1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC TRƯNG của CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC QUA NHÂN vật CHÍ PHÈO của NAM CAO

21 2,6K 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 144 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những đóng góp mang tầm khái quát thời đại của nhà văn nàykhông thể không nhắc đến việc xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩmcùng tên là đại diện tiêu biểu cho nỗi kh

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HẢI DƯƠNG

TRƯỜNG THPT CHUYÊN NGUYỄN TRÃI

CHUYÊN ĐỀ

ĐẶC TRƯNG CỦA CHỦ NGHĨA HIỆN THỰC QUA NHÂN VẬT CHÍ

PHÈO CỦA NAM CAO

Người thực hiện: Nguyễn Thị Hà

Hải Dương, 8/2014

Trang 2

MỤC LỤC

I.PHẦN MỞ ĐẦU……….3

II.PHẦN NỘI DUNG……….5

1.Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực và đặc trưng cơ bản………5

1.1 Khái niệm……… 5

1.2.Thời điểm ra đời……….6

1.3.Đặc trưng điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực……….7

2.Nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên cuả Nam Cao 9

2.1 ”Chí Phèo” với các tác phẩm cùng giai đoạn 9

2.2.Chí Phèo – điển hình cho nỗi khổ về vật chất và nỗi đau về tinh thần của người nông dân 10

2.3.Chí Phèo- sự sáng tạo độc đáo của Nam Cao……… 12

2.4 Mối quan hệ giữa nhân vật và hoàn cảnh 17

3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo của Nam Cao 18

3.1.Kết cấu cốt truyện 18

3.2.Tổ chức điểm nhìn trần thuật 19

3.3.Ngôn ngữ……… 19

III.KẾT LUẬN………20

TÀI LIỆU THAM KHẢO………21

Trang 3

I.PHẦN MỞ ĐẦU

Xuất hiện vào những năm 30 của thế kỉ XX khuynh hướng hiện thực phê phán ởViệt Nam đã góp thêm tiếng nói tích cực vào sự nhận thức với tinh thần phân tích phêphán các mối quan hệ thối nát trong xã hội đương thời, nhen nhóm thái độ bất bình vớithực tại, tỏ lòng thương cảm với những số phận khốn khổ Trải qua bề dày thời giannhững tác phẩm của thời kì văn học hiện thực phê phán ấy đến nay vẫn nguyên giá trị vàluôn có sức ám ảnh với tương lai

Khi văn đàn văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đã có Ngô Tất Tố, NguyễnCông Hoan, Nguyên Hồng…là những vì sao chói lọi, nổi bật và tiêu biểu cho bầu trờivăn học thì Nam Cao xuất hiện Nhà văn trẻ tuổi ấy đến sau biết bao cây bút nổi tiếng màkhông bị chìm lấp đi, trở thành đại diện tiêu biểu xuất sắc nhất của giai đoạn cuối 1930-

1945 Sở dĩ đạt được vị trí trang trọng như thế Nam Cao đã viết văn với ý thức trọn vẹn

và thấm thía thiên chức của nghệ thuật như Nguyễn Minh Châu từng nhận định rằng

“Nhà văn tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho nhữngngười cùng đường, tuyệt lộ bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường bênh vựccho những con người không còn được ai bênh vực” Đọc những trang văn của Nam Caomỗi chúng ta đều “giật mình” tự vấn lương tâm, sám hối để hoàn thiện nhân cách làmmột CON NGƯỜI Trong những đóng góp mang tầm khái quát thời đại của nhà văn nàykhông thể không nhắc đến việc xây dựng nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩmcùng tên là đại diện tiêu biểu cho nỗi khổ về vật chất và nỗi đau về tinh thần của ngườinông dân An Nam trong hoàn cảnh thuộc địa Một tác phẩm đã có thâm niên hơn nửa thế

kỉ tồn tại, mọi vấn đề dường như đã được lật xới nhưng ý nghĩa của nó đã vượt qua “sựbăng hoại của thời gian” để hậu thế về sau vẫn còn nhiều bài học cần phải suy ngẫm vềcon người, cuộc sống

Chọn “Đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực qua nhân vật “Chí Phèo” của Nam Cao”người viết mong muốn hiểu sâu một khía cạnh của đặc trưng chủ nghĩa hiện thực phêphán qua tác phẩm cụ thể - một tác phẩm được học trong chương trình THPT, có ý nghĩaquan trọng trên văn đàn văn học Đồng thời vận dụng chuyên đề này để cung cấp kiếnthức lí luận, hướng dẫn học sinh thâm nhập vào một khía cạnh của một tác phẩm được

Trang 4

coi là kiệt tác của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 30-45 Học sinh quađây sẽ có kĩ năng vận dụng kiến thức lí luận vào việc phân tích khía cạnh của những tácphẩm khác Và điều quan trọng nữa khi thực hiện chuyên đề này, khi xã hội bây giờ cónhững giá trị nghiêng ngả, lung lay theo thời cuộc thì việc giaó dục học sinh có niềm tinvào bản tính “nhân chi sơ tính bản thiện” của con người là điều cần thiết để từ đó sẽ baodung, cảm hóa những lầm đường lạc lối

Trang 5

II.PHẦN NỘI DUNG 1.Giới thuyết về chủ nghĩa hiện thực và đặc trưng cơ bản

1.1 Khái niệm

Về tên gọi đến nay còn nhiều tranh cãi Trong “Từ điển văn học” Trần Đình Sử( chủ biên) đã đưa ra hai cách hiểu về thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực Theo nghĩa rộngthuật ngữ chủ nghĩa hiện thực được hiểu là mối quan hệ giữa tác phẩm và hiện thực đờisống bất kể đó là tác phẩm thuộc trường phái, khuynh hướng văn nghệ nào Với ý nghĩanày, khái niệm chủ nghĩa hiện thực gần như đồng nhất với khái niệm sự thật đời sống, vìtác phẩm văn học nào cũng mang tính hiện thực Tuy nhiên cách hiểu này chưa mangmàu sắc rõ nét của chủ nghĩa hiện thực để phân biệt với chủ nghĩa lãng mạn hay chủnghĩa cổ điển…Cũng theo nhóm tác giả đó, thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực theo nghĩa hẹpchỉ một phương pháp hiện thực, một khuynh hướng, trào lưu văn học có nội dung chặtchẽ, sắc sảo được xác định bởi nguyên tắc mĩ học riêng

Trong cuốn “Lí luận văn học” do nhóm tác giả Phương Lựu, Trần Đình Sử,Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hòa, Lê Ngọc Trà, Thành Thế Thái Bình mà phần chủnghĩa hiện thực phê phán do Phương Lựu đảm nhiệm, sau này được dựng lại trong cuốn

“Tiến trình văn học” tập 3 cũng do tác giả chủ biên thì đã đưa ra những cách hiểu khác vềkhái niệm này Theo tác giả, “chủ nghĩa hiện thực có khi được dùng không phải với nghĩamột phương pháp sáng tác mà với nghĩa kiểu sáng tác tái hiện” Còn nếu hiểu “Chủ nghĩahiện thực theo nghĩa là phương pháp sáng tác thật ra có nhiều dạng Đó là chủ nghĩa hiệnthực thời Phục hưng, chủ nghĩa hiện thực thời Khai sáng, chủ nghĩa hiện thực trong thờiphong kiến mạt vận ở phương Đông Nhưng chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XIX ở Tây Âu đạtđến đỉnh cao nhất, cho nên người ta gọi là chủ nghĩa hiện thực cổ điển, và vì cảm hứngchủ đạo của nó là phê phán cho nên theo ý kiến của M.Gorki người ta thường gọi là chủnghĩa hiện thực phê phán” Và trong giáo trình đó tác giả khẳng định cách trình bày chủnghĩa hiện thực như một phương pháp sáng tác

Theo “Bách khoa toàn thư” Chủ nghĩa hiện thực là một “trào lưu văn học nghệthuật, là phương pháp sáng tác lấy hiện thực xã hội và những vấn đề có thật của conngười làm đối tượng phản ánh”

Trang 6

Như vậy, các công trình khoa học và các nhà lí luận có uy tín đã đưa ra nhữngcách hiểu của nhiều ý kiến khác nhau về chủ nghĩa hiện thực nhưng tựu trung lại họ đãgặp gỡ nhau ở điểm coi chủ nghĩa hiện thực là một trào lưu văn học, một phương phápsáng tác nhằm mô tả thế giới như nó là, nhằm triển lãm cuộc sống trong trạng thái trungthực của nó Đồng thời muốn thực hiện thành công phương pháp này các nhà văn cầntuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc mĩ học nhất định như:xây dựng những hình tượngđiển hình và điển hình hóa các sự kiện của cuộc sống; thừa nhận mối quan hệ hữu cơ giữatính cách và hoàn cảnh, con người và môi trường sống; coi trọng chi tiết cụ thể và có độchính xác cao

1.2.Thời điểm ra đời

Về thời điểm ra đời của chủ nghĩa hiện thực cho đến nay vẫn có những ý kiếnkhác nhau Trong “Từ điển thuật ngữ văn học”( Trần Đình Sử chủ biên) đã trình bàynhiều ý kiến về dấu mốc ra đời của chủ nghĩa hiện thực Có người cho rằng nguyên tắcphản ánh hiện thực chủ nghĩa hình thành từ thời cổ đại và trải qua các giai đoạn phát triểnlịch sử như Cổ đại, Phục hưng, Ánh sáng, thế kỉ XIX…Một số khác thì cho là chủ nghĩahiện thực xuất hiện từ thời Phục hưng Nhiều người khẳng định chủ nghĩa hiện thực hìnhthành từ khoảng những năm 30 của thế kỉ XIX

Theo “Bách khoa toàn thư” những tác phẩm có tính hiện thực hay giá trị hiện thực

đã xuất hiện từ lâu trước khi có chủ nghĩa hiện thực tuy nhiên chủ nghĩa hiện thực với tưcách là một trào lưu, một phương pháp hoàn thiện chỉ xuất hiện vào thế kỉ XIX ở cácnước như Anh, Pháp, Ý, Nga sau đó lan rộng ra các nước khác trên thế giới Và “Báchkhoa toàn thư” khẳng định rằng bài tiểu luận đầu tiên có tính chất lí luận về chủ nghĩahiện thực được viết bởi nhà lí luận Pháp Săngflory vào năm 1857

Dù rằng các ý kiến còn tranh cãi nhưng không thể phủ nhận được rằng chủ nghĩahiện thực có đời sống lịch sử phát triển cụ thể và vào những năm 40 của thế kỉ XIX trở đichủ nghĩa hiện thực trong văn học đã bước sang một giai đoạn phát triển hoàn chỉnh vàrực rỡ, mang cảm hứng phân tích mới về hiện thực đó là phê phán Từ đây chủ nghĩa hiệnthực mang tên mới: chủ nghĩa hiện thực phê phán

Trang 7

Ở Việt Nam, những tác phẩm của văn học trung đại như Truyện Kiều, Chinh phụngâm, Cung oán ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến…đã phơi bày hiện thựckhách quan của cuộc sống Phải đến Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn…mới khơi dòngcho khuynh hướng hiện thực khi các tác phẩm thể hiện màu sắc phong tục, nếp sống củamột số miền đất, một số người Đến khoảng những năm 30 của thế kỉ XX cây bút hiệnthực phê phán Nguyễn Công Hoan là người bắt đầu đi theo khuynh hướng tả chân, lấycuộc sống hiện thời, lấy cái đã và đang xảy ra làm nội dung tác phẩm Và từ những năm

1930 đến trước 1945 khuynh hướng văn học hiện thực phát triển rầm rộ, quy mô, nhiềucây bút tài năng đã xuất hiện như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Đình Lạp…vàNam Cao được đánh giá là người có công đưa văn học hiện thực lên một trình độ mới,trình độ miêu tả tâm lý, khái quát hiện thực

1.3.Đặc trưng điển hình hóa của chủ nghĩa hiện thực

Trong các nguyên tắc mĩ học của chủ nghĩa hiện thực thì điển hình hóa là đặctrưng cơ bản để phân biệt chủ nghĩa hiện thực phê phán với chủ nghĩa lãng mạn nhưX.M.Petorop đã khẳng định “Phạm trù điển hình là phạm trù quan trọng nhất của mĩ họchiện thực” Điển hình là những nét mang tính bản chất, quy luật, những tính cách quantrọng nhất, nổi bật nhất trong đời sống con người được thể hiện qua sáng tạo của ngườinghệ sĩ “Điển hình là một sự khái quát cao của sáng tạo nghệ thuật” (Trần Đình Sử) Chỉkhi nào nhà văn sáng tạo được hình tượng mang màu sắc cái riêng thật sắc nét cá tính,sinh động, là “con người này”, và cái chung lại phải thật khái quát, hơn nữa phải hài hòacao độ thì mới có điển hình Nó là kết quả của sự xuyên thấm nhuần nhuyễn giữa cá thểhóa và khái quát hóa ở mức độ cao Tính điển hình là hình thức biểu hiện ở trình độ caocủa hình tượng trong tác phẩm văn học Trong bức thư gửi nhà văn Hacnet, Enghen cómột câu nổi tiếng “Theo ý tôi, đã nói đến chủ nghĩa hiện thực, thì ngoài sự chính xác củacác chi tiết, còn phải nói đến sự thể hiện những tính cách điển hình trong những hoàncảnh điển hình” Như vậy vấn đề điển hình không chỉ gắn với chủ nghĩa hiện thực mà cònthể hiện trên hai bình diện: tính cách điển hình và hoàn cảnh điển hình Tính cách điểnhình là sự thống nhất hữu cơ giữa những đặc tính phổ biến và những đặc tính cá biệt, đặcthù trong một nhân vật

Trang 8

Do đó, nhân vật điển hình của văn học theo nhà phê bình Belinxki là “người lạquen biết”, là “nhân vật mà tên của nó trở thành danh từ chung”, còn Lỗ Tấn phát biểuhóm hỉnh rằng “Nhân vật của ông có tà áo Nam Kinh, cái cúc Chiết Giang, cái miệngThượng Hải và đôi mắt Phúc Kiến”

Tính khái quát của hình tượng nhân vật, tính chung của điển hình mà các nhà vănhiện thực từng quan niệm là ”con người lắp ghép, vai chắp vá” đã được Lỗ Tấn phát biểutrong ”Tạp văn tuyển tập” ”Lấy ở mỗi người một nét, cho nên trong số những người liênquan đến tác giả, không thể tìm ra ai giống như thế Nhưng vì lấy ở mỗi người một nét,nhiều người thấy phần nào lại giống mình, và cũng dễ làm cho nhiều người phát cáu”.Trong ”Phòng trưng bày vật cổ” Banzac đã cho rằng ”Muốn vẽ một hình tượng đẹp thìmượn dùng cánh tay của người mẫu này, chân của người mẫu kia, ngực của người mẫu

nọ và đôi vai của người mẫu khác nữa” Nhờ sự khái quát hóa ấy, tính cách nhân vật sẽ

”tiêu biểu cho các giai cấp và các trào lưu nhất định, do đó, tiêu biểu nhất định cho các tưtưởng nhất định của thời đại” (Angghen)

Bên cạnh tính chung, khái quát hóa, nhân vật điển hình phải có tính riêng, cá thểhóa cao độ, khiến nhân vật vừa quen vừa lạ Cá thể hóa nhân vật không phải là để nhânvật làm những việc độc đáo kì lạ mà bản chất, tính cách riêng của nhân vật vẫn được bộc

lộ thông qua cách làm độc đáo đối với những sự việc bình thường Khi có tính cá thể hóanhân vật tự thân trở nên sinh động, hấp dẫn, chẳng thế mà các nhà hiện thực nổi tiếngluôn ám ảnh về nhân vật của mình, như Nguyễn Công Hoan khắc khoải về người nôngdân điêu đứng vì nạn tranh cướp ruộng đất của bọn cường hào ác bá, còn Ngô Tất Tố daydứt với số kiếp long đong lận đận vì nạn sưu thuế của người nông dân Đến Nam Cao –đại diện xuất sắc cho chủ nghĩa hiện thực phê phán giai đoạn 30-45 ám ảnh về ngườinông dân không chỉ rơi vào cảnh bần cùng hóa mà đau đớn hơn khi bị lưu manh hóa, thahóa về nhân cách Như vậy, nếu như tính chung đòi hỏi nhà văn dám xông vào giữa cuộcđời để nắm bắt thì tính riêng đòi hỏi nhà văn có khả năng phân tích, xử lý những biến tháitinh vi trong tâm lý nhân vật Để hình tượng mang tính khái quát hóa nhà văn cần có vốnsống phong phú nhưng để hình tượng độc đáo, sinh động thì đòi hỏi nhà văn phải có khảnăng sáng tạo

Trang 9

Để xây dựng được chân dung điển hình vừa mang cái riêng sắc nét, vừa mang cáichung khái quát cao, là sự thống nhất của tính cá thể hóa và khái quát hóa, nhà văn luôn

có ý thức đặt nhân vật trong quan hệ nhiều chiều, trong hoàn cảnh cụ thể, trong cái nhìnvừa tương phản, vừa tương đồng tạo ra tính đối thoại sâu sắc

2.Nhân vật điển hình Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên cuả Nam Cao

2.1 ”Chí Phèo” với các tác phẩm cùng giai đoạn

Trong văn học hiện thực phê phán 1930-1945 đã xây dựng những nhân vật nôngdân mang số kiếp long đong, khốn khổ như tiểu thuyết ”Vỡ đê” của Vũ Trọng Phụng,

”Tắt đèn” của Ngô Tất Tố, ”Nhà bố Nấu” của Nguyên Hồng, ”Bước đường cùng” củaNguyễn Công Hoan Trong ”Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan hiện lên hìnhảnh người nông dân điêu đứng , bị phá sản vì mưu mô, thủ đoạn tranh ruộng, cướp đấtcủa bọn địa chủ cường hào Ngô Tất Tố, với ”Tắt đèn” đã dựng lên cuộc đời của ngườinông dân gặp nhiều oan trái, ”hết nạn nọ đến nạn kia”, long đong lận đận vì nạn sưu thuế.Một không khí nông thôn oi ngạt, bức bối, căng thẳng, sôi sục đã được dựng lên mà ở đóngười sống không yên thân, người chết cũng không yên mồ yên mả trong những ngàythúc thuế Còn Nam Cao lại ám ảnh bởi một nông thôn nghèo đói, xơ xác, hoang vắng,heo hút ở đó người nông dân có số phận hết sức bi thảm

Cùng viết về đề tài người nông dân trong xã hội thực dân phong kiến các nhà vănnhư Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan hay Nam Cao đều phản ánh sâu sắc và chân thậttình trạng khốn cùng của người nông dân Việt Nam trên con đường bị bần cùng hóa ChíPhèo nằm trong quy luật ấy

Không có tiếng trống dồn sưu, thúc thuế vang lên dồn dập, không có cảnh tranhruộng cướp đất đẩy con người vào cơn túng quẫn, cùng đường phải bán rợ đợ con, xã hộicủa văn Nam Cao trong ”Chí Phèo” là sự thu nhỏ ở làng quê – một không gian tù túng,ngột ngạt mà bọn phong kiến có thể đẩy con người vào cảnh cùng đường tuyệt lộ phảibán nhân phẩm, nhân cách của mình, bán đi nhân hình nhân tính

Nhưng khác với Ngô Tất Tố hay Nguyễn Công Hoan tập trung vào nỗi khổ tộtcùng về vật chất của người nông dân thì với Chí Phèo người nông dân còn đau đớn hơnvới nỗi khổ về tinh thần Nam Cao đã ném ra giữa cuộc đời một thằng cùng hơn cả dân

Trang 10

cùng, là điển hình cho những gì tủi cực nhất của người nông dân trong xã hội thực dânphong kiến, không chỉ vậy còn là điển hình cho những gì tủi cực khổ đau nhất cho mộtkiếp người trên cõi đời này Có thể nói, với Chí Phèo, Nam Cao đã khái quát hóa tìm rahình tượng mang bản chất xã hội, cá tính hóa nhân vật đến cao độ giúp cho nhà văn cócái nhìn tiêu biểu nhất, quan trọng nhất, toàn diện nhất cho một kiểu người, lớp ngườitrong xã hội, đồng thời tạo nên diện mạo riêng cho Chí Phèo Chí Phèo là ”nhân vật lạ màquen biết” Chính điều đó làm nên sức sống lâu bền cho nhân vật điển hình Chí Phèonhư một chiếc chìa khoá để nhà văn khám phá cuộc đời, đề tài xây dựng nên một nhânvật điển hình không chỉ của một xã hội mà đó là điển hình của cả một nhân loại: Ngườinông dân hiền lành, lương thiện, giàu lòng tự trọng và có ước mơ trong sáng, nhưng sốngtrong cái xã hội " Quần ngư tranh thực" họ đã bị đẩy đến bước đường cùng: "Làm quỷ thìsống mà làm người thì tất yếu phải chết".

2.2.Chí Phèo – điển hình cho nỗi khổ về vật chất và nỗi đau về tinh thần của người nông dân

Chí Phèo là điển hình cho nỗi đau về vật chất của người nông dân Hành trang

bước vào đời của Chí là một số O tròn trĩnh: là một đứa con hoang, không cha, không

mẹ, không một tấc đất cắm dùi Đến năm hai mươi tuổi Chí Phèo làm canh điền cho nhà

Bá Kiến, tiếp tục cuộc sống làm kiếp trâu ngựa của người cố nông lao động nghèo khổ ởnông thôn Đến lúc có tài sản là một túp lều cuối làng thì Chí cũng đã phải chà đạp biếtbao số phận khốn khổ khác, được lấy từ nỗi đau của người khác Nam Cao đã để Chí phátbiểu một câu tiêu biểu cho nỗi khổ cùng cực của người nông dân dưới chế độ thực dânphong kiến ”Xin cụ cho con đi ở tù Ở tù mới có cơm mà ăn” Thật đau xót khi có miếng

ăn Chí phải giành giật, dọa nạt, đâm thuê chém mướn, xin đi ở tù và cuối cùng phải bándần, bán lẻ nhân hình, nhân tính của mình Chị Dậu khổ nhưng chị còn được làm người

mà Chí muốn sống trong làng ”quần ngư tranh thực” ấy thì phải trở thành con quỷ dữ.Chí Phèo đã trượt dài trên con đường tha hóa Đọc ”Tắt đèn” cảm thông sâu sắc với nỗikhổ đè nặng trên đôi vai gày yếu, nỗi đau xé lòng của chị Dậu, tưởng như chị đã là nỗiđau tột cùng nhưng khi Chí Phèo với tiếng chửi tục tĩu, khuôn mặt đầy vết sẹo, bước chânkhật khưỡng đi trên những dòng văn của Nam Cao ta mới thấy rằng đó là kẻ khốn cùng

Ngày đăng: 14/10/2015, 07:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w