Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng ngân hàng mở thư tín dụng theo yêu cầu của khách hàng người xin mở thưtín dụng cam kết sẽ trả một số t
Trang 1I.Lời mở đầu
Xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế đã mở ra cho nhân loại cánh cửa giao lưu đầy triển vọng Lịch sử đã chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể phát triển trong sự tách biệt với thế giới bên ngoài, các nước đang xích lại gần nhau thông qua chiếc cầu nối thương mại quốc tế.Vượt qua không gian và thời gian những luồng chu chuyển hàng hóa, dịch vụ và tiền tệ đã tạo ra sự gắn kết bền vững giữa cung và cầu ở những nước có trình độ kinh tế khác nhau và ngày trở nên phong phú, đa dạng kéo theo sự phức tạp ngày càng lớn trong quá trình cuối cùng của cuộc trao đổi, thanh toán quốc tế Được xem là một nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế, hoạt động thanh toán quốc tế đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thuận tiện, nhanhchóng của các giao dịch thương mại
Cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng, các mối giao lưu thương mại cũng ngày càng được mở rộng Điều đó đặt ra cho các ngân hàng thương mại phải phát triển dịch vụ thương mại một cách tương ứng, trong đó không thể không
kể đến hoạt động thanh toán quốc tế với nhiều phương thức thanh toán đa dạng, phong phú.Trong các phương thức thanh toán này, thanh toán tín dụng chứng từ làphương thức được sử dụng phổ biến nhất do những ưu việt của nó Song tín dụng chứng từ không phải nghiệp vụ đơn giản, trong thực tế công tác này đã gặp không
ít những rủi ro gây thiệt hại cho tài chính lẫn uy tín cho các ngân hàng thương mại cũng như các doanh nghiệp Việt Nam
II Nội dung
1 Tổng quan về phương thức thanh toán L/C.
1.1 Khái niệm về phương thức tín dụng chứng từ
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là sự thỏa thuận mà trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người xin mở thưtín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng
số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người thứ ba này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người thứ ba này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong một văn bản gọi là thư tín dụng (Letter of Credit), viết tắt là L/C
Do phương thức trả tiền ngày càng mang lại nhiều rủi ro cho người mua nên trong hoạt động mua bán quốc tế, thư tín dụng được sử dụng ngày một phổ biến hơn nhằm bảo đảm lợi ích cho cả hai bên Theo đó, việc thanh toán chỉ được ngân hàng chấp nhận sau khi người bán đã xuất trình đầy đủ bộ chứng từ
Trang 21.2 Nội dung phương thức tín dụng chứng từ.
*Trong thương mại quốc tế, các bên tham gia trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ bao gồm:
-Người xin mở thư tín dụng (Applicant): là người mua hàng, người nhập khẩu hoặc là người nhận nhập khẩu ủy thác cho người khác Người này có 2 nghĩa vụ
cơ bản đó là:
+Viết giấy đề nghị xin mở L/C
+Kiểm tra bộ chứng từ do ngân hàng xuất trình, nếu thấy hợp lệ sẽ thanh toán cho ngân hàng
-Ngân hàng mở thư tín dụng (Issuing Bank / Issuer): là ngân hàng của người nhập khẩu, hoặc một tổ chức nào đó có năng lực tài chính tốt và có đủ khả năng phát hành, nó cung cấp tín dụng cho người nhập khẩu Nghĩa vụ cơ bản như sau:
+Kiểm tra giấy đề nghị xin mở L/C
+Phát hành L/C để cam kết trả tiền cho người hưởng lợi, và bằng mọi biện pháp nhanh chóng, hợp lý thông báo nội dung của L/C cho người được hưởng lợi biết.+Kiểm tra bộ chứng từ do người hưởng lợi xuất trình, nếu thỏa mãn các cam kết
và điều kiện của l/C thì sẽ trả tiền cho người hưởng lợi
-Người hưởng lợi thư tín dụng (Benificary): là người xuất khẩu hay bất cứ người nào khác do người hưởng lợi chỉ định Nghĩa vụ cơ bản:
+Kiểm tra nội dung cơ bản của L/C
+Khi thấy L/C hợp lý, có khả năng đáp ứng yêu cầu của L/C thì giao hàng phù hợp với yêu cầu của L/C
+Thiết lập bộ chứng từ thỏa mãn các yêu cầu, điều kiện của L/C và xuất trình cho ngân hàng để làm việc
-Ngân hàng thông báo thư tín dụng (Advising Bank / Adviser): là ngân hàng đại lýcủa ngân hàng phát hành L/C ở nước người hưởng lợi hoặc một tổ chức bất kỳ, miễn là có đủ năng lực, thỏa mãn các điều kiện nó có nghĩa vụ thông báo đầy đủ
Trang 3nội dung của L/C cho người hưởng lợi và không phải chịu trách nhiệm về tính chính xác hay thiếu sót của L/C.
*Quá trình nghiệp vụ:
1 Sau khi thống nhất về các điều kiện bán hàng và ký kết hợp đồng, người nhập khẩu làm đơn gửi đến ngân hàng của mình xin mở L/C cho người xuất khẩu hưởng
2 Căn cứ vào đơn xin mở L/C, ngân hàng phát hành L/C sẽ tiến hành mở L/C và thông qua ngân hàng chi nhánh của mình ở nước người bán ( hoặc ngân hàng có mối quan hệ thương mại với ngân hàng phát hành L/C ) thông báo về việc mở L/C
và chuyển L/C đến người bán
3 Sau khi nhận được thông báo, ngân hàng thông báo sẽ có nhiệm vụ thông báo cho người bán toàn bộ nội dung thông báo về việc mở L/C, và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho người bán
4 Nếu người xuất khẩu chấp nhận L/C thì, sau khi xem xét cẩn thận các điều khoản ghi trong thư tín dụng, sẽ ký hợp đồng vận tải đảm bảo hàng sẽ được
chuyển đến đúng thời hạn Nếu người xuất khẩu không đồng ý với bất kỳ một điềukiện nào thì phải thông báo ngay cho người mua biết để kịp thời điều chỉnh
5 Sau khi giao hàng, người xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C xuất trình cho ngân hàng mở L/C thông qua ngân hàng đại lý thông báo để đòi tiền
6 Ngân hàng mở L/C kiểm tra chứng từ nếu phù hợp với L/C thì trả tiền cho người bán Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng
từ cho người bán, thường thì số ngày ngân hàng được phép kiểm tra là 7 ngày
7 Ngân hàng mở L/C đòi tiền người mua và chuyển bộ chứng từ hàng hóa cho người mua
8 Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì thanh toán tiền để nhận chứng từ và lấy hàng còn nếu thấy không phù hợp thì có quyền từ chối trả tiền và không nhận hàng
Trang 4*Các loại thư tín dụng (Letter of credit – L/C):
Thư tín dụng (Letter of Credit - viết tắt là L/C) là một cam kết thanh toán có điều kiện bằng văn bản của một tổ chức tài chính (thông thường là ngân hàng) đối với người thụ hưởng L/C (thông thường là người bán hàng hoặc người cung cấp dịch vụ) với điều kiện người thụ hưởng phải xuất trình bộ chứng từ phù hợp với tất cả các điều khoản được quy định trong L/C
Thư tín dụng hoạt động theo 2 nguyên tắc: Độc lập và tuân thủ ngiêm ngặt
+Độc lập: nó được hình thành dựa trên hợp đồng mua bán nhưng sau khi được thiết lập thì lại độc lập hoàn toàn với hợp đồng Nghĩa là chỉ cần người bán xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu của L/C thì ngân hàng phải có nghĩa vụ thanh toán tiền mà không quan tâm đến hợp đồng hay hàng hóa
+Tuân thủ nghiêm ngặt: Ngân hàng chỉ thanh toán nếu các chứng từ hoàn toàn phùhợp với L/C, đúng với chỉ dẫn của người mua, trường hợp ngân hàng không phát hiện ra sai biệt, thanh toán nhầm thì ngân hàng phải chịu hoàn toàn trách nhiệm
Có 2 loại thư tín dụng:
+Thư tín dụng hủy ngang (Revocable letter of credit): là loại L/C mà ngân hàng
mở L/C và người NK có thể sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần sự chấp thuận của người XK Loại L/C này ít được sử dụng trong thanhtoán quốc tế vì nó không có sự cam kết trả tiền chắc chắn
+Thư tín dụng không hủy ngang (Irrevocable letter of credit): là loại thư mà trong thời hạn hiệu lực của nó, ngân hàng không có quyền hủy bỏ hay sửa đội nội dung L/C mà không được sựu đồng ý của người XK ngay cả khi người NK ra lệnh hủy
bỏ hay sửa đổi Loại L/C này được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất trong thanh toán quốc tế vì nó là cam kết chắc chắn đối với người bán trong việc thanh toán tiền hàng
Thư tín dụng không hủy ngang có thể có:
Trang 5+Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (Confirmed irrevocable L/C): là loại L/C được xác nhận bởi 1 ngân hàng khác theo yêu cầu của ngân hàng phát hành L/C, thường là ngân hàng thông báo thư tín dụng tại nước người XK Nguyên nhân có loại L/C là do người XK không hoàn toàn tin tưởng vào ngân hàng mở L/C và giá trị của L/C tương đối lớn Do ngân hàng xác nhận sẽ đứng ra cam kết trả tiền cho người XK nên người XK sẽ thu được tiền về nhanh hơn, đảm bảo quyền lợi của mình hơn.
+Thư tín dụng không hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without resource L/C):
là loại L/C mà sau khi người XK đã nhận được tiền thanh toán thì ngân hàng mở L/C không có quyền đòi loại trong bất cứ trường hợp nào
1.3 Đặc điểm L/C
a) L/C là hợp đồng kinh tế hai bên: L/C là hợp đồng kinh tế độc lập chỉ của 2 bên
là ngân hàng phát hành và người thụ hưởng Mọi yêu cầu và chỉ thị của ngườixin mở L/C không được thể hiện trong L/C
b) L/C độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: L/C được hình thành trên cơ
sở hợp đồng ngoại thương nhưng sau khi được thiết lập nó lại hoàn toàn độclập với hợp đồng này Một khi L/C đã được mở và được các bên chấp nhận,thì cho dù nội dung của L/C có đúng với hợp đồng ngoại thương hay khôngcũng không làm thay đổi quyền lợi và nghĩa vụ của các bên có liên quan đếnL/C
c) L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ:
- Chứng từ trong giao dịch L/C có tầm quan trọng đặc biệt, nó là bằngchứng về việc giao hàng của người bán, là đại diện cho giá trị hàng hóa
đã được giao Do đó chúng trở thành căn cứ để ngân hàng trả tiền, để nhànhập khẩu hoàn trả cho ngân hàng, là chứng từ đi nhận hàng của nhànhập khẩu…
- Khi chứng từ xuất trình là phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thanhtoán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, mặc dù trên thực tế hàng hóa có thểkhông được giao hoặc được giao không hoàn toàn đúng như ghi trênchứng từ
d) L/C yêu cầu chặt chẽ của bộ chứng từ: Đây là nguyên tắc cơ bản của giao dịchL/C để được thanh toán người xuất khẩu phải lập được bộ chứng từ phù hợp,tuân thủ chặt chẽ các điều khoản và điều kiện của L/C bao gồm: số loại, số
Trang 6lượng mỗi loại và nội dung chứng từ phải đáp ứng được chức năng của chứng
- Do tính chất độc lập của L/C với hợp đồng cơ sở, nên bọn lừa đảo có thểlợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộchứng từ để thanh toán
1.4. Các mối quan hệ pháp lý hợp đồng L/C
a) Ngân hàng phát hành và người yêu cầu mở L/C :
Bằng thư yêu cầu mở thư tín dụng gửi đến ngân hàng phục vụ mình, ngườinhập khẩu đã chính thức đề nghị ngân hàng mở thư tín dụng để mình có thểthực hiện hợp đồn với các bên đối tác Thông qua việc chấp thuận yêu cầu
mở thư tín dụng, ngân hàng mở và người yêu cầu mở đã có một quan hệpháp lý Có nghĩa là giữa người yêu cầu mở và ngân hàng mở đã có mộthợp đồng ràng buộc phải tuân theo một cách vô điều kiện tất cả những điềukhoản mà hai bên đã ký kết trong hợp đồng Một bộ phận cơ bản của thưyêu cầu mở L/C là điều kiện chung của các ngân hàng, trong đó quy địnhrằng việc thực hiện L/C quy định rằng việc thực hiện L/C phải tuân theo nộidung cơ bản của UCP 500 Khi thư tín dụng được mở, ngân hàng đòi hỏingười mua phải ký quỹ theo một tỷ lệ nào đó thì mối quan hệ đó trở thànhmối tín dụng, vì số tiền đó được coi như là một khoản tiền gửi và đượchưởng lãi suất như lãi suất của tiền gửi không kỳ hạn
b) Ngân hàng phát hành và người hưởng lợi:
Việc mở thư tín dụng cho người nhập khẩu của ngân hàng mở L/C đồngnghĩa với việc ngân hàng mở cam kết sẽ trả tiền cho người hưởng lợi saukhi các điều kiện nêu ra trong thư tín dụng được người hưởng lợi thỏa mãn,ngay cả khi người mở thư tín dụng chưa trả tiền hay không muốn trả tiềncho ngân hàng Rủi ro này thuộc về quan hệ tín dụng nên ngay khi xem xétthư yêu cầu mở thư tín dụng, ngân hàng phải xem xét kỹ tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp và nếu có thể,yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu quỹ mộtkhoản tiền nhất định , tối đa là 100% giá trị yêu cầu trong thư tín dụng.c) Ngân hàng thông báo và người hưởng lợi:
Khi ngân hàng thông báo chỉ thực hiện thông báo tín dụng chứng từ màkhông có một cam kết nào về thanh toán đối với tín dụng chứng từ thì mọiquan hệ giữa ngân hàng thông báo và người hưởng lợi không có sự ràngbuộc về pháp lý Nhưng ngân hàng thông báo, nếu đồng ý thông báo, phải
Trang 7kiểm tra một cách cẩn thận tính chân thật bề ngoài của thư tín dụng màmình thông báo Bên cạnh đó, ngân hàng thông báo cũng phải thu phí dịch
vụ từ người hưởng lợi
d) Ngân hàng xác nhận và người hưởng lợi:
Với việc xác nhận tín dụng chứng từ, ngân hàng xác nhận đã cùng chịutrách nhiệm với ngân hàng phát hành trong việc trả tiền cho người hưởnglợi Nếu thư tín dụng quy định “chấp nhận” bởi ngân hàng xác nhận thìngân hàng xác nhận phảo chiun trách nhiệm trả tiền các hối phiếu do ngườihưởng lợi ký phát đòi tiền các hối phiếu khi đến hạn
e) Ngân hàng phát hành và ngân hàng xác nhận:
Sự xác nhận thư tín dụng không thể hủy bỏ của một ngân hàng khác (ngânhàng xác nhận) theo yêu cầu hoặc theo sự ủy nhiệm của ngân hàng pháthành là một sự cam kết chắc chắn của ngân hàng xác nhận cộng thêm vào
sự cam kết chắc chắn của ngân hàng phát hành sẽ trả tiền trên của ngườihưởng lợi miễn là các chứng từ xuất trình chi ngân hàng xác nhận hoặc chobất kỳ một ngân hàng chỉ định nào đó phải phù hợp với các quy định trongthư tín dụng Khi xác nhận, ngân hàng xác nhận đòi ngân hàng phát hànhphải ký quỹ một khoản xác định, khi đó quan hệ giữa hai ngân hàng này trởthành mối quan hệ tín dụng vì khoản tiền ký quỹ được coi như một khoảntiền gửi và được trả lãi Nếu một ngân hàng khác được ngân hàng phát hànhyêu cầu xác nhận một thư tín dụng mà không sẵn sàng làm việc đó thì phảithông báo ngay cho ngân hàng phát hành biết
f) Ngân hàng phát hành và ngân hàng thông báo:
Với yêu cầu thông báo tín dụng chứng từ từ phía ngân hàng phát hành, ngânhàng thông báo và ngân hàng phát hành có mối quan hệ ngang bằng đôngnghiệp vụ và ngân hàng thông báo không chịu bất cứ ràng buộc pháp lýnào
g) Ngân hàng phát hành và ngân hàng hòan trả:
Với số tiền ký quỹ tại ngân hàng để thanh toán tín dụng chứng từ cho ngânhàng thống báo, hay ngân hàng đã xuất hiện mối quan hệ đồng thực hiệnnghiệp vụ mà không có sự đảm bảo nào từ phía ngân hàng hoàn trả Chính
vì thế, ngân hàng hoàn trả sẽ không chịu trách nhiệm trong trường hợp tàikhoản gửi của ngân hàng phát hành không có đủ tiền để thanh toán
1.5.Các bên tham gia phương thức tín dụng chứng từ
1 Người xin mở L/C (Applicant for L/C): là người yêu cầu ngân hàng phục
vụ mình phát hành một L/C, và có trách nhiệm pháp lý về việc trả tiền của ngân hàng cho người bán theo L/C này Người xin mở L/C có thể là người mua (buyer),nhà NK (importer), người mở L/C (opener), người trả tiền (accountee)
Trang 82 Người thụ hưởng L/C (Beneficiary): là người được hưởng tiền thanh toán hay sở hữu hối phiếu chấp nhận thanh toán.Người thụ hưởng L/C có thể có những tên gọi khác nhau như: người bán (seller), nhà XK (exporter), người ký phát hối phiếu (drawer).
3 Ngân hàng phát hành L/C (Issuing Bank) hay ngân hàng mở L/C (Opening Bank): là ngân hàng mà theo yêu cầu của người mua, phát hành một L/C cho người bán hưởng Ngân hàng phát hành thường được hai bên mua bán thoả thuận
và quy định trong hợp đồng mua bán
4 Ngân hàng thông báo (Advising Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành yêu cầu thông báo L/C cho người thụ hưởng Ngân hàng thông báo thường làmột ngân hàng đại lý hay một chi nhánh của ngân hàng phát hành ở nước nhà XK
5 Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): trong trường hợp nhà XK muốn
có sự đảm bảo chắc chắn của thư tín dụng, thì một ngân hàng có thể đứng ra xác nhận L/C theo yêu cầu của ngân hàng phát hành Thông thường ngân hàng xác nhận là một ngân hàng lớn có uy tín và trong nhiều trường hợp ngân hàng thông báo được đề nghị là ngân hàng xác nhận L/C
6 Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng được ngân hàng phát hành uỷ nhiệm để khi nhận được bộ chứng từ phù hợp với những qui định trong L/C thì:
• Thanh toán (pay) cho người thụ hưởng
• Chấp nhận (accept) hối phiếu kỳ hạn
• Chiết khấu (negotiate) bộ chứng từ
Trách nhiệm của ngân hàng được chỉ định là giống như ngân hàng phát hành khinhận được bộ chứng từ của nhà XK gửi đến
2 Quy trình thực hiện phương thức L/C
2.1.Cách thức mở L/C
Ðiều kiện mở L/C:
Ðể được mở L/C, Doanh nghiệp phải nộp tại ngân hàng
- Giấy đăng ký kinh doanh
- Tài khoản ngoại tệ tại Ngân hàng ( muốn mở tài khoản phải đóng ít nhất 500USD vào tài khoản chuẩn bị mở cùng với các giấy tờ sau:
+ Quyết định thành lập Công ty
Trang 9+ Quyết định bổ nhiệm Giám đốc và Kế toán trưởng
Cách thức mở L/C:
Các giấy tờ cần nộp khi đến Ngân hàng để mở L/C:
- Ðối với L/C at sight:
+ Giấy phép nhập khẩu (nếu hàng hoá được quản lý bằng giấy phép)
+ Quota ( đối với hàng quản lý bằng hạn ngạch)
+ Hợp đồng nhập khẩu ( bản sao)
+ Ðơn xin mở L/C at sight ( theo mẫu in sẵn của Ngân hàng) Cơ sở viết đơn làhợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết
- Ðối với L/C trả chậm
+ Giấy phép nhập khẩu ( nếu có) hoặc quota nhập
+ Phương án bán hàng để thanh toán nhập khẩu
+ Ðơn xin mở L/C trả chậm (theo mẫu in sẵn của Ngân hàng).Cơ sở viết đơn làhợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết
+ Ðơn xin bảo lãnh và cam kết trả nợ ( theo mẫu của Ngân hàng)
* Lưu ý khi làm đơn xin mở L/C
- Cơ sở viết đơn là hợp đồng mua bán ngoại thương đã ký kết nhưng nhà nhậpkhẩu có thể thêm một số nội dung có lợi cho mình
- Trên đơn phải có chữ ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu Nếuthực hiện nhập khẩu uỷ thác thì trên đơn xin mở L/C phải có đầy đủ 4 chữ ký: chữ
ký của Giám đốc và Kế toán trưởng đơn vị nhập khẩu uỷ thác và chữ ký của Giámđốc và Kế toán trưởng của đơn vị nhận uỷ thác
- Ðể tránh L/C phải tu chỉnh nhiều lần mất thời gian và tốn kém, nhà nhập khẩu cóthể fax đơn xin mở L/C đến nhà xuất khẩu xem trước và xin ý kiến
- Nhà nhập khẩu nên xem L/C bản gốc và đề nghị tu chỉnh nếu cần để bảo vệquyền lợi cho mình
Ký quĩ mở L/C:
Hiện nay các ngân hàng quy định tỷ lệ ký qũi ( 100%; dưới 100% hoặc không cần
ký quĩ) đối với doanh nghiệp nhập khẩu căn cứ vào:
- Uy tín thanh toán của doanh nghiệp
- Mối quan hệ của doanh nghiệp đối với ngân hàng
- Số dư ngoại tệ trên tài khoản của doanh nghiệp
- Công nợ của doanh nghiệp nhập khẩu
Trang 10- Tính khả thi trong phương án kinh doanh hàng nhập khẩu của đơn vị nhậpkhẩu
* Cách thức ký quĩ:
- Nếu số dư tài khoản tiền gửi của khách hàng lớn hơn số tiền ký quĩ, ngân hành sẽtrích từ tài khoản tiền gửi chuyển sang tài khoản ký quĩ Phòng nhập khẩu trực tiếplàm phiếu chuyển khoản nội dung ký quĩ mở L/C sau đó sẽ chuyển sang Phòng Kếtoán để thực hiện
- Nếu số dư tài khoản tiền gửi nhỏ hơn số tiền ký quĩ, giải quyết bằng hai cách sau:
+ Mua ngoại tệ để ký quĩ
+ Vay ngoại tệ để ký quĩ
Dưới 30% trị giá L/C 0,15% trị giá L/C mở ( min 5USD và max 200 USD)
Miễn ký quĩ 0,2% trị giá L/C mở ( min 5USD và max 300 USD )
Khi mở L/C trả chậm: phải có sự bảo lãnh của ngân hàng nên nhà nhập khẩu phảitrả thêm 0,2% - 0,5% cho mỗi quý tùy vào từng mặt hàng nhập khẩu
2.2.Quy trình thanh toán L/C
Trang 11(1) Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký kết hợp đồng thương mại.
(2) Người nhập khẩu làm thủ tục yêu cầu ngân hàng mở L/C cho người xuất khẩu thụ hưởng
Muốn mở L/C người nhập khẩu phải trả ngân hàng một khoản phí và phải ký quỹ nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của L/C, mức ký quỹ tùy theo hạn mức mỗi ngân hàng quy định và mối quan hệ hợp tác, sự tín nhiêm lẫn nhau giữa ngân hàng với nhà nhập khẩu mà người nhập khẩu có thể được miễn ký quỹ hoặc chỉ ký quỹ một phần trị giá L/C hoặc là phải ký quỹ 100% trị giá L/C
Dựa trên cơ sở hợp đồng mua bán, luật áp dụng và UCP 600, khi phát hành L/C cho người nhập khẩu cần tư vấn cho người nhập khẩu kỹ về các nội dung của L/C như số lượng và các loại chứng từ, thời hạn giao hàng cụ thể…
Do đó trong bước thứ 2 này thấy rằng người nhập khẩu đã thực hiện nghĩa vụ mở L/C của mình và sẽ không thể từ chối trả tiền nếu người xuất khẩu hoàn thành đúng nghĩa vụ giao hàng và cung cấp chứng từ đúng theo yêu cầu L/C
(3) Ngân hàng mở L/C mở L/C theo đúng yêu cầu của người nhập khẩu và chuyểnL/C sang ngân hàng thông báo để báo cho người xuất khẩu biết về việc thư tín dụng đã được mở
Trang 12(4) Ngân hàng thông báo L/C thông báo cho người xuất khẩu biết rằng L/C đã mở
và khi nhận được bản gốc của thư tín dụng thì chuyển ngay cho người xuất khẩu
(5) Dựa vào L/C, người xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng đó thì tiến hành giao hàng, còn nếu không thì tiến hành đề nghị ngân hàng phát hành L/C sửa đổi ,
bổ sung, điều chỉnh thư tín dụng cho phù hợp với hợp đồng
(6) Người xuất khẩu sau khi giao hàng lập bộ chứng từ thanh toán gửi vào ngân hàng thông báo để được thanh toán
(7) Ngân hàng thông báo chuyển bộ chứng từ thanh toán sang ngân hàng mở L/C xem xét trả tiền
(8) Ngân hàng mở L/C sau khi kiểm tra chứng từ nếu thấy phù hợp thư tín dụng thì tiến hành trả tiền cho người xuất khẩu Nếu không phù hợp thì từ chối thanh toán và gửi trả lại toàn bộ chứng từ cho người xuất khẩu (tuy nhiên nếu người nhập khẩu chấp nhận thanh toán thì ngân hàng phát hành thư tín dụng vẫn thanh toán và trừ phí sai sót của bộ chứng từ)
(9) Ngân hàng thông báo ghi có và báo có cho người xuất khẩu
(10) Ngân hàng mở L/C trích tài khoản và báo nợ cho người nhập khẩu
(11) Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao bộ chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng
Thông qua nội dung và quy trình các bước tiến hành phương thức tín dụng chứng
từ như đã mô tả trên đây, chúng ta thấy rằng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ đảm bảo quyền lợi cho nhà xuất khẩu trong việc được ngân hàng đứng racam kết trả tiền còn đối với nhà nhập khẩu thì được ngân hàng đứng ra xem xét, kiểm tra bộ chứng từ nhằm đảm bảo cho bên nhập khẩu nhận đủ hàng, đúng thời hạn giao hàng và chính xác hàng hóa đặt mua trước khi trả tiền
Trong thực tiễn thanh toán quốc tế, đôi khi cũng xảy ra một số trường hợp không hoàn toàn giống như quy trình trên Ví dụ, hàng đã về nhưng nhà nhập khẩu chưa nhận được bộ chứng từ, trong trường hợp này nếu muốn nhận hàng ngay nhà nhậpkhẩu phải làm thế nào? Họ phải thực hiện cam kết đối tịch với ngân hàng rằng sẽ thanh toán vô điều kiện dù chứng từ có khác biệt Ngân hàng sẽ bằng sự tín nhiệm của mình đề nghị đại lý tàu biển giao hàng cho người nhập khẩu dù chưa có vận đơn gốc và cam kết chịu trách nhiệm về điều đó Khi ngân hàng nhận được bộ