1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội

125 998 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 873,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục gồm 3 khâu có liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau: phát hiện, lựa chọn - đào tạo; bồi dưỡng và sử dụng, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một t

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý 11

Sơ dồ 1.2 Các chức năng của quản lý 11

Sơ đồ 1.3: Người lớn học qua kinh nghiệm 33

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Giáo dục 45

Sơ đồ 2.2 Mô hình đào tạo giáo viên của Trường Đại học Giáo dục, 48

Đại học Quốc gia Hà nội

Sơ đồ 3.1: Hình thức1: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để làm việc tôt hơn 75

Sơ đồ 3.2: Hình thức 2: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để tuyển dụng, luân 75

chuyển công tác , đề bạt chức vụ hoặc để nâng ngạch lương 75

Sơ đồ 3.3: Tổ chức, đơn vị có nhu cầu ĐTBD 76

Sơ đồ 3.4: Đào tạo bồi dưỡng đối với xã hội 76

Trang 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Thực trạng công tác giảng dạy các lớp NVSP ĐH 56

của giảng viên 56

Bảng 2.2: Thực trạng hoạt động học tập của học viên các lớp cấp 58

chứng chỉ NVSP ĐH 58

Bảng 2.3: Kết quả học tập của học viên các lớp BD cấp chứng chỉ NVSP 60 Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong 63

thi cử của các lớp đào tạo cấp chứng chỉ NVSP ĐH 63

Bảng 3.1: Mô tả quy trình thực hiện bồi dưỡng NVSP……….81

Bảng 3.2: Đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động các lớp bồi dưỡng NVSP ĐH do Trường Đại học Giáo dục tổ chức 93

Biểu đồ 2.1: Kết quả học tập các lớp BD NVSP ĐH từ năm 2009-2012 62

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ….……… ……i

Danh mục các cụm từ viết tắt……….……… ii

Danh mục sơ đồ….……….………… iii

Danh mục bảng biểu ……… iv

Mục lục ……… v

MỞ ĐẦU ……… 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG 6

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 6

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 7

1.2.1 Quản lý 7

1.2.1.1 Khái niệm quản lý 7

1.2.1.2 Các chức năng của quản lý 11

1.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng 13

1.2.3 Quá trình đào tạo và quản lý quá trình đào tạo 14

1.2.4 Quản lý nhà trường 16

1.2.5 Đào tạo nghiệp vụ sư phạm 20

1.2.6 Giảng viên đại học 25

1.2.7 Bồi dưỡng Nghiệp vụ Sư phạm đại học 28

1.2.8 Học viên Nghiệp vu sư phạm đại học 29

1.2.9 Giáo dục người lớn 30

1.2.10 Liên kết đào tạo, bồi dưỡng 33

1.3 Nội dung quản lý hoạt động bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm đại học 35

1.3.1 Chương trình bồi dưỡng NVSP ĐH 35

1.3.2 Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học 36 1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý hoạt động bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm đại học do Trường Đại học Giáo dục tổ chức tại các cơ sở giáo dục 38

Trang 5

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI

HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 41

2.1 Khái quát về Trường ĐH Giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội 41

2.1.1 Cơ cấu tổ chức của nhà trường 45

2.1.2 Về cơ sở vật chất, học liệu và thiết bị dạy học 46

2.2 Hoạt động chuyên môn , nghiệp vụ 48

2.2.1 Công tác đào tạo, bồi dưỡng 48

2.2.2 Công tác nghiên cứu khoa học 52

2.2.3 Công tác quan hệ quốc tế 53

2.3 Thực trạng hoạt động đào tạo và bồi dưỡng Nghiệp vụ Sư phạm đại học do Trường Đại học Giáo dục tổ chức 54

2.3.1 Chương trình Bồi dưỡng Nghiệp vụ Sư phạm đại học 54

2.3.2 Tổ chức, triển khai chương trình bồi dưỡng 56

2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục 65

2.4.1 Quản lý đội ngũ cán bộ, giảng viên 65

2.4.2 Quản lý việc thực hiện các văn bản pháp quy 67

2.4.3 Quản lý tổ chức, triển khai chương trình bồi dưỡng 67

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM ĐẠI HỌC CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 73

3.1 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp 73

3.1.1 Nguyên tắc phù hợp, khả thi 73

3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa 73

3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73

3.2 Ý nghĩa của việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục 74

3.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng cấp chứng chỉ NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN 75

3.3.1 Biện pháp 1: Tổ chức khảo sát nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng 75

3.3.2 Biện pháp 2: Xây dựng quy trình quản lý hoạt động bồi dưỡng cấp chứng chỉ Nghiệm vụ sư phạm đại học 77

Trang 6

3.3.3 Biện pháp 3: Tăng cường công tác quản lý học viên 83

3.3.5 Biện pháp 5: Hoàn thiện hệ thống quản lý hồ sơ các khóa Nghiệp vụ sư phạm đại học 85

3.3.6 Biện pháp 6: Phối hợp với các cơ sở liên kết đào tạo tăng cường cơ sở vật chất phục vụ hoạt động dạy - học, nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hoạt động dạy và học 86

3.3.7 Biện pháp 7: Tăng cường đổi mới hình thức dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học viên theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học viên 87

3.3.8 Biện pháp 8: Quản lý công tác cấp phát và lưu trữ hồ sơ, chứng chỉ 91 Tiểu kết chương 3 94

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1 Kết luận 95

2 Khuyến nghị 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 100

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam là một tất yếu khách quan thể hiện quy luật về quy định của xã hội đối với giáo dục Một trong những khâu đột phá trong đổi mới giáo dục ở nước ta hiện nay là đổi mới công tác quản lý giáo dục mà nòng cốt là công tác đối với cán bộ quản lý giáo dục Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng chính là tiền đề cho đổi mới quản lý giáo dục trên quy mô quốc gia cũng như ở từng cơ sở giáo dục Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục gồm 3 khâu có liên quan chặt chẽ, mật thiết với nhau: phát hiện, lựa chọn - đào tạo; bồi dưỡng và sử dụng, trong đó đào tạo, bồi dưỡng là một trong những khâu quyết định chất lượng của đội ngũ cán bộ quản

Trường Đại học Giáo dục (Khoa Sư phạm trước đây) được thành lập ngày 03 tháng 04 năm 2009 theo Quyết định số 441/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, với sứ mệnh cao cả là phấn đấu trở thành cơ sở giáo dục đại học theo định hướng đại học nghiên cứu nhằm đào tạo đội ngũ giảng viên, giáo viên cho các bậc học; cán bộ quản lý giáo dục; cán bộ giáo dục và cán bộ nghiên cứu về khoa học giáo dục trên cơ sở liên kết với các chuyên gia, cơ

sở giáo dục trong và ngoài nước để dần tiến tới đưa các hoạt động của Trường đạt chuẩn khu vực, trong đó có bộ phận đạt chuẩn quốc tế Với sứ

Trang 8

mệnh như vậy, tháng 12 năm 2008 Trường Đại học Giáo dục (Khoa Sư phạm trước đây) đã được Bộ Giáo dục và đào tạo giao nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng NVSP ĐH cho đội ngũ giảng viên ĐH và CĐ trong cả nước Ngoài ra Trường còn tổ chức các khoá đào tạo ngắn hạn cấp chứng chỉ QLGD, Lý luận và phương pháp giảng dạy đại học, NVSP bậc 1, NVSP bậc 2, với số lượng mỗi năm hàng nghìn học viên

Với trách nhiệm là người tham gia quản lý các khoá bồi dưỡng NVSP

ĐH của Trường Đại học Giáo dục, tác giả nhận thấy vấn đề tổ chức quản lý các khoá bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục ngày càng trở nên cấp thiết Vì vậy, việc đề xuất các biện pháp quản lý các khoá bồi dưỡng NVSP

ĐH để ngày càng nâng cao chất lượng chương trình nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng trong việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường ĐH, CĐ trong

cả nước là vấn đề được lãnh đạo nhà trường rất quan tâm Xuất phát từ những

lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP

ĐH của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà nội” để nghiên cứu

với mong muốn tìm ra một quy trình quản lý tối ưu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo NVSP cho giảng viên các trường ĐH, CĐ trong cả nước, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Giáo dục, cũng như chất lượng đội ngũ giảng viên ĐH, CĐ của nước ta nói riêng

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác bồi dưỡng giảng viên

và phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục trong những năm qua, từ đó đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

Trang 9

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu để đạt được mục đích đã đề ra tác giả tập trung giải quyết

- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

- Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất trong luận văn

4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động đào tạo bồi dưỡng giảng viên các trường đại học và cao đẳng

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH cho giảng viên các trường đại học và cao đẳng

5 Giả thuyết khoa học

Công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP là một công việc không thể thiếu trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên các trường đại học và cao đẳng Làm tốt công tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng

đào tạo của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

Việc đề xuất được một số biện pháp quản lý có cơ sở khoa học và thực tiễn sẽ góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

Trang 10

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận, cơ sở khoa học về quản lý, quản

lý đào tạo, bồi dưỡng, chỉ ra những thực trạng của việc quản lý, tìm ra những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng NVSP ĐH của

Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho việc tổ chức các khoá bồi dưỡng tại Trường Đại học Giáo dục, ĐHQGHN và các cơ sở giáo dục đại học khác nhằm góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng NVSP ĐH cũng như chất lượng giáo dục của nhà trường đồng thời giúp cho công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng cán bộ ngày càng chuyên nghiệp hơn

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

Các nghiên cứu khảo sát được tiến hành tại Trường Đại học Giáo dục

và các tỉnh có lớp bồi dưỡng NVSP ĐH do Trường Đại học Giáo dục tổ chức Khảo sát và sử dụng các số liệu của các khoá bồi dưỡng NVSP ĐH

từ năm 2009 trở lại đây

8 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

8.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tham khảo tài liệu, nghiên cứu các tài liệu về quản lý, chương trình bồi dưỡng NVSP ĐH và những lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu

8.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Điều tra - khảo sát bằng phiếu hỏi, tìm hiểu thực tế, tổng kết kinh nghiệm, tham vấn chuyên gia

8.3 Nhóm phương pháp xử lý thông tin

Định lượng, định tính, thống kê và phân tích số liệu thống kê

Trang 11

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ

lục, luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH cho

giảng viên đại học, cao đẳng

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của

Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường

Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ

SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng chính là đội ngũ giảng viên Sự phát triển của GD & ĐT ngày nay đòi hỏi người giảng viên cần có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại Để có được đội ngũ giáng viên đủ mạnh, đủ chuẩn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giảng viên là hết sức cần thiết và quan trọng Vấn đề này đã được các nhà khoa học giáo dục, các nhà QLGD quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ 21 với nền kinh tế tri thức và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục

Ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục,… quan tâm nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giảng viên ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên và của công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động không thể thiếu được trong công tác bồi dưỡng giảng viên đang tham gia công tác giảng dạy Các vấn đề liên quan tới đào tạo và bồi dưỡng NVSP cho giảng viên đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều chuyên gia đề cập tới Đã có khá nhiều công trình như: Lê Trần

Lâm với “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ

Trang 13

nhiệm đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo mới”( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “Bồi dưỡng và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện nghiệp

vụ SP thường xuyên” (2004), Hà Thị Thanh Thủy với “Các biện pháp quản

lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các lớp cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà nội”,

Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận văn, bài báo đề cập tới hoạt động bồi dưỡng giảng viên nhưng chưa công trình nào đề cập tới quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà nội, đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở các lớp bồi dưỡng NVSP ĐH do Trường Đại học Giáo dục tổ chức

1.2 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu

1.2.1 Quản lý

1.2.1.1 Khái niệm quản lý

Trong lịch sử phát triển xã hội, từ khi con người biết kết hợp sức nhau lại để tự vệ hoặc mưu sinh, thì bên cạnh lao động chung của mỗi người đã xuất hiện những hoạt động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển như một tất yếu khách quan nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định Dạng lao động đặc thù đó được gọi là quản lý

Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời cũng

là sản phẩm có tính lịch sử K.Marx đã viết: “ Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác định sự tương hợp

Trang 14

giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [ 28, tr.19 ]

Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó

Tuỳ theo những cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:

- W Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 28, tr.23 ]

- Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng: Quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt,

là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định

- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức” [ 28, tr.25 ]

- Quan điểm triết học cho rằng: Quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó

- Theo quan điểm chính trị xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [8, tr.7]

Trang 15

- Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [26, tr 43]

Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức

Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản

lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu

là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.” [19, tr.15]

Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.” [25, tr.8]

Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.” [3, tr.17]

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.” [8, tr.3]

Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau: Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý

Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương

hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy

Trang 16

sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý

Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa:

Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra

Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau:

- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định

- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc

- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan

- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin

Tóm lại, những khái niệm về quản lý nêu trên đều có các đặc trưng

chủ yếu là: tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý Đây được xem là cơ sở phương pháp luận của mọi hoạt động quản lý

Như vậy, có thể nói, quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định

Trong các diễn đạt trên đây đều cho thấy những điểm chung như sau: + Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động

xã hội loài người Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển

+ Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội

Trang 17

+ Yếu tố con người, trong đó chủ yếu bao gồm người quản lý và người bị quản lý, họ giữ vai trò trung tâm trong hoạt động quản lý

Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý (chủ thể quản lý) đến người bị quản lý (khách thể quản lý) nhằm đạt mục tiêu chung Bản chất đó có thể được thể hiện ở sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý

1.2.1.2 Các chức năng của quản lý

MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI

C«ng cô, PP qu¶n lý

Môc tiªu qu¶n lý

Trang 18

Theo sơ đồ trên, quá trình quản lý diễn ra các hoạt động cụ thể của chủ thể quản lý với sự tham gia tích cực của các thành viên trong tổ chức như dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo lãnh đạo, giám sát, kiểm tra đánh giá, trong đó các hoạt động trên đan xen nhau, tác động, bổ sung lẫn nhau để hoàn thiện cả quá trình quản lý

Dự báo và lập kế hoạch là một chức năng cơ bản của quản lý, trong đó

phải xác định những vấn đề như nhận dạng và phân tính tình hình, bối cảnh;

dự báo các khả năng; lựa chọn và xác định các mục tiêu, mục đích và hoạch định con đường, cách thức, biện pháp để đạt được mục tiêu, mục đích của quá trình Trong mỗi kế hoạch thường bao gồm các nội dung như xác định hình thành mục tiêu, xác định và đảm bảo về các điều kiện, nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu và cuối cùng là quyết định xem hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đặt ra

Tổ chức là quá trình tạo lập các thành phần, cấu trúc, các quan hệ giữa

các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản

lý và sử dụng các nguồn lực của tổ chức Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng để thực hiện nhiệm vụ của tổ chức

Lãnh đạo/Chỉ đạo bao hàm việc định hướng và lôi cuốn mọi thành viên

của tổ chức thông qua việc liên kết, liên hệ với người khác và khuyến khích, động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức Tuy nhiên, hiểu lãnh đạo không chỉ sau khi lập kế hoạch có tổ chức thì mới có lãnh đạo, mà là quá trình đan xen Nó thấm vào và ảnh hưởng quyết định đến các chức năng kia, điều hòa, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức trong quá trình quản lý

Trang 19

Kiểm tra, đánh giá là chức năng của quản lý Thông qua đó, một cá

nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động

và tiến hành những hoạt động sửa chữa uốn nắn cần thiết Đó là quá trình tự điều chỉnh, diễn ra có tính chu kỳ từ người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động, đối chiếu đo lường kết quả, sự thành đạt so với mục tiêu chuẩn mực đã đặt ra, điều chỉnh những vấn đề cần thiết và thậm chí phải hiệu chỉnh, sửa lại những chuẩn mực cần thiết

Tuy nhiên việc xác định các chức năng trong quá trình quản lý không thể rạch ròi, riêng biệt từng chức năng mà là quá trình đan xen, kết hợp để thực hiện mục tiêu cuối cùng của một quá trình quản lý

1.2.2 Đào tạo và bồi dưỡng

Đào tạo - Bồi dưỡng là một khái niệm kép thuộc phạm trù phát triển nguồn nhân lực (Human Resource Development)

Đào tạo (training) là quá trình giáo dục theo mục tiêu, chương trình, phương pháp và quy trình cụ thể, tương ứng với từng bậc học (ĐH, SĐH), từng loại hình đào tạo cụ thể (đào tạo chính quy, đào tạo không chính quy) Khái niệm đào tạo thường được dùng cho chương trình giáo dục sau trung học (có quan điểm đồng nhất với giáo dục đại học)

Bồi dưỡng (Improvement) là quá trình bồi bổ, tu dưỡng để nâng cao năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức của một cá nhân Quá trình này có thể được tác động từ bên ngoài theo một chương trình xác định, cũng có thể

là một quá trình tự giác của một cá nhân theo nhu cầu

Đào tạo - Bồi dưỡng cán bộ luôn gắn với mục tiêu phát triển NNL của một tổ chức Đồng thời với quá trình tuyển dụng, sử dụng, quản lý cán bộ, đào tạo - bồi dưỡng là một nội dung cơ bản của công tác quản lý và phát triển NNL Công tác này bao gồm:

- Các chương trình đào tạo dài hạn (chính quy hoặc không chính quy) nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và cấp văn bằng xác nhận trình độ học

Trang 20

vấn tương ứng: cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ (nằm trong hệ thống văn bằng nhà nước quy định)

- Các chương trình bồi dưỡng ngắn hạn nhằm bổ túc kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, có hoặc không cấp các loại chứng chỉ xác nhận sau khi kết thức khoá học

Đào tạo nguồn nhân lực là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian xác định nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để con người thích nghi với công việc hiện tại mà họ đang đảm nhận

1.2.3 Quá trình đào tạo và quản lý quá trình đào tạo

1.2.3.1 Quá trình đào tạo

Quá trình đào tạo là một chỉnh thể, có cấu trúc gồm nhiều thành tố, mỗi thành tố có vị trí xác định, có chức năng riêng và có mối quan hệ mật thiết, biện chứng với nhau Quá trình đào tạo là một chỉnh thể thống nhất, ngoài hai nhân tố cơ bản là giảng viên/giáo viên và học viên/học sinh còn có nhiều nhân tố khác tham gia Các nhân tố đó bao gồm: Mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức đào tạo cùng với môi trường văn hóa, chính trị, xã hội, kinh tế, khoa học, kỹ thuật của đất nước trong trào lưu phát triển của thời đại

Quá trình đào tạo bắt đầu từ việc xây dựng mục tiêu đào tạo từ đó xác định các nhiệm vụ cụ thể Mục tiêu được xác định đúng và mọi người đều được thấm nhuần, đều ý thức được nó thì mới đạt đến chất lượng và hiệu quả Ngoài các yếu tố khác như nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, phương tiện, thiết bị thì đào tạo cần có một môi trường thuận lợi ở cả hai phương diện vi mô và vĩ mô

Sự vận động và phát triển của quá trình đào tạo là kết quả của quá trình tác động biện chứng giữa các nhân tố trên Muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải nâng cao chất lượng của từng thành tố và đồng thời nâng cao chất lượng tổng hợp của toàn hệ thống

Trang 21

1.2.3.2 Quản lý quá trình đào tạo

Trong quản lý giáo dục có quản lý dạy học và quản lý quá trình đào tạo Một cách tổng quát ta có thể hiểu quản lý giáo dục và đào tạo là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo các thế hệ công dân theo yêu cầu phát triển của xã hội

Cũng như hoạt động KT-XH, quản lý đào tạo có hai chức năng tổng quát: Thứ nhất, đó là chức năng ổn định, duy trì quá trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế - xã hội trong giai đoạn trước mắt Thứ hai là chức năng đổi mới, phát triển quá trình đào tạo đón đầu sự tiến bộ của KT - XH

Từ hai chức năng tổng quát trên, quản lý giáo dục và đào tạo phải quán triệt, gắn bó với 4 chức năng:

- Lập kế hoạch đào tạo: Đưa mọi hoạt động giáo dục và đào tạo vào

kế hoạch với mục tiêu, biện pháp rõ ràng, bước đi cụ thể, ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu

- Tổ chức đào tạo: Hình thành và phát triển quá trình đào tạo tương ứng với mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn

- Chỉ huy, điều hành quá trình đào tạo: Chức năng này mang tính tác nghiệp trong quá trình thực hiện kế hoạch, lưu ý lấy ý kiến một cách dân chủ của cơ sở và điều hành, chỉ huy một cách tập trung, thống nhất

- Kiểm tra: Việc này gắn với đánh giá kết quả đào tạo, tổng kết kinh nghiệm đào tạo, điều chỉnh mục tiêu Tóm lại, quản lý đào tạo là quản lý các yếu tố chủ đạo sau:

+ Mục tiêu đào tạo

+ Nội dung đào tạo

+ Phương pháp, hình thức đào tạo

+ Lực lượng đào tạo (giảng viên/giáo viên)

+ Đối tượng đào tạo (học viên/học sinh)

+ Hình thức tổ chức đào tạo

Trang 22

+ Điều kiện đào tạo

+ Môi trường đào tạo

+ Quy chế đào tạo

+ Bộ máy tổ chức đào tạo

Trong quá trình đào tạo các yếu tố trên vận động, tương tác với nhau, làm nảy sinh những tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải quyết kịp thời Vì vậy quản lý đào tạo chính là quá trình xử lý tình huống có vấn đề trong quá trình đào tạo để nhà trường phát triển, đạt tới chất lượng tổng thể bền vững

1.2.4 Quản lý nhà trường

1.2.4.1 Khái niệm

Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện chức năng tái tạo và phát triển xã hội, theo nghĩa hình thành và phát triển nhân cách mỗi thành viên của xã hội, hướng tới sự duy trì và phát triển xã hội Thiết chế chuyên biệt này hoạt động trong tính quy định của xã hội và theo các dấu hiệu phân biệt

Như vậy, nhà trường là cơ quan chuyên trách việc đào tạo con người mới xã hội, là một thiết chế xã hội được tổ chức và hoạt động theo một mục đích xác định, với một nội dung giáo dục được chọn lọc và sắp xếp hệ thống, với những phương pháp giáo dục cơ sở khoa học và thực tiễn, với những nhà sư phạm đã đựoc trang bị đầy đủ về kiến thức khoa học và phẩm chất đạo đức

Nhà trường là một hệ thống xã hội: theo cách tiếp cận hệ thống, nhà trường là một bộ phận hay hệ thống con, phân hệ của hệ thống xã hội Đến lượt mình, hệ thống con đó cũng tự nó là một hệ thống của hệ thống xã hội

Vì vậy, nhà trường là một hệ thống xã hội với các thành tố:

- Thành tố con người bao gồm: trước hết là hai thành viên cơ bản là người dạy

và người học, kế đó là đội ngũ cán bộ quản lý, đội ngũ cán bộ, nhân viên giúp việc

Trang 23

- Thành tố vật chất của nhà nhà trường bao gồm: các cơ sở trường lớp, trang thiết bị đồ dùng phục vụ giảng dạy và học tập, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo

- Thành tố ý thức, tinh thần: là toàn bộ tri thức, kỹ năng, thái độ mà xã hội đã tích luỹ, tái tạo được và phát triển trong nhà trường thông qua hoạt động dạy và học; là hệ tư tưởng chỉ đạo, là quan điểm đường lối phát triển giáo dục, thể hiện ở đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước;

là tinh thần nghề nghiệp, lương tâm nhà giáo

- Thành tố quá trình: là quá trình cơ bản, phản ánh bản chất của nhà trường, tạo nên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác trong xã hội, là quá trình sư phạm Tuy nhiên, còn có những quá trình thứ yếu, tuy không kém phần quan trọng khác thuộc về yếu tố quá trình của nhà trường như quá trình xây dựng trường, lớp, quá trình xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực trong nhà trường

Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi một nhà trường Theo

tác giả Phạm Minh Hạc: “ QLNT là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo”[13, tr.18]

Trong quản lý và thực tiễn QLNT gồm hai loại tác động quản lý: (1) tác động của những chủ thể QL bên ngoài nhà trường nhằm định hướng cho nhà trường, tạo điều kiện cho nhà trường hoạt động và phát triển, (2) tác động của chính chủ thể bên trong nhà trường, hoạt động tổ chức các chủ trương, chính sách giáo dục thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức chỉ đạo

và kiểm tra để đưa nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra

Quản lý nhà trường là những tác động quản lý của các cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điều kiện cho hoạt động giảng dạy và học tập của nhà trường QLNT cũng bao gồm những chỉ dẫn, quyết định của các thực thể bên ngoài nhà trường nhưng có liên quan trực tiếp đến nhà trường,

Trang 24

nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó

Quản lý nhà trườngdo chủ thể quản lý bên trong nhà trường(Hiệu trưởng) bao gồm hoạt động: (a) quản lý giáo viên, (b) quản lý học viên, (c) quản lý quá trình đào tạo, (d) quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị nhà trường, (e) quản lý tài chính nhà trường, (f) quản lý lớp học, (g) quản lý quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng

Như vậy, Quản lý nhà trườngcòn được coi là:

- Tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý tới tập thể giảng viên, học sinh, học viên và cán bộ công nhân viên trong nhà trường, nhằm tận dụng các nguồn lực do nhà nước đầu tư, do xã hội đóng góp và do nhà trường tạo ra

- Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà trọng tâm là hoạt động giảng dạy và học tập

- Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới

Tóm lại, QLNT là hoạt động quản lý được thực hiện trong phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội Hiện nay, lãnh đạo và người quản lý nhà trường quan tâm nhiều đến các thành tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quản lý và kết quả; đó là các thành tố trung tâm của quá trình

sư phạm, nếu quản lý và tác động hợp quy luật, sẽ đảm bảo cho một chất lượng tốt trong nhà trường

1.2.4.2 Mục tiêu quản lý nhà trường

Mục tiêu QLNT là nhằm đạt được chỉ tiêu cho mọi hoạt động của nhà trường được dự kiến trước khi triển khai công việc đó Mục tiêu QLNT thường được cụ thể hoá trong kế hoạch năm học của nhà trường

Trang 25

Trong quản lý cần xác định các mục tiêu, bộ phận chính xác để từ đó

có các biện pháp quản lý tốt hơn và cũng là thực hiện phát huy tốt công tác kiểm tra hoạt động chuyên môn ở nhà trường

Mục tiêu bộ phận bao gồm:

- Quản lý đảm bảo hiệu lực pháp chế về GDĐT

- Phát huy và điều hành có hiệu quả bộ máy tổ chức và nhân lực

- Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn tài lực và vật lực dạy học

- Nâng cao chất lượng thông tin và môi trường quản lý dạy học

1.2.4.3 Đối tượng và khách thể trong quản lý nhà trường

- Chủ thể QLNT là Hiệu trưởng, có sự tham gia của các đoàn thể quần

chúng đại diện cán bộ giảng viên và học sinh trong nhà trường, lãnh đạo của

tổ chức cơ sở Đảng

- Đối tượng QLNT là đội ngũ giảng viên, học viên và cán bộ công nhân viên (CBCNV) với những hoạt động giảng dạy, học tập – rèn luyện của học viên và các hoạt động khác, cùng các phương tiện và điều kiện để thực hiện các hoạt động đó

- Khách thể trong QLNT là trạng thái hoạt động của nhà trường, là mức độ

ổn định và sự thực hiện Điều lệ nhà trường, mục tiêu và kế hoạch đào tạo của nhà trường

1.2.4.4 Nguyên tắc quản lý nhà trường

Công tác QLNT phải thực hiện theo những nguyên tắc sau đây:

- Đảm bảo sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng đối với toàn

bộ công tác giáo dục trong nhà trường

- Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo công việc của nhà trường

- Đảm bảo nguyên tắc khoa học cao trong hoạt động quản lý,

- Đảm bảo nguyên tắc thiết thực và cụ thể trong công tác quản lý, các công việc phải được thực hiện, hoàn thành có chất lượng và hiệu quả

Trang 26

1.2.5 Đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

1.2.5.1 Nghiệp vụ sư phạm

Trường sư phạm là những trường đào tạo ra những người làm nghề dạy học và giáo dục Trong số các môn học trang bị năng lực nghề nghiệp cho giáo sinh giảng dạy một môn học ở trường phổ thông (như Toán học, Ngữ văn, Lịch sử v.v.) thì các môn học thuộc kiến thức NVSP chiếm vị trí quan trọng và tạo ra sự khác biệt giữa đào tạo giáo viên ở trường sư phạm với đào tạo nhà khoa học ở các trường đại học khác Chúng ta cùng xem xét các khái niệm về nghiệp vụ và nghiệp vụ sư phạm:

Theo từ điển tiếng Việt (1997) thì:” nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề”, công việc chuyên môn chính của nghề giáo là: Dạy học một môn

cụ thể ở nhà trường, trực tiếp giáo dục học sinh hoặc tham gia vào quá trình đó

- Nghiệp vụ sư phạm theo nghĩa rộng: là toàn bộ hoạt động sư phạm với

tư cách là hệ thống công việc mang tính nghề nghiệp, phân biệt với các lĩnh vực khác như nghiệp vụ ngân hàng, nghiệp vụ công an v.v.Theo nghĩa hẹp: là các phương thức, phương pháp, kỹ năng, các thủ thuật ứng xử của người thầy giáo trong giảng dạy, giáo dục, giao tiếp với học sinh và các tầng lớp nhân dân

Trong thực tế, thuật ngữ NVSP còn được dùng theo nghĩa: là cách thức, thủ thuật mà người thầy giáo sử dụng trong giao tiếp và ứng xử với cá nhân, tập thể học sinh và các lực lượng xã hội khác hay còn gọi là hoạt động

sư phạm và để thực hiện được hoạt động này, cần có các hệ thống tri thức về hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng tương ứng như:

+ Hệ thống tri thức hoạt động sư phạm: gồm tri thức nghề là tri thức chung của bậc đào tạo như Giáo dục học đại cương v.v , tri thức khoa học chuyên ngành như Toán học, Ngữ văn, Lịch sử v.v (nhiều người quan niệm rằng đây là khoa học cơ bản) và tri thức khoa học giáo dục bao gồm Tâm lý học, Giáo dục học, Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn, v.v được gọi chung là tri thức khoa học nghiệp vụ

Trang 27

+ Hệ thống kỹ năng: gồm các kỹ năng thuộc lĩnh vực khoa học chuyên ngành, kỹ năng khoa học giáo dục (dạy học, giáo dục, xử lý tình huống dạy học, giáo dục v.v.) và các kỹ năng nghiên cứu khoa học, giao tiếp, tự học, tự bồi dưỡng cùng thái độ, phẩm chất, tình cảm thuộc năng lực

và phẩm chất nghề nghiệp của người giáo viên

Có một số quan niệm cho rằng để hoạt động thuận lợi trong lĩnh vực

sư phạm chỉ cần có tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản) và các tri thức khoa học nghiệp vụ là đủ Thậm chí nhiều người chỉ đề cao tri thức khoa học chuyên ngành (cơ bản), song có 3 vấn đề chưa thoả đáng sau đây:

+ Thứ nhất: thuật ngữ khoa học cơ bản không phản ánh đúng diện

mạo và tính chất của một khoa học trong hệ thống phân loại khoa học (không có khoa học nào được coi là cơ bản và không cơ bản)

+ Thứ hai: nếu trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp được dựa chủ yếu trên nền

tảng của một hoặc một số lĩnh vực tri thức khoa học nào đó (chẳng hạn kỹ sư chế tạo máy dựa trên nền tảng kiến thức toán - lý) và được gọi là tri thức khoa học cơ bản, thì trong lĩnh vực hoạt động sư phạm, tri thức khoa học cơ bản không chỉ là tri thức khoa học chuyên ngành mà còn là tri thức khoa học giáo dục

+ Thứ ba, nếu hoạt động sư phạm chỉ giới hạn trong các lĩnh vực khoa

học cơ bản và nghiệp vụ thì hoàn toàn chưa đủ Do tính đặc thù của hoạt động sư phạm đòi hỏi người thầy giáo cần phải có nhiều hiểu biết về nhiều lĩnh vực khác nhau, tạo thành hệ thống tri thức văn hoá sâu rộng: tâm lý học, văn hoá học, đạo đức học, triết học v.v Vì vậy trong quá trình học tập ở trường sư phạm, người thầy giáo ít nhất phải nghiên cứu, tiếp thu những lĩnh vực tri thức sau:

+ Kiến thức văn hoá chung

Văn hoá chung được hiểu là những tri thức cơ bản về xã hội và nhân văn gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng, dân tộc, quốc gia và của cả nhân loại, văn hoá và văn minh nhân loại, văn hoá học Việt Nam, dân tộc học Việt Nam, xã hội học Việt Nam, lịch sử phát triển tư tưởng và giáo dục Việt Nam,

Trang 28

triết học và các khoa học về ứng xử v.v Trong nhà trường sư phạm, những lĩnh vực khoa học này được tập trung dưới tên gọi là những môn chung Tuy nhiên trong thực tế không phải cơ sở đào tạo nào cũng xác định đúng những lĩnh vực văn hoá chung này Ví dụ không ít trường trong chương tình đào tạo giáo viên dạy các môn khoa học tự nhiên (toán, lý, hoá, sinh v.v) sinh viên không được nghiên cứu Văn hoá học Việt Nam, lịch sử phát triển tư tưởng và giáo dục Việt Nam Có lẽ không cần bàn luận thêm nhiều cũng đủ thấy nếu người sinh viên sư phạm không được cung cấp các tri thức cơ bản về văn hoá gắn với sự phát triển của cộng đồng và dân tộc mình thì dễ xuất hiện nguy cơ trở thành thợ dạy học, chỉ biết duy nhất việc dạy học môn khoa học nào đó như nhiều giáo viên hiện nay Do đó, việc trở thành nhà sư phạm đối với họ sẽ gặp nhiều khó khăn mà muốn khắc phục nó buộc họ phải tự mình trang bị những kiến thức nói trên trong hoạt động sư phạm của mình Vì vậy ngay trong nhà trường sư phạm cần trang

bị cho sinh viên những tri thức khoa học nền tảng Tuy nhiên cũng cần lưu ý các lĩnh vực văn hoá chung rất sâu và rộng, do đó việc xác định những lĩnh vực cơ bản và cần thiết để dạy cho sinh viên sư phạm là rất khó khăn v.v

+ Kiến thức khoa học bộ môn

Kiến thức khoa học bộ môn được hiểu là tri thức của lĩnh vực khoa học

mà người thầy giáo sau này phải tổ chức truyền thụ cho học sinh Hiển nhiên là người thầy giáo phải nắm vững những tri thức khoa học cần phải dạy cho học sinh Vấn đề quan tâm hàng đầu và chủ yếu của nhà khoa học hay của người thực hành là những tri thức cơ bản của tài liệu, khả năng ứng dụng và hướng phát triển của nó Ngoài ra những vấn đề khác của tài liệu là thứ yếu Trong khi

đó, đối với nhà sư phạm, không chỉ bản thân tri thức khoa học mà cả logic hình thành chúng đều quan trọng Nhà sư phạm không chỉ hiểu nội dung tài liệu mà còn phải biết tái tạo lại con đường, logic đã sản sinh ra nội dung đó Nói cách khác đối với mỗi sinh viên sư phạm, tri thức khoa học bộ môn phải được sáng tỏ trên cả hai phương diện: logic của tri thức khoa học và logic tạo ra chúng

Trang 29

+ Kiến thức về tâm – sinh lý học sinh

Không cần phải phân tích nhiều cũng đủ sáng tỏ tầm quan trọng của vấn

đề hiểu đối tượng học sinh của người thầy giáo trong hoạt động sư phạm Vốn tri thức về tâm- sinh lý học sinh càng trở nên quan trọng trong hoạt động giáo dục hiện nay, khi mà trẻ em là hệ thống mở và phát triển có gia tốc cao

Sự hiểu biết tâm lý học sinh của người thầy giáo bao hàm cả hiểu biết

về đặc trưng thể chất - tâm lý lứa tuổi nói chung, các đặc điểm riêng của cá nhân Những đặc điểm hiện tại và chiều hướng phát triển trong tương lai cùng với hoàn cảnh sống ảnh hưởng tới sự phát triển của các em, trong tình huống bình thường và các hành vi xảy ra trong các tình huống bất thường v.v

+ Kiến thức về phương pháp dạy học bộ môn

Trong nền giáo dục trước đây, với mục tiêu là hình thành ở người học những hiểu biết nhất định về lĩnh vực nào đó nên nhiệm vụ chủ yếu của người thầy giáo là truyền giảng những điều đã được học trước đó Cơ chế tâm lý chủ yếu của người học là trí nhớ và tư duy sáng tạo Những tri thức

mà xã hội cần truyền lại cho thế hệ sau chủ yếu được thực hiện qua kênh người thầy giáo Vì vậy, đối với thầy giáo việc hiểu tài liệu giảng dạy là nhiệm vụ quan trọng nhất Ngày nay, vai trò người thầy giáo đã thay đổi Thầy giáo không còn giữ vai trò toàn quyền đối với khoa học trước học sinh Các em có thể học qua nhiều kênh thông tin khác nhau Việc học theo đúng nghĩa của nó hiện nay là sử dụng tư duy sáng tạo, còn việc ghi nhớ dần dần được chuyển ra bên ngoài thông qua các phương tiện kỹ thuật Vì vậy trong mọi trường hợp, vai trò của người thầy giáo hiện nay là định hướng cho người học trong học tập và tu dưỡng đạo đức, giúp đỡ họ khi gặp khó khăn, điều khiển và điều chỉnh hoạt động học tập của các người học khi cần thiết Vai trò của người thầy giáo chuyển dần từ trung tâm, quyết định sang ngoại vi

và trở thành yếu tố điều kiện, tác nhân Chính vì vậy, việc hiểu tài liệu học tập của học sinh không còn là yếu tố quan trọng duy nhất của người thầy giáo như

Trang 30

trước kia nữa, mà thay vào đó là phương pháp định hướng, giúp đỡ, tổ chức và điều khiển, điều chỉnh hoạt động học tập của học sinh, đó là phương pháp dạy học bộ môn Phương pháp dạy học hiện đại không còn được hiểu theo nghĩa các phương pháp truyền thụ của người thầy giáo với mọi hình thức, mà là phương pháp hướng đạo, với mục đích chỉ ra cho học sinh nguồn tài liệu chứa đựng thông tin cần chiếm lĩnh, cách khai thác thông tin tối ưu, cách sử dụng thông tin hữu ích và sau cùng, là cách sáng tạo thông tin

+ Phương pháp giáo dục học sinh

Trong thực tế ở các trường sư phạm và phổ thông, mối quan tâm chủ yếu là dạy học còn giáo dục vẫn bị xem nhẹ hơn, trong khi đó vấn đề phải được đặt ngược lại Chính vì vậy trong các trường sư phạm thường chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng dạy học cho sinh viên, còn kỹ năng giáo dục cho họ thì ít được coi trọng Có thể đây là hạn chế trong lĩnh vực rèn luyện nghiệp vụ của nhà trường sư phạm hiện nay

+ Kiến thức về giao tiếp, ứng xử sư phạm

Đặc trưng của hoạt động sư phạm là mọi hành vi ứng xử của người thầy giáo với học sinh, đồng nghiệp, với cha mẹ học sinh và với mọi người xung quanh không chỉ là phương thức sinh hoạt bình thương mà là phương diện giáo dục học sinh Người thầy giáo không chỉ dạy học sinh bằng lời nói

mà bằng cả nhân cách của mình được bộc lộ trong các hành vi ứng xử hàng ngày Vì vậy người thầy giáo cần thiết phải được trang bị tri thức về khoa học giao tiếp và giao tiếp sư phạm Đây là yếu tố quan trọng tạo ra năng lực khéo léo trong ứng xử sư phạm của người giáo viên

+ Kiến thức về nghiên cứu khoa học và khoa học giáo dục

Nghiên cứu khoa học bộ môn và khoa học giáo dục là một trong những nhiệm vụ của người thầy giáo Điều đó không chỉ giúp người thầy giáo giải quyết được những vấn đề nảy sinh trong hoạt động sư phạm của mình, mà còn là biện pháp tích cực để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Hoạt

Trang 31

động nghiên cứu khoa học của người thầy giáo rất phong phú và nhiều cung bậc, bao hàm từ sáng kiến kinh nghiệm trong hoạt động sư phạm tới các đề tài quy

mô khác nhau Hiện nay hoạt động nghiên cứu khoa học của các thầy giáo phổ thông, đặc biệt là ở các cấp dưới còn rất ít và có nhiều hạn chế Ở đây có rất nhiều nguyên nhân, một trong số đó là do tri thức và kỹ năng nghiên cứu khoa học của họ còn hạn chế Vì vậy bên cạnh những giải pháp có tính chất hành chính nhằm khuyến khích đội ngũ giáo viên nghiên cứu khoa học, cần có biện pháp nâng cao năng lực nghiên cứu cho họ, trước hết là cung cấp kiến thức và hình thành kỹ năng cơ bản của quy trình nghiên cứu đề tài khoa học

1.2.5.2 Chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm

+Chứng chỉ: Theo Wikipedia, ta có khái niệm về “chứng chỉ” “Chứng

chỉ là một văn bản chính thức xác nhận một sự việc Ví dụ như giấy chứng sinh hoặc giấy chứng tử dùng để chứng nhận những sự việc căn bản liên quan đến việc ra đời hoặc đã chết của một ai đó Chứng chỉ còn dùng để xác nhận một người đã hoàn thành một chương trình giáo dục cụ thể hoặc đã thi

đỗ một kỳ thi và chứng chỉ ở mức thấp hơn một văn bằng”

Trong Điều 8, Chương 1, Luật Giáo dục đã đưa ra khái niệm về chứng

chỉ như sau:”Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghiệp vụ” [6]

+ Theo khái niệm về chứng chỉ như trên thì chứng chỉ NVSP đại học được hiểu là chứng chỉ cấp cho các đối tượng đã hoàn thành khoá đào tạo NVSP nhằm đáp ứng tiêu chuẩn giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng

1.2.6 Giảng viên đại học

Theo Điều 24, 25, Điều lệ trường đại học ban hành năm 2010 “giảng viên đại học là người có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng

nghiệp vụ sư phạm Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên giảng dạy các môn

lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với giảng viên giảng

Trang 32

dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo

thạc sĩ, tiến sĩ.” [10] Theo đó người giảng viên đại học cần có các nhiệm vụ,

quyền lợi và cần đạt được các tiêu chuẩn sau:

+ Tiêu chuẩn của giảng viên

- Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt

- Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp

vụ sư phạm Có bằng thạc sĩ trở lên đối với giảng viên giảng dạy các môn lý thuyết của chương trình đào tạo đại học; có bằng tiến sĩ đối với giảng viên giảng dạy và hướng dẫn chuyên đề, luận văn, luận án trong các chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

- Có trình độ ngoại ngữ, tin học đáp ứng yêu cầu công việc

- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp

- Lý lịch bản thân rõ ràng

+ Nhiệm vụ của giảng viên

- Thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, quản lý đào tạo, quản lý hoạt động khoa học và công nghệ, học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ theo quy định về chế độ làm việc đối với giảng viên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành

- Giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự của nhà giáo; tôn trọng nhân cách của người học, đối xử công bằng với người học, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học

- Tham gia quản lý trường, tham gia công tác Đảng, đoàn thể khi được tín nhiệm và các công tác khác được trường, khoa, bộ môn giao

+ Quyền lợi của giảng viên

- Được giảng dạy và tham gia hoạt động khoa học và công nghệ phù hợp với chuyên môn được đào tạo

- Được đảm bảo các điều kiện vật chất, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ cho hoạt động giảng dạy, khoa học và công nghệ, học tập bồi dưỡng nâng

Trang 33

cao trình độ; được cung cấp thông tin và sử dụng các dịch vụ đào tạo, khoa học và công nghệ, dịch vụ công cộng của nhà trường

- Được giới thiệu giáo trình, lựa chọn tài liệu tham khảo, phương pháp

và phương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân để bảo đảm nội dung và chất lượng của hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ

- Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; được tạo điều kiện ra nước ngoài hợp tác giảng dạy, hợp tác nghiên cứu, trao đổi học thuật, học tập và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ theo chương trình hợp tác hoặc theo giấy mời của tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật

- Được tham dự các hội nghị, hội thảo khoa học ở trong nước và nước ngoài theo quy định

- Được ký hợp đồng thỉnh giảng, tham gia hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ với các cơ sở đào tạo, cơ sở nghiên cứu, cơ sở sản xuất và các tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật trên cơ sở bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ của trường và được sự đồng ý của Hiệu trưởng (đối với trường đại học) hoặc Giám đốc (đối với học viện)

- Được đăng ký xét công nhận, được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư; được xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú theo quy định của pháp luật

- Được nghỉ hè, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ GD và ĐT

- Giảng viên tham gia hoạt động khoa học và công nghệ được hưởng quyền quy định tại Luật Khoa học và Công nghệ; nghiên cứu viên thực hiện nhiệm vụ của giảng viên theo phân công của các cấp quản lý được hưởng quyền như giảng viên

Trang 34

1.2.7 Bồi dưỡng Nghiệp vụ sư phạm đại học

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành chương trình khung bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên đại học và cao đẳng tại Quyết định số 61/2007/QĐ - BGDĐT, ngày 16 tháng 10 năm 2007, chương trình bồi dưỡng NVSP với mục đích trang bị kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ sư phạm

cơ bản cho các đối tượng chưa qua đào tạo sư phạm, theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hóa, nhằm bổ sung nguồn nhân lực và nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp giáo dục trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Chương trình bồi dưỡng NVSP ĐH xác định mục tiêu cụ thể như sau:

+ Cung cấp và trang bị về kiến thức

Sau khi hoàn thành khoá bồi dưỡng về NVSP người học có được:

- Kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục đại học; vai trò và sứ mệnh của giáo dục đại học , những xu hướng phát triển của giáo dục đại học hiện đại

- Kiến thức cơ bản về tâm lý học dạy học, đặc điểm tâm lý người học,

lý luận và phương pháp, kỹ năng dạy học đại học

- Phương pháp cơ bản về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên

+ Về kỹ năng

Khoá bồi dưỡng NVSP ĐH nhằm rèn luyện cho người học các kỹ năng sau:

- Kỹ năng về xây dựng đề cương chi tiết môn học và soạn thảo các bài giảng cụ thể

- Kỹ năng sư phạm cơ bản về phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên, phương pháp dạy học, phát triển chương trình giáo dục đại học, cách sử dụng các phương tiện kỹ thuật tiên tiến vào dạy học

- Kỹ năng phân tích, tổng hợp và đánh giá quá trình dạy học; kỹ năng đọc, viết, trình diễn và giao tiếp trong quá trình dạy học

Trang 35

- Kỹ năng tổ chức và quản lý trường đại học (cấp bộ môn, khoa), quản

lý sinh viên theo quy định và nhiệm vụ của giảng viên

+ Về thái độ

Chương trình bồi dưỡng NVSP ĐH giúp người học:

- Hình thành ý thức nghề nghiệp, đạo đức và tác phong sư phạm mẫu mực của nhà giáo trong các cơ sở đại học

- Hình thành lòng say mê và hứng thú trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học

- Thể hiện thái độ khách quan, khoa học trong tổ chức và quản lý quá trình dạy học

+ Các đối tượng được tham gia bồi dưỡng NVSP ĐH

1 Giảng viên các trường ĐH, CĐ chưa qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm

2 Những người có trình độ từ đại học trở lên, có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, có nguyện vọng trở thành giảng viên các trường đại học, cao đẳng

3 Những người đang làm việc tại các viện nghiên cứu khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất có trình độ từ đại học trở lên, có nguyện vọng làm giảng viên thỉnh giảng tại các trường ĐH, CĐ

4 Sinh viên tốt nghiệp loại khá, giỏi các trường đại học, cao đẳng có phẩm chất tốt, có nguyện vọng trở thành giảng viên các trường ĐH, CĐ

1.2.8 Học viên nghiệp vụ sư phạm đại học

Do đặc thù của NVSP ĐH, người học là những học viên đã có độ tuổi trưởng thành (là người lớn), thường là đang làm một việc gì đó trong tất cả các thành phần kinh tế của nước ta hiện nay Người học là người lớn có đặc điểm:

- Có nhiều kinh nghiệm sống;

- Có thực tế;

- Có thói quen lâu đời;

- Có tính tự ái;

- Hay mệt mỏi

Trang 36

Do đặc thù công việc và tính chất của phải vừa đi làm, vừa đi học

để chuẩn hóa kiến thức, thời gian làm việc chiếm chủ yếu thời gian hành chính của họ Ngoài ra, phần lớn trong số họ đã lập gia đình, do đó ngoài giờ

đi làm, họ còn phải bận gánh vác trọng trách công việc của cơ quan, vừa phải chăm sóc gia đình con cái Phải những người biết sắp xếp thời gian công việc thật hợp lý và quyết tâm thì quỹ thời gian tự học mới được đảm bảo

1.2.9 Giáo dục người lớn

+ Khái niệm về Giáo dục người lớn

Giáo dục người lớn (Adult Education) là một thuật ngữ chỉ toàn bộ những quá trình giáo dục có tổ chức, bất kể nội dung, trình độ và phương pháp gì, chính quy hay không chính quy, kéo dài hay thay thế giáo dục ban đầu ở trường phổ thông và đại học hoặc trong thực tập nghề mà nhờ đó, những ai được coi là người lớn, sẽ phát triển được khả năng của họ, làm giàu thêm tri thức, nâng cao chất lượng chuyên môn hay tay nghề hoặc họ sẽ phát triển theo phương hướng mới đem lại những thay đổi về thái độ và hành

vi trong sự phát triển của cá nhân và sự tham gia của cá nhân vào sự phát triển kinh tế - xã hội

+ Đặc điểm hoạt động học của người lớn

Sự học tập của người lớn là quá trình người dạy tạo điều kiện, tạo cơ hội cho người học lĩnh hội những kiến thức, kĩ năng và nhận thức Động cơ học tập của người lớn chủ yếu là nhằm cải thiện chất lượng công việc, cải thiện chất lượng cuộc sống và để được xã hội, cơ quan và nhà nước thừa nhận

So với hoạt động học tập của học sinh phổ thông, việc học tập của học viên nói riêng và học tập của người lớn có nhiều điểm khác.Trước hết hoạt động học tập của học sinh và học viên cũng là quá trình nhận thức nhằm chiếm lĩnh những tri thức trong kho tàng trí tuệ của nhân loại Điểm khác nhau là khi tiến hành hoạt động học tập, học viên không thể chỉ nhận thức thông thường mà tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu

Trang 37

trên cơ sở tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao để chuẩn bị cho một ngành nghề nhất định có chuyên môn năng lực cao Vì vậy, hoạt động học tập của học viên còn gọi là hoạt động học tập nghề nghiệp Vốn học vấn tiếp thu được trong thời kỳ này hết sức quan trọng vì nó là công cụ để họ tiến hành tham gia vào lĩnh vực nghề nghiệp sau này và là nền tảng cho hoạt động tự học, tự nghiên cứu Một điều khác nữa so với hoạt động học tập của học sinh phổ thông thì hoạt động học tập của học viên mang tính tự giác, tích cực chủ động hơn Học viên ngoài giờ lên lớp theo chương trình chính khoá, họ còn phải tích cực đọc thêm sách và tài liệu tham khảo để tự phát triển kiến thức cho mình, tranh thủ sự giúp đỡ của giảng viên để đào sâu kiến thức chuyên môn Có như vậy, sau khi ra trường họ mới vững vàng trong công việc của mình

Bảng 1.1: So sánh hoạt động học tập của người lớn với học sinh phổ thông

Diễn giải Việc học của người lớn Việc học của học sinh phổ thông

- Học viên ghi chép theo nhu

cầu và cách hiểu của mình

- Chia sẻ kiến thức và kinh

nghiệm giữa giảng viên và học

viên, giữa các học viên với

nhau là cơ sở cho việc học

- Mỗi học viên có trách nhiệm

trong việc học của mình

- Học nhằm nâng cao trình độ hiểu

- Học theo sự chỉ dẫn của thầy: Thầy dạy gì, trò học nấy theo thời khoá biểu đã định sẵn

- Tiếp thu kiến thức một cách thụ động Thầy giáo đóng vai trò rất quan trọng

- Phải ghi chép đầy đủ, kkhuyến khích vở sạch chữ đẹp

- Kiến thức được truyền thụ cho học viên qua thuyết trình là chính

- Học sinh ít có trách nhiệm với việc học

-Học để biết Giáo viên kiểm soát lớp học để đảm bảo toàn bộ nội dung kiến thức quy định trong chương trình đã được truyền thụ

Trang 38

biết để có thể làm việc tốt hơn

- Giữa các học viên trong lớp

- Người lớn thấy được khả

năng áp dụng ngay kiến thức

mới vào thực tiễn

- Học để tự phát triển và để cải

thiện đời sống

- Tác động bên ngoài, áp lực của gia đình, xã hội Học mang tính chất bắt buộc, kỉ luật nghiêm

- Học sinh không thấy ngay được những lợi ích của việc học và khả năng áp dụng kiến thức thu nhận được vào thực tiễn

gặp trong cuộc sống, trong

công việc của họ

- Lý thuyết đi đôi với thực

hành, coi trọng thực hành

- Các môn học do Bộ Giáo dục - đào tạo quy định Khối lượng kiến thức được quy định cụ thể cho từng cấp học

- Học lý thuyết là chính, ít thực hành

Học qua kinh nghiệm được hiểu là một quá trình học thông qua những kinh nghiệm trực tiếp của bản thân từ các hoạt động thực tiễn trong cuộc sống Những kinh nghiệm đó được phân tích, tổng kết và quay trở lại

áp dụng ngay vào các hoạt động thực tiễn Do đó cách học của người lớn là:

- Học tự nguyện và tích cực;

- Học qua quan sát;

- Học bằng cách khái quát hóa theo ý hiểu;

- Học qua thực nghiệm

Trang 39

Sơ đồ 1.3: Người lớn học qua kinh nghiệm

1.2.10 Liên kết đào tạo, bồi dưỡng

1.2.10.1 Liên kết

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá - Thông tin (1998 ) do Nguyễn Như Ý chủ biên, thuật ngữ "liên kết" được định nghĩa là: "Kết lại với nhau từ nhiều thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ nhằm mục đích nào đó" Khái niệm liên kết phản ánh các mối quan hệ chặt chẽ, ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần trong một tổ chức, hoặc giữa các tổ chức với nhau nhằm hướng đến một mục tiêu chung Tính hướng đích là tiêu điểm, là cơ sở và động lực của các mối liên kết giữa chúng Sự liên kết giữa các tổ chức theo một mục đích nào đó

(lợi ích chung, giả thuyết một vấn đề chung ) tạo nên một sức mạnh mới, khả

năng mới mà từ thành phần hoặc tổ chức riêng rẽ không thể có Tuỳ theo từng

loại hình mà có các mối liên kết bên trong hoặc liên kết bên ngoài của một tổ

chức (nhà trường, doanh nghiệp, trường đại học) trong bối cảnh và môi trường kinh tế nhất định Nói đến liên kết là nói đến các nội dung sau :

- Mục đích, mục tiêu liên kết: Phản ánh lợi ích, mong muốn chung và

cụ thể của từng tổ chức, thành phần tham gia liên kết như lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường phát triển

Kinh nghiệm

Tổng kết

Trang 40

- Các thành phần, tổ chức liên kết: bao gồm các thành phần, tổ chức

độc lập, có tư cách pháp nhân thuộc nhiều loại hình, tổ chức kinh tế - xã hội, giáo dục - đào tạo, cơ quan quản lý nhà nước tham gia với những vai trò vị trí nhất định trong liên kết

- Các hình thức liên kết : Tuỳ theo mục đích và tính chất liên kết mà

có thể có hình thức thành lập các tổ chức liên doanh, thoả thuận phối hợp thực hiện các dự án nghiên cứu hay phát triển các sản phẩm dịch vụ, các hợp đồng kinh tế trong hợp tác nghiên cứu, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, nghiên cứu và sản xuất các sản phẩm mới

- Các nội dung liên kết: Tuỳ thuộc vào mục đích, đối tượng và hình thức

liên kết mà có các nội dung liên kết khác nhau bao gồm từ các nội dung các hoạt động liên kết : đầu tư, hỗ trợ tài chính, đào tạo và bồi dưỡng nhân lực, nghiên cứu khoa học-công nghệ đến các hoạt động sản xuất- kinh doanh với vai trò, vị trí, trách nhiệm tham gia theo thoả thuận của các bên tham gia liên kết

- Cơ chế liên kết: Là cách thức tổ chức, quản lý và các nguyên tắc vận

hành các mối liên kết bảo đảm đạt được mục tiêu mong muốn và trách nhiệm, quyền, lợi ích của các bên tham gia liên kết

- Sản phẩm liên kết: Là các sản phẩm được tạo ra của quá trình liên

kết như các sản phẩm hàng hoá - dịch vụ ; sản phẩm đào tạo (nhân lực); sản phẩm nghiên cứu KH-CN (vật liệu mới, thiết bị, quy trình công nghệ mới )

- Môi trường và các điều kiện liên kết: Là tập hợp các nhân tố bên

ngoài (môi trường chính trị - xã hội, kinh tế, văn hoá, các tổ chức khác ) và môi trường bên trong của mối liên kết giữa các đối tác (các quan hệ nội bộ, các điều kiện, đặc tính bên trong của từng đối tác )

1.2.10.2 Khái niệm liên kết đào tạo

Theo Điều 3, Chương I - Quyết định về liên kết đào tạo ngày 28/3/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT thì liên kết đào tạo là sự hợp tác giữa các bên để tổ chức thực hiện các chương trình đào tạo

Ngày đăng: 13/10/2015, 16:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: So sánh hoạt động học tập của người lớn với học sinh phổ thông  Diễn giải   Việc học của người lớn  Việc học của học sinh phổ thông - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 1.1 So sánh hoạt động học tập của người lớn với học sinh phổ thông Diễn giải Việc học của người lớn Việc học của học sinh phổ thông (Trang 37)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Giáo dục - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Giáo dục (Trang 51)
Sơ đồ 2.2. Mô hình đào tạo giáo viên của Trường  ĐH Giáo dục, ĐHQGHN. - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Sơ đồ 2.2. Mô hình đào tạo giáo viên của Trường ĐH Giáo dục, ĐHQGHN (Trang 54)
Bảng 2.1.  Thực trạng công tác giảng dạy các lớp NVSP ĐH của giảng viên - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 2.1. Thực trạng công tác giảng dạy các lớp NVSP ĐH của giảng viên (Trang 62)
Bảng 2.2.  Thực trạng hoạt động học tập của học viên các lớp cấp - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 2.2. Thực trạng hoạt động học tập của học viên các lớp cấp (Trang 64)
Bảng 2.3: Kết quả học tập của học viên các lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ NVSP ĐH - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 2.3 Kết quả học tập của học viên các lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ NVSP ĐH (Trang 66)
Bảng 2.4: Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong  thi cử của các lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ NVSP ĐH - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát về mức độ nghiêm túc trong thi cử của các lớp bồi dưỡng cấp chứng chỉ NVSP ĐH (Trang 69)
Sơ đồ 3.1: Hình thức1: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để làm việc tôt hơn - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Sơ đồ 3.1 Hình thức1: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để làm việc tôt hơn (Trang 81)
Sơ đồ 3.2: Hình thức 2: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để tuyển dụng, luân - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Sơ đồ 3.2 Hình thức 2: Cá nhân có nhu cầu ĐTBD để tuyển dụng, luân (Trang 81)
Sơ đồ 3.3: Tổ chức, đơn vị có nhu cầu ĐTBD - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Sơ đồ 3.3 Tổ chức, đơn vị có nhu cầu ĐTBD (Trang 82)
Bảng 3.1: Mô tả quy trình thực hiện bồi dưỡng NVSP - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 3.1 Mô tả quy trình thực hiện bồi dưỡng NVSP (Trang 87)
Bảng 3.2: Đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động - Luận văn thạc sĩ quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của trường đại học giáo dục, đại học quốc gia hà nội
Bảng 3.2 Đánh giá tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động (Trang 99)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w