1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quần thể di tích chùa trầm với việc phát triển du lịch văn hóa

77 1,2K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Quần thể di tích chùa Trầm với việc phát triển du lịch văn hóa”, tác giả khóa luận đã thường xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều

Trang 1

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Việt Nam học

Người hướng dẫn khoa học

TS BÙI MINH ĐỨC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai thực hiện đề tài: “Quần thể di tích chùa Trầm với việc phát triển du lịch văn hóa”, tác giả khóa luận đã thường

xuyên nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ Văn và đặc biệt là của TS Bùi Minh Đức – người hướng dẫn khoa học Tác giả khóa luận xin bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới các thầy cô giáo đã giúp tác giả hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Đỗ Thị Ninh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của TS Bùi Minh Đức Kết quả thu được hoàn toàn trung thực không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác

Hà Nội, ngày 11 tháng 05 năm 2015

Sinh viên

Đỗ Thị Ninh

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

6 Đóng góp của khóa luận 5

7 Bố cục của khóa luận 5

NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA QUẦN THỂ 6

DI TÍCH CHÙA TRẦM 6

1.1 Quần thể di tích chùa Trầm 6

1.1.1 Vị trí địa lý và tên gọi “quần thể di tích chùa Trầm” 6

1.1.2 Khu chùa Trầm 7

1.1.3 Khu chùa Hang 10

1.1.4 Khu chùa Vô Vi 12

1.1.5 Thắng cảnh núi Trầm - thắng cảnh đẹp bậc nhất xung quanh chùa Trầm 14

1.2.Đánh giá về các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử, kinh tế của quần thể di tích chùa Trầm 18

1.2.1.Giá trị văn hóa tâm linh 18

1.2.2.Giá trị lịch sử 22

1.2.3.Giá trị kinh tế 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA Ở QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA TRẦM 26

2.1 Thực trạng quần thể di tích chùa Trầm 26

2.1.1 Thực trạng các giá trị văn hóa vật thể 26

Trang 7

2.1.2 Thực trạng các giá trị văn hóa phi vật thể 29

2.2 Thực trạng khai thác phục vụ du lịch của quần thể di tích chùa Trầm 30 2.2.1 Nguồn khách 30

2.2.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật 33

2.2.3 Hiện trạng tổ chức quản lý 35

2.2.4 Môi trường tự nhiên và xã hội 37

CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA Ở QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA TRẦM 39

3.1 Giữ gìn, bảo tồn, tôn tạo và phát triển các tài nguyên du lịch 39

3.2 Đẩy mạnh công tác quy hoạch, mở rộng du lịch và huy động vốn đấu tư 42

3.2.1 Công tác quy hoạch và mở rộng 42

3.2.2 Về huy động vốn đầu tư 44

3.3 Nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch 45

3.4 Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch 45

3.5 Đẩy mạnh cải cách hành chính, làm rõ chức năng quản lý giữa các ngành, các cấp của Huyện Chương Mỹ 46

3.6 Giải pháp về công tác tuyên truyền quảng bá 48

3.7 Mở rộng phát triển liên kết với các điểm và vùng du lịch 50

3.8 Thực hiện khai thác gắn liền với bảo vệ môi trường sinh thái 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hiện nay phát triển du lịch đang là xu thế chung của các nước trên thế giới, nhất là đối với những nước giàu tài nguyên du lịch Du lịch phát triển, con người không những được đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng mà còn có cơ hội giao lưu, tự khẳng định mình, mở rộng vốn hiểu biết về con người về những nền văn hoá trên thế giới

Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tài nguyên du lịch phong phú Có những tài nguyên đã và đang được khai thác phát triển du lịch nhưng cũng có những tài nguyên đang ở dạng tiềm ẩn cần được khám phá và đưa vào sử dụng.Tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam đang là yếu tố hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước Đây cũng chính là thế mạnh để du lịch Việt Nam phát triển hiệu quả trên nền tảng của một quốc gia giàu truyền thống chống giặc ngoại xâm, có một nền văn hoá phong phú đậm đà truyền thống dân tộc

Đến với Chương Mỹ là đến với mảnh đất có truyền thống văn hiến, truyền thống lịch sử quật cường chống giặc ngoại xâm , nơi sản sinh ra nhiều

vị danh nhân anh hùng dân tộc nổi tiếng Vì vậy, đến nay Chương Mỹ vẫn lưu giữ nhiều di sản văn hoá phong phú, đặc sắc có giá trị như những công trình kiến trúc nghệ thuật, những di tích lịch sử văn hoá, lễ hội truyền thống, những làng nghề thủ công đặc sắc Tất cả những di sản đó đã tạo cho Chương Mỹ một tiềm năng to lớn để phát triển du lịch văn hoá, một xu hướng phát triển

du lịch trên thế giới và là định hướng phát triển du lịch hiện tại và tương lai ở nước ta Chương Mỹ là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa vô giá Trong đó quần thể di tích chùa Trầm thuộc thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương mỹ (tỉnh Hà Tây cũ) nay thuộc Thành phố Hà Nội là một di sản văn hóa có một vai trò quan trọng góp phần tích cực cho sự nghiệp phát

Trang 9

triển kinh tế du lịch văn hóa nhân văn của địa phương Bên cạnh đó di tích chùa Trầm cũng có ảnh hưởng to lớn trong đời sống văn hóa tâm linh của huyện Chương Mỹ nói riêng và nhân dân các địa phương lân cận nói chung Nhưng hiện nay, khu quần thể di tích này vẫn chưa thực sự được khai thác hiệu quả cho mục đích du lịch Người ta vẫn chưa biết nhiều và hiểu nhiều về những giá trị tiềm tàng trong nó bởi nhiều nguyên nhân Chính vì lẽ

đó mà em đã có ý tưởng lựa chọn đề tài: “Quần thể di tích Chùa Trầm với việc phát triển du lịch văn hóa” để em có dịp được tìm hiểu sâu hơn về cụm

di tích này Hơn nữa, qua bài khoá luận này em cũng rất muốn góp một phần nhỏ nào đó vào việc giới thiệu cho độc giả để họ biết đến nhiều hơn về cụm di tích này, để nó thật sự trở thành một điểm hấp dẫn du lịch có ý nghĩa đối với

xã Phụng Châu nói riêng và huyện Chương Mỹ nói chung

+ Trần Lâm Biên(chủ biên) (1996), Chùa Việt, đã khái quát về những chuyển biến của chùa Việt, phân tích văn hóa hướng bố cục chung và khảo tả

về hệ thống tượng thờ trong chùa

+ Hà Văn Tấn(chủ biên), Chùa Việt Nam, khảo tả đầy đủ về cảnh chùa Việt Nam

Trang 10

+ Nguyễn Mạnh Thường(chủ biên) (1999), Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng

ở Việt Nam, đã giới thiệu các công trình kiến trúc cổ được xếp hạng cấp quốc gia trên phạm vi cả nước

Bên cạnh đó có các tài liệu bổ sung như các cuốn từ điển: “Địa chỉ tôn giáo – lễ hội Việt Nam” ( Mai Thanh Hải), xuất bản 2004; “ Từ điển di tích văn hóa Việt Nam” (Ngô Đức Thọ chủ biên), xuất bản 2003

Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khoa học về địa bàn huyện Chương Mỹ nói riêng và Hà Tây cũ nay là Thành phố Hà Nội nói chung như: + “ Nghiên cứu phát triển du lịch huyện Chương Mỹ Thành phố Hà Nội” ( Tô Thị Huyền Trang – Khóa luận tốt nghiệp năm 2012)

Các tác phẩm trên đã khai thác dưới nhiều góc độ: văn hóa, tín ngưỡng… Tuy nhiên tìm hiểu hệ thống về “ quần thể di tích Chùa Trầm với tiềm năng phát triển du lịch ở huyện Chương Mỹ” thì vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống Song kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đi trước là những ý kiến gợi mở để sinh viên nghiên cứu hoàn thành nghiên cứu khóa luận của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu quần thể di tích Chùa Trầm - Chương Mỹ nhằm làm khơi dậy tiếng vang của khu di tích, làm rõ những giá trị nổi bật của quần thể di tích từ đó mà đánh giá kết qủa khai thác trong hoạt động du lịch, đề xuất những định hướng và giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh việc khai tác du lịch góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống người dân địa phương, phát huy giá trị khu di tích góp phần đưa ngành du lịch Chương Mỹ phát triển

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Khái quát được giá trị về tên gọi, giá trị lịch sử, kiến trúc và thực trạng của quần thể di tích Chùa Trầm Từ đấy thấy được tiềm năng du lịch của nó

Trang 11

+ Tìm hiểu, đánh giá độ hấp dẫn và đánh giá thực trạng khai thác, phát triển dịch vụ du lịch tại quần thể di tích Chùa Trầm hiện nay Rút ra các nhận xét

về những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế của hoạt động du lịch tại đây

+ Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi để đẩy mạnh việc khai tác, phục vụ

du lịch tại quần thể di tích Chùa Trầm

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là tài nguyên và thực trạng của quần thể di tích Chùa Trầm Để đánh giá vai trò của quần thể di tích trong chiến lược phát triển du lịch của huyện Chương Mỹ Người viết đã mở rộng

tìm hiểu ý nghĩa của quần thể di tích đối với sự phát triển du lịch của huyện

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là sự phát triển du lịch ở quần thể di tích Chùa Trầm

5 Phương pháp nghiên cứu

*Phương pháp khảo sát thực địa

Khảo sát thực địa là phương pháp truyền thống trong nghiên cứu du lịch, cũng là phương pháp quan trọng của đề tài, đặc biệt là trong việc nghiên cứu tiềm năng, hiện trạng phát triển du lịch thông qua đó cho phép đề ra những giải pháp nhằm khắc phục những nhược điểm, phát huy những ưu điểm Đây

là phương pháp khoa học nhất khi đi tìm hiểu thực địa sẽ đem lại tính sát thực, khách quan Người viết có thể tận mắt thấy và cảm nhận được những giá trị độc đáo của quần thể di tích, thu được số liệu tương đối chính xác về số lượng khách, về nhu cầu - sở thích của họ và những dịch vụ mà họ quan tâm thấy được thực trạng, tiềm năng và thực tế khai thác phát triển du lịch của khu

di tích, từ đó đề ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển hoạt động du lịch tại đây

Trang 12

* Phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu

Đây là phương pháp chủ yếu sử dụng trong quá trình nghiên cứu khoá luận Để có được thông tin đầy đủ về mọi mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong khu vực Trên cơ sở những tài liệu như sách báo, tạp chí, bảng báo cáo, mạng internet Sau đó tiến hành phân tích, xử lý, chọn lọc dữ liệu vào bài viết một cách phù hợp nhất làm nổi bật vấn đề nghiên cứu

* Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê

Phương pháp này có tác dụng hệ thống hoá các giá trị của di tích, cung cấp cái nhìn khái quát về khi di tích trên các phương diện: kiến trúc, lịch sử, quy mô, hiện trạng

6 Đóng góp của khóa luận

- Góp phần đem lại một cái nhìn khá đầy đủ về khu quần thể di tích Chùa Trầm từ quá khứ, đến hiện tại, khẳng định những giá trị phục vụ cho phát triển du lịch

- Những kết quả của việc điều tra nghiên cứu thực trạng hoạt động du lịch và các giải pháp đưa ra có thể được áp dụng một phương diện nào đó, nhằm thu hút những lượng khách, tăng thu nhập và góp phần phát triển kinh

tế văn hoá địa phương

7 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm các chương sau:

CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA QUẦN THỂ

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA QUẦN THỂ

DI TÍCH CHÙA TRẦM 1.1 Quần thể di tích chùa Trầm

1.1.1 Vị trí địa lý và tên gọi “quần thể di tích chùa Trầm”

1.1.1.1 Vị trí địa lý

Chùa Trầm nằm ngay bên sườn núi Ngũ Hành Sơn (tên nôm là núi Trầm) từ 4 thế kỷ trước cho đến nay, chùa vẫn luôn là một danh thắng nổi tiếng của xứ Đoài thuộc địa phận thôn Long Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ cách nội thành Hà Nội khoảng 25 km xưa là làng Long Châu, tỉnh Hà Đông Từ Hà Đông theo đường số 6 ngược về phía Hòa Bình, tới đầu thị trấn Chúc Sơn (Chương Mỹ) có con đường nhỏ dẫn về xã Phụng Châu

1.1.1.2 Tên gọi

Chùa Trầm là một quần thể mấy ngôi chùa tọa lạc trên núi Trầm (hay

còn gọi là Tử Trầm Sơn) bao gồm ba ngôi chùa: chùa Trầm, chùa Hang và chùa Vô Vi Ba ngôi chùa đã đạt đến sự hài hòa cao độ giữa núi và chùa, tạo

cảm giác tự nhiên để du khách nghĩ rằng ở núi ấy phải là chùa ấy Không bề thế như chùa Trăm Gian hay Chùa Mía nhưng chùa Trầm rất hợp với cái tên của mình, chùa Trầm lại có những nét "duyên thầm" rất riêng Đó cũng là một nét riêng, nó khiến cho chùa Trầm dù không xa phố xá nhưng lại tĩnh lặng, đậm đà màu sắc cõi thiền, gần đời mà vẫn thanh thoát Địa thế chùa rất đẹp với các núi nhỏ chung quanh như núi Ninh Sơn, Đồng Lư, Tiên Lữ Một phong cảnh nước non hữu tình đẹp như bức tranh với núi ôm sông, các con đường nhỏ uốn lượn cùng với hàng cây cổ thụ vi vu gió Núi Trầm cùng với quần thể di tích chùa Trầm là một địa chỉ văn hóa - lịch sử thu hút ngày càng nhiều du khách gần xa đến vãn cảnh trong mùa lễ hội cũng như những dịp cuối tuần Không ít câu thơ ngợi ca danh thắng quần thể di tích chùa Trầm:

Trang 14

“Nhờ ai tô điểm nên linh tích

Nức tiếng danh thơm núi Lạc Hồng”

1.1.2 Khu chùa Trầm

1.1.2.1 Nguồn gốc lịch sử

Chùa Trầm (tên chữ là Long Tiên tự) được xây dựng trên đất sát núi Trầm, đối diện với núi Bút Kình Thiên (núi này hiện nay đã không còn nữa) Chùa được làm vào thời Cảnh Trị (1662-1670) Là một trong bốn ngôi chùa thiêng đẹp tuyệt xứ Đoài - Hà Nội: chùa Trầm, chùa Thầy, chùa Trăm Gian, chùa Tây Phương

Chùa Trầm nguyên bản có là chùa Hang Chùa Hang được xây dựng năm 1536 trong động Long Tiên dưới chân Tử Trầm Sơn với những pho tượng đá, văn bia khắc trên vách động, trống đá, khánh đá Tuy nhiên về sau, năm 1893, khi Thống đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu xin danh thắng này về quản lý đã cùng Trần Thị Thọ đưa một phần của chùa Hang lên sườn núi xây dựng lại gọi là chùa Trầm Ngôi chùa mang tên ngọn núi mà nó dựa vào “Tử Trầm sơn” có năm ngọn Tương truyền ngày xưa, ở trên đỉnh núi này có một cây trầm rất to, thân cây nhiều người ôm không xuể, toả hương thơm khắp vùng Sau này dù cây không còn nữa nhưng người ta vẫn gọi là núi Trầm hay núi Tử Trầm

Toàn bộ khu núi Trầm này xưa kia cũng là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung để thưởng ngoạn cảnh đẹp bởi phong cảnh u nhàn, thanh nhã và đã cho xây nhiều công trình mà nay vẫn còn dấu tích Nơi đây khung cảnh kì thú, xinh đẹp từng được không ít văn nhân đến thăm và đề thơ Chùa Trầm nhỏ, mang vẻ đẹp cổ kính Sự nhỏ bé ấy, vẻ đẹp ấy cùng với khoảng sân đất rộng, bằng phẳng phía trước và những cây đại thụ vây quanh nên nhuốm màu trang nghiêm, thanh tịnh đã tạo nên một không gian vừa thanh bình vừa thiêng liêng

Trang 15

và tạo cho khách một sự thư thái, dễ chịu Ngày nay chùa Trầm được xem là ngôi chùa chính trong quần thể di tích chùa Trầm

1.1.2.2 Kiến trúc và những dấu tích xung quanh chùa

Cho đến nay, chùa Trầm vẫn giữ được nguyên vẹn vẻ đẹp vốn có của mình Chùa Trầm không mang kiến trúc đường bệ, cầu kì và lộng lẫy như nhiều chùa khác Ngôi chùa nhỏ bé, trầm mặc với những nét chạm khắc mộc mạc nằm nép mình dưới chân một ngọn núi đá lớn - núi Tử Trầm Sơn với nhiều nét đẹp khác nhau: Có mái chùa cổ kính, có hang sâu, có núi đá, có cả những cây đại thụ có thân to tới vài người ôm… Chùa Trầm là một thắng cảnh còn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ và thanh tịnh trong suốt gần năm trăm năm lịch sử

Sân của chùa

Qua tam quan là tới sân Chùa Trầm nhỏ với diện tích chỉ trên dưới năm chục mét vuông, mang vẻ đẹp cổ kính ẩn mình trong những tán cây cổ thụ

Sự nhỏ bé ấy, vẻ đẹp ấy cùng với khoảng sân đất rộng và đẹp mà bằng phẳng phía trước, có tường bao và những cây đại thụ vây quanh đã tạo ra một không gian vừa thanh bình vừa thiêng liêng và tạo cho du khách một sự thư thái, dễ chịu Trên sân chùa là những tượng ghê đá, đại bàng đá đã từ lâu trở thành những vật linh thiêng Trên lối vào Tam bảo, có hai con chim và nghê làm bằng nhũ đá Bậc thềm trên cùng trạm hình hai con thằn

Trang 16

Kiến trúc chùa Trầm được xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ “Công” (I) Chùa có nhà chính điện và bái đường song song với nhau, được nối với nhau bằng một ngôi nhà thiên hương, nơi các nhà sư làm lễ Có nơi gọi gian nhà nối chùa bái đường với Phật điện này là ống muống

Nhà tăng đường

Nhà hành lang

Chính điện

Nhà hành lang Nhà Bái đường

Sơ đồ 1 mặt bằng chữ Công của chùa Trầm

(nguồn tư liệu điền dã)

Bái đường

Qua cổng vào sân sẽ tới lớp kiến trúc đầu tiên là bái đường ( hay còn gọi

là nhà tiền đường, tiền tế) nhà tiền đường có bậc bước lên là nơi dành cho các tín đồ Phật giáo lễ Phật và cũng là nơi bài trí một số tượng liên quan đến Phật pháp và các tín ngưỡng Việt Nam

Chính điện

Qua nhà bái đường đến chính điện (hay còn gọi là thượng điện), giữa bái đường và chính điện có một khoảng trống để lấy ánh sáng và không khí Nhà chính điện là phần quan trọng nhất thường cao hơn và thể hiện sự trang trọng Trong chính điện được xây các bệ từ cao xuống thấp suốt chiều rộng gian nhà, bài trí thờ Phật như một nhang án Sự bài trí tượng thờ theo giáo lí của đạo Phật các lớp tượng bày trí từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao gợi không khí

Trang 17

tĩnh lặng linh thiêng, ở đó đặt những pho tượng với tòa tam bảo có những cái cửa võng lộng lẫy và bộ tượng đẹp, ban thờ tượng hộ pháp và ban thờ tượng phối thờ Tam bảo được xây theo kiểu hình chữ “Đinh” ở mé trái sân, khách lên phải leo qua ba thềm gạch cao tổng cộng 17 bậc Tiền đường rộng 5 gian, bên trong thượng điện bài trí trang nghiêm, hệ thống tượng Phật giáo khá đầy

đủ và những bức tượng được xếp đặt trong Tháp Diên Điện

Hành lang

Hành lang chạy song song với chính điện nối chính điện với hậu đường

là hai gian hành lang tạo thành một nhà ba gian

Hậu đường (nhà tăng đường)

Qua chính điện theo đường hành làng là đến hậu đường (còn gọi là nhà tăng đường hay hậu cung hoặc nhà tổ) Hậu đường có kiến trúc hình chữ Nhất Bộ vì được làm bằng gỗ, liên kết với nhau bằng các xà ngang, xà dọc và các cột xung quanh xây gạch Mái và nền cũng làm như nhà bái đường bởi ba cửa cuốn vòm được thiết kế rất thấp

Nơi đây còn ghi lại dấu tích của đài tiếng nói Việt Nam đã phát đi lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ tịch Lên cao hơn nữa là Đền Mẫu thờ Bà Chúa Liễu Hạnh được Bộ Văn hóa xếp hạng cấp quốc gia

1.1.3 Khu chùa Hang

1.1.3.1 Nguồn gốc lịch sử

Chùa Hang (tên chữ là Long Tiên động) được xây dựng trong động Long Tiên dưới chân Tử Trầm Sơn cách chùa chính về bên trái có niên đại Chính Hòa 17 (1696) Chùa Long Tiên là một ngôi chùa rất độc đáo - chùa trong hang động cách chùa chính về bên trái

1.1.3.2 Kiến trúc và những dấu tích trong chùa

Bề ngang cửa hang chỉ hơn 7 mét, chiều cao trên 3 mét nhưng bên trong

là một hệ thống hang động liên hoàn cao rộng hiếm thấy Nhờ ánh sáng tự

Trang 18

nhiên chiếu qua một số khe nhỏ bên sườn núi và trên đỉnh núi, ta có thể chiêm ngưỡng vô vàn nhũ đá với nhiều hình thù, màu sắc kỳ lạ như: mái tóc tiên, khánh đá, chuông đá, hình rồng, hình chim, hoa sen đá

Trước động có nhiều cây cao bóng cả, làm tăng thêm vẻ trầm tịch của chùa Bên cửa động lại có đài kỷ niệm Tiếng Nói Việt Nam

Trước hang là một mỏm đá có cây si rễ xoắn trùm lên và một con rùa

đá nổi lên nhưng cái mai đằng ngoài được gọt vát đi một mảng tạo thành hình một cái khánh, trên có một bài minh Nhưng cái chân bên kia còn nguyên móng rất sắc

Ngay vách đá đối diện cửa chùa Hang là tượng thờ Tuyết sơn trong am Năm Chính Hoà thứ 17 (1696), vua Lê Huy Tông sai thợ đục tạc 48 pho tượng đá để thờ trong hang động đặt ở hai bên: một là dãy tượng thập diêm vương và một dãy là tượng La Hán Tiếp đến là tượng thờ Kim cương có khánh đá treo bên cạnh và tượng Kim cương ngồi trên con sư tử tạc bằng khối

đá lớn Điểm đặc biệt là các bức tượng này đều được tạc bằng đá tinh xảo, trường tồn qua hàng trăm nay qua Trong khoảng không gian rộng lớn nhất của động có ban thờ phật cao cỡ 8 tấc có đủ các cấp đều được làm bằng đá Trải qua nhiều thay đổi, song dấu tích chùa Hang xưa vẫn còn nhiều trong động Long Tiên Chùa hang trong động có nhiều di vật có giá trị lịch sử

và nghệ thuật, đặc biệt là pho tượng A Di Đà ngồi thiền trên tòa sen với vẻ mặt đôn hậu, trầm mặc suy tư, miệng thoáng cười cảm thông cứu độ Tượng được trau chuốt tinh xảo đến từng chi tiết nên trông rất sinh động Chùa Hang còn có các văn bia khắc trên vách động đã có hang trăm năm tuổi, trống đá, chuông rất đẹp Trên trần và vách đá gần cửa hang có nhiều bút tích của danh tài nho sĩ từ cuối thời Lê đến đầu thời Nguyễn với gần 20 bài văn, thơ ca ngợi cảnh đẹp của núi Tử Trầm Ánh sáng tỏa từ cửa hang vào chỉ soi sáng một phần động, nhũ đá nhỏ nước nghe lách tách Trong động của chùa còn có

Trang 19

dòng nước ngầm chảy ra đền Mẫu, “tiếng nước chảy không nghe thấy nhưng

Ất Hợi (1515) do Trần Văn Tăng - một tướng quân, thủ lĩnh trong 12 sứ quân

đã đến mai danh ẩn tích xuất gia đi giảng đạo khởi xướng rồi xây dựng nên Thời Tiền Lê chùa xây dựng ở chân núi Trạo (980-1004) là Phúc Trù tự Thời nhà Trần chùa được xây ở lưng núi gọi là Trai Tinh tự Thời Hậu Lê, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) chùa xây dựng lên gần đỉnh núi như ngày nay, đổi lại tên như thời Đinh là Vô Vi tự Xưa kia chùa Vô Vi chỉ dành riêng cho các vương mẫu, vương phi, công chúa về đây cầu kinh tụng niệm

1.1.4.2 Kiến trúc và những dấu tích xung quanh chùa

Chùa Vô Vi tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dưới năm chục mét vuông Đỉnh Vô Vi là một núi đá nhỏ còn gọi là núi con rồng mà Vô Vi được ví như viên ngọc, nằm chênh vênh giữa trời đất là đỉnh núi cao nhất của Tử Trầm Sơn Từ đỉnh cao nhất của núi, ta thỏa sức phóng tầm mắt ra bốn phương tám hướng ngắm cảnh đồng quê trù phú một vùng ven sông Đáy

Đến nay ngôi cổ tự này đã trải qua gần 500 năm tượng Phật cũng không

có nhiều nhưng kiến trúc chùa vẫn còn nguyên nét kiến trúc thế kỷ XVI

Vì nằm trên đỉnh núi nên chùa không rộng, chỉ chừng hơn 10m2 Chùa không có qui mô lớn, một ngôi điện thờ Tam Bảo trên cao, lưng chừng vách núi có điện thờ Thánh Mẫu mới xây sau này Trong chùa những hình vẽ kể về kiếp luôn hồi, về quả báo trong kiếp người Những bức vẽ về kiếp luôn hồi trong đời người nhằm răn dạy chúng sinh biết sống thiện tránh ác Ban thờ có

Trang 20

bốn chân cột chạm khắc hoa lửa hóa long thờ A di đà và Quán Thế Âm Bước lên mấy chục bậc đá, ở một chặng dừng nghỉ, ta bắt gặp tấm bia đá lớn phía bên trái, khắc bài thơ của Trần Văn Tăng viết bằng chữ Nôm: Trùng phảng

Vô Vi Tự (Thăm lại chùa Vô Vi):

“Sơn Đông chi bằng Vô Vi phật tự

Thùy kỳ huyền sư đạo sĩ

Bên này Thiên Trúc nọ Bồng Lai

Đem cảnh thanh u đặt giữa trời

Trang điểm đã nhờ ơn đạo sĩ

Độ đời còn độ Đức Như Lai

Mượn nền đá phẳng đề dăm bận

Sẵn quả chuông kêu đấm mấy hồi

Cảnh vị vị người, người lai lại

Đã vô vi khéo cũng lôi thôi”

Chùa Vô Vi được xây cất lên từ diện tích hẹp mặt bằng trên đỉnh núi đá Những bậc đá lên chùa dược xếp tự nhiên, không vôi vữa, quanh quanh rất nghệ thuật Trên cao nhìn xuống, ruộng xanh, lò gạch đỏ, nước bạc chính quyền nơi đây muốn phục hồi cảnh ngày trước vua Lê bơi thuyền lãm du quanh vùng núi này, nên một công hai việc, cho tù lấy đất làm gạch vừa có con sông đào Nét cong mái chùa giữ đỉnh núi cao chót vót Toàn bộ khung cột chùa được làm từ đá, cột chùa bằng đá nhưng sà gồ lại làm bằng gỗ, sự kết hợp độc đáo này thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân xưa Trên cùng đỉnh núi

Tử Trầm Sơn một ngôi miếu Thiên để tạ ơn trời Xung quang chùa những cây hoa Đại cổ thụ ra hoa tỏa hương cho ngôi chùa cổ Một cái tháp mộ chênh vênh bên sườn núi Những cây cột cái và hiên bằng đá rất đơn giản Ở bên cạnh vách núi có một bàn thờ lộ thiên, nhưng đã bị mất mái Trên vách núi còn treo một quả chuông đúc năm 1814 thời Nguyễn có hàng trăm năm tuổi

Trang 21

treo trên khối đá lớn mỗi khi tiếng chuông vang lên bốn phương tám hướng đều nghe rõ Bước qua hơn 100 bậc thang đá quanh co là lầu Nghênh Phong (đón gió) trên đỉnh núi Đứng trên lầu Nghênh Phong, phóng tầm mắt là có thể ngắm dòng sông uốn khúc, ruộng đồng phì nhiêu, khung cảnh thanh bình, bao nhiêu mệt mỏi, bụi bặm bon chen nơi phố xá náo nhiệt bỗng chốc tan biến…Theo đạo Phật, từ vô vi nghĩa là không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra Trong Phật giáo nguyên thủy, thì chỉ có Niết bàn được xếp vào hạng vô vi Tất cả các pháp còn lại là hữu vi Sự tĩnh lặng của ngôi chùa cùng khung cảnh yên tĩnh sẽ khiến những muộn phiền hàng ngày trong bạn biến mất Trước mắt bạn là ánh nắng mặt trời lấp lánh phản chiếu trên dòng sông, những cây hoa đại nở từng bông trắng rụng trước sân chùa Cảm giác ấy khiến ai đã đến một lần còn mãi nhớ Ở ngoài sân có hai nhà bia có hình thức thời đầu thế kỷ XX

1.1.5 Thắng cảnh núi Trầm - thắng cảnh đẹp bậc nhất xung quanh chùa Trầm

Nguyên xưa Tử Trầm sơn gồm 5 đỉnh lớn như 5 con phượng hoàng khổng lồ nhô đầu lên, vì vậy còn gọi là Ngũ Nhạc sơn Đến thời Lý - Trần, đổi tên theo truyền thuyết là Tử Trầm sơn

Ngày xưa trên trời cao có một ngôi sao màu đỏ tía xuống khắp trần gian, làm cho đâu đâu cũng sáng sủa vui vẻ Thế rồi, một ngày kia, sao đâm sầm xuống đất, hoá thành năm ngọn núi đá lớn, đó là Tử Trầm Sơn, tên tự là ngũ Nhạc Sơn Núi trầm là một núi đá lớn Từ xa nhìn núi có năm ngọn giống năm con Phượng Hoàng từ trên trời sà xuống đất, đang nhô đầu lên cao Nằm giữa một vùng đồng bằng trù phú, núi Tử Trầm là một món quà qúy của thiên nhiên ban tặng cho con người, đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy bức tranh nước non hữu tình đã hiện ra với dải núi xanh biếc uốn lượn theo sông, toàn cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận như chùa Vô Vi, chùa Trăm

Trang 22

Gian Năm 1516, vua Lê Chiêu Tông đã cho dựng hành cung rồi sai đào sông, khai suối quanh núi để du ngoạn mỗi khi nhàn rỗi

Dãy núi Trầm có hang động kỳ thú gọi là động Long Tiên rộng và đẹp, Long Tiên động là thắng cảnh bậc nhất ở Tử Trầm Sơn Thời Lê và thời Nguyễn đều biết dựa vào địa hình đẹp và thơ mộng để xây dựng danh lam cổ tích Long Tiên động có lỗ thông thoáng từ trên đỉnh núi chiếu sáng tự nhiên vào các pho tượng phật tạo nên không gian ba chiều huyền ảo Phía trên của hang được khắc ba chữ Hán khá to "Long Tiên động" Cửa động rất rộng, làm cho bề cao như bị kéo xuống hơi thấp mặc dù mái đá còn cao hơn đầu người đứng rất nhiều Động có thể chứa hàng ngàn người Vách động phía bên trái bằng phẳng, cao Các tao nhân, mặc khách xưa đã cho khắc tại đây 15 bài thơ Hán và một bài Nôm để nói lên tình cảm của mình với núi non, phong cảnh ở Trầm

Động Long Tiên là một động đẹp, cửa hang không lớn nhưng lòng hang rất rộng và cao Bề ngang cửa hang chỉ hơn 7 mét, chiều cao trên 3 mét nhưng bên trong là một hệ thống hang động liên hoàn cao rộng hiếm thấy Trên trần

và vách hang buông rủ xuống hàng trăm nhũ đá với nhiều hình thù kỳ lạ nhờ ánh sáng tự nhiên chiếu qua một số khe nhỏ bên sườn núi và trên đỉnh núi ở các ngách động sâu và hẹp hơn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tuyệt tác long lanh từ nhũ đá và nước ngầm của thiên nhiên như: “Bầu sữa mẹ”,

“Bông hoa đá”, “Mái tóc tiên”, “Hàm răng hổ” Có giá trị văn học là 15 tác phẩm thơ văn khắc trên vách động, vịnh cảnh chùa Trong động còn có hai lối

đi Lối đi lên đỉnh núi Trầm dân gian gọi là đường lên Trời và đường xuống hang sâu dẫn ngầm vào trong núi gọi là đường xuống Âm phủ Đứng trên đỉnh núi Trầm có thể nhìn thấy khu vực hang Trầm (Long Tiên động) là khu vực có nhiều thắng cảnh và nhiều công trình xây dựng nhất Vách sau hang cũng là một vách đá lớn, nhũ đá tạo nên vách động có hình tượng một con

Trang 23

Khủng Long - con Rồng dữ Ngoài ra còn có những cây cổ thụ cũng nhiều năm tuổi, dễ và thân bám chắc lên đá, tạo nên những hình thù độc đáo

Ở chân núi, một sân rộng bằng phẳng, cây cao, bóng cao che mát; bốn mùa du khách thập phương tụ tập, trai tài gái sắc dập dìu Từ ngoài đường đi vào sân, không khí mát dịu, thoáng trong như đón bước cho ta và cảnh tiên

Ở hang Rồng, lòng hang hẹp và thấp, ngóc ngách không biết bao nhiêu

mà kể Người quen đường, lần theo nhũ đá đi mãi vào trong, có thể đến nhiều cửa ra ở rất xa cửa động Long Tiên, thậm chí có thể sang được đến xóm San ở bên kia núi Nhưng đi vào hang Rồng rất nhiều nguy hiểm vì tối, vì ngóc ngách dễ lạc đường, vì có thể bất ngờ rơi xuống hố "địa ngục" và rất dễ va chạm vào đầu vì nhiều chỗ hẹp và thấp phải chui qua

Núi Bút, núi Vô Vi, núi Cung là ba hòn núi nhỏ, nằm chìa ra ngoài cánh đồng, cách khối núi Trầm chỉ vài trăm mét Núi Cung và núi Bút liền nhau Trước kia ở đây có một khối đã khổng lồ dựng đứng lên trời mà người xưa gọi là Kình Thiên bút tức bút chống trời Gần đây, do phá đá, bút Kình Thiên

đã đổ sập Hàng ngàn tấn đá từ trên cao đổ sập ầm ầm Các khối đá đổ hiện còn nhiều ở chân núi, nơi có những thửa ruộng sâu Vòng theo ngọn Phượng Hoàng ta qua hang Bảy Cửa Hang này ngóc ngách, đi sâu vào trong không biết bao nhiêu đường Qua hang Bảy Cửa một đoạn, có đường lên Bến Tám Xưa kia, mỗi lần về chơi vùng Trầm, vua chúa thường lên núi tắm tại một nơi nước trong núi đọng thành hồ nhỏ trong suốt Hồ nước này nay đã cạn

Đi tiếp về đầu xóm San, ta gặp hang Sư Hang Sư là một hang lớn, cửa hang rộng và cao, nên hang rất sáng Phía ngoài hang Sư nền đất hơi cao, phía trong nền hang hơi thấp và trần hang phía trong cũng thấp dần xuống Hang

Sư đã sáng và khô ráo, mưa gió và nước không thể tràn vào

Rời hang Sư di tiếp theo chân núi, ta đến hang Nước Bên ngoài hang Nước cũng to, rộng và sáng nhưng đi sâu vào cuối hang, trần hang thấp

Trang 24

xuống, nên hang sâu xuống thành một bậc hang thứ hai sâu hơn ngoài cửa hang và phía dưới có nước Nước ở hang thông với những hang động ở trong núi nên không bao giờ cạn Tương truyền hang này thông với hồ bán nguyệt ở chân đền Mẫu Thượng và cá từ đây đi qua núi sang hồ

Giữa ba ngọn núi trên cao, có một chỗ bằng phẳng rất rộng Có một ngách động rất đặc biệt được người dân gọi là “thung lũng tình yêu”, hẹp, dài

và trắc trở như những thử thách cho những đôi yêu nhau chinh phục Người ta tin rằng, vượt qua được động là có được tình yêu bền vững Tại thung lũng tình yêu, các hòn đá rải ra rất bằng phẳng Ra khỏi động rồi, du khách có thể

“luyện tập” một chút sự dẻo dai bằng việc leo núi Tử Trầm Điều khích lệ du khách là lên đến đỉnh có thể thưởng thức một không gian cao, khoáng đãng và

có thể thu vào tầm mắt “muôn trùng nước non”.Trên núi cao vắng vẻ, trước cảnh trời mênh mông, phóng khoáng khiến người đời dứt bỏ mọi toan tính Đỉnh núi cao nhất ở núi Trầm gọi là đỉnh Thập Tự Người ta đã khắc trên núi

để đánh dấu Ở đỉnh này, trước kia bộ đội có đặt một cột ăng ten thu tin tức và

đã xây một nhà làm việc ở đây Lên đỉnh có thể thưởng thức một không gian cao, khoáng đãng và có thể thu hút vào tầm mắt "muôn trùng nước non"

Ở xóm Miễu Long Châu còn mộ thầy thuốc Trâu Canh, người đã chữa bệnh vô sinh cho vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369) mà Đại Việt sử ký toàn thư

đã nói đến Câu chuyện về thầy thuốc Trâu Canh gắn với cây thuốc núi Trầm Nay ở khu vực núi Trầm còn có nhiều cây thuốc quý như: cây núc lác, cây phấn chiều (sâm nam), cây sâu róm, cây sống đời…vẫn được khắp nơi, có người tìm mua

Nhìn chung những công trình này không quá phức tạp và đồ sộ nhưng vẫn giữ lại nguyên nét kiến trúc cổ, tao nhã thích hợp với phong cảnh thiên nhiên tạo nên vẻ đẹp sơn thủy hữu tình Về cơ bản lối kiến trúc trên vẫn nằm trong khuôn khổ nhà Việt truyền thống Nó không chỉ có giá trị về mặt nghệ

Trang 25

thuật mà qua lối kiến trúc đã lột tả khá trọn vẹn lối sống văn hóa tinh thần, ý nguyện, ước vọng của cư dân nơi đây Đó chính là phẩm chất siêng năng trong lao động, đoàn kết trong cuộc sống và chiến đấu chống giặc ngoại xâm, hòa đồng về lối sống, văn hóa tinh thần cộng cảm, hòa quện gắn bó với thiên nhiên thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn

1.2.Đánh giá về các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử, kinh tế của quần thể

di tích chùa Trầm

1.2.1.Giá trị văn hóa tâm linh

Khái niệm về văn hóa tâm linh “là chỉ một mặt hoạt động văn hóa của xã hội con người mang tính thiêng liêng, được biểu hiện qua những khía cạnh vật chất và tinh thần, trong quá trình lịch sử, và còn tồn tại lâu dài cùng với con người” [16, 31]

Quần thể di tích chùa Trầm là một quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh kết hợp hài hòa giữa kiến trúc chùa Bắc Bộ và núi, hang tự nhiên Quần thể chùa nhỏ nhưng lại mang vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm Ba cụm công trình chùa trong quần thể di tích gồm: Chùa Trầm và chùa Hang và chùa Vô Vi đã đạt đến sự hài hòa cao độ giữa núi non và chùa chiền, tạo cảm giác tự nhiên, thanh tịnh Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh núi non cùng chùa chiền đã tạo nên một vẻ đẹp độc đáo của khu di tích Từ xa ngắm nhìn, Tử Trầm Sơn có hình dáng tựa như những con phượng hoàng đang nhô cao đầu lên bầu trời Chẳng thế mà, từ xa xưa, khu danh thắng núi Trầm đã được học giả Phan Huy Chú

ca ngợi là nơi có “Phong cảnh đậm đà đẹp nhất trong các núi Sơn Tây” Ngôi chùa nhỏ mang vẻ đẹp cổ kính, cùng với khoảng sân rộng được những cây đại thụ vây quanh chào đón khách thập phương bằng không gian tĩnh lặng chỉ văng vẳng tiếng chim

Trong cuộc sống xa xưa đến nay dù trong điều kiện hoàn cảnh nào thì người ta cũng đều tìm đến một tín ngưỡng, tôn giáo riêng, đó cũng là một nhu

Trang 26

cầu đặc trưng của con người, cư dân ở xã Phụng Châu cũng vậy đời sống văn hóa tình thần của họ rất phong phú, trong đó tín ngưỡng tôn giáo thờ Phật là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt Quần thể chùa chính là nơi tìm đến, nơi trở về mỗi khi có việc hệ trọng trong cuộc đời như việc hiếu,

hỷ, xây cất nhà cửa, sinh con hoặc những việc theo phong tục tập quán như lễ đầu xuân, lễ rằm, mùng một Người dân đến chùa thỉnh sư để tìm một chỗ dựa, để cầu bình an, tài lộc… Họ coi việc đến chùa thắp hương để cầu khấn

sự phù hộ, đó cũng là cái gốc của giá trị đạo đức, là chỗ dựa tinh thần để mỗi người, mỗi gia đình, xóm làng của họ vượt qua khó khăn hoạn nạn, được bình yên thịnh vượng và khi tìm đến chùa dường như người dân đã lấy được sự cân bằng về mặt tinh thần Vai trò tín ngưỡng tâm linh được thể hiện qua các hoạt động điển hình: Cầu siêu giải hạn, cầu an, các lễ vía Phật, Bồ Tát, Thánh Tăng, lễ hội chùa, giỗ Tổ… Các hoạt động này chủ yếu diễn ra ở ngôi chùa chính là chùa Trầm Chùa góp phần làm phong phú hơn thế giới tâm linh của con người đồng thời nó còn làm cho người ta thư thái về mặt tâm hồn Đến đây người dân có thể cầu phúc cho gia đình, con cháu, cầu cho việc làm ăn buôn bán được thuận lợi, mùa mang tốt tươi

Những nghi lễ Phật giáo diễn ra ở quần thể di tích chùa Trầm( chùa Trầm là chính):

Là một công trình Phật giáo phục vụ nhu cầu tôn giáo của nhân dân xã Phụng Châu chùa Trầm hiện vẫn tổ chức các nghi lễ Phật giáo trong khuôn viên của chùa Đó là các nghi lễ:

Trang 27

nét văn hoá dân tộc có những hoạt động cầu kinh, múa rồng, múa rối nước và những trò chơi dân gian: đu tre, rối nước, cờ tướng, leo cột mỡ, đánh vật, chọi gà…Ngày nay còn có thêm bóng đá, bóng chuyền Điều đặc biệt là vào dịp lễ hội này, nhớ ơn Bác Hồ, dân làng lại làm lễ rước ảnh Bác, tượng trưng cho Bác lại về thăm chùa Trầm Ngày nay, những trò chơi xưa như leo cột mỡ, cờ tướng dù không còn phù hợp và được thay thế bởi bóng chuyền, bóng đá… song nét đẹp văn hoá hội chùa Trầm vẫn không vì thế mà phai nhạt

- Lễ Thượng Nguyên ( ngày 15 tháng 1 âm lịch )

Lễ Thượng Nguyên – Rằm tháng giêng là một đại lễ đầu năm Dân gian thường gọi Rằm tháng giêng là lễ Thượng Nguyên, là tết hướng thiện cầu phúc Đại lễ Rằm tháng giêng theo truyền thống Phật giáo mang hai ý nghĩa: thứ nhất là ngày kỷ niệm đức Phật thuyết kinh giải thoát giáo trong Thánh Hội Tăng Già (là bài kinh cô đọng về giáo pháp của chư phật, căn bản của đời sống tu tập và tôn chỉ hoằng pháp), thứ hai là kỷ niệm đánh dấu ngày đức phật công bố giáo pháp đã được thiết lập vững vàng và Ngài sẽ viên tịch trong ba tháng nữa nên ngày này cũng được coi là cột mốc hoàn tất ngôi nhà giáo pháp của đức phật Rằm tháng riêng là dịp kỷ niệm sự kiện thiêng liêng này Còn theo quan điểm của dân gian Rằm tháng giêng là ngày linh thiêng trong năm, ngày đức phật giáng lâm để chứng độ cho lòng thành của tín đồ Trong ngày này người dân nô nức đi lễ chùa vì hị quan niệm: “ Lễ Phật cả năm không bằng Rằm tháng giêng” Ở chùa Trầm ngày Rằm tháng giêng có một số nghi

lễ như: cúng dâng sao, cúng phổ độ gia tiên… Trong những ngày này người dân trong xã tổ chức lễ dâng hương lên chùa theo từng gia đình, dòng họ, tiếp

đó là lễ cũng Phật, cúng Tổ, cúng thí thực rồi đền niệm Phật Sau đó những người tham dự cùng lễ tạ và thụ trai (biếu quà, lộc cho những người tham dự)

- Lễ Phật đản (ngày 15 tháng 4 âm lịch)

Trang 28

Hằng năm vào ngày rằm tháng 4 âm lịch, tất cả các Phật tử trên toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói chung đều tổ chức trọng thể ngày Lễ Phật đản sinh Tuy nhiên theo Phật giáo Nam Tông và Phật giáo Tây Tạng thì ngày này

là ngày tam hiệp (Phật đản, Phật thành đạo và Phật nhập Niết Bàn) Đó là ba

sự kiện trọng đại tuy khoảng thời gian khác nhau nhưng đều trùng hợp vào đêm rằm tháng 4 theo đúng ý nguyện của Đức Phật Gotama Cho nên tất cả các Phật tử trên toàn thế giới đều lấy ngày Lễ rằm tháng 4 là ngày lễ cúng Đức Phật, gọi là “Versakhapuja” hay còn gọi là “Versak” Những nghi lễ được thực hiện ở chùa Trầm bao gồm: dâng hương, niệm Phật, cúng Tổ, cúng thí thực, lễ truyền thụ Tam quy, cuối cùng là lễ tạ và thụ trai

- Lễ Trung Nguyên (ngày 15 tháng 7 âm lịch)

Lễ Trung Nguyên vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch là ngày xóa tội vong nhân Lễ này bắt nguồn từ công việc đồng áng của nhà nông xưa Vào vụ thu hoạch mùa mang người nông dân thường cầu xin các vị thần linh, thổ địa tạm giam những yêu ma, oan hồn cho khỏi quấy nhiễu Đến Rằm tháng 7 cũng là lúc gặt hái xong xuôi cửa ngục mở xóa tội vong nhân Vì vậy mọi nhà đều đốt vàng vàng mã cúng cho những linh hồn bơ vơ Mọi người thường cúng cháo, bánh kẹo, quần áo chúng sinh Người dân trong Miền Nam còn gọi ngày Rằm tháng 7 là ngày lễ Vu Lan thắng hội (thắng hội là ngày lễ lớn nhất) Xuất phát

từ sự tích Bồ Tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ Lễ Vu Lan là ngày lễ để tưởng nhớ công ơn cha mẹ và tổ tiên nói chung

Lễ Vu Lan ở chùa Trầm bao gồm các nghi lễ: lễ dâng hương cúng Phật, cúng

Tổ, cúng thí thực, cầu siêu, lễ tạ và thụ trai

Lễ Vu Lan là một dịp để những người dân tụ họp trên chùa cùng nhau tham dự lễ cầu siêu cho vong linh nhân thân Các phật tử tham gia cùng tham

dự lễ cầu siêu mong cho gia đình mình siêu thoát, tịnh độ từ đó ban phúc cho người sống Họ cũng tham gia vào lễ thí thực cúng cho những linh hồn cô

Trang 29

quả, những nấm mồ vô chủ, những liệt sĩ vô danh mong cho họ được siêu thoát Đây là một phong tục đẹp mà người dân xã Phụng Châu vẫn lưu giữ và thực hiện hàng năm

- Lễ Hạ Nguyên (ngày 15 tháng 10 âm lịch)

Theo phong tục dân gian, Tết Hạ Nguyên được tiến hành vào ngày 15 tháng 10 âm lịch hằng năm Đây là lúc mùa màng đã thu hoạch xong, người dân muốn dân dịp làm cỗ, dâng lên tổ tiên thần phật cơm gạo mới Ngày lễ này người dân có thể làm cơm cúng tổ tiên tại nhà hoặc lên chùa dâng lên đức Phật cơm gạo mới Thành quả lao động mà họ vừa đạt được sau vụ mùa Cúng Hạ Nguyên có ý nghĩa cảm ơn trời Phật đã phù hô cho mùa màng bội thu, cầu cho mùa màng năm mới cũng cho thu hoạch tốt Lễ Hạ Nguyên ở chùa Trầm gồm các nghi lễ sau: lễ dâng hương, lễ cúng Phật, cúng Tổ, niệm Phật rồi đến lễ tạ và thụ lộc

1.2.2.Giá trị lịch sử

Quần thể di tích xưa kia là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt hành cung Trải qua năm tháng, khu danh thắng núi Trầm vẫn còn lại nhiều di tích lịch sử, kiến trúc độc đáo

Không chỉ cổ kính với cảnh quan độc đáo mà còn có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam Khu di tích chùa Trầm còn là nơi gắn với nhiều chiến công hiển hách trong lịch sử bảo vệ Tổ quốc của dân tộc từ thuở

xa xưa Đặc biệt, nơi đây đã ghi dấu lịch sử trong cuộc cách mạng của dân tộc

ta chống thực dân, đế quốc Trong những ngày đầu sau khi giành độc lập dân tộc, hang Trầm là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống và làm việc trong nhiều ngày liền Đây còn là nơi đầu tiên Đài tiếng nói Việt Nam tiếp tục hoạt động khi rời Hà Nội trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ngày 19/12/1946 Đài tiếng nói Việt Nam đã phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sôi sục non sông Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ

Trang 30

năm 1967 đến 1975 Núi Trầm còn là hành dinh của Sở chỉ huy K12 nơi điều hành bộ máy chiến đấu gồm các binh chủng: Tên lửa, ra đa, không quân, cao xạ…“Dòng sông âm thanh” là tên gọi của đài Tiếng nói Việt Nam chưa khi nào ngơi nghỉ, dù rằng phải chảy qua bão lửa chiến tranh vệ quốc và giữ gìn biên ải Một dòng chảy liên tục mà khởi nguồn là sứ mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh trao cho: : “Các cô các chú phải giữ gìn bằng được tiếng nói liên tục của Đảng và Chính phủ trong mọi tình huống” Ấy là lời Bác chỉ dạy vào đêm Giao thừa giá rét của Tết Đinh Hợi (1947) tại Chùa Trầm Để từ đây,

“bước chân sóng” dài theo kháng chiến, qua 14 địa danh rải khắp núi rừng Việt Bắc: Ao cá, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Ba Bể, Bản Vèn, Bản Vài, Bản Đung, Cát Trong, Cát Ngoài… 14 lần bí mật chuyển đổi địa điểm với hơn ba chục con người là hàng chục lần thoát hiểm bởi bom đạn, sốt rét, lũ rừng, đói ăn…

Giao thừa năm Kỷ Hợi 1947, Hồ Chủ Tịch đã đến thăm cán bộ phóng viên của Đài Tiếng nói Việt Nam (khi ấy, Đài tạm chuyển trụ sở về chùa Trầm) và Người đã đọc bài thơ mừng xuân năm ấy chúc Tết đồng bào, chiến

sỹ cả nước qua sóng Đài tiếng nói Việt Nam: “Cờ đỏ sao vàng tung bay trước gió, tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông”…

Chùa Trầm nhỏ bé, cổ kính từng lưu giữ không ít kỉ niệm về Bác Hồ Nơi đây từng 4 lần được vinh dự đón Bác về thăm Chuyện kể lại rằng: năm

1966, Bác về thăm chùa Trầm, đứng trước cửa chùa, thấy nhân dân gồng gánh lội qua sông đào nhà Bác về thăm chùa Trầm năm 1966 Bác liền hỏi mấy anh cán bộ: “Chú cho Bác hỏi, trước dân đi lối nào?” Anh cán bộ trả lời: “Thưa bác, trước kia dân đi lối trước cửa chùa” Bác lại hỏi: “Thế đi dưới nước hay

đi trên bộ dễ hơn” Anh cán bộ trả lời: “Thưa Bác, đi trên bộ dễ” Bác liền trách: “Vậy tại sao các chú lại để dân gánh gồng lội dưới nước Các chú làm công tác dân vận thế là chưa tốt” Một tuần sau đó, cán bộ dân quân ở đây đã

Trang 31

đắp một con đường dài khoảng 100m qua sông đào, con đường mang tên Quyết Thắng

Khu di tích quần thể chùa Trầm đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch

sử văn hóa ngày 24/4/1962 từ khi được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, quần thể chùa Trầm càng được quan tâm gìn giữ

1.2.3.Giá trị kinh tế

Điểm nổi bật của quần thể di tích chùa Trầm là kiểu kiến trúc giữa chùa

và núi đã tạo ra sức thu hút về du lịch của quần thể di tích là sự kết hợp du lịch văn hóa tâm linh với du lịch sinh thái

Trầm mặc và cổ kính nép mình giữa một vùng quê nghèo và yên tĩnh nhưng chùa Trầm vẫn là nơi thu hút nhiều du khách thập phương đến vãn cảnh Đến đây, du khách không chỉ được thắp hương lễ Phật mà còn được chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên đặc sắc xung quanh quần thể kiến trúc của chùa Sau khi vãn cảnh chùa, du khách có thể vào khám phá động Long Tiên với ngôi chùa Hang trên núi Tử Trầm Ở các ngách động sâu và hẹp hơn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tuyệt tác long lanh từ nhũ đá và nước ngầm của thiên nhiên Tiếp đó qua một ngách hẹp độ dốc lớn để lên đỉnh cao nhất của núi, thỏa sức phóng tầm mắt ra bốn phương tám hướng ngắm cảnh đồng quê trù phú một vùng ven sông Đáy Đến chùa Trầm du khách còn được tham quan nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến qua sóng Đài tiếng nói ViệtNam năm 1946 Vượt qua gần trăm bậc đá, khách

du lich lên đến đỉnh núi cao thứ hai, chiêm bái chùa Trầm Vô Vi, ngôi chùa năm trăm năm tuổi với kiến trúc độc đáo nguyên nét kiến trúc thế kỷ 16 tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dưới năm chục mét vuông Từ trên chùa Vô Vi phóng tầm mắt ra bốn phương tám hướng ngắm cảnh đồng quê trù phú một vùng đất So-Sở Du khách được leo lên đỉnh núi Tử Trầm toàn là các mỏm đá

tự nhiên là chính, hành trình lên núi, men theo những con đường mòn giữa

Trang 32

đồng cỏ hay bám cheo leo trên những vách đá Khi lên tới đỉnh, phóng tầm mắt bao quát cả một vùng nước non hùng vĩ mà nên thơ hữu tình Du khách

có thể trải nghiệm leo qua những ngọn núi cao: núi Bút, núi Vô Vi, núi Cung, các ngách động, thung lũng tình yêu…

Đặc biệt vào tháng ba, tháng tư là thời điểm hoa gạo nở rộ quanh chân núi, đây cũng chính là thời điểm cho những du khách yêu thích và ngắm nhìn hoa gạo

Trang 33

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA Ở QUẦN THỂ DI

TÍCH CHÙA TRẦM 2.1 Thực trạng quần thể di tích chùa Trầm

2.1.1 Thực trạng các giá trị văn hóa vật thể

Diện mạo cảnh quan môi trường xung quanh chùa xưa kia rất đẹp và thơ mộng với dòng sông sen thơm ngát tạo cho cảnh quan chùa Trầm càng trở lên linh thiêng và thanh tịnh Tuy nhiên cảnh quan thiên nhiên của chùa Trầm hiện nay đang bị phá hủy nghiêm trọng đặc biệt khu vực đất ao trước cửa chùa là dòng sông Sen thơm ngát được thả trồng từ rất lâu song giờ đây chỉ còn là một đầm nước hoang tàn, ngổn ngang những ụ đất và vật liệu đá, sỏi bị máy móc cày xới Theo nhiều người dân, lối vào chùa khi được công nhận là

Di tích Lịch sử Quốc gia Chùa Trầm gồm có 3 khu vực chính là: Núi Trầm, núi chùa Vô Vi – núi Bút và sông sen (còn gọi là sông chùa) Sông sen có hình bán nguyệt và được thả sen và trồng sen từ năm 1966, giữa sông sen là một bãi đất hình bầu dục (còn gọi là bãi chùa) Bãi Chùa có hai cột đá treo cờ nhà chùa, bãi chùa có từ thời vua Lê, chúa Trịnh ngự tại đây nhiều năm Vấn

đề này là một thức trạng nổi bật của di tích chùa Trầm cần được giải quyết để trả lại nguyên trạng ban đầu cho cảnh quan của chùa

Toàn bộ hệ thống tượng Phật, đồ thờ tự, bia ký trong chùa Trầm nhìn chung được giữ gìn bảo quản tốt, sơn son thiếp vàng và bài trí đúng ngôi vị Mặc dù vậy một số di vật đã bắt đầu bị xuống cấp: các pho tượng bằng gỗ bị tróc sơn và mối mọt phần chân đế, một số bia đá trong miếu văn bia ở sân chùa cung bị mờ không nhìn rõ chữ Tuy nhiên vẫn có những thực trạng đó là một số tượng cổ bị hạ xuống thay bằng tượng mới, đôi hoành phi câu đối cổ cũng bị dỡ xuống

Hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau khu nhà Tổ của chùa Trầm đã xuống cấp nghiêm trọng, không thể phục hồi được nguyên trạng Vì vậy các

Trang 34

tăng sư trì và người dân hảo tâm đã quyên góp tiền để xây dựng ngôi nhà Tổ mới đằng sau chùa Trong quá trình xây dựng rất nhiều các hiện vật ở khu nhà thờ Tổ như hệ thống tượng thờ, văn bia, đại tự và câu đối không được bảo quản tốt đã bị mai một rất nhiều Kết cấu kiến trúc nhà thờ Tổ không còn như trước hệ thống rường cột, vì kèo đặt vào nhà kho nay đã bị mối mọt, nứt gãy…

Một hang cổ rất đẹp sau núi của động Long Tiên (bên trong là chùa Hang) cũng bị bị đục sập, phá tan hoang do người dân đi nổ mìn phá núi làm

đá núi để nung vôi từ khoảng 20 năm trước Gần đây phong trào khai thác đá

đã dừng lại, nhưng những dấu tích vẫn còn đó trước sự tàn phá của người dân Các tượng Phật trong chùa Hang còn khá nguyên vẹn và đầy đủ các cấp

Hệ thống các tượng la hán, tượng thập điện diêm vương, tượng kim cương và các chuông, khánh đá theo thời gian ảnh hưởng của tự nhiên, độ ẩm trong hang và sự tác động của khách du lịch thập phương khi đến thăm chùa đã chạm vào tượng để cầu may mắn Nguyên nhân này đã làm cho hệ thống tượng làm bằng đá tinh xảo cũng bị mai một và không giữ được màu sắc của

đá tinh xảo như trước mà bị đen đi nhiều

Cảnh quan trên núi Vô Vi cũng ngày một xuống cấp do sự ảnh hưởng của tự nhiên và sự tác động của con người Con đường lên chùa hình thành từ rất lâu đến nay đã xuống cấp mà không được kè thêm đá, tu sửa Ngôi chùa có lịch sử hàng trăm năm nay đã xuống cấp Những mái chùa đã bị vỡ, cột gỗ và

vì kèo của chùa đã bị mòn không được bảo quản tốt

Nguyên nhân gây hư hỏng và xuống cấp

Do ảnh hưởng của tự nhiên, khí hậu, môi trường, tác động của con người cũng như giới hạn tuổi thọ của vật liệu hiện chỉ còn các thành phần đơn lẻ của các di tích bằng gỗ, các hiện vật bằng gỗ

Trang 35

Nằm trong xu thế đó, một số hiện vật của chùa Trầm và chùa Vô Vi trong quần thể di tích chùa Trầm cũng bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân:

- Do yếu tố thời gian

Chùa Trầm được xây dựng vào thời Cảnh Trị (1662-1670) và chùa Vô

Vi xây dựng năm Ất Hợi (1515) Các hệ thống tượng Phật, đồ thờ tự làm cùng thời gian đó đã co niên đại từ rất lâu Bên cạnh đó chất liệu tạo nên những di vật này đặc biệt là tượng đều được làm bằng gỗ Do yếu tố thời gian nên các

di vật này đã bị hư hại nhiều

Đối với chùa Hang có niên đại Chính Hòa 17 (1696), trải qua thời gian mặc dù tất cả các tượng Phật, hệ thống các tượng la hán, thạp điện diêm vương cùng đồ thờ tự đều được làm bằng đá tinh xảo nhưng dưới sự ảnh hưởng của tự nhiên, không khí và độ ẩm các hệ thống tượng thờ cũng bị mai một và hoen ố Chuông treo trong chùa Hang làm bằng đồng do sự tác động của nước mưa, không khí và độ ẩm cũng đã bị hoen rỉ

- Tác động của con người

Sự tàn phá của thiên nhiên, thời gian xét ở khía cạnh nào đó vẫn không bằng được “ tốc độ” phá hoại của con người đối với các di tích

Năm kháng chiến chống Pháp và Mỹ quần thể chùa Trầm là nơi hoạt động của Việt Minh Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ từ năm 1967 đến

1975 chùa Trầm là hành dinh của Sở chỉ huy K12 nơi điều hành bộ máy chiến đấu gồm các binh chủng: Tên lửa, ra đa, không quân, cao xạ… Qúa trình này

đã làm thay đổi công dụng ban đầu của chùa, hệ thống tượng Phật và bia đá được di chuyển sang nhà thờ Tổ làm cho hệ thống tượng Phật bị nứt gãy một

số chỗ và bia đá bị bào mòn Một số tượng Phật trong chùa Hang cũng bị bào mòn do có sự di chuyển để làm căn cứ kháng chiến Một số bia thờ, miếu thờ

ở chùa Vô Vi trải qua mưa, nắng, gió đã bị bào mòn và nứt mẻ

Trang 36

Là một di tích lịch sử quốc gia nhưng trong các văn bản, hồ sơ sao lục về

di tích này của phía UBND xã Phụng Châu quần thể di tích chùa Trầm lại không thể xác định được ranh giới khu quần thể di tích lịch sử chùa Trầm Do vậy đã xảy ra thực trạng người dân tự ý phá hoại đi cảnh quan dòng sông sen xanh mát trước cửa chùa Trầm

Không những vậy một quần thể di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia, với nhiều giá trị kiến trúc quý đang bị một số cá nhân lợi dụng để lấn chiếm đất di tích, bán đấu giá đền Mẫu cho cá nhân tự quản lý tiền công đức, rào dây thép gai, chặn khách du lịch để thu vé khách tham quan, hành hương đến làm lễ chùa, phá đi xây lại một số hạng mục như bậc thang đá đi lên đền Mẫu, tự ý cho cơi nới phần hiên trước cửa Một số tượng cổ trong đền bị hạ xuống thay bằng tượng mới, đôi hoành phi câu đối cổ cũng được dỡ xuống Đến chùa Trầm, du khách bị một số đối tượng gây phiền hà bằng việc tự tổ chức thu phí tham quan mà không được sự cho phép của chính quyền địa phương Chùa Trầm - di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia với nhiều giá trị lịch sử, văn hóa, tôn giáo, kiến trúc quý giá đang bị một số cá nhân lợi dụng chốn linh thiêng

để “thu tiền” Tại chùa Trầm còn tồn tại một vấn đề nhức nhối là việc du khách thập phương đến tham quan chùa Trầm bị một số đối tượng “làm tiền” bằng việc thu phí

2.1.2 Thực trạng các giá trị văn hóa phi vật thể

Một số văn bia ở chùa Trầm chưa được dựng lại mà để ngoài trời đã bị bào mòn

Với các nghi lễ Phật giáo ở cả ba ngôi chùa: chùa Trầm, chùa Hang, chùa Vô Vi hiện nay đã bị giản bớt đi chỉ còn lại những nghi thức chính Đặc biệt hội giỗ Tổ của chùa Trầm, đây là loại hình sinh hoạt văn hóa hết sức phong phú, đó là những giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu của người dân xã Phụng Châu nói riêng và khách thập phương nói chung Lễ hội là chứng tỏ

Trang 37

tính cố kết của cộng đồng, là minh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha ta Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm

tự hào về truyền thống quê hương, đất nước của mình Đến lễ hội người ta giao lưu, tìm thấy sự cộng cảm với nhau Vì vậy lễ hội luôn luôn có sự hấp dẫn, lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội là nhu cầu không thể thiếu của người dân Tuy nhiên do đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn cùng với sự quản lí chưa thực sự được quan tâm nên lễ hội của chùa Trầm không còn được tổ chức như xưa nữa Hiện nay vào ngày lễ hội phần lễ tế đã bị đơn giản hóa Phần hội Chùa Trầm xưa kia với những hoạt động cầu kinh, múa rồng, múa rối nước và những trò chơi dân gian: đu tre, rối nước, cờ tướng, leo cột mỡ, đánh vật, chọi gà…Đến ngày nay, những trò chơi xưa như leo cột mỡ, cờ tướng dù không còn phù hợp và được thay thế bởi bóng chuyền, bóng đá, hát văn nghệ…

2.2 Thực trạng khai thác phục vụ du lịch của quần thể di tích chùa Trầm

2.2.1 Nguồn khách

Khách du lịch nội địa đến quần thể di tích khá đa dạng nhưng chủ yếu đến từ các tỉnh lân cận như: Hoà Bình, Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên… chủ yếu họ chỉ dừng chân trong ngày không lưu lại qua đêm, lượng khách tập trung chủ yếu vào mùa lễ hội

Quần thể di tích chùaTrầm là một trong những địa điểm thu hút khoảng trên 90% lượng khách đến huyện

Mục tiêu đến năm 2020, huyện Chương Mỹ thu hút 199.000 lượt khách nội địa và 12.000 lượt khách quốc tế tới tham quan Hàng năm, quần thể di tích chùa Trầm đón trung bình từ 15.000-20.000 lượt du khách đến tham quan, chiêm bái, tập trung nhất là vào mùa lễ hội

Trang 38

(Nguồn: Phòng văn hóa thông tin huyện Chương Mỹ)

Thành phần khách du lịch tập trung chủ yếu là nhóm khách hành hương đến quần thể di tích chùa Trầm với mục đích lễ phật, lễ thần và tha gia lễ hội Ngoài mục đích tâm linh ra thì còn mục đích nữa là tham quan ngắm cảnh và leo núi Trầm Nhóm khách có mục đích tâm linh chủ yếu là những người trung tuổi, người già, nhóm khách vãnh lai mục đích thăm quan, ngoài ra còn nhóm khách là học sinh, sinh viên chủ yếu mục đích thăm quan - học tập vào nghiên cứu

Khách du lịch quốc tế đến với Quần thể di tích chùa Trầm có số lượng tương đối ít, xu hướng tăng rất chậm Không giống khách du lịch nội địa, khách du lịch quốc tế đến với nơi đây rải rác vào các tháng trong năm Tính mùa vụ với họ là không có vì hoạt động du lịch chủ yếu của họ là tìm hiểu, khám phá

Xuất phát từ những mục đích nói trên có thể thấy mục đích đến với quần thể di tích chùa Trầm của khách du lịch là khác nhau và phụ thuộc vào từng nhóm đối tượng, độ tuổi khác nhau

Khách hành hương sau khi vào chùa Trầm thắp hương lễ phật, lễ thánh sau đó có thể vãn cảnh, tham quan các công trình đền, tháp xung quanh chùa Tiếp đó vào động Long Tiên bên trong có chùa Hang để lễ phật đồng thời tham quan tìm hiểu rất nhiều các cảnh quan tự nhiên cũng như các công trình nhân tạo rất đặc sắc như: các pho tượng La Hán, Thập Điện Diêm Vương tạc bằng đá rất tinh xảo, những bài văn thơ cổ tạc trên vách đá, đi sâu hơn khách

du lịch có thể khám phá những tạo tác tuyêt đẹp do thiên nhiên ban tặng: bông hoa đá, bầu sữa mẹ, hàm răng hổ, mái tóc tiên, suối mộng mơ tình than thở…Những công trình di tích lịch sử trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và Mỹ Leo lên núi Vô Vi khách tham quan có thể chiêm bái ngôi chùa cổ - chùa Vô Vi rồi vào lễ phật, sau đó chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc

Ngày đăng: 13/10/2015, 16:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban thường vụ Huyện uỷ Chương Mỹ (2003), “Chương Mỹ xưa và nay”, Sở Văn hóa thông tin Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương Mỹ xưa và nay
Tác giả: Ban thường vụ Huyện uỷ Chương Mỹ
Năm: 2003
5. Phạm Trung Lương và các tác giả (2001), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương, các tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
7. Du lịch Hà Tây, Sở Du lịch Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Hà Tây
Tác giả: Sở Du lịch Hà Tây
8. Di tích lịch sử Hà Tây, Sở văn hóa thông tin Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử Hà Tây
Tác giả: Sở văn hóa thông tin Hà Tây
9. Lê Nhƣ Hoa (2001), Tín ngƣỡng dân gian Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tín ngƣỡng dân gian Việt Nam
Tác giả: Lê Nhƣ Hoa
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội
Năm: 2001
12. Vũ Ngọc Khánh (1993), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa cổ Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Khánh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1993
13. Dương Văn Sáu (2008), Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam
Tác giả: Dương Văn Sáu
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
14. Bùi Thị Hải Yến (2007), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
1. Bùi Việt Bắc (2007), Chương Mỹ trên hành trình phát triển, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội Khác
2. Vũ Thế Bình (1998), Non nước Việt Nam, Nxb Hà Nội Khác
4. Trịnh Minh Đức (2007), Bảo tồn di tích lịch sử văn hóa, Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
6. Nguyễn Văn Lưu (1998), Thị trường du lịch, Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
10. Trần Đức Thanh (1999), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb ĐHQG Hà Nội Khác
11. Trần Ngọc Thêm (chủ biên) (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1 mặt bằng chữ Công của chùa Trầm - Quần thể di tích chùa trầm với việc phát triển du lịch văn hóa
Sơ đồ 1 mặt bằng chữ Công của chùa Trầm (Trang 16)
Sơ đồ quản lý quần thể di tích chùa Trầm - Quần thể di tích chùa trầm với việc phát triển du lịch văn hóa
Sơ đồ qu ản lý quần thể di tích chùa Trầm (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm