1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận tốt nghiệp ngủ thăm một trong những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc dao

50 1,1K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 24,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói tới văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị về vật chất và tinh thần, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn của mỗi

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC s ư PHẠM HÀ NỘI 2

Trang 3

LỜ I CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tới ThS,

GVC, Vũ Ngọc Doanh - người trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình giúp

tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các Thầy, Cô giáo trong khoa Ngữ Văn đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Khóa luận được hoàn thành, song không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tôi rất mong nhận được những đóng góp ý kiến từ phía Thầy, Cô và các bạn đế bài viết của tôi được hoàn thiện hơn

Tỏi xỉn trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015

Tác giả khóa luận

Phạm Thị Mai Anh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong khóa luận này

là kết quả nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng dẫn của Th.s, GVC Vũ

Ngọc Doanh K et quả thu được là hoàn toàn trung thực và không trùng với

kết quả nghiên cứu của những tác giả khác.

Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2015

Tác giả khóa luận

Phạm Thị Mai Anh

Trang 5

D A N H M ỤC V IỂT TẮT

Nxb: Nhà xuất bản

TPHCM: Thành phố Hồ Chí MinhTr: Trang

TP: Thành phố

Trang 6

M ỤC LỤC

MỞ Đ À U 1

1 Lí do chọn đề t à i 1

2 Lịch sử vấn đ ề 3

3 Mục tiêu nghiên c ú n 3

4 Mục đích nghiên c ứ u 4

5 Đối tượng, phạm vi nghiên c ứ u 4

6 Phương pháp nghiên c ứ u 4

7 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chưong 1 KHÁI QUÁT CHUNG VÈ DÂN TỘC DAO Ở VÙNG NÚI PHÍA B Ắ C 5

1.1 Sơ lược về người Dao ở vùng núi phía B ắ c 5

1.1.1 Nguồn gốc 5

1.1.2 Địa bàn cư t r ú 6

1.1.3 Nhà cử a 6

1.1.4 Hoạt động sản x u ấ t 8

1.1.5 Ngôn ngữ và chữ viết 9

1.1.6 Tổ chức xã h ộ i 10

1.2 Khái quát về văn hóa, tín ngưỡng của người D ao 10

1.2.1 Đặc điểm văn h ó a 10

1.2.1.1 Trang phục 10

1.2.1.2 Ấm th ự c 15

1.2.1.3 Văn hóa, lễ hội dân gian 18

1.2.2 Đặc điêm về tín ngưỡng 19

CHƯƠNG 2 GIÁ TRỊ VĂN HÓA ĐẶC SẢC CỦA TỤC “NGỦ THĂM ” 24

Trang 7

2.1 Khái niệm phong tụ c 24

2.2 Thế nào là tục “ngủ thăm” 25

2.3 Tại sao “ngủ thăm” trở thành phong tục độc đáo của người D a o 27

2.4 So sánh tục “ngủ thăm” của dân tộc Dao với một số dân tộc k h ác 30

2.5 Một số giải pháp khắc phục biểu hiện tiêu cực của tục “ngủ thăm” 37

2.5.1 Thực trạng của tục “ngủ thăm” trong cộng đồng người Dao hiện nay 2.5.2 Biến tướng và giải pháp khắc phục biến tướng của tục “ngủ thăm” trong cộng đồng người Dao hiện n a y 37

KÉT L U Ậ N 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

M Ờ Đ Ầ U

1 Lí do chọn đề tài

Văn hoá là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ quá trình lịch sử của dân tộc,

nó làm nên sức sống mãnh liệt giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua bao sóng gió, ghềnh thác tưởng chừng như không thể vượt qua nổi để không ngừng lớn mạnh và phát triển Văn hoá là một sức sống bên trong, văn hoá được tạo ra từ lao động sinh hoạt và phát triển trong cái nôi địa hình sinh thái

và môi trường của bản thân mình Văn hoá thể hiện rõ rệt bản chất sâu xa của con người

Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hoá ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nói tới văn hoá là nói tới toàn bộ những giá trị về vật chất và tinh thần, thể hiện trình độ sống, dân trí, những quan niệm về đạo lý nhân sinh, thẩm mỹ của một dân tộc và dấu ấn của mỗi con người Văn hoá sáng tạo nên sự khác biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác Giá trị của một nền văn hoá được bồi đắp qua nhiều thế kỷ có tĩnh tiếp nối truyền thống như những lớp phù sa ít có tính đột biến trong phát triển Vì văn hoá liên quan đến mọi mặt đời sống của con người nên nó mang một ngoại diên rất rộng, nó là bất cứ một cái gì con người làm ra, đều có chứa thuộc tính văn hoá, đều được nhân hoá Từ “văn hoá” có rất nhiều nghĩa Trong tiếng việt “văn hoá” được dùng theo nghĩa thông dụng đê chỉ học thức trình độ văn hoá, lối sống (nếp sống văn hoá), theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hoá Đông Sơn) Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hoá bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống, lao động

Ó Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống Mồi dân tộc đều

sở hữu nhũng nét văn hóa mang bản sắc riêng như: dân tộc Mông có tục

“cướp vợ”, dân tộc Thái có tục “chọc sàn”, dân tộc Chăm Bà Ni ở Ninh

Trang 9

Thuận thì có lễ trưởng thành cho thiếu nữ, hay đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên lại có lễ “bỏ mả” V à đặc biệt hòa vào dòng chảy của các văn hóa dân tộc anh em, dân tộc Dao có tục “ngủ thăm” độc đáo với những giá trị văn hóa vô cùng đặc sắc góp phần làm cho bức tranh văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đa dạng.

Tục “ngủ thăm” là nét văn hóa phố biến của một số dân tộc như: dân tộc Mường, dân tộc Thái, dân tộc Chơ R o Nhưng với dân tộc Dao tục “ngủ thăm” có nhiều nét văn hóa đặc sắc hơn cả

Cùng với 53 dân tộc anh em, người Dao luôn luôn là một phần của sự thống nhất khối đại đoàn kết dân tộc và góp phần làm phong phú cho nền văn hoá các dân tộc Việt Nam

Trong quá trình tồn tại và phát trien, người Dao có một bản sắc văn hóa riêng và đặc trung Không chỉ có lễ cấp sắc độc đáo, có làn điệu dân ca, màn múa hát thể hiện nếp sống văn hóa, phản ánh về tâm tư, nguyện vọng, quan niệm của người Dao về các sự vật, hiện tượng và tất cả “hơi thở cuộc sống” của họ Mà đồng bào dân tộc Dao còn giữ bên mình nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, mang đậm hồn cốt dân tộc

Tuy nhiên trước sự thay đối của cơ chế thị trường, trước làn sóng đô thị hóa 0 ạt như hiện nay, diện mạo và giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam nói chung, của đồng bào người Dao nói riêng dần thay đổi tạo nên những mặt tiêu cực làm mất đi giá trị, ý nghĩa của những nét văn hóa trong các phong tục đặc sắc, độc đáo Điều đó đã ảnh hưởng đến công cuộc xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó, tôi chọn đề tài

Trang 10

2 Lịch sử vấn đề

Phong tục tập quán là một mảng văn hóa tinh thần không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người dân Việt Nam Chính nhũng giá trị văn hóa cội nguồn của dân tộc đã khắng định bản sắc và sự trường tồn của văn hóa Việt Tục “ngủ thăm” là một trong những nét văn hóa độc đáo đó Đây là một đề tài thu hút được nhiều tác giả quan tâm tìm hiếu và có nhiều công trình nghiên cún về văn hóa nói chung và văn hóa người Dao nói riêng như:

Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc vẫn hóa Việt Nam , Nxb thành phố Hồ

Chí Minh

GS TS Mai Ngọc Chừ, Khái quát về văn hóa phương Đông

Những đặc điêm cơ bản của văn hóa người Dao

Và còn nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhưng nghiên

cứu vê “ngủ thăm ” - một trong những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Dao

thì chưa có hoặc nếu có thì cũng chỉ đề cập đến khía cạnh nhỏ

Tuy nhiên công trình nghiên cún của các tác giả đi trước là cơ sở, là nền tảng đế cho người viết và thế hệ mai sau học hỏi, tự hào với những giá trị văn hóa độc đáo

3 Mục tiêu nghiên cứu

Phong tục là thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo Cùng với các phong tục, tập quán khác nhau, tục “ngủ thăm” góp phần làm cho văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa người Dao nói riêng trở nên đặc sắc Nên mục đích khi làm đề tài khóa luận này là tác giả muốn hiểu được thế nào là tục “ngủ thăm” Qua đó biết được nhũng giá trị đặc sắc của phong tục này Để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm bảo tồn giá trị văn hóa ý nghĩa, đồng thời khắc phục những biến tướng của tục “ngủ thăm” trong xã hội hiện nay

Trang 11

4 Mục đích nghiên cửu

Giúp bạn đọc có thế hiểu biết được về dân tộc Dao trên nhiều phương diện Đồng thời hiểu về nét đặc sắc của tục “ngủ thăm” Ý nghĩa tốt đẹp của tục “ngủ thăm” Khắng định được những giá trị của tục “ngủ thăm”

Từ đó giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về dân tộc Dao và tục “ngủ thăm” Qua đó khắng định sức sống lâu bền của giá trị văn hóa truyền thống

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

5.1 Đ ối tượng nghiên cứu

Tục “ngủ thăm” của đồng bào dân tộc Dao

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Tục “ngủ thăm” của dân tộc Dao ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp tra cứu

Phương pháp tổng hợp

Phương pháp so sánh

Phương pháp truy vấn thông tin qua Internet

7 Bố cục cùa khóa luận

Ngoài phần mở đầu, nội dung, kết luận, thư mục tài liệu tham khảo, phụ lục, khóa luận gồm 2 chương:

Chương 1: Khái quát chung

Chương 2: Tục “ngủ thăm” trong đời sống văn hóa của dân tộc Dao

Trang 12

đã phải trải qua cuộc hành trình muôn phần gian khô vượt biển, vượt núi, vượt sông Điều này phản ánh rõ trong nhiều phong tục, nghi lễ của người Dao và được ghi lại rất tỉ mỉ trong sách cố Người Dao di cư sang Việt Nam theo nhiều đợt từ đảo Hải Nam, qua Phòng Thành, tới Bắc Giang Tới đây,

họ di chuyển theo các hướng khác nhau:

- Theo sông Lô tới Hà Giang hình thành nên người Dao Áo Dài

- Theo sông Chảy tới Lào Cai, hậu duệ ngày nay gọi là Dao Tuyển

- Nhóm ở lại vùng Nga Hoàng thuộc Yên Lập, Yên Phúc một thời gian, sau đó di chuyên tới Văn Chấn (Yên Bái), rồi Văn Bàn (Lào Cai) là tồ tiên người Dao Quần Chẹt ngày nay

Dân số khoảng một triệu người (năm 2009)

Người Dao cũng là một trong số 56 dân tộc thiếu số ở Trung Quốc (tiếng Hán: Pinyin: Yáo zú, nghĩa là Dao tộc) với dân số là 2.637.000

người Dân tộc này cũng là mộl dân lộc thiếu số ử Lào, Myanma, Thái Lan

Trang 13

Người Dao (các tên gọi khác: Mán, Đông, Trại, Dìu Miền, Kim Miền,

Lù Gang, Làn Tẻn, Đại Bản, Tiểu Bản, Cốc Ngáng, Cốc Mùn, Sơn Đ ầu Người Dao còn chia ra thành nhiều nhóm khác nhau, với những nét riêng về phong tục, tập quán mà biếu hiện rõ rệt nhất là trên trang phục

1.1.2 Địa bàn cư trú

Dân tộc Dao cư trú chủ yếu ở biên giới Việt-Trung, Việt-Lào và ở một số tỉnh Trung du và ven biển Bắc Bộ Việt Nam Cụ thể, đa phần tại các tỉnh như: Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Hòa Bình,v.v

Theo “Tống điều tra dân số và nhà ở” năm 2009, người Dao cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (109.708 người, chiếm 15,1% dân số toàn tỉnh và 14,6% tổng số người Dao tại Việt Nam), Tuyên Quang (90.618 người, chiếm 12,5% dân số toàn tỉnh và 12,1% tống số người Dao tại Việt Nam), Lào Cai (88.379 người, chiếm 14,4% dân số toàn tỉnh và 11,8% tổng

số người Dao tại Việt Nam),Yên Bái (83.888 người, chiếm 11,3% dân số toàn tỉnh và 11,2% tổng số người Dao tại Việt Nam), Quảng Ninh (59.156 người, chiếm 5,2% dân số toàn tỉnh), Bắc Kạn (51.801 người, chiếm 17,6% dân số toàn tỉnh), Cao Bằng (51.124 người, chiếm 10,1% dân số toàn tỉnh), Lai Châu (48.745 người, chiếm 13,2% dân số toàn tỉnh), Lạng Son (25.666 người), Thái Nguyên (25.360 người)

1.1.3 Nhà cửa

Ớ Việt Nam, người Dao về cơ bản có ba loại hình nhà ở chính : nhà đất, nhà sàn (người Dao Quần Trắng ở Yên Bái) và nhà nửa sàn nửa đất (người Dao Đỏ ở Tả Phin, Sa Pa, Lào Cai)

Người Dao không có thợ làm nhà chuyên nghiệp mà mọi người trong thôn đều có thể làm được, kể cả phụ nữ Người Dao có tập quán tương trợ lẫn nhau từ lâu đời Mỗi khi trong thôn có người làm nhà thì mọi người tới làm

Trang 14

giúp hoặc góp thêm nguyên vật liệu Vì vậy, công việc được tiến hành rất nhanh chóng.

Loại hình nhà đất

Nhà đất là loại hình nhà ở đã có từ rất lâu đời và phổ biến trong cuộc sống của người Dao, nhà đất thường có ba hoặc năm gian đứng (không có chái) Người ta cho rằng: Có ở nhà nền đất thì mới có chỗ đê cúng Bàn vương

Bộ sườn của nhà nền đất được cấu tạo khá đơn giản Thông thường, mỗi

vì kèo chỉ có hai hoặc ba cột, một quá giang và một bộ kèo đơn Với người Dao, nhà nền đất luôn mang tính chất bền vững, thích hợp với điều kiện sản xuất tương đối ồn định ở miền núi ril'ng

Loại hình nhà sàn

Nhà sàn phô biến ở những người Dao đã làm m ộng nước và sống gần người Tày, Nùng, Việt hoặc ở nhũng thôn người Dao chuyên làm rẫy như: Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Slán Chỉ Nhà sàn được cất lên trên các gò đất thấp, dưới chân núi trong các thung lũng gần ruộng nước

Tuy nhiên, dù thế nào thì nhà sàn của người Dao vẫn mang những nét tiêu biểu riêng Nhà sàn có sự thông gió trên mái và dưới sàn đế tránh ấm Mái nhà độc đáo theo phong cách của người Dao với những tấm xà lớn được trang trí và lọp bằng lá cọ đảm bảo sự mát mẻ cho mùa hè nhưng lại ấm áp vào mùa đông Mái nhà được xử lý một cách tự nhiên bằng khói từ ô sưởi vuông trong nhà, trong cách dựng nhà của người Dao có thể thấy sinh thái học hình thành

từ xa xưa trước cả trào lun về sinh thái

Loại hình nhà nửa sàn-nửa đất

Nhà nửa sàn-nửa đất tập trung tại các làng người Dao sống bằng nương rẫy du canh, cư trú trên đất dốc, vì thế nhũng ngôi nhà này chỉ là phương tiện

cư trú tạm thời

Để làm nhà nửa sàn-nửa đất, người ta không phải bỏ ra nhiều công sức

đê san nền Có thế nói, nhà nửa sàn-nửa đất không chỉ là một bước phát triến

Trang 15

của loại hình nhà nền đất mà là một biến dạng của nhà nền đất để thích ứng với điều kiện sản xuất du canh du cư trên nền đất dốc.

Mặc dù có ba loại hình nhà ở khác nhau nhưng vẫn có thê nhận ra những nét chung trong kiến trúc nhà ở người Dao Đó là vị trí và cách bố trí bên trong của một “gian đặc biệt” trong ngôi nhà Gian này thường có vách chắn theo chiều dọc của nhà và có một đoạn vách ngăn giữa nó với gian bên,

ở góc nhỏ này có bàn thờ, sau đoạn vách ngăn dọc là một buồng nhỉ thường đế

rư ợ u hay thịt ướp chua Cách bố trí của gian nhà này là đặc trưng nhà ở của người Dao

Muốn làm nhà phải xem tuối những người trong gia đình, nhất là tuối chủ gia đình Nghi lễ chọn đất được coi là quan trọng Buổi tối, người ta đào một hố to bằng miệng bát, xếp một số hạt gạo tượng trưng cho người, trâu bò, tiền bạc, thóc lúa, tài sản rồi úp bát lên Dựa vào mộng báo đêm đó mà biết điềm xấu hay tốt Sáng hôm sau ra xem hỗ, các hạt gạo vẫn giữa nguyên vị trí

Trang 16

các loại rau màu quan trọng như bầu, bí, khoai Họ chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà

ở vùng lưng chừng núi và vùng cao còn nuôi ngựa, dê

Nghề trồng bông, dệt vải phố biến ở các nhóm Dao Họ ưa dùng vảinhuộm chàm Hầu hết các xóm đều có lò rèn để sửa chữa nông cụ Nhiều nơi còn làm súng hoả mai, súng kíp, đúc những hạt đạn bằng gang Nghề thợ bạc

là nghề gia truyền, chủ yếu làm những đồ trang sức như vòng cồ, vòng chân, vòng tay, vòng tai, nhẫn, dây bạc, hộp đựng trầu

Nhóm Dao Đỏ và Dao Tiền có nghề làm giấy bản Giấy bản dùng đểchép sách cúng, sách truyện, sách hát hay dùng cho các lễ cúng như viết sớ, tiền ma Nhiều nơi có nghề ép dầu thắp sáng hay dầu ăn, nghề làm đường mật

1.1.5 Ngôn ngữ và chữ viết

Ngôn ngữ của người Dao thuộc về người H ’Mông - Dao là ngôn ngữ gia đình Văn bản của họ được dựa trên ký tự Trung Quốc được điều chỉnh đế thích ứng với chính tả của mình

Có một số nhóm khác biệt trong phạm vi dân tộc Dao, và các nhóm này cũng nói bằng một vài ngôn ngừ từ các ngữ hệ khác nhau, như:

- Tiếng Kim Môn (còn gọi là tiếng Dao đồng bằng, tiếng Làn Tẻn, tiếng Lam Điện), trên 300.000 người Dao

- Phương ngữ Phiêu Man, 20.000 người

- Phương ngữ Tảo Mần, 60.000 người

- Tiếng Miền Phiêu-Giao, 43.000 người

Tiếng H ’Mông (hay tiếng Miêu)

Trang 17

- Tiếng Bố Nỗ, 258.000 người

- Phương ngữ Ngô Nại, 18.442 người

- Phương ngữ Ưu Nặc, 9.716 người

- Phương ngữ Huỳnh Nại, 1.078 người

Tiếng Lạp Già (ÍẺĩj]PfỒ/ỈÌ®PÌâ, 12.000 người

Tiếng Trung: Khoảng 500.000 người Dao nói các phương ngữ của tiếng Trung

Ngưòi Dao có chữ viết gốc Hán được Dao hóa (chữ Nôm Dao).

1.1.6 Tổ chức xã hội

Những người đàn ông Dao đóng một vai trò thống trị trong gia đình,

họ là người chia sẻ với cộng đồng và quản lý về kinh tế Họ cũng đóng một vai trò quan trọng trong các nghi lễ như hôn nhân, đám tang, và xây dựng nhà mới Người Dao có rất nhiều cái tên về gia đình khác nhau Mỗi dòng họ có hệ thống tên riêng của mình đế phân biệt giữa người của các thế hệ khác nhau

Trong thôn xóm tồn tại chủ yếu các quan hệ xóm giềng và quan hệ dòng họ Người Dao có nhiều họ, phồ biến nhất là các họ Bàn, Đặng, Triệu.Các dòng họ, chi họ thường có gia phả riêng và có hệ thống tên đệm đế phân biệt giữa nhũng người thuộc các thế hệ khác nhau

1.2 Khái quát về văn hóa, tín ngưỡng của người Dao

1.2.1 Đặc điểm văn hóa

1.2.1.1 Trang phục

Mỗi dân tộc đều có một trang phục mang những nét đặc sắc riêng của mình Nhìn vào trang phục ta có thế biết được đó là dân tộc nào Người Dao cũng vậy, trang phục của người Dao không chỉ biếu hiện tính cần cù, nhẫn nại

Trang 18

và bàn tay khéo léo, trí tưởng tượng phong phú cùng với con mắt thấm mỹ

Mà còn về nghệ thuật rất tinh tế trong việc sử dụng màu sắc, bố cục cân đối hài hòa, vui tươi, trong sáng Điều này góp phần tô điếm thêm cho bản sắc riêng vốn có của dân tộc Dao Trang phục của họ như đóa hoa ngời sắc giữa núi rừng mà không lẫn với bất cứ dân tộc nào

Dựa vào đặc thù quần của nữ giới được may bó sát vào đùi, bắp chân vấn xà cạp thì ta biết được đó là Dao Quần Chẹt Trang phục nữ Dao Quần Trắng có đặc điểm nổi bật là yếm rất to che kín cả ngực và bụng, tên gọi Dao Quần Trắng bắt nguồn từ phong tục trong lễ cưới phải mặc quần trắng Người Dao Làn Tuyển mặc áo dài, đội mũ nhỏ như cái đấu gỗ

Và đặc biệt hơn trong các nhóm Dao thì trang phục của người Dao

Đỏ thường được làm cầu kỳ và sử dụng nhiều màu sắc hơn cả

Với người phụ nữ Dao Đỏ, chuyện ăn mặc rất được coi trọng, trang phục của họ thể hiện sự sáng tạo, tinh tế trên từng đường kim, mũi chỉ

Người Dao thường trồng bông trên núi, họ tranh thủ những lúc nông nhàn, không phải lên nương, rẫy để bật bông, ép hạt, se sợi, dệt vải và may trang phục Thường vào tháng Một, tháng Hai, khi những cánh đồng ít sương muối, họ tranh thủ gieo hạt, để đến ngày lấy bông, họ cho vào nồi đun qua nước sôi rồi ngâm vào nước lạnh, sau đó mới kéo thành sợi, dệt vải

Theo quan niệm dân gian của người Dao Đỏ, bộ trang phục hay gọi là

“Luy hâu” bao gồm: Khăn, mũ, áo, quần, thắt lưng , xà cạp, giầy dép và các

đồ trang sức khác đi kèm Đe tạo thành bộ y phục đẹp, cầu kỳ phải có đúng năm màu cơ bản phối vào nhau, nhưng chủ yếu là màu đỏ để làm phụ tiết Họ tìm thấy trong thiên nhiên như: c ỏ , cây, hoa lá, các loài động vật Để tạo nên những họa tiết cho bộ trang phục thêm đẹp và rực rỡ

• Lu y dao, hay áo khoác ngoài

Không có thắt lưng và dài đến mắt cá chân Đuôi tà áo sau là phần được trang trí nhiều nhất Ngoài ra phần được trang trí là phần tay áo và vạt

Trang 19

của tà áo phía trước Trên lưng là một họa tiết thêu hình chữ nhật gọi là luy tan Chiếc áo là điểm nhấn và là phần quan trọng nhất của bộ trang phục Người Dao Đỏ thường dùng vải lanh nhuộm chàm để may trang phục Công đoạn nhuộm chàm rất cầu kỳ, đòi hỏi sự kiên trì và kinh nghiệm: Vải sau khi dệt xong sẽ ngâm trong nước lá chàm khoảng ba mươi phút rồi đem ra phơi khô, sau đó lại tiếp tục đưa vào nhuộm nước lá chàm Công đoạn này kéo dài một tháng mới được một tấm vải ưng ý, bền và không bị phai màu Chiếc áo dài có màu chàm hoặc màu đen thường được may dài đến gần đầu gối, khi mặc, vạt áo phải đè chéo lên vạt áo trái, c ố áo được thiết kế theo hình chữ V

có thêu hoa văn được nẹp liền với ngực, thêu kín các họa tiết trang trí bằng chỉ màu đầu ống tay áo được trang trí các họa tiết hình sôm, hình dấu chân hổ, hình răng cưa, hình quả trám, hình thập Nẹp ngực mỗi bên đính bảy quả bông len đỏ và các tua len được đính ở nơi xẻ tà

Trong nghệ thuật thêu hoa văn, nồi bật trên màu chàm là nền hoa văn được thêu bằng chỉ ngũ sắc Người phụ nữ Dao Đỏ có cách thêu rất độc đáo, không theo mẫu vẽ phác thảo trước mà thêu theo trí tưởng tượng và trí nhớ của mình

Hoa văn được thêu trên áo là những hoa văn sặc sỡ lấy ý tưởng từ núi rừng thiên nhiên mang đầy đủ yếu tố tạo hình Các họa tiết trang trí trên áo là những hình cỏ cây, hoa lá, là những gì mà người Dao cảm nhận được trong cách sinh hoạt hàng ngày Cùng ý tưởng đó nhưng trên mỗi bộ trang phục, hoa văn không giống nhau bởi mỗi người có một cách làm và gửi vào tác phấm của mình những nỗi niềm khác nhau

Mô típ thêu là các hình ảnh quen thuộc với cuộc sống như: Rừng núi, cây cối, hoa lá Công đoạn thêu trang trí hoa văn cho trang phục đòi hỏi

sự khéo léo, tỉ mỉ, kiên trì "Để hoàn thiện một bộ trang phục của người phụ

nữ Dao Đỏ phải mất ít nhất ba tháng, từ khâu dệt vải, nhuộm chàm đến thêu hoa văn trang trí"

Trang 20

Các họa tiết ở tay thường cửa tay áo, nẹp xung quanh tà áo trước và sau đều được thêu bằng chỉ màu đỏ và trắng Riêng ở gấu vạt trước và sau người ta thêu hai nẹp tách rời nhau, trông xa như hai áo mặc lồng nhau, áo ngoài ngắn hơn áo trong.

Sau lưng áo của phụ nữ Dao cũng có phần thêu hoa văn Ö phần thêu này, người Dao cho rằng sẽ làm chiếc áo thêm đẹp, thêm độc đáo và đế dễ phân biệt dân tộc Dao với các dân tộc khác

Áo người Dao có hai tà và phần cầu kỳ nhất để làm nên sự độc đáo trong chiếc áo của phụ nữ Dao chính là những nét hoa văn được thêu ở phần đuôi áo Người Dao cho rằng: Nhìn áo để biết người phụ nữ khéo hay không, nhìn áo để biết người phụ nữ có đảm đang hay không chính là nhìn vào cách thêu hoa văn ở phần đuôi áo mà người phụ nữ mặc

• Chap hoong, hay cái yếm

Họ cũng biết làm duyên bằng chiếc áo nhỏ bên trong của chiếc áo dài, phụ nữ Dao Đỏ còn mặc áo con, giống như cái yếm, mặc bên trong che kín cả ngực và bụng, cổ tròn mở sau gáy, họa tiết tập trung ở phía ngực, cổ và lưng

áo Được mặc trong áo khoác ngoài, yếm được trang trí Thường họ thêu hoặc đính cúc hoa bạc theo chiều dọc ở giữa áo, mặc bên trong chiếc áo dài Các họa tiết thường được các hoa văn được kết hợp rất hài hòa, đẹp mắt, và có những đường thêu bằng chỉ trắng và vàng

• La sin, hay thắt lưng

Giữa eo của thân áo được thắt dây lưng, dệt bằng vải màu đỏ, màu xanh hoặc dây xà tích hay còn văn trang trí trên dây lưng tập trung ở hai đầu gồm các họa tiết hình dấu chân hổ, hình cây thông, hình người mặc váy Khi thắt dây lưng phải cuốn từ ba đến bốn vòng và buộc chặt ở phía sau, giữ cho áo khoác luôn được buộc kín

• La peng, hay quần dài

Trang 21

Chiếc quần dài độc đáo bởi được dệt bằng vải thô, nhuộm màu chàm hoặc bằng vải đen và thêu hoa văn Và đế thấy độ tinh xảo, kỹ thuật thêu cầu

kỳ phải kể đến chiếc quần

Phía trên quần màu đen tuyền, không có hoa văn, nhưng ở phía dưới, họa tiết được thêu rất tỉ mỉ Những hoa văn trang trí ở hai ống quần thường là hình vuông, hình chữ nhật màu đỏ, vàng, trắng hay hình cây thông, hình quả trám Tạo nên một sự cân đối hài hòa cho toàn bộ trang phục

Khi mặc, quần phần trên màu đen không có hoa văn, quấn bằng dây, thắt lưng, phần dưới của hai ống quần với các hoa văn, họa tiết đã tạo nên sự cân đối hài hòa cho toàn bộ y phục

• Khăn trùm đầu

Khăn trùm đầu là phụ kiện quan trọng để nhận biết người phụ nữ Dao

Bố mẹ có con gái thường cho cô đội khăn lúc cô mười ba tuổi, đủ tuổi để đi chợ phiên và bắt đầu tìm hiếu bạn khác giới Khăn trùm được trang trí với các đồng xu và chuông bạc Một cái khăn có thể có hai mươi đến hai mươi lăm lớp vải màu đỏ hình chữ nhật Nó được xếp lại, có các nếp gấp và thẳt thành cho tròn trịa, hình dạng tròn Người phụ nữ cạo hai bên mai tóc của mình để đảm bảo tóc không lộ ra bên dưới khăn, mặc như vậy không chỉ để làm đẹp, mà còn

đế chống lại những cơn gió lạnh và sương mù của Sapa

Người ta dễ dàng phân biệt được phụ nữ Dao Đỏ với các phụ nữ Dao khác qua chiếc khăn đỏ đội đầu sặc sỡ Khăn đội đầu được người Dao Đỏ trang trí hình vết chân hổ, cây vạn hoa, hình cách đoạn Chiếc khăn đội đầu được người Dao Đỏ trang trí hình vết hố, cây vạn hoa, hình cách đoạn Hoa văn ở trên khăn từ ngoài vào có năm lóp, năm lóp này được bao khuôn ổ vuông ở trung tâm "điểm" của khăn Khi đội lên đầu, các hoa văn họa tiết của năm lớp hoa văn sẽ phô ra ngoài, làm tăng thêm vẻ đẹp của chiếc khăn Tua len làm bằng sợi len có tua rua bằng sợi tơ đỏ, ở lóp ngoài với nhiều màu, không chỉ có

Trang 22

tác dụng thẩm mỹ mà còn giúp để khi vấn giữ cho khăn chặt hơn Các họa tiết trên tua len gồm có hình sôm, hình gấp khúc, hình cây thông.

• Chiếc xà cạp

Và cuối cùng là chiếc xà cạp Hoa văn chủ yếu là hình răng cưa, hình cây thông, hình quả trám vuông chữ “vạn” viền có các tua len màu đỏ, khi đã mặc áo, quần, thắt lưng thì cuốn tạp dề ở ngoài cùng Thắt tạp dề không những

đế che phần vải không thêu hoa văn của áo dài mà còn tăng thêm vẻ đẹp sang trọng của bộ lễ phục

Trang phục nam giới

Nam giới Dao Đỏ mặc hai áo: Ngắn và dài Hoa văn trên áo ngắn tập trung chủ yếu ở phần ngực, cô và lưng áo để khi mặc áo dài trùm bên ngoài, nhũng nơi đó không bị che lấp, các họa tiết hoa văn tinh tế sẽ được phô ra ngoài Phần cánh tay được thêu và luy tan ở sau lưng Đàn ông thường đội khăn choàng đầu được thêu trang trí và đó cũng là phụ kiện không thế thiếu trong dịp lễ tết

Mũ trẻ em của người Dao

Những bé trai và gái người Dao đội những cái mũ riêng biệt được thêu trang trí Bé trai thì đội mũ được trang trí với các khuy rời bằng bạc và đồng xu, còn bé gái thì đội mũ được trang trí với các họa tiết thêu

1.2.1.2 Ẩm thực

Người Dao thường ăn hai bữa chính trong ngày, bữa trưa và bữa tối Chỉ những ngày mùa bận rộn mới ăn thêm bữa sáng Người Dao ăn cơm là chính, ở một số nơi lại ăn ngô nhiều hon ăn cơm hoặc ăn cháo, c ố i xay lúa thường dùng là loại cối gỗ đóng dăm tre c ố i giã có nhiều loại như cối gỗ hình trụ, cối máng giã bằng chày tay, cối đạp chân, cối giã bằng sức nước Họ thích

ăn thịt luộc, các món thịt sấy khô, ướp chua, canh măng chua Khi ăn xong, người ra kiêng đế đũa ngang miệng bát vì đó là dấu hiệu trong nhà có người chết

Trang 23

Giống như một số tộc người anh em, người Dao cũng thường xuyên

đồ xôi đế ăn trong những ngày Tet và lễ như: lễ vào nhà mới, lễ cưới hoặc trong nhũng ngày gia đình nhờ anh em giúp cây mộng, gieo trồng ngô lúa, làm chuồng trại gia súc Đặc biệt, trong Tet Thanh minh nhiều nhà còn đồ xôi nhiều màu

Ngoài các nguồn lương thực chính là gạo và ngô, người Dao cũng có nhiều món chế biến từ thịt và cá rất đa dạng

Đối với các món rau, trong các món thức ăn hàng ngày, món rau nấu canh mặn hoặc nhạt là món chính Bất kể loại rau nào cũng được người Dao đem nấu canh, chẳng hạn như: Rau cải, cà chua, bắp cải, đu đủ, su su, rau bí, rau rền, măng, mướp, bầu, bí, khoai sọ Các loại rau như: Mùi khai, ngọn khoai lang, lá non của cây sắn, rau cải làn, rau đớn thường được xào, ít dùng nấu canh Tuy gọi là rau xào nhưng vẫn phải cho một ít nước đê đun cho rau chín, tránh cho rau bị cháy Hiện nay, do ảnh hưởng văn hoá, người Dao cũng

ưa thích món rau luộc Rất nhiều loại rau như: Rau cải, bắp cải, su hào, rau rền được họ đem luộc ăn với nước chấm

Người Dao có tập quán uống rượu từ lâu đời Tuy vậy, chỉ có đàn ông Dao là hay uống rượu, nhất là khi nhà có khách Còn nữ giới chỉ uống rượu thuốc đế chữa bệnh hoặc trong dịp lễ Tet cũng như lúc có bạn bè

Nước uống thường ngày của người Dao là nước lã đun sôi với một loại rễ, lá cây rừng hoặc hạt vối, vừa mát vừa bố Hiện nay, nhiều gia đình người Dao đã tự trồng chè nên nước chè xanh cũng bắt đầu trở thành đồ uống phổ biến của họ

Theo tập quán, cứ đến bữa ăn chính, tất cả các thành viên trong gia đình đều phải ngồi vào mâm cùng ăn uống, về vị trí ngồi, hàng phía trên là nơi ngồi của đàn ông, còn hàng phía dưới hoặc tiếp giáp bếp là chỗ ngồi của phụ nữ và trẻ con Việc chia ra thành nhiều mâm để ăn uống thường chỉ xảy ra khi trong nhà có khách hoặc các thành viên quá đông, không đủ chỗ ngồi ăn

Trang 24

cùng mâm Tuy vậy, hiện nay cũng có một số gia đình thích chia ra thành hai mâm đế ăn uống cho thuận tiện Khi đó, mâm trong gian bếp có bà, mẹ cùng con dâu và các cháu nhỏ, còn mâm trong gian khách có ông, bố cùng các con trai và các cháu trai lớn tuôi.

Trong ăn uống của người Dao, khi mọi người ngồi vào mâm phải chờ cho đủ cả gia đình mới được cầm bát đũa Người Dao có thói quen trong bữa

ăn mời, nhường nhịn và gắp thức ăn cho nhau Bố mẹ gắp cho ông bà và con cái, ông bà gắp cho các cháu nhỏ Khi thịt gà dù to hay bé đều đành bộ gan cho ông bà, đùi chân cho những đứa trẻ bé nhất, còn đầu cánh đế cho những đứa lớn hơn

Trong bữa ăn, nếu có khách chủ nhà cũng không quên mời và luôn tay gắp miếng ăn ngon cho khách Đúng theo tập quán trước kia, người Dao vừa

ăn cơm vừa uống rượu, khách thường nhấc chén uống rượu mỗi khi chủ nhà nâng chén mời nhưng không chạm chén Do vậy, khách cần dựa theo khả năng của mình mà uống nhiều hay ít mỗi khi nhấc chén uống rượu Khi uống cạn chén khách cứ tự nhiên để cho chủ nhà rót rượu xuống Neu cảm thấy không muốn uống nữa thì lấy tay đẩy nhẹ miệng chai lên mỗi khi thấy chủ nhà định rót rượu xuống chén của mình Khi ăn cơm xong hoặc đang ăn không được đế đũa lên miệng bắt, bởi vì họ quan niệm rằng chỉ trong nhũng ngày ma chay hoặc xới cơm cúng vong hồn người chết mới được để đũa như vậy

Đối với các nghi lễ của người Dao như đám cưới, vào nhà mới, đám

ma, có một số món ăn thường được chế biến theo chuân mực đã được tập quán cộng đồng quy định Chẳng hạn, trong đám cưới thường phải có các món như: xôi, thịt lợn luộc, thịt gà thiến, xương lợn nấu với một số món như măng, đậu tương hầm Nhìn chung, nếu đám cưới to thì có khá nhiều món và được chế biến như trong những ngày Tet Nguyên đán Trong lễ cấp sắc, họ thường ăn thịt lợn, thịt gà cùng với một số món như cá suối và thịt sóc để cúng lễ Còn trong đám ma có thịt lợn luộc, thịt lọn xào, rau cải nấu, nhất thiết phải có món

Trang 25

đu đủ nấu hoặc bi chuối rừng nấu với xương lọn v ề cách sắp xếp số lượng người ngồi ăn trong mâm, vị trí ngồi, ngôi thứ, vị thế trong dòng họ, chỗ ngồi theo tuối tác và địa vị của khách Thì tuỳ theo sự quy định của tùng loại nghi

Người Dao rất hay làm bánh, vào những dịp lễ tết, cũng như ngày thường Bánh của họ có rất nhiều loại, cách làm cũng sáng tạo, phong phú.1.2.1.3 Văn hóa, lễ hội dân gian

Người Dao có vốn văn nghệ dân gian rất phong phú, nhiều truyện

cổ, bài hát, thơ ca Với hai mươi ba truyện thơ như: "Hàn Bằng”, "Đàm Thanh”, "Bát Nương", "Lâu Cảnh", "Trạng Nghèo", "Đô Nương truyện",

"Đặng Nguyên Huyện truyện", "Bá Giai truyện", "Thần sắt ca” Đặc biệt truyện “Quả bầu” với nạn hồng thuỷ Sự tích Bàn Vương rất phô biến trong người Dao.Trong số đó, truyện thơ kê về hành trình tìm đất vất vả của người Dao chiếm số lượng nhiều hơn cả Bên cạnh đó, người Dao còn có kho tàng tri thức dân gian vô cùng phong phú, đặc biệt là y học cố truyền

Mỗi năm người Dao cũng có những lễ hội đặc biệt như: “Hội Tet, nhảy múa” tố chức vào ngày mồng một và mồng hai tháng Giêng; “Hát hội giao duyên” vào ngày mồng mười tháng Giêng ở bản Tả Phin, cách thị trấn Sa

Pa khoảng mười hai cây số Bản này nối tiếng với các loại thồ cẩm đủ màu sắc

và kiểu dáng do bàn tay khéo léo của phụ nữ H ’Mông hoặc phụ nữ Dao tạo nên Đặc biệt, họ có bài thuốc tam bằng lá cây rừng của tồ tiên người Dao Đỏ truyền lại đến ngày nay, rất tốt cho du khách đi đường xa mệt mỏi

Âm nhạc, múa là một thành tố văn hóa, một giá trị sáng tạo văn hóa trong đời sống tinh thần của người Dao Có thể nói nghệ thuật ca múa của người Dao mang tính giáo dục, sự kế thừa nền văn hóa truyền thống, ý thức nguồn gốc cộng đồng cao Cùng với thời gian nghệ thuật ca muá của họ đã, đang và sẽ tồn tại mãi với một niềm tự hào mà không phải bất cứ một dân tộc nào cũng có được

Ngày đăng: 14/10/2015, 09:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. N g u y ễ n Đ ìn h K h o a (1 9 9 8 ), C ộ i n g u ồ n lịch s ử n g ư ờ i D a o Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ộ i n g u ồ n lịch s ử n g ư ờ i D a o
Tác giả: N g u y ễ n Đ ìn h K h o a
Năm: 1998
2. T rầ n N g ọ c T h ê m , (1 9 9 9 ), C ơ s ở vẫn h ó a Việt N a m , N x b G iá o d ụ c Sách, tạp chí
Tiêu đề: C ơ s ở vẫn h ó a Việt N a m
3. V ũ T h ế B ìn h (2 0 0 9 ), N o n n ư ớ c V iệt N a m , N x b V ă n h ó a th ô n g tin 4. T rầ n N g ọ c T h ê m , (1 9 9 6 ), Tìm h ỉêu bản sắ c văn hóa V iệt N a m ,N x b T P H C M Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
Năm: 2009
5. H o à n g Q u ố c H ải (2 0 0 1 ), Văn ho á p h o n g tụ c , N x b V ă n h o á th ô n g tin , H à N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn ho á p h o n g tụ c
6. P h a n K ế B ín h (1 9 9 5 ), V iệt N a m p h o n g tụ c , N x b T h à n h p h ố H ồ C h í M in h Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: P h a n K ế B ín h
Nhà XB: N x b T h à n h p h ố H ồ C h í M in h
Năm: 1995
7. h ttp ://w w w .v a n h o a v ie t.in fo /p h o n g tu c d a n th ie u s o b a c .h tm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w