KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC ĐIỀU TRA, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOÀI THỰC VẬT VÀ CHIM NƯỚC TẠI VƯỜN CÒ BẰNG LĂNG, THUẬN AN, THỐT NỐT, THÀNH PHỐ CẦN THƠ LUẬN VĂN TỐ
Trang 1KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
ĐIỀU TRA, XÁC ĐỊNH MỘT SỐ MỐI QUAN HỆ GIỮA CÁC LOÀI THỰC VẬT VÀ CHIM NƯỚC TẠI VƯỜN CÒ BẰNG LĂNG, THUẬN AN, THỐT NỐT,
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành SƯ PHẠM SINH – KỸ THUẬT NÔNG NGHIỆP
Lớp: SP Sinh – KTNN MSSV: 3102594
NĂM 2014
Trang 2LỜI CẢM TẠ
Chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Cần Thơ, Bộ môn Sư phạm Sinh học, cùng quý thầy cô đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập
Tôi xin gởi lời tri ân chân thành đến cô Phùng Thị Hằng đã hết lòng hướng dẫn, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập và quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Cám ơn thầy Nguyễn Thanh Tùng và cô Trần Thị Anh Thư, chị Ngô Thảo Nguyên (Khoa Môi Trường) đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về mặt phương tiện dụng cụ
hỗ trợ quá trình làm luận văn
Cám ơn anh Lý Hoàng Phi và bạn Lý Minh Đàng đã hỗ trợ tôi về mặt sử dụng
và vẽ bản đồ bằng máy GPS
Xin gởi lời cám ơn chân thành đến gia đình Bác Bảy vườn cò và gia đình anh
Lo đã giúp đỡ nhiệt tình trong suốt thời gian tôi đến vườn cò
Cám ơn bạn Nguyễn Phạm Quế Tuyết đã đồng hành cũng tôi trong thời gian làm luận văn
Ngoài ra tôi xin gởi lời cám ơn đến cô Trương Trúc Phương và tất cả các bạn cùng lớp – Sư phạm Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp K36 đã chia sẽ cùng tôi những vấn đề phát sinh trong quá trình học tập cũng như đã hỗ trợ hết lòng và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cám ơn!
Cần Thơ, ngày tháng năm 2014
Người thực hiện
Lư Kim Huệ
Trang 3TÓM LƯỢC
Đề tài “Điều tra, xác định một số mối quan hệ gữa các loài thực vật và
chim nước tại vườn cò Bằng Lăng, Thuận An, Thốt Nốt, TP Cần Thơ” được
thực hiện từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014, đã tiến hành ghi nhận và phân loại được:
Có 60 loài thực vật thuộc 32 họ của 21 bộ Trong đó họ Poaceae chiếm ưu thế với 12 loài Quan sát thực tế ghi nhận được 5 loài chim nước: Cồng cộc (Phalacrocorax niger), Cò trắng (Egretta gaetta), Cò ngàng nhỏ (Egretta intermedia), Cò ruồi (Bubulcus ibis), Cò nhạn (Anastomus oscitans) thuộc họ Diệc (Ardeidae), họ Cốc (Phalacrocoracidae) và họ Hạc (Ciconiidae) tại vườn cò Bằng Lăng Phỏng vấn được 16 loài chim nước thuộc 5 họ, trong đó có 5 loài có trong Sách đỏ Việt Nam: Cò nhạn (Anastomus oscitans), Cốc đế (Phalacrocorax carbo), Điêng điểng (Anhiga melanogaster), Vạc hoa (Botaurus stellaris), Cò thìa (Platalea minor) Thực vật trong vườn cò chia thành 3 tầng Tầng thứ 2 là đa dạng nhất, là nơi tập trung chim nước đậu và làm tổ nhiều nhất
Chim nước làm tổ trên 12 loài thực vật Những nơi cạnh các ao, rạch, nơi có thành phần cây đa dạng được chim làm tổ nhiều hơn Chim nước thường làm tổ ở nơi ít người lui tới, nơi cây cối rậm rạp, những nơi có vị trí cao; tổ ở những vị trí khác nhau trên các loại cây khác nhau Vật liệu làm tổ là các nhánh cây khô trong vườn
Thực hiện được 42 mẫu ép thực vật
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Lư Kim Huệ
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH BẢNG vi
DANH SÁCH HÌNH vii
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu đề tài 1
CHƯƠNG II: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1 Giới thiệu về vườn cò Bằng Lăng 2
1.1 Vị trí địa lí, diện tích 2
1.2 Lịch sử hình thành 3
2 Sơ lược về các nghiên cứu thực vật và sân chim, vườn chim ở Việt Nam 4
3 Sơ lược về nghiên cứu tại vườn cò Bằng Lăng 6
CHƯƠNG III: PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
1 Phương tiện 8
2 Phương pháp 8
2.1 Kế thừa, phỏng vấn 8
2.2 Thực địa 8
2.3 Thu mẫu 9
2.4 Phòng thí nghiệm 9
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 11
1 Thành phần loài thực vật và chim nước 11
1.1 Thực vật 11
1.2 Chim nước 15
Trang 62 Mối liên hệ giữa thảm thực vật và sự phân bố chim nước 20
2.1 Ảnh hưởng của thực vật đến một số hoạt động của chim nước 20
2.2 Hoạt động của chim nước 27
3 Định hướng phát triển bền vững tại vườn cò 33
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35
1 Kết luận………… 35
2 Đề nghị… 36
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37 PHỤ LỤC I
1 Mô tả Thực vật I
2 Mô tả Chim nước XXII
3 Phiếu theo dõi 4 đợt quan sát XXX
Trang 7DANH SÁCH BẢNG
Bảng 1 Kết quả thực vật ghi nhận được tại vườn cò Bằng Lăng 11Bảng 2 Danh sách thực vật không còn ở vườn cò Bằng Lăng so với Võ Mộng Thu
(2010) 15Bảng 3 Ghi nhận chim nước tại vườn cò Bằng Lăng và một số vườn cò khác 16Bảng 4 Kết quả 4 đợt quan sát chim nước 28
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 1 Vị trí vườn cò Bằng Lăng 2
Hình 2 Sơ đồ cấu trúc các bờ đất bên trong vườn cò 3
Hình 3 Sơ đồ đường đi ghi nhận thực vật 8
Hình 4 Cồng cộc - Phalacrocorax niger 19
Hình 5 Cò trắng - Egretta garzetta 19
Hình 6 Cò ngàng nhỏ - Egretta intermedia 20
Hình 7 Cò ruồi - Bubulcus ibis 20
Hình 8 Cò nhạn - Anastomus oscitans 20
Hình 9 Cây bị trơ cành 21
Hình 10 Cò đậu phía trên các tán cây 22
Hình 11 Chim phân bố khắp vườn 23
Hình 12 Cồng cộc đậu ở nhánh cây khô 23
Hình 13 Cò làm tổ trên cây Bình bát 24
Hình 14 Chim làm tổ trên cây cao 25
Hình 15 Tổ được làm ở nơi rậm rạp 26
Hình 16 Cò kiếm ăn ở ruộng xung quanh 27
Hình 17 Cò kiếm ăn trong vườn 27
Hình 18 Chim bay một vòng trước khi rời vườn 30
Hình 19 Cho cò con ăn 31
Hình 20 Một con tha nhánh cây, một con làm tổ 32
Hình 21 Tổ được làm từ nhánh cây khô 32
Hình 22 Chim non bị rơi khỏi tổ 33
Trang 9CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1 Đặt vấn đề
Trong quá trình tồn tại và phát triển, sinh vật luôn chịu tác động bởi môi trường Môi trường là nhân tố quan trọng quyết định đến số lượng cũng như độ đa dạng của loài Trong một hệ sinh thái, thực vật và động vật có những mối quan hệ đặc biệt, thực vật là nguồn cung cấp thức ăn, là nơi ở, là nơi sinh đẻ của động vật Chúng tạo thành một hệ sinh thái với sự đa dạng sinh học nhất định
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch gắn với cảnh quan thiên nhiên Tại Thành phố Cần Thơ hoạt động du lịch sinh thái dựa vào cảnh quan thiên nhiên mang tính
tự phát Theo thời gian các điểm du lịch sinh thái đã dần nâng cao chất lượng phục
vụ với việc khai thác lợi thế sẵn có từ cảnh quan thiên nhiên Vườn cò Bằng Lăng
là một điểm hẹn của du lịch sinh thái tự nhiên hiếm hoi, đây là vườn chim duy nhất
có ở Thành phố Cần Thơ Mặc dù có sự can thiệp của con người (mở rộng diện tích, trồng cây, thay đổi cơ cấu cây trồng vốn có của vườn) nhưng vườn cò Bằng Lăng phát triển theo hướng tự nhiên, chim nước tự động về đây cư ngụ và làm tổ, ban đầu từ vài trăm con, đến nay thì số lượng chim nước tại đây đã lên đến hơn vài chục ngàn con tạo nên sinh cảnh rất đặc sắc
Đề tài “Điều tra, xác định một số mối quan hệ giữa các loài thực vật và
chim nước tại vườn cò Bằng Lăng, Thuận An, Thốt Nốt, TP Cần Thơ” được
đề xuất thực hiện nhằm khảo sát hệ thực vật, chim nước và tìm hiểu một số mối quan hệ giữa hệ thực vật và chim nước tại đây, nhằm đưa ra một số đề xuất thiết thực giúp duy trì và phát triển du lịch sinh thái tại Vườn cò Bằng Lăng
Trang 10CHƯƠNG II LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1 Giới thiệu về vườn cò Bằng Lăng
Hình 1.Vị trí vườn cò Bằng Lăng
Trang 11Hình 2 Sơ đồ cấu trúc các bờ đất bên trong vườn cò
1.2 Lịch sử hình thành
Theo ông Nguyễn Ngọc Thuyền (Bác Bảy – chủ vườn cò), vườn cò Bằng Lăng được thành lập một cách tự nhiên năm 1983, ban đầu chim nước về đây kiếm ăn rất đông, nhưng chúng bắt đầu tập trung làm tổ và đẻ trứng năm 1993 Vườn cò bắt đầu cho khách tham quan năm 1996 Ban đầu vườn cò có diện tích khoảng 3000m2, sau một thời gian cho khách tham quan và mở rộng thì hiện nay vườn cò có diện tích khoảng 17000m2
Diện tích vườn cò Bằng Lăng nhỏ, nhưng
có số lượng chim nước sinh sống tại đây khá nhiều Điều đó cho thấy môi trường nơi này có điều đặc biệt hơn so với những nơi khác và có ảnh hưởng nhất định đến đời sống, khả năng làm tổ của các loài chim nước tại đây Mặc dù chim nước
tự động về vườn kiếm ăn và làm tổ, nhưng do được mở rộng diện tích và được thay đổi cơ cấu cây trồng nên vườn cò Bằng Lăng mang tính nhân tạo Tuy nhiên, khác với khu du lịch sinh thái nhân tạo là hệ động vật ở đây không hề bị nuôi nhốt mà chúng được sống trong môi trường tự nhiên
Trang 12Ban đầu khi chim nước bắt đầu về làm tổ thì đây là một vườn cây ăn trái, tuy nhiên sau một thời gian chim nước về đậu và làm tổ thì đa số cây ăn trái bị chết, chỉ còn lại các loài Tre, Trúc,… còn sống Số lượng cây ít lại làm cho một số loài chim
nước bị mất nơi trú ngụ như: Vạc (Nycticorax nycticorax Linnaeus, 1758)và Diệc xám (Ardea cinerea), … do bị cạnh tranh về nơi đậu và làm tổ Hiện nay chúng chỉ
thỉnh thoảng về vườn chứ không làm tổ như trước kia Do đó, Bác Bảy đã đốn bỏ
cây ăn trái và trồng thêm các loại Tre, Trúc, Tầm vông (Thysostachys siamensis),
Me keo (Pithecellobium dulce),… nhằm duy trì và thu hút thêm số lượng chim
nước về vườn Tuy nhiên quá trình chuyển đổi này đã làm số lượng chim nước giảm đi không ít
2 Sơ lược về các nghiên cứu thực vật và sân chim, vườn chim ở Việt Nam
Việt Nam là nước có hệ thống sông ngòi dày đặc Là nơi kiếm ăn, dừng chân, trú ngụ và sinh sản của nhiều loài chim nước cũng như nhiều loài chim khác nhau tạo thành các vườn chim lớn nhỏ khác nhau Ở Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 30 sân chim, vườn chim
(Nguồn:http://www.vietnamtourism.com.vn/news/vn/detail/75/13586/)
Các công trình nghiên cứu tại các sân chim, vườn chim đã góp phần làm sáng
tỏ về đặc điểm sinh học, hình thái của các loài chim ở đây, đặc biệt là các loài chim nước làm tổ theo tập đoàn Tuy nhiên vẫn còn nhiều sân chim và vườn chim chưa được nghiên cứu hoặc là nghiên cứu với từng mục đích riêng lẻ, chưa toàn diện Nguyễn Anh Huy (2010) đã thống kê về thành phần và số lượng chim nước, thành phần loài và mật độ thực vật ở Vườn cò Hậu Bối Mùa sinh sản của Cò và Vạc ở vườn cò Hậu Bối, vườn cò Trung Hòa và vườn cò Tân Long Vườn cò Hậu Bối: diện tích 35000m2, trong đó trồng lúa 14 000m2
, xây dựng nhà ở và chăn nuôi 2000m2, còn lại: 9000m2 Vườn cò nằm trong vùng chuyên canh lúa và cây ăn trái Kiểu thực vật chính và vườn cây tạp lâu năm phân làm 3 tầng Tầng cao gồm: Còng, Tre, Dừa, Gừa,… Tầng giữa gồm: Đủng đỉnh, Bình bát, Khế, Mít,… và lớp thực vật sát đất thưa thớt do độ che phủ rất cao vào mùa mưa Ghi nhận được 5 loài chim nước: Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Vạc, Cốc đen, Cò bợ Chủ yếu là Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Vạc Vườn cò Trung Hòa: diện tích 40000m2, ban đầu chỉ có Diệc về,
Trang 13sau đó là Cò Kiểu thực vật chính của vườn là vườn cây ăn tạp gồm thực vật nước ngọt: Tre, Dừa, Bình bát, … thực vật nước mặn: Mắm, Bần, Vẹt, … xung quanh là các ao nuôi thủy sản kết hợp trồng lúa một vụ vào mùa mưa Ghi nhận được sự hiện diện của 9 loài chim nước, trong đó Cò ngàng nhỏ, Cò ruồi, Vạc, Cốc đen là những loài có số lượng nhiều, một số loài có số lượng ít như: Diệc xám, Diệc lửa, Quắm đen, Quắm đầu đen, Cốc đế nhỏ Đặc biệt năm 2008 có một đàn Giang sen khoảng 30 con bay đến đậu nhưng do bị người dân săn bắn, đàn Giang sen đã bỏ đi
và không thấy quay trở lại Vườn cò Tân Long: có diện tích 10000m2, trong đó khai thác du lịch khoảng 3000m2 còn lại 7000m2 Vườn cò nằm trong vùng sinh cảnh cánh đồng, ngập lũ Thực vật tại đây là cây tạp giống vườn cò Hậu Bối, phổ biến là: Tre, Còng, Gừa Chim nước ghi nhận được: Cò trắng, Cò ruồi, Vạc Đặc biệt có khoảng 20 cá thể Cò ngàng nhỏ Do đặc tính sinh sống và kiếm ăn của các loài chim nước ở tỉnh Sóc Trăng gắn liền với cánh đồng lúa, ao nuôi thủy sản và kênh rạch Mặc dù các loài chim nước hằng ngày có thể bay xa kiếm ăn hàng trăm
km nhưng kiếm ăn gần nơi sinh sống vẫn là chủ yếu vì thời gian kiếm ăn được dài hơn và ít tiêu tốn năng lượng đặc biệt là trong thời gian sinh sản thì có thể vừa kiếm ăn vừa chăm sóc và bảo vệ con Do đó lịch thời vụ và cơ cấu mùa vụ canh tác nông nghiệp ở địa phương, tức là sự biến động về nguồn thức ăn, phần nào cũng có ảnh hưởng đến thời điểm sinh sản của chim
Ngô Minh Hằng (2010), đến năm 1996, diện tích vườn chim được xác định chính thức là 130ha Nhờ có bờ bao cao nên vườn chim cách ly hẳn với khu vực trồng trọt ở ngoài vườn chim Tác giả đã ghi nhận tổng cộng có 154 loài thực vật bậc cao thuộc 68 họ Có 12 loài thân gỗ chiếm ưu thế và cấu thành 11 loại quần xã
thực vật đặc trưng tại Vườn chim Trong đó, Chà là (Phoenix paludosa) là loài
chiếm ưu thế tuyệt đối, lấn át tất cả các loài và là loài tạo nên sinh cảnh ưa thích
cho các loài chim sinh sống và làm tổ Ngược lại, Tràm bông vàng (Acacia
auriculiformis) là loài ngoại lai, chiếm diện tích lớn (1/4 tổng diện tích Vườn chim)
nhưng không phải là sinh cảnh thích hợp để các loài chim sinh sống và làm tổ Ghi nhận được 100 loài chim, trong đó có: 21 loài chim nước thuộc 6 họ Chim nước được ghi nhận bao gồm: Le nâu, Điêng điểng, Cồng cộc, Cốc đế nhỏ, Bồ nông chân xám, Cò trắng, Diệc xám, Diệc lửa, Cò ngàng lớn, Cò ngàng nhỡ, Cò ruồi, Cò
Trang 14bợ, Cò bợ Java, Vạc, Cò lửa, Cò xanh, Cò đen, Cò lửa lùn, Quắm đen, Cò quắm đầu đen, Giang sen Có sự khác biệt rõ rệt giữa số lượng chim mùa mưa và mùa khô Số lượng cá thể của 3 loài/nhóm loài ưu thế trên (Vạc, nhóm Cò, nhóm Cồng cộc) có xu hướng mùa mưa cao hơn so với mùa khô Khu vực chim làm tổ cách xa đường chính của Sân chim, do vậy hạn chế các tác động từ bên ngoài Các loài chim có thể làm tổ trên các loài cây khác nhau Tuy nhiên tùy theo kích thước cơ
thể nên có sự phân tầng trong việc làm tổ Cò ruồi (Bubulcus ibis) và Cò bợ (Ardeola spp.) bắt đầu làm tổ và sinh sản vào cuối tháng 5 Các loài Cồng cộc, Cò
trắng, vạc, Điêng điểng làm tổ vào cuối tháng 7 (đầu mùa mưa) Việc làm tổ vào đầu mùa mưa nên con non nở ra và được nuôi lớn trong thời gian giữa mùa mưa, thời điểm thuận lợi khi nguồn thức ăn dồi dào từ các kênh rạch, bãi bồi, ruộng lúa Vào mùa mưa, hầu hết diện tích rừng của Vườn chim đều ngập nước Mùa khô, hầu hết các kênh nội bộ đều cạn nước Cũng do tình trạng nước khô cạn và tù động, vào mùa khô, xác bã thực vật phân hủy và phân chim đã làm chất lượng nước ở vườn chim bị ô nhiễm nghiêm trọng
3 Sơ lược về nghiên cứu tại vườn cò Bằng Lăng
Lê Mộng Thu (2010) đã tìm hiểu được điều kiện cũng như tập tính làm tổ, khả năng sinh sản theo khu vực và theo mùa của một số loài chim nước tại vườn cò Bằng Lăng Đồng thời trong báo cáo của mình tác giả cũng đã giới thiệu về cấu trúc vườn cò với thành phần loài thực vật, động vật trong vườn cò và tập tính sinh sản của một số loài chim nước Giới thiệu hình thái phân biệt Cò trắng, Vạc và Diệc xám Tác giả đã ghi nhận được 42 loài thực vật và 5 loài chim nước Chim nước ghi nhận được là: Cò trắng, Cò ruồi, Vạc, Diệc xám và Cốc đen Cò không làm tổ trên các loài cây như: Bình bát, Mít, Xoài, Mận, Vú sữa, Sung, Bằng lăng, Bạch đàn và Vông nem Những nơi cạnh các ao, rạch, mật độ cây dày đặc như khu trung tâm được các loài chim làm tổ nhiều hơn Ngược lại, ở khu có nhiều người qua lại (khu dành cho khách tham quan) các loài chim nước chỉ làm tổ trên những cây cao, to, nhiều cành nhánh, tán lá dày Những nơi trong khu vực có thành phần loài cây đa dạng thì được nhiều loài chim làm tổ hơn ở những khu vực có thành phần loài cây đơn giản, thưa thớt Các loài chim nước ở vườn cò Bằng Lăng vào lúc cao điểm mùa sinh sản hầu như làm tổ khắp nơi trong vườn kể cả những cây
Trang 15trước khu nhà ở Vào đầu mùa hoặc cuối mùa sinh sản, trên những cây cao to hoặc thấp bé, bất kể ở khu vực nào, nếu ít cành nhánh, tán lá thưa thì thấy Cò trắng ít khi làm tổ và thường chỉ dành để làm nơi nghỉ đậu cho chúng Quan sát khắp nơi trong vườn cò vào nhiều thời điểm khác nhau và dù cố gắng tìm tòi thật kỹ cũng không bao giờ tìm thấy Cò trắng làm tổ riêng lẽ Một tập tính dễ thấy của các loài chim nước tại vườn cò Bằng Lăng là chúng đều làm tổ tập đoàn Không có cá thể nào của riêng một loài nào chiếm cứ một khu vực riêng biệt, tách rời khỏi một loài khác Cò trắng làm tổ trên nhiều loài cây Trên từng loài cây khác nhau, vị trí mỗi
tổ khác nhau, ở cùng một cây hay cùng một loài cây vị trí mỗi tổ cũng khác nhau, chúng làm tổ trên những cành nhánh phụ đan xen nhau hoặc ở những nách thân nằm ngang, trên những đốt thân nằm ngang hoặc trên những đọt gãy ngọn và trên cành nhánh đan xen, cành lá rậm rạp
Dương Ngọc Lan (2013) hiện tại vườn cò có gần 20 loài chim, với hơn 10 giống cò “Đất có lành, chim mới đậu Bảo vệ loài cò tức là tôi đã góp phần bảo vệ thiên nhiên, bảo tồn linh khí đất trời để vùng này không xảy ra chiến tranh, thiên tai địch họa Ngoài ra, tôi muốn mọi người biết đến xứ sở quê tôi vẫn còn có thắng cảnh vườn cò Bằng Lăng, nơi vui chơi, giải trí lành mạnh.” (Nguyễn Ngọc Thuyền) Năm
1994, số lượng cò về nhiều, ông đào ao thả cá làm thức ăn cho cò, trồng thêm cây cho chúng trú ngụ Lượng cò rủ nhau về và sinh sản trên phần đất của ông ngày càng nhiều Hệ sinh thái tại Vườn cò Bằng Lăng là một nguồn tài nguyên quý giá Mỗi năm có hàng vạn cò, chim chết do bị thuốc, bị câu, đánh bẫy Nhất là mùa nước lên, ruộng lúa đã thu hoạch xong Bảo vệ được hệ sinh thái tại đây là góp phần ổn định, cân bằng hệ sinh thái tại vườn cò Bằng Lăng nói riêng và của Thành phố Cần Thơ nói chung mà còn góp phần vào quá trình phát triển bền vững tại khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long hiện nay
Trang 16CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2 Thực địa
Dùng ống nhòm Vortex 10x50 Diamondback Binocular để quan sát ghi nhận các đặc điểm của chim nước Máy ảnh kỹ thuật số: Canon Ixus 132 chụp lại hình ảnh, đặc điểm nhận dạng thực vật và chim nước
Hình 3 Sơ đồ đường đi ghi nhận thực vật
Đường đi thu mẫu
Trang 17Điều tra thành phần loài thực vật bằng cách đi dọc theo các bờ đất bên trong và vòng bờ bao quanh vườn cò để ghi nhận sự xuất hiện của thực vật và tiến hành thu mẫu (Do diện tích vườn cò không lớn và bên trong vườn cò được chia thành các bờ đất xen kẽ với các rãnh mương nhỏ) Điều tra và thu mẫu thực vật trong vườn cò được tiến hành trong một đợt (24/ 01/ 2014) (Vì chủ vườn chỉ cho phép vào vườn cò Bằng Lăng thời gian này, thời gian này sẽ hạn chế ảnh hưởng đến cò trong vườn) Quan sát chim được tiến hành: buổi sáng bắt đầu từ 5h30, buổi chiều bắt đầu
từ 16h Đây là khoảng thời gian chim hoạt động cao nhất tại vườn cò Chụp ảnh màu lông, màu mỏ và chân đối với chim nước, đồng thời ghi nhận đặc điểm khác như mắt (nếu quan sát được), đặc điểm bộ lông,… Quan sát cò được tiến hành trong 4 đợt:
- Mỗi mẫu thu được phải đầy đủ các bộ phận đối với cây thân thảo
- Đối với cây thân gỗ: có thể sử dụng kéo cắt cành để thu mẫu
- Cây thân thảo: dùng kéo cắt cành cắt đoạn cành có đủ hoa, quả, lá
- Ghi nhận các đặc điểm nhận dạng: hình dạng, màu sắc thân,…
2.4 Phòng thí nghiệm
Tiến hành ép mẫu và làm khô trong phòng thí nghiệm
- Sau khi thu mẫu, cần ép phẳng và làm khô mẫu ngay càng nhanh càng tốt để các thành phần như lá, hoa không bị thâm đen hay rụng khỏi cành
- Đặt 1 miếng khung bằng sắt của cặp ép cây trên mặt đất, để một tấm bìa carton lên, sau đó trãi tờ giấy báo (khổ 35 cm x 45 cm) lên
Trang 18- Đặt mẫu cây lên trên tờ giấy báo, sửa mẫu cho phẳng và giữ mẫu cho giống với dạng tự nhiên nhất Có thể tỉa bớt một số lá nhưng vẫn giữ lại cuống lá để cho thấy sự sắp xếp của lá trên thân Có thể gấp lá/thân theo hình chữ V hay chữ Z khi lá/thân dài Nên lật ngược vài lá để có thể quan sát cả hai mặt lá
- Đặt tờ giấy báo khác lên đậy mẫu ép lại và cứ tiếp tục Thỉnh thoảng chêm thêm bìa carton vào cho mẫu ép được phẳng và ép chặt Khi mẫu ép dày khoảng 15 – 20 cm thì dừng lại
- Đặt khung sắt thứ hai lên, dùng dây cột chặt lại
- Sau khoảng 8 – 12 giờ, có thể thay giấy nếu giấy bị ướt nhiều Nên để cặp
ép cây chỗ thoáng gió hay có thể đem phơi nắng Thỉnh thoảng, nên đem các mẫu phía trong ra ngoài (thay đổi vị trí mẫu ép) cho mẫu khô nhanh
Tiến hành tra tên khoa học và phân loại thực vật dựa vào các tài liệu: “Cây
cỏ Việt Nam”, Quyển I, II, III của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000); “Tài nguyên cây gỗ Việt Nam” của Trần Hợp (2002), “Thực vật thông dụng”, tập 1, 2 của Võ Văn Chi (2004) “Cỏ dại phổ biến tại Việt Nam” của Dương Văn Chín, Hoàng Anh Cung
Tiến hành tra tên khoa học và phân loại chim nước dựa vào các tài liệu:
“Chim Việt Nam, hình thái và phân loại”, tập 1 của Võ Quý (1975); “ Chim Việt Nam, cuốn sách hướng dẫn về các loài chim Việt Nam” của Nguyễn Cử và ctv., (2000)
Trang 19CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
1 Thành phần loài thực vật và chim nước
1.1 Thực vật
Kết quả điều tra thành phần loài thực vật tại vườn cò thu được 60 loài thuộc
32 họ của 21 bộ Trong số 60 loài thực vật thu được tại vườn cò thì họ Poaceae chiếm ưu thế nhất với 12 loài Kế đến là Asteraceae với 6 loài, họ Moraceae có 4 loài, họ Amaranthaceae, Arecaceae, Euphorbiaceae, và Myrtaceae có 2 loài Các họ còn lại đều ghi nhận được chỉ có 1 loài Một số cây được chủ vườn trồng bổ sung
Đa số cỏ dại được tìm thấy theo mùa
Trong 60 loài thực vật ghi nhận được thì có 23 loài được chủ vườn trồng Do ban đầu vườn chủ yếu là cây ăn trái, khi chim về với số lượng lớn đã ảnh hưởng đến vườn cây, làm đa số các cây trong vườn bị chết Các loài được trồng là: Cần
thăng (Limonia acidissima L.), Còng (Samanea saman), Dừa (Cocos nucifera L.), Gáo vàng (Nacluea orientalis L.), Gừa (Ficus microcacpa L.f.), Lộc vừng (Barringtonia acutangula), Lùn nước (Donax cannaeformis), Mai vàng (Ochna
integerrima), Mận (Syzygium samarangense), Me keo (Pithecellobium dulce), Mít
(Artocarpus heterophyllus Lamk.), Sơ ri (Malpighia glabra L.), Sộp (Ficus pumila L.), Tầm vông (Thysostachys siamensis), Tre nhà (Bambusa arundinacea Retz.), Tre gai (Bambusa stenostachya L.), Tre mỡ (Bambusa vulgaris Schrad in Wendl.), Tre tàu (Gigantochloa levis (Bleo) Merr.), Tre xiêm (Bambusa tulda Roxb), Trúc lục bình (Bambusua pallida Munro.), Trúc thường (Bambusaceae
tuldoides Munro), Vú sữa (Chrysophyllum cainito L.) Được trồng nhiều nhất là
các loài Tre, Trúc Vì đây là những loài được chim nước làm tổ nhiều nhất
Bảng 1.Kết quả thực vật ghi nhận được tại vườn cò Bằng Lăng
Trang 20Stt
Loài Tên thường gọi Tên khoa học
sparganophorum (L.) O
Ktze
in wight
D C
10
Amaranthaceae
Rau dền (Dền xanh, Dền cơm)
Kurz
Hook.) Raf
15
Fabaceae (Leguminosae)
Bình linh * Leucaena leucocephala
(Lamk.) de Wit
Benth
(Roxb.) Benth
23
Clusiaceae, Guttiferae (Calophyllaceae)
Phèn đen * Phyllanthus reticulata
Poir,
Trang 21Stt
Loài Tên thường gọi Tên khoa học
Skeels
Gaerth
bầu
Combretum quadrangulare
nước *
Colocasia esculenta (L.)
Schott
Trang 22Stt
Loài Tên thường gọi Tên khoa học
(L.) Beauv
50
Cỏ mảnh hòa Trung Quốc, Cỏ đuôi phụng
Leptochloa chinensis (L.)
Nees
Retz
Schrad in Wendl
Chú thích: * là các cây được bổ sung thêm so với Lê Mộng Thu
Theo Lê Mộng Thu (2010), khảo sát thực vật trong vườn cò ghi nhận được có
42 loài Theo ghi nhận hiện nay so với Lê Mộng Thu (2010) thì vườn cò đã mất đi
18 loài và được bổ sung thêm 36 loài Trong đó họ Poaceae có số lượng loài chiếm
ưu thế, nguyên nhân là sự tác động chủ yếu của con người là do chủ vườn cò chủ động chuyển đổi từ các cây ăn trái sang trồng các loài Tre, Trúc để tạo điều kiện cho chim nước trú ngụ và làm tổ
Bên cạnh đó, cũng có những họ có duy nhất một loài Đó là các loài có vai trò thứ yếu trong vườn cò Tuy nhiên, sự có mặt của chúng góp phần làm hệ thực vật ở vườn cò Bằng Lăng thêm đa dạng
Trang 23Bảng 2 Danh sách thực vật không còn ở vườn cò Bằng Lăng so với Võ Mộng Thu
Commelina diffusa
1.2 Chim nước
Vào mùa nước nổi (tháng 9, 10 âm lịch) sẽ quan sát được sự đa dạng về thành phần loài và nhiều về số lượng của chim nước tại vườn cò Bằng Lăng Các tháng còn lại thì thưa thớt Trong quan sát thực tế ghi nhận được sự xuất hiện của 5 loài thuộc 3 họ trong tổng số 16 loài (thuộc 5 họ) được phỏng vấn Đặc biệt, Cò nhạn
(Anastomus oscitans) chỉ quan sát được 2 cá thể vào buổi sáng của lần quan sát đầu
tiên (18/11/2013), không được ghi nhận trong các lần quan sát sau
Trang 24Bảng 3 Ghi nhận chim nước tại vườn cò Bằng Lăng và một số vườn cò khác
(tên khoa học)
Vườn cò Bằng Lăng
Vườn
cò Hậu Bối
Vườn cò Trung Hòa
Vườn
cò Tân Long
Sân chim Bạc Liêu
130
ha Kết
quả phỏng vấn
Tháng làm tổ (âm lịch)
Ghi nhận thực
tế
1 Anhingidae
Cổ rắn, Điêng điểng
Anhiga melanogaster
3
Cò bợ Java
Ardeola speciosa
X
4
Cò đen
Dupetor flavicollis
X
5
Cò lửa
Ixobrychus cinnamomeus
6
Cò lửa lùn
Ixobrychus sinensis
X
7
Cò ngàng lớn
Casmerodius albus
X
8
Cò ngàng nhỏ
Egretta intermedia
Trang 25STT Họ Tên thường gọi
(tên khoa học)
Vườn cò Bằng Lăng
Vườn
cò Hậu Bối
Vườn cò Trung Hòa
Vườn
cò Tân Long
Sân chim Bạc Liêu
ha Kết
quả phỏng vấn
Tháng làm tổ (âm lịch)
Ghi nhận thực
tế
11
Cò xanh
Butorides striatus
15
Vạc hoa
Botaurus stellaris
16
Vạc rạ
Gorsachius magifica
18
Giang sen
Mycteria leucocephala
X
19 Anatidae
Le nâu
Dendrocygna javannica
Trang 26STT Họ Tên thường gọi
(tên khoa học)
Vườn cò Bằng Lăng
Vườn
cò Hậu Bối
Vườn cò Trung Hòa
Vườn
cò Tân Long
Sân chim Bạc Liêu
ha Kết
quả phỏng vấn
Tháng làm tổ (âm lịch)
Ghi nhận thực
11, tháng 12 năm 2013 và tháng 1 năm 2014 Nguyên nhân thứ hai: đây là khoảng thời gian các vùng xung quanh đã xuống giống vụ Đông – Xuân, nguồn cung cấp thức ăn cho chim nước không còn dồi dào nên số lượng loài chim nước về đây không được đa dạng Và cũng không loại trừ trường hợp có một số loài chim nước lúc trước có hiện diện tại vườn nhưng hiện nay chúng không về vườn cư ngụ hoặc làm tổ nữa
Tại vườn cò Bằng Lăng có một số cò chỉ về vườn trú ngụ nhưng chưa thấy làm
tổ như: Điêng điểng (Anhiga melanogaster), Cò thìa (Platalea minor), Quắm đen (Plegadis falcinellus), Cò ngàng nhỏ (Egretta intermedia), Diệc lửa (Ardea
purpurea), Vạc rạ (Botaurus stellaris), Diệc xám (Ardea cinerea) Có hai khoảng
Trang 27thời gian chim nước về làm tổ nhiều nhất là tháng 4 – 6 âm lịch và tháng 9 – 10 âm lịch Thời gian này trùng với mùa mưa, là thời gian mà các loài thủy sinh vật là nguồn thức ăn chủ yếu của chim nước khá dồi dào, đảm bảo đủ thức ăn cho cả chim non và chim bố mẹ nên thu hút số lượng lớn chim về tìm thức ăn và làm tổ
Tại vườn cò Bằng Lăng có 5 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam: Cò nhạn
(Anastomus oscitans), Điêng điểng (Anhiga melanogaster) với tình trạng VU (sẽ nguy cấp), Cốc đế (Phalacrocorax carbo) và Cò thìa (Platalea minor) là là nguy cấp, Vạc hoa (Botaurus stellaris) là cực kỳ nguy cấp Có 3 loài không tìm thấy ở vườn cò Hậu bối, Trung Hòa, Tân Long và Sân chim Bạc Liêu là: Cò thìa (Platalea
minor), Cò nhạn (Anastomus oscitans), Vạc rạ (Gorsachius magifica), Vạc hoa
(Botaurus stellaris) Do đó cần có những biện pháp bảo vệ tích cực và thích hợp để
bảo tồn và phát triển các giống chim nước sẽ nguy cấp
Hình ảnh chim nước ghi nhận được tại vườn cò Bằng Lăng
Hình 4 Cồng cộc - Phalacrocorax
niger
Hình 5 Cò trắng - Egretta garzetta
Trang 282 Mối liên hệ giữa thảm thực vật và sự phân bố chim nước
2.1 Ảnh hưởng của thực vật đến một số hoạt động của chim nước
Thực vật trong vườn cò Bằng Lăng phân bố không đồng nhất Me keo
(Pithecellobium dulce), Còng (Samanea saman), Gáo vàng (Nacluea orientalis L.)
phân bổ chủ yếu theo ranh đất quanh vườn, đây là 3 loài có kích thước cũng như tuổi lâu năm nhất trong vườn Từ ghi nhận thực tế, chim nước đậu tập trung phía
trên các tán cây Giữa 3 loại Me keo (Pithecellobium dulce), Gáo vàng (Nacluea
orientalis L.), Còng (Samanea saman) thì chim nước đậu trên tán cây Gáo
(Nacluea orientalis L.) nhiều hơn do Me keo (Pithecellobium dulce) có nhiều gai,
lá Còng (Samanea saman) nhiều, bùm sùm nhưng nhỏ và dễ rụng bên cạnh đó
Trang 29Còng (Samanea saman) và Me keo (Pithecellobium dulce) có nhánh, chạc rộng, vì
vậy không thu hút chim cò đậu và làm tổ, nên số lượng tổ quan sát được trên Me
keo (Pithecellobium dulce) và Còng (Samanea saman) rất ít, điều đó giải thích tại sao Còng (Samanea saman) và Me keo (Pithecellobium dulce) là 2 loài cây có kích thước to cũng như có tuổi lâu năm nhất trong vườn Bên cạnh đó Gáo (Nacluea
orientalis L.) là cây thường xuyên bị trơ lá trong vườn do chim nước chọn cây Gáo
(Nacluea orientalis L.) để làm nơi trú ngụ và làm tổ, đồng thời chịu ảnh hưởng
không nhỏ từ lượng phân chim tích lũy hằng ngày trong thời gian tương đối dài Chịu ảnh hưởng không kém là các loài Tre, Trúc Mặc dù các loài Tre, Trúc là loài thực vật được chim nước chọn làm nơi nghỉ đậu và làm tổ nhiều nhất nhưng chúng
không bị ảnh hưởng nghiêm trọng như Gáo (Nacluea orientalis L.) mà chỉ chậm
phát triển, còi cọc Có thể do nhánh, tán của các loài Tre, Trúc dẻo hơn so với Gáo
(Nacluea orientalis L) Qua đó, chủ vườn cần trồng bổ sung thêm Gáo (Nacluea
orientalis L.), các loài Tre, Trúc, … để tăng thêm nơi đậu và làm tổ của chim nước
cũng như thay thế cho các cây bị chết Tuy nhiên, việc trồng thêm các loài cây đã nêu trên gặp phải những khó khăn nhất định Vì việc trồng cây sẽ gây động, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của chim nước trong vườn cò Bằng Lăng, có thể sẽ dẫn đến hậu quả là chim nước bỏ đi nơi khác làm tổ và cư ngụ mà không quay trở lại vườn Do đó việc trồng bổ sung thêm cây tại vườn cò Bằng Lăng phải có những
kế hoạch cụ thể và thời gian thực hiện nhất định nhằm hạn chế tối đa sự ảnh hưởng đến chim nước
Hình 9 Cây bị trơ cành
Trang 30Hình 10 Cò đậu phía trên các tán cây
Thực vật ở vườn cò Bằng Lăng được phân theo 3 tầng Tầng cao chủ yếu là
các cây lâu năm trong vườn như: Me keo (Pithecellobium dulce), Còng (Samanea
saman), Gáo (Nacluea orientalis L), các loại Tre, Trúc Các cây này phân bố chủ
yếu ở vòng bao bên ngoài của vườn Tầng giữa chủ yếu là các loài Tre, Trúc, Bình
bát (Annona glabra L.), Chưng bầu, (Combretum quadrangulare) … tầng này phân
bố rải rác khắp vườn, chủ yếu là các bờ đất trong vườn Tầng còn lại chủ yếu là thực vật sát đất, phân bố thưa thớt do bị che phủ Điều này giống với kết quả của
Lê Anh Huy (2010), điều đó chứng tỏ cấu trúc vườn chim có nét tương đồng về sự phân tầng thực vật, tùy vào từng địa phương mà có những loài cây ưu thế khác nhau
Điều đặc biệt vườn cò có rất ít cỏ dại Chúng chỉ phân bố 1 vài điểm trong vườn cò với số lượng không nhiều lắm Chúng mọc chủ yếu trên nền đáy mương
đã bị cạn nước Đây là loài thứ yếu, góp phần làm cho hệ thực vật tại vườn cò thêm
đa dạng Nguyên nhân các mương bị cạn nước một phần là do các mương không được thông với rạch bên ngoài vườn cò, một phần do lượng phân chim tích lũy lâu ngày
Theo quan sát, ghi nhận được chim nước trong vườn cò có một số phân bố
theo nhóm và phân bố rải rác khắp vườn
Trang 31Hình 11 Chim phân bố khắp vườn
Chim nước đậu ở hầu hết các cây Tập trung nhiều ở tầng giữa của vườn cò
Bằng Lăng Gần đài quan sát chỉ quan sát thấy Cò trắng (Egretta gaetta), Cò ruồi (Bubulcus ibis) còn Cồng cộc (Phalacrocorax niger) phân bố xa đài quan sát Cồng cộc (Phalacrocorax niger) thường đậu thành từng nhóm và đa số chúng đậu tập
trung ở các cây có độ cao nhất nhì trong vườn Quan sát thực tế đa số chúng tập trung thành 3 nhóm lớn đậu ở phía Đông, Tây – Nam và ở trung tâm vườn Trong
đó đậu ở phía Tây – Nam là nhiều nhất Đặc biệt đa số cồng cộc (Phalacrocorax
niger) đậu ở các cây khô trong vườn
Hình 12 Cồng cộc đậu ở nhánh cây khô
Do thời gian quan sát tương đối ngắn nên chỉ ghi nhận được 1 số tổ của loài
Cò trắng (Egretta gaetta) và Cò ruồi (Bubulcus ibis) Tổ tập trung chủ yếu ở các
cây có cành, nhánh cao và có chạc, độ rộng của chạc không quá lớn Chim nước
Trang 32làm tổ trên 12 loại thực vât: Còng (Samanea saman), Gừa (Ficus microcacpa L.f.),
Me keo (Pithecellobium dulce), Gáo (Nacluea orientalis L.), Bình bát (Annona
glabra L.), Tầm vông (Thysostachys siamensis), Tre nhà (Bambusa arundinacea
Retz.), Tre gai (Bambusa stenostachya L.), Tre tàu (Gigantochloa levis), Tre xiêm (Bambusa tulda Roxb), Trúc lục bình (Bambusua pallida Munro.), Trúc thường (Bambusaceae tuldoides Munro) Quan sát được chim nước có làm tổ trên cây Bình bát (Annona glabra L.), nhưng theo Lê Mộng Thu (2010) thì không tìm thấy
tổ trên cây Bình bát (Annona glabra L) Điều này có thể được giải thích là vào lúc
Lê Mộng Thu tiến hành quan sát, ghi nhận thì Bình bát (Annona glabra L.) còn nhỏ
nên chim nước chưa làm tổ
Các bụi Tre, Trúc phân bố ở phần ranh đất phía giáp với bờ sông thì có số lượng tổ nhiều hơn các cây Trúc, Tre bên trong vườn Điều này có thể được lí giải: phần ranh đất có mặc dù kế con rạch thủy lợi nhưng lại ít bị tác động, và độ cao của cây lại cao hơn các cây bên trong vườn
Hình 13 Cò làm tổ trên cây Bình bát
Trang 33Hình 14 Chim làm tổ trên cây cao
Quan sát thực tế ghi nhận được đa số Cò trắng (Egretta gaetta), Cò ruồi (Bubulcus ibis) làm tổ ở các cây cạnh bờ mương và cách xa đài quan sát Chủ yếu
tập trung ở phía Đông của vườn Tổ được tìm thấy ở vị trí khác nhau ở các loài cây khác nhau Chúng làm tổ cách xa các lối đi trong vườn, nếu có tổ ở gần lối đi thì tổ
ở vị trí khá cao hoặc ở nơi rậm rạp, có nhiều cành lá che đậy Nguyên nhân là do
Cò trắng (Egretta gaetta) có kích thước tương đối nhỏ so với các loài chim nước khác, dẫn đến khả năng cạnh tranh yếu hơn, nhưng ngược lại Cò trắng (Egretta
gaetta) có mắt rất tinh và khả năng phản xạ rất nhanh, dáng mảnh khảnh sẽ giúp
chúng len lỏi tốt hơn các loài chim nước khác, do vậy làm tổ ở khu vực cao ráo hay rậm rạp sẽ giúp chúng bảo vệ trứng và chim non tốt hơn
Trang 34Hình 15 Tổ được làm ở nơi rậm rạp
Chim non ở những tổ cạnh nhau đôi khi cắn nhau khi chim non từ tổ này sang
tổ khác, có khi bị rơi xuống đất
Từ ghi nhận thực tế có một số ít chim nước kiếm ăn tại vườn, có thể do yếu tố khách quan là lượng nước trong các mương không đáng kể, nên không có nhiều cá, dẫn đến không cung cấp được thức ăn cho chúng Quan sát thực tế thì đa phần chim nước bay về từ khá xa, tuy nhiên không thể phủ nhận vai trò quan trọng của
hệ sinh thái xung quanh vườn cò Bằng chứng là một số chim nước tìm thức ăn từ các ruộng xung quanh vườn cò, đa số đó là những con ở lại giữ tổ Xung quanh vườn cò có những ao nuôi cá, cánh đồng lúa, vườn cây ăn trái, rẫy trồng các loại rau nước nên đa số là có nước quanh năm, nên thu hút một lượng chim cò về khu vực này tìm thức ăn Tại đây chúng kiếm ăn theo từng cá thể riêng lẽ hoặc theo từng nhóm, nhưng với số lượng không đáng kể Theo quan sát và lời chủ vườn cò thì chúng chỉ tìm thức ăn mà không làm tổ tại các khu vực này
Trang 35Hình 16 Cò kiếm ăn ở ruộng xung quanh
Hình 17 Cò kiếm ăn trong vườn
2.2 Hoạt động của chim nước
2.2.1 Theo dõi thời gian bay đi, bay về
Hoạt động của chim nước được theo dõi chủ yếu vào buổi chiều và vào lúc sáng sớm Vì đây là thời gian chim nước hoạt động tại vườn cò mạnh nhất
Trang 36Bảng 4 Kết quả 4 đợt quan sát chim nước
Thời gian bay
về
Thời gian bay
quan sát được
Hoạt động ghi nhận được Ghi chú Bắt
đầu
về
Về rộ
Bắt đầu
- Cò bay về nhiều
từ hướng tây
- Số lượng chim bay về bắt đầu giảm hẳn khi trời sập tối
- Cò trắng bay trước
- Cồng cộc tập trung chủ yếu ở các cây trung tâm vườn cò
- Cò bay thành vòng tròn quanh vườn 1 vòng rồi mới bay đi
- Bay đi theo nhiều hướng
- Khi bay về chúng bay quan vườn cò một vòng
- Cồng cộc quan sát được nhiều hơn lần 1
- Cò bay đi trước, Cồng cộc bay đi trước thì chỉ bay theo nhóm 2 – 3con
- 7h40: Một số cò quay về cho con
- Ruộng quan vườn cò đã được xuống giống
- Một số mương trong vườn có mực nước thấp hơn lần 1, một
số gần như sắp cạn Đợt
3 31/ 12/ 2013 16h5 18h
Cò trắng,
Cò ngàng
- Cồng cộc và cò bay về theo từng nhóm
- Các mương nước trong vườn
có mương có
Trang 37Thời gian bay
về
Thời gian bay
quan sát được
Hoạt động ghi nhận được Ghi chú Bắt
đầu
về
Về rộ
Bắt đầu
đi
Đi rộ
nhỏ, Cồng cộc, Cò ruồi
- Đa số cồng cộc đậu ở các nhánh khô
- Khi trời tắt nắng thì số lượng cò bay về giảm hẳn
nước nhiều, mương ít nước
- Cò kêu rộ trước khi bay
- Một nhóm lớn bay về hướng Tây
- 7h10: một số cò bắt đầu bay về cho cò con ăn
- Cồng cộc bay
về theo từng đợt
- Cò về khi trời bắt đầu bớt nắng
- Số lượng cò về nhiêu khi mặt trời bắt đầu lặn, khi trời sập tối thì cò về rải rác
6h10
- Cò bay đi trước
và không bay theo đàn
- 7h: Cồng cộc bay đi với số lượng rất nhiều
Bay một vòng lớn quanh vườn trước khi bay đi
Qua bảng số liệu 4 đợt quan sát, nhận thấy chim nước về vườn lúc khoảng từ 16h – 18h50 Tuy thời gian bay đi kiếm ăn và quay về vườn khác nhau trong từng
Trang 38đợt quan sát, nhưng có điểm chung là lúc mặt trời bắt đầu giảm cường độ chiếu sáng cũng là lúc chim nước bắt đầu bay về vườn và buổi sáng khi mặt trời bắt đầu chiếu sáng thì chim nước bắt đầu bay đi Điều đặc biệt quan sát được là đa số chim nước sẽ bay thành vòng tròn trước khi bay đi khỏi vườn, đôi khi khi chúng về vườn cũng bay thành vòng trước khi đậu Điều đó có thể là biểu hiện của sự quan sát về nơi đậu của chúng Thường khoảng nửa tiếng trước khi bắt đầu bay đi kiếm ăn chúng sẽ bắt đầu kêu rộ (thường là lúc Mặt trời sắp lên ở đường chân trời) Điều đó cho thấy nhịp sống trong ngày của các loài chim, dù là những loài có tập tính hoạt động ngày hay là loài hoạt động đêm đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của độ chiếu sáng của Mặt Trời Điều này phù hợp với Võ Quý (1978) cho rằng các loài chim hoạt động ngày đều thức dậy lúc Mặt Trời mọc và nghỉ đêm lúc hoàng hôn, nhưng sớm hay muộn là tùy vào mức độ phản ứng với độ chiếu sáng của mỗi loài
Hình 18 Chim bay một vòng trước khi rời vườn
Thời gian chim nước bay về thường từ 16h – 18h, khi mặt trời bắt đầu giảm nắng Rời khỏi vườn từ 5h30 – 6h10, khi trời bắt đầu hửng nắng Vào buổi sáng một số chim nước quay về vườn cho chim non ăn tầm khoảng 7h10 Do đó muốn quan sát hoạt động của chim nước, du khách nên đến vườn trong khoảng thời gian này là tốt nhất, vào thời gian này khách tham quan có thể quan sát được nhiều hoạt động của chúng như tìm thức ăn tại các ao trong vườn, chim mẹ mớm mồi cho
Trang 39chim non, hoạt động xây tổ của chim nước và số lượng chim nước khá đông nhất trong ngày
Hình 19 Cho cò con ăn
2.2.2 Một số hoạt động khác
Theo ghi nhận được thì đa số Cò trắng (Egretta gaetta), Cò ngàng nhỏ (Egretta intermedia), Cò ruồi (Bubulcus ibis) sẽ bay về vườn trước Cồng cộc (Phalacrocorax niger), vào buổi sáng thì chúng lại bay đi kiếm thức ăn trước Cồng cộc (Phalacrocorax niger) Đa số Cồng cộc (Phalacrocorax niger) đậu ở các cây
có vị trí tương đối cao trong vườn và chúng thường đậu xa khu vực đài quan sát, các cây ở vị trí này có đặc điểm đa phần là các nhánh khô Qua các lần quan sát thì
hầu như vị trí đậu của các nhóm Cồng cộc (Phalacrocorax niger) không thay đổi Quan sát được quá trình làm tổ của Cò trắng (Egretta gaetta) Ban đầu chúng
chọn vị trí tại các cành, nhánh có chạc, dùng mỏ để bẻ cong các cành nhỏ quanh vị trí đó, chúng tha các nhánh cây khô (lấy từ vườn) về gác lại với nhau và dùng mỏ
“định hình” lại tổ Trong quá trình làm tổ luôn có sự hợp tác cùng làm của 2 cá thể Một con đi tha các nhánh cây mang về, một con làm tổ
Trang 40Hình 20.Một con tha nhánh cây, một con làm tổ
Hình 21.Tổ được làm từ nhánh cây khô
Bên cạnh những cạnh tranh khác loài thì vẫn có những cạnh tranh cùng loài diễn ra tại vườn cò Sự cạnh tranh đó được thể hiện qua kết quả ghi nhận được khi quan sát chúng tìm thức ăn, đặc biệt là khi tìm thức ăn trong các mương trong vườn Bên cạnh đó là cạnh tranh về tìm vật liệu làm tổ, nơi nghỉ đậu Có thể nói cạnh tranh gay gắt nhất là việc chọn bạn tình và nơi làm tổ Kết quả là các con yếu