phân lập được các hợp chất cần sử dụng phối hợp các phương pháp sắc kí như:
- Sắc kí lớp mỏng (SKLM)
Trang 5- Sắc kí cột thường.
2.1.4 Phương pháp khảo sát cấu trúc các chất
Các chất phân lập được ở dạng tinh khiết là đối tượng để khảo sát các đặc trưng vật lý: màu sắc, dạng thù hình, Rf, điểm nóng chảy v.v khi các chất đủ sạch sẽ tiến hành ghi các phổ tử ngoại, phổ hồng ngoại (FT-IR), phổ khối lượng (MS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân (1H-NMR), cacbon-13 (13C-NMR) với các kỹ thuật một chiều (1D-NMR), và hai chiều (2D-NMR) tuỳ theo chất cụ thể
2.2 Dụng cụ, hoá chất và thiết bị nghiên cứu.
2.2.1 Dụng cụ, hoá chất.
Các dung môi để ngâm chiết mẫu đều dùng loại tinh khiết (pure), khi dùng cho các loại sắc
kí cột, sắc kí lớp mỏng đều phải sử dụng loại tinh khiết phân tích (PA)
Sắc kí lớp mỏng đế nhôm tráng sẵn Kieselgel 60F254 độ dày 0,2 mm (Art 5554) được hoạt hoá ở nhiệt
độ 1100C- 1200C trong thời gian 1,5-2 giờ
Các hệ dung môi triển khai SKLM:
Các sắc kí lớp mỏng (SKLM) được soi dưới đèn tử ngoại ở 254 nm (cho loại Kieselgel 60F254
) rồi phun thuốc thử vanilin –H2SO4 5% và sấy ở nhiệt độ trên 1000C để phát hiện các hợp chất
Các giá trị Rf trong hệ dung môi triển khai biểu thị là Rf A (B, C) x100
Sắc kí cột thường sử dụng silicagel Merk 60, cỡ hạt 70-230 mesh (0,040-0,063 mm) và 230-400 mesh ( 0,063 đến 0,2 mm)
2.2.2 Thiết bị nghiên cứu.
- Nhiệt độ nóng chảy đo trên kính hiển vi Boortus hoặc trên máy Electrothermal IA-9200
- Phổ hồng ngoại ghi trên máy IMPACT-410 (Viện Hoá học - Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam) dưới dạng viên nén KBr
Trang 6- Phổ 1H và 13C-NMR với các kỹ thuật đo 1D và 2D-NMR được ghi trên máy Bruker 500MHz AVANCE, chuẩn nội TMS, dung môi CDCl3, CD3OD, DMSO-d6
2.3 Thu nhận các dịch chiết từ cây Erythropalum scandens Blmue.
2.3.1 Thu nhận dịch chiết.
Mẫu cây tươi mới thu hái được đem phân loại riêng lá và thân cành Các bộ phận được đem sấy khô rồi nghiền nhỏ và cho vào ngâm chiết với dung môi metanol Dịch chiết được cất loại dung môi dưới áp suất giảm và thu được cặn tổng Cặn chiết tổng này được chiết lần lượt với các loại dung môi hexan, Etylaxetat, metanol (mỗi loại dung môi đem chiết 3 lần) Các dịch chiết nói trên làm khan bằng Na2SO4 rồi đem cất loại dung môi dưới áp suất giảm thu được cặn chiết tương ứng Các cặn chiết
tu được đem sấy khô và cân đến khối lượng không đổi
Việc thu nhận cặn chiết từ cây bồ khai (Erythropalum scandens Blume) được thực hiện như
trong sơ đồ 2.1
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ ngâm chiết mẫu cây bồ khai
(Erythropalum scandens Blume )
Sấy khô nghiền nhỏ
MeOH,
Cất loại dung môi dưới áp suất giảm
1.Hexan 2 EtOAc 3.MeOH
Cất loại Cất loại Cất loại
dung môi dung môi dung môi
Như vậy từ sơ độ 2.1 ứng với bộ phận lá, thân cành cây Erythropalum scandens Blume sẽ
có 6 loại cặn chiết và được kí hiệu là:
Nguyên liệu
Cặn chiết Metanol
Cặn chiết hexan
H
Cặn chiết EtOAc
E
Cặn chiết MeOH M
Trang 7CEH, CEE, CEM
Kí hiệu:
LEH: Cặn chiết n-hexan của lá Erythropalum scandens Blume
LEE: Cặn chiết EtOAccủa lá Erythropalum scandens Blume
LEM: Cặn chiết MeOH của lá Erythropalum scandens Blume
CEH: Cặn chiết n-hexan của thân cành Erythropalum scandens Blume
CEE: Cặn chiết EtOAc của thân cành Erythropalum scandens Blume
CEM: Cặn chiết MeOH của thân cành Erythropalum scandens Blume
Kết quả thu nhận các dịch chiết tử cây bồ khai ở Thái nguyên được nêu trong bảng 2.1
Bảng 2.1: Khối lượng các cặn chiết thu được từ cây bồ khai
(Erythropalum scandens Blume )
Mẫu thu vào tháng
10/2007 tại Thái
Nguyên
Khối lượng mẫu khô
(g)
Khối lượng cặn chiết thu được và kí hiệu (g)
13,5
(LEH)
7,9
(LEE)
14,8
(LEM)
3,0
(CEH)
1,4
(CEE)
17,8
(CEM)
2.3.2 Khảo sát định tính các dịch chiết.
2.3.2.1 Phát hiện các hợp chất sterol.
Lấy 0,01 gam mỗi cặn chiết của 6 cặn chiết trên cho vào 6 ống nghiêm khác nhau, sau đó thêm vào mỗi ống 2ml dung dịch NaOH 10% đun cách thuỷ đến khô Hoà tan cặn trong 3ml CHCl3, lấy dung dịch Clorofom để làm phản ứng định tính với các sterol và thuốc thử Lieberman-Bourchard (hỗn hợp gồm 1 ml anhyđrit axetic + 1ml clorofom để lạnh ở 00C sau đó thêm 1 giọt H2SO4 đậm đặc)
Lấy 1 ml dung dịch clorofom rồi thêm 1 giọt thuốc thử dung dịch xuất hiện màu xanh bền trong một thời gian dài là dương tính
2.3.2.2 Phát hiện ancaloit.
Lấy 0,01 gam cặn chiết của mỗi cặn chiết trên thêm 5 ml dung dịch H2SO4 5% khuấy đều, lọc qua giấy lọc, lấy vào 3 ống nghiệm, mỗi ống nghiệm mỗi ống 1ml nước lọc axit:
Trang 8Ống 1: 1-2 giọt dung dịch Silicostungtic axit 5%, nếu có kết tủ trắng và nhiều là dương tính
Ống 2: 1-2 giọt dung dịch thuốc thử Dragendorf, nếu xuất hiện màu da cam là phản ứng dương tính
Ống 3: 3-5 giọt thuốc thử Mayer, nếu có kết tủa trắng là dương tính
2.3.2.3 Phát hiện flavonoid.
Lấy 0,01g cặn chiết của các phân đoạn, thêm 10ml metanol, đun nóng cho tan và lọc qua giấy lọc Lấy 2ml nước lọc trong ống nghiệm, thêm một ít bột Magiê (Mg) hoặc kẽm (Zn), sau đó cho vào 5 giọt dung dịch HCl đậm đặc, đun trong bình cách thuỷ vài phút Dung dịch xuất hiện màu đỏ, hoặc màu hồng là phản ứng dương tính với các flavonoid
Kết quả phân tích định tính các nhóm chất trong cây Erythropalum scandens Blume được
nêu trong bảng 2.2
Bảng 2.2: Kết quả định tính các nhóm chất trong cây bồ khai
Lieberman-Bourchard
Chú giải:
+ : Phản ứng dương tính
- : Phản ứng âm tính
2.4 Phân lập và tinh chế các chất.
2.4.1 Cặn chiết n-hexan của lá (LEH).
Lấy 13,5g cặn chiết n-hexan của lá tách trên cột silicagel, rửa giải cột bằng hệ dung môi etylaxetat- n-hexan có tỷ lệ tăng dần từ 0 – 100% Dịch rửa giải thoát ra từ cột được thu ở những khoảng cách nhỏ (5 – 10ml/phân đoạn) Kiểm tra các phân đoạn thu được bằng sắc ký lớp mỏng và
Trang 9phát hiện màu bằng thuốc thử vanilin – H2SO4 5% sau đó các phân đoạn giống nhau được dồn lại rồi đem cất loại dung môi
2.4.1.1 Amít béo mạch dài H7 (LEH7).
Rửa giải cột bằng dung môi n-hexan đã thu được khối chất rắn, trắng, vô định hình, có khối lượng là 117,7 Kiểm tra SKLM trên hệ A cho giá trị RfA= 33 hiện màu thuốc thử Vanilin-H2SO4 cho màu tím hồng, có nhiệt độ nóng chảy khoảng 76-770C Kí hiệu là H7.
Phổ IR (KBr): υmax (cm-1): 3414 (tù, tb) (NH2); 2922 và 2857 (CH2); 1700 (C=O);
Phổ 1H-NMR (500MHz, CDCl3, δ (ppm): 0,88 (3H, t, j= 6,5Hz, CH3); 2,38 (2H, t, J= 10Hz, α-CH2-C=O); 1,55(2H, d, j=11,5Hz, β-CH2-C=O); 1,25 (26H, s, CH2)
O
NH2
0.96
1.33
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.29
1.57 2.18
6.0
2.4.1.2 Tritecpenoit H2 (LEH2).
Rửa giải cột bằng hệ dung môi n-hexan – etylaxetat (20 : 1), thu được khối chất rắn vô định hình
Khối chất rắn này được tinh chế lại trên cột silicagel, với dung môi rửa giải cột là n-hexan – etylaxetat theo tỉ lệ (18 :1) thu được khối kết tinh hình kim có khối lượng 10,5mg Kiểm tra SKLM trên hệ B cho giá trị RfB= 20 hiện màu bằng thuốc thử Vanilin-H2SO4 cho màu tím hồng, có điểm nóng chảy 268-2690C Kí hiệu là H2.
Phổ hồng ngoại IR(KBr) υmax(cm-1): 2919(m) và 2855(m) ứng với nhóm CH2 và CH3; 1715(y) (C=O); 1458(tb) (C=C)
Phổ 1H-NMR (500MHz, CDCl3, δ (ppm): 0,95 (3H, s, H-23); 1,01 (3H,s, H-24); 1,05 (3H, s, H-25);
1,18 (3H, s, H-26); 1,20 (3H, s, H-27); 0,87 (3H, s, H-28); 0,88 (6H, s, H-29, 30); [16].
Phổ 13C-NMR (125MHz, CDCl3, δ (ppm): 59,52 (s, C-10); 58,26 (s, C-4); 53,13 (s, C-8);
43,21 (s, C-3); 42,83 (s, C-18); 42,16 (s, C-5); 41,54 (t, C-2); 41,32 (t, C-6); 39,73 (s, C-13); 39,27 (t,
22); 38,32 (s, 14); 37,47 (s, 9); 36,04 (t, 16); 35,65 (t, 11); 35,37 (t, 19); 35,03 (q, C-29); 32,50 (t, C-21); 32,45 (d, C-15); 32,11 (q, C-28); 31,79 (q, C-30); 30,52 (t, C-12); 30,02 (s, C-17); 28,19 (s, C-20); 22,29 (t, C-1); 20,27 (q, C-26); 18,69 (q, C-27); 18,26 (t, C-7): 17,96 (q, C-25); 14,67 (q, C-24); 6,82 (q, C-23); [18]
Trang 1012 13
30 29
18 19
5 6
9
15 16 1
2
8 10
11
14 17
20 21
22
25
24 23
28
26 27
O
3-oxo Friedelan (Friedelan là khung D:A-friedo oleanan)
2.4.1.3 Tritecpenoit H4 (LEH4).
Tiếp tục rửa giải cột bằng hệ dung môi n-hexan – etylaxetat (20 : 1), thu được khối kết tinh dạng vô định hình, có khối lượng là 32,7 mg Kiểm tra SKLM trên hệ B cho giá trị RfB= 8 hiện màu thuốc thử Vanilin-H2SO4 cho màu tím hồng, có điểm nóng chảy 282-2830C Kí hiệu là H4.
Phổ IR(KBr):υmax(cm-1): 3311(tb, tù)(OH); 2924(m) và 2852(m) CH2 và CH3; 1466(tb) (C=C); 725(y) (ρCH2)
Phổ 1H-NMR (500MHz, CDCl3, δ (ppm):0,96(3H,s H-23 hoặc H-24, s); 0,77(3H, d, j = 2,5Hz , H-25); 1,09(3H, s, H-26); 1,00 (3H, s, H-27); 0,95(3H, s, H-29); 0,98 (3H, s,H-30); 5,53(1H,
dd, j=3,2Hz, 8,1Hz ,H-15); 3,19(1H, d, j=9,76Hz , H-3) [16]
Phổ 13C-NMR (125MHz, CDCl3, δ (ppm): 158,10 (s, C-14); 116,89 (d, C-15); 79,09 (d, C-3); 55,55 (s, 5); 49,30(s, 18); 48,77(s, 9); 41,34(t,19); 38,99 (s, 4); 38,77 (s, 8); 38,01(t, C-1); 37,75 (s, C-10); 37,72 (s, C-13); 37,58 (s, C-17); 36,69 (t, C-16); 35,79 (t, C-12); 35,13 (t, C-7); 33,77 (t, C-21); 33,36 (q, C-29); 33,11 (t, C-22); 30,91 (q, C-26); 29,92 (q, C-28); 29,71 (s, C-20); 28,01 (q, C-23); 27,16 (t, C-2); 25,91 (q, C-27); 21,32 (q, C-30); 18,81 (t, C-6); 17,51 (t, C-11); 15,45 (q, C-24); 15,43 (q, C-25); [18]
12 13
30 29
18 19
5 6
9
15 16 1
2
8 10
11
14 17
20 21 22
25
24 23
28
26 27
HO
Taraxerol 3β-hiđroxi taraxeran