Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức mới cho thanh niên ở Sóc Trăng phù hợp với nhu cầu của thời đại và gắn với những nét đặc thù của đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY Ở TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành Sư Phạm Giáo Dục Công Dân
Mã nghành: 52140204
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:
ThS GVC Nguyễn Đại Thắng Nguyễn Thị Bích Hẹn
MSSV: 6106612
CầnThơ, tháng 11 năm
Trang 2Mục lục
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài……… 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……… 3
5 Kết cấu của đề tài……… … 4
NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới……… 5
1.1.1 Giá trị đạo đức truyền thống……… 5
1.1.2 Giá trị đạo đức mới……… 12
1.2 Ảnh hưởng của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với đạo đức cho thanh niên hiện nay……… 18
1.3 Vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay……… 23
CHƯƠNG 2 KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY Ở TỈNH SÓC TRĂNG 2.1 Giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay……… 27
2.1.1 Tính tất yếu và sự cần thiết phải giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay……… 27
Trang 32.1.2 Những giá trị đạo đức truyền thống cần giáo dục cho thanh niên trong thời
kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay……… 29
2.2 Một số vấn đề giáo dục đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay……… 38
2.2.1 Thang giá trị đạo đức truyền thống và sự biến đổi của thang giá trị đạo đức hiện nay……… 38 2.2.2 Một số chuẩn mực cơ bản của đạo đức mới cần giáo dục trong lối sống thanh niên hiện nay……….42 2.2.3 Đạo đức mới là sản phẩm được hình thành một cách tự giác (là kết quả của giáo dục và tự giáo dục)……… 50
2.3 Thực trạng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giáo dục giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng………52
2.3.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử, văn hóa và kinh tế - xã
3.1 Phương hướng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Sóc Trăng……… 66
3.1.1 Quán triệt những quan điểm của Đảng, đổi mới nhận thức đối với việc
giáo dục đạo đức truyền thống và đạo đức mới cho thanh niên hiện nay………… 66
Trang 43.1.2 Kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống kết hợp với tiếp thu các
giá trị đạo đức nhân loại trong việc xây dựng đạo đức mới cho thanh niên……… 69
3.1.3 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức truyền thống và đạo
đức mới cho thanh niên……… 72
3.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay trong thời kì công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Sóc Trăng……….75
3.2.1 Phát huy tính tự giác và tích cực chủ động học tập, rèn luyện giá trị đạo
đức của thanh niên……… 75
3.2.2 Tạo môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội lành mạnh cho thanh niên… 77
3.2.3 Kết hợp giữa giáo dục gia đình, nhà trường, đoàn thể với xã hội……….81
3.2.4 Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức cho thanh
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời và đã trải qua biết bao sự kiện biến động lớn lao Sinh sống trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt lại luôn phải chống lại những kẻ ngoại xâm hung bạo và lớn mạnh, muốn tồn tại và phát triển, dân tộc ta không còn cách nào khác là phải khơi dậy và phát huy sức mạnh nội lực của chính mình Trong những thử thách gay go, ác liệt của lịch sử, những giá trị đạo đức truyền thống vừa là kết quả, vừa là động lực của quá trình đấu tranh gian khổ, lâu dài và quật cường của dân tộc ta chống lại thiên tai và địch hoạ Những giá trị ấy đã làm nên cốt cách, tinh thần và sức mạnh Việt Nam được bạn bè thế giới khâm phục Những giá trị đạo đức truyền thống tuy mang tính ổn định, bền vững nhưng không phải là nhất thành, bất biến mà cũng vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử Khi lịch sử bước sang một thời kỳ mới thì những giá trị đạo đức truyền thống cũ lại được thẩm định, chắt lọc và đổi mới cho phù hợp Đồng thời, những giá trị mới dần được hình thành làm cho hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc ngày càng phong phú
Công nghiệp hóa, hiện đại hoá là một cuộc cải biến cách mạng từ xã hội nông nghiệp trở thành xã hội công nghiệp, đồng thời đó cũng là cuộc cải biến cách mạng trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy để triển khai thuận lợi và thực hiện thành công sự nghiệp này đòi hỏi phải có những tiền đề cần thiết, và một trong những tiền đề cần thiết nhất, chính là nguồn nhân lực khẳng định vai trò quan trọng của nguồn nhân lực Thanh niên là một bộ phận rất quan trọng của xã hội, giữ vị trí
và vai trò hàng đầu trong dựng nước và giữ nước Bởi họ là những chủ nhân tương lại của đất nước, họ là đội ngũ tri thức trẻ có khả năng tiếp thu nhanh nhạy nhất, những tiến bộ của thời đại, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ
Sóc Trăng là một vùng đất có số dân cư tương đối lớn, trong đó thanh niên chiếm số lượng đông, đây là lực lượng nòng cốt cho sự phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh nhà nói riêng và cả nước nói chung Theo suốt chiều dài của lịch sử và truyền thống văn hóa dân tộc thì vùng đất Sóc Trăng là vùng với những tên người, tên đất lẫy lừng Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, lớp lớp các thế hệ thanh niên Sóc Trăng đã góp phần đấu tranh giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và xây dựng quê hương Sóc Trăng anh hùng Trong thời kì đổi mới, thế
Trang 7hệ thanh niên Sóc Trăng đã có những cống hiến to lớn với những tấm gương anh hùng trong chiến đấu, học tập, lao động sản xuất Điều đó đã có tác dụng lôi cuốn, giáo dục thanh niên nói chung và thanh niên trong tỉnh nói riêng Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, sự chuyển biến mạnh mẽ của điều kiện kinh tế - xã hội đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến lớp người trẻ tuổi nói chung và thanh niên Sóc Trăng nói riêng Và thực tiễn chứng tỏ rằng, tương lai của mỗi dân tộc phụ thuộc một phần rất lớn vào thế hệ trẻ nói chung, thanh niên nói riêng Liệu chúng ta có thể giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị phai nhạt lý tưởng, thiếu ý thức giữ gìn những giá trị truyền thống dân tộc? Trong những điều kiện mới của đất nước, chúng ta đã chuẩn bị "hành trang" gì cho họ? Điều tiên quyết và không thể thiếu đó
là "truyền thống dân tộc", những truyền thống đáng tự hào của lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước đã giúp chúng ta "hội nhập" mà không bị "hòa tan", phát triển mà không bị "mất gốc", trọng truyền thống mà không bảo thủ, tất cả những điều
đó đã và đang giúp cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên Sóc Trăng nói riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình, đứng vững trước mọi thử thách khắc nghiệt của cuộc sống hiện đại Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc và giá trị đạo đức mới cho thanh niên ở Sóc Trăng phù hợp với nhu cầu của thời đại và gắn với những nét đặc thù của địa phương là vấn đề hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay Đó cũng là lý do để tác giả của luận văn chọn vấn đề:
“Giáo giục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng” nhằm góp phần tìm
ra nguyên nhân, phương hướng và những giải pháp nhằm khắc phục hiện trạng trên trong xã hội
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích của đề tài là làm rõ thực trạng việc kế thừa và phát huy giá trị đạo đức truyền thống và việc định hướng xây dựng đạo đức mới trong thanh niên dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc giáo dục giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay
- Từ mục đích trên, nhiệm vụ chính của đề tài là:
+ Vạch rõ vai trò của đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới trong việc giáo dục thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Trang 8+ Vạch rõ vị trí, vai trò và trách nhiệm của thanh niên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
+ Làm nổi bật lên thực trạng và sự cần thiết phải kế thừa phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đẩy mạnh giáo dục đạo đức mới cho thanh niên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Sóc Trăng
+ Đề ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu trong việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở Sóc Trăng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị
đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng
Tập trung đi sâu và làm rõ một số nội dung quan trọng của đề tài nghiên cứu: + Những quan điểm của các nhà triết học Mác – Lênin, quan điểm của Đảng, nhà nước, chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức truyền thống, đạo đức mới và việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống, giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
+ Làm rõ vai trò của đạo đức truyền thống và đạo đức mới đối với việc hình thành nhân cách của thanh niên cũng như vai trò, trách nhiệm của thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
+ Thực trạng việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng
+ Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo đạo đức truyền thống và đạo đức mới cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở tỉnh Sóc Trăng
- Phạm vi nghiên cứu: Đạo đức và vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
và giá trị đạo đức mới cho thanh niên ở Sóc Trăng trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: luận văn này dựa trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức, giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới Ngoài
Trang 9ra, có tham khảo, kế thừa các một số bài viết được viết trong sách hoặc được đăng lên tạp chí để làm sáng tỏ nội dung của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ mà đề tài đặt
ra
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia làm 3 chương, 8 tiết gồm 92 trang
Trang 10NỘI DUNG CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Khái niệm giá trị đạo đức truyền thống và đạo đức mới
1.1.1 Giá trị đạo đức truyền thống
Mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng xã hội, dù muốn hay không muốn, dù có ý thức hay không có thì trong quá trình tồn tại và phát triển cũng hình thành truyền thống đạo đức Để hiểu được đạo đức truyền thống là gì thì trước tiên phải hiểu được những nét cơ bản về đạo đức Với tư cách là một bộ phận tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức đã xuất hiện hơn 26 thế kỉ trước đây trong triết học Trung Quốc, Ấn
Độ, Hi Lạp cổ đại
Ở phương Đông, các học thuyết đạo đức của người Trung Quốc cổ đại xuất hiện sớm, được thể hiện trong quan niệm về đạo đức của họ Đạo đức là một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi; về sao khái niệm này được vận dụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn có nghĩa là đường sống của con người trong xã hội Khái niệm đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim vân đời nhà Chu và từ đó trở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức tính là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý Như vậy, có thể nói, đạo đức - theo quan niệm của người Trung Quốc cổ đại - chính
là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo
Ở phương Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà tư tưởng Cho đến nay, người ta vẫn coi Xôcrát (469 - 399 trước công Nguyên) là người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học đạo đức học Arixtốt (384 - 322 trước công Nguyên) đã viết bộ sách Đạo đức học với 10 cuốn, trong đó ông đặc biệt quan tâm đến phẩm hạnh con người nội dung của phẩm hạnh chính là ở chổ biết định hướng đúng biết làm việc thiện Ông nói: chúng ta bàn về đạo đức không phải chỉ biết đức hạnh là gì, mà là để trở thành con người có đức hạnh
Những nhà triết học duy vật trước Mác, tiêu biểu là Phoiơbắc, đã nhìn thấy đạo đức trong quan hệ giữa con người với con người Nhưng, với ông, con người chỉ là một thực thể trừu tượng, bất biến; con người nhân bản, nghĩa là con người ở bên ngoài lịch sử, đứng trên giai cấp, dân tộc và thời đại
Trang 11Những người theo quan điểm Đácuyn xã hội đã tầm thường hóa chủ nghĩa duy vật bằng việc cho rằng, những phẩm chất đạo đức của con người là đồng nhất với bản năng bầy đàn của động vật Đối với họ, đạo đức - về thực chất - cũng chỉ là năng lực được đem lại từ bên ngoài con người, ngoài xã hội Như vậy, nét chung của lý thuyết này là coi đạo đức không phải là cái phản ánh cơ sở xã hội hiện thực khách quan
Khác với tất cả các quan niệm trước đó, C Mác và Ph.Ănghen đã chứng minh rằng: “trước khi sáng lập các thứ lý luận và nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống” Trong sự sản xuất, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ Toàn bộ quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và hình thái
ý thức xã hội nhất định, tương ứng với cơ sở hiện thực đó”[2, tr.14-15] Tư tưởng chính trị và pháp luật, đạo đức, tôn giáo, triết học… đều là những hình thái ý thức xã hội riêng biệt, hính thái trong lịch sử và phản ánh các lĩnh vực khác nhau của tồn tại
xã hội; chúng có sự khác nhau tùy theo phương thức phản ánh tồn tại xã hội và tác dụng riêng biệt đối với đời sống xã hội Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái
ý thức xã hội của một thời đại điều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, từ tồn tại xã hội của con người trong thời đại đó, ý thức xã hội của con người là
sự phản ánh tồn tại xã hội của con người Các quan điểm đạo đức chẳng qua là sản phẩm của chế độ kinh tế mà thôi
Sự đánh giá hành vi của con người theo khuôn phép và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm thiện ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Khái niệm về thiện và ác, khuôn phép và quy tắc hành vi của con người thay đổi từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, từ dân tộc này sang dân tộc khác và trong xã hội có giai cấp thì bao giờ cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhất định Khuôn phép và quy tắc đạo đức là yêu cầu của cả xã hội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi của mỗi cá nhân Nó bao gồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (đối với tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình và giai cấp đối địch…) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đức nhất định được công luận của xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận Ở đây, quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ của mình đối với xã
Trang 12hội và đối với người khác là tiền đề của hành vi đạo đức cá nhân Đã là một thành viên của xã hội, con người phải chịu một sự giáo dục nhất định về ý thức đạo đức, một sự đánh giá đối với hành vi của mình và trong những hoàn cảnh nào đó chịu sự khiển trách của lương tâm… Cá nhân phải có trách nhiệm chuyển những đòi hỏi của
xã hội và những thể hiện của chúng thành nhu cầu, mục đích và hứng thú trong hoạt động của mình Biểu hiện của sự chuyển hóa này là hành vi của cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩn mực cho phù hợp với những đòi hỏi của xã hội… Do vậy, sự điều chỉnh đạo đức mang tính tự nguyện - xét về bản chất - đạo đức là sự tự lựa chọn của con người
Đạo đức có những đặc trưng sau:
+ Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi: phong tục, tập quán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức… Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi con người theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành những khái niệm thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa
+ Đạo đức là một hệ thống các giá trị Giá trị là đối tượng của giá trị học (giá trị học phân loại các hiện tượng giá trị theo quan niệm đã được xây dựng nên theo truyền thống về các lĩnh vực của đời sống xã hội: các giá trị vật chất và tinh thần, các giá trị sản xuất, tiêu dùng, các giá trị xã hội - chính trị, nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo) Đạo đức là hiện tượng xã hội, mang tính chuẩn mực: mệnh lệnh, đánh giá
rõ rệt
Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đức không tách rời
sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnh đạo đức Nếu hệ thống giá trị đạo đức phù hợp với sự phát triển, tiến bộ, thì hệ thống ấy có tính tích cực, mang tính nhân đạo; ngược lại, hệ thống ấy mang tính tiêu cực, phản động, phản nhân đạo Đạo đức với tư cách là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội
Triết học Mác - Lênin không phủ nhận tính phổ biến toàn nhân loại của đạo đức, nhưng khẳng định rằng, trong điều kiện xã hội có giai cấp đối kháng thì không thể có một nền đạo đức chung thống nhất cho mọi giai cấp Ph.Ăngghen chỉ rõ: “Con người dù tự giác hay không tự giác, rút cuộc đều rút ra những quan niệm đạo đức của mình từ những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế, trong đó người ta sản xuất và trao đổi”[3, tr.136] Vì vậy,
Trang 13trong xã hội có đối kháng giai cấp, tương ứng với mỗi giai cấp nhất định là một hệ thống đạo đức nhất định biện hộ cho lợi ích của giai cấp đó
Sự phân chia xã hội thành giai cấp đối kháng làm cho đạo đức mất đi tính thống nhất ban đầu của nó Truyền thống đạo đức của xã hội nguyên thủy được tiếp tục trong đạo đức của những người lao động, những người bị bóc lột Trong giai cấp thống trị xuất hiện thái độ coi thường lao động và người lao động Điều đó được phản ánh vào trong đạo đức học Các học thuyết đạo đức chính thống - tức là những học thuyết đạo đức biện hộ cho địa vị, sự thống trị và lợi ích của giai cấp thống trị - đều cho rằng, những phẩm chất, đức tính như: sự công minh, lòng dũng cảm, tính hào hiệp… là thuộc về những người ở tầng lớp trên của xã hội, còn những thói xấu
về mặt đạo đức, sự phục tùng… là bản chất của những người ở tầng lớp dưới Chẳng hạn, Platôn cho rằng, chỉ có một số ít người ưu tú mới có năng lực đạo đức, còn đại
bộ phận dân chúng không có năng lực đạo đức, chỉ có năng lực đạt đến sự khuất phục Khổng Tử khẳng định, người quân tử cầu nghĩa, kẻ tiểu nhân cầu lợi… Trong
xã hội có giai cấp, ngoài những giai cấp đối kháng thường tồn tại những giai cấp và tầng lớp trung gian: những người bình dân, tiểu tư hữu Đạo đức của các giai cấp, tầng lớp này thường đang xen những chuẩn mực của giai cấp thống trị lẫn giai cấp bị trị Trong xã hội có giai cấp, đạo đức chính thống là đạo đức của giai cấp thống trị Đạo đức này không chỉ tác động trong giai cấp thống trị, mà còn có những ảnh hưởng nhất định đến những giai cấp khác Chẳng hạn, thái độ coi thường lao động, trọng nam khinh nữ, thói gia trưởng… vốn là đạo đức của giai cấp phong kiến, nhưng trong một chừng mực nhất định đã ảnh hưởng tới nhân dân lao động Ngày nay, tính dân tộc của văn hóa nói chung của đạo đức nói riêng không chỉ là một thực
tế, mà còn là một thực tế được tự giác xây dựng Các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, rất có ý thức trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của văn hóa
và đạo đức Nhiều quốc gia đã xây dựng bảng giá trị tinh thần - đạo đức với những nguyên tắc nền tảng làm cơ sở định hướng giá trị trong hoạt động của cả cộng đồng cũng như cho từng người dân
Giá trị, theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu nó là cái mà do nó đã làm cho một khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, được mọi người thừa nhận Người ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tinh thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội Như vậy, giá trị đạo đức được xác định bởi mức độ phù hợp của chúng đối với yêu cầu của tiến bộ xã hội Song lợi ích xã
Trang 14hội và yêu cầu của tiến bộ xã hội lại có tính lịch sử, nghĩa là mỗi giai đoạn phát triển
xã hội lại có những yêu cầu về lợi ích và sự tiến bộ của nó, chính vì vậy mà giá trị đạo đức cũng có tính lịch sử
Giá trị đạo đức được thể hiện thông qua việc thực hiện các chức năng của đạo đức Song, ở giai đoạn nào của sự phát triển xã hội thì đạo đức có những chức năng
cơ bản sau:
Thứ nhất, chức năng điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi được thực hiện
bằng hai hình thức chủ yếu Một là, thông qua dư luận xã hội, ca ngợi, khuyến khích cái thiện, cái tốt, lên án, phê phán cái ác, cái xấu Trong trường hợp này, giá trị đạo đức phụ thuộc vào sức mạnh và tính đúng đắn của dư luận Mỗi khi dư luận xã hội được củng cố và phát triển, được mọi người đồng tình ủng hộ, nó sẽ trở thành sức mạnh to lớn trong việc điều chỉnh đạo đức Dân tộc ta có câu ca: "Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ" Quả thật, cái "bia miệng" (dư luận xã hội) hàng ngàn năm vẫn lưu truyền, nó lâu bền hơn cả sắt đá nó trở thành công cụ lợi hại trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức Do đó, nếu dư luận xã hội mỗi khi được hướng dẫn bởi những học thuyết đạo đức tiên tiến, sẽ góp phần điều chỉnh hành vi đạo đức, làm cho nó phù hợp với sự tiến bộ xã hội, tạo nên nhưng giá trị đạo đức đích thực Hai là, bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi của mình theo những chuẩn mực đạo đức xã hội Cách thức điều chỉnh này phụ thuộc vào việc giáo dục, giác ngộ của chủ thể đạo đức Bởi lẽ, trong quan hệ đạo đức chủ thể đạo đức vừa tham gia vào hành vi ứng xử, vừa là người phán xét hành vi ứng xử của chính mình Khi thực hiện hành vi ứng xử, chủ thể đạo đức dựa vào các chuẩn mực được hình thành trong bản thân họ (chuẩn mực này đã tiếp thu chuẩn mực đạo đức xã hội
và do điều kiện sinh sống và các quan hệ xã hội cụ thể của cá nhân chủ thể tạo thành) Nếu các chuẩn mực đó phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, nó sẽ trở thành cơ sở khách quan làm cho hành vi đạo đức của cá nhân phù hợp với lợi ích xã hội, được dư luận đồng tình ủng hộ Ngược lại, mỗi khi chuẩn mực cá nhân sai lệch chuẩn mực xã hội sẽ dẫn đến những hành vi đạo đức cá nhân không phù hợp với lợi ích xã hội Trong trường hợp này, dư luận xã hội sẽ lên án, phê phán
Thứ hai, chức năng giáo dục Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua sự
giáo dục của xã hội và sự tự giáo dục của mỗi cá nhân Giáo dục đạo đức là quá trình tuyên truyền những tư tưởng, những chuẩn mực đạo đức xã hội, biến nó thành thước
Trang 15đo đánh giá, điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân nhằm đạt tới một sự phù hợp giữa hành vi cá nhân với lợi ích xã hội
Trong quá trình hoạt động sinh sống, mỗi cá nhân không chỉ mưu cầu lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần, mà còn mưu cầu sự tiến bộ của bản thân và đều muốn được dư luận xã hội ca ngợi, biểu đương Do đó, những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức xã hội trở thành mục tiêu, thành những định hướng cho hoạt động cá nhân của nó Những hành vi đạo đức có tính chất lặp đi lặp lại, tạo nên các quan hệ đạo đức tương đối ổn định và nó thường xuyên được duy trì, củng cố bằng dư luận
xã hội sẽ trở thành thói quen, tập quán, truyền thống đạo đức trở thành nhân tố trực tiếp tác động đến sự hình thành đạo đức của thế hệ người tiếp theo Như vậy, giá trị đạo đức trong trường hợp này được hình thành, phát triển ra sao luôn phụ thuộc vào tính đúng đắn, khoa học của những tư tưởng và những chuẩn mực đạo đức được tuyên truyền, giáo dục trong xã hội
Thứ ba, chức năng nhận thức Những tư tưởng đạo đức và chuẩn mực đạo đức
xã hội có trở thành các quan hệ đạo đức trong đời sống xã hội hay không, điều đó không chỉ phụ thuộc vào tính đúng đắn, tư tưởng đạo đức, của các chuẩn đạo đức, vào việc tuyên truyền, giáo dục trong xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào khả năng tiếp nhận và chuyển hoá nó trong hoạt động nhận thức và trong hành vi của mỗi chủ thể đạo đức Thông qua sự lựa chọn, đánh giá của các chủ thể đạo đức về những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức, trong bản thân họ hình thành niềm tin, lý tưởng đạo đức
và các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức trong quan hệ ứng xử của chính họ
Hoạt động nhận thức đạo đức cũng bao gồm hai trình độ: tình cảm và tư tưởng đạo đức, kinh nghiệm và lý luận đạo đức
Nhận thức đạo đức ở trình độ kinh nghiệm hoặc tình cảm đạo đức gắn liền với hoạt động thực tiễn, với các quan hệ đạo đức của xã hội và luôn chịu ảnh hưởng của
dư luận, tập quán, truyền thống đạo đức Quá trình này hình thành nên ở chủ thể đạo đức những hình ảnh, những “thần tượng” được coi là chuẩn mực trực tiếp cho việc đánh giá, điều chỉnh hành vi đạo đức của họ Chẳng hạn, một đứa trẻ thường thông qua việc quan sát những hành vi ứng xử của bố mẹ nó với bạn bè, với những người thân trong gia đình, với công việc nó cũng sẽ làm như bố mẹ đã làm trước đây Nhận thức đạo đức ở trình độ tư tưởng hoặc lý luận là nhận thức có tính nguyên tắc được chỉ đạo bới những lợi ích căn bản của giai cấp, của xã hội
Trang 16Thông qua quá trình nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn, chủ thể đạo đức phân tích, đánh giá, lựa chọn các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực đạo đức trong
xã hội để trên cơ sở đó, chứng minh, lý giải các tư tưởng đạo đức và các chuẩn mực đạo đức được hình thành trong bản thân nó là đúng đắn và hợp lý, để tiếp thu cái đúng, cái hợp lý và phê phán những sai trái trong các tư tưởng và chuẩn mực đạo đức khác
Như vậy, có thể nói, giá trị đạo đức được hình thành ở mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào việc các cá nhân ấy được giáo dục và tiếp nhận những tư tưởng và các chuẩn mực đạo đức đúng đắn của xã hội
Truyền thống là những giá trị tinh thần của con người được hình thành trong quá trình hoạt động, quan hệ ứng xử và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, được mọi người nhận thức, thừa nhận, tự giác thực hiện, và tự điều chỉnh nhờ dư luận của cộng đồng, xã hội Truyền thống thì có cái tốt cái xấu; nhưng khi chúng ta nói “giá trị truyền thống” thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có những cái gì tốt mới được gọi là giá trị; thậm chí, phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cực cho đạo đức luân lý, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn sự hành động, thì mới được mang danh là giá trị truyền thống
Giá trị đạo đức truyền thống được tồn tại thông qua các phong tục tập quán, đạo đức và được biểu hiện tập chung nhất ở nhân cách Chúng có tính ổn định cao
Mặc dù truyền thống là những gì ổn định, nhưng với tư cách là yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng, khi điều kiện kinh tế xã hội biến đổi, thì nó có những biến đổi nhất định, trong đó có sự biến đổi của giá trị đạo đức truyền thống Tuy vậy, các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình vận động của mình, chúng vẫn giữ được “lõi bất biến” Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc là sự kết tinh toàn bộ tinh hoa được cô đúc nên trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc Cho nên giá trị truyền thống là cái thể hiện bản chất nhất, đặc trưng nhất của cốt lõi văn hóa dân tộc tạo nên sức mạnh tiềm tàng và bền vững
Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc không phải là những gì sẵn có khi dân tộc đó xuất hiện, mà do các thế hệ người nói tiếp nhau tạo thành Tuy nhiên, mỗi dân tộc cũng không thể tự lựa chọn cho mình những giá trị truyền thống như mong muốn, mà những giá trị truyền thống được hình thành dựa trên cơ sở những điều kiện kinh tế, lịch sử của mình
Trang 17Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng không phải là giá trị vĩnh cửu, nó
có lõi bất biến đồng thời có phần biến động để có thể bổ xung, đổi mới ngày càng phong phú và phù hợp với đặc trưng tính chất của thời đại
Như vậy, giá trị đạo đức truyền thống dân tộc được cô đúc trong quá trình hình thành, tồn tại và phát triển, nó gắn liền với đời sống, với những thăng trầm của dân tộc Toàn bộ giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là cái thể hiện cô đọng nhất, độc đáo nhất, rõ nét nhất bản chất của dân tộc Đồng thời nó cũng chính là sức mạnh nội sinh để một dân tộc, một đất nước phồn vinh và phát triển
Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việc Nam, giá trị đạo đức truyến thống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trị tinh thần đó Chính vì vậy, khi nói đến giá trị đạo đức truyền thống dân tộc ta, là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báo đã được hình thành và bảo lưu trong chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được cô đúc, được thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệ khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử,
nó chứa đựng một tìm năng hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc Việt Nam, giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển Giá trị đạo đức của dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trình dựng nước và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn có, đã tạo nên một bản chất hết sức độc đáo
1.1.2 Giá trị đạo đức mới
Cho đến nay, xã hội loài người đã phát triển như một quá trình lịch sử - tự nhiên, từ thấp đến cao qua các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau Phù hợp với mổi hình thái kinh tế - xã hội cụ thể có những quan điểm đạo đức tương ứng như đạo đức của cộng sản nguyên thủy, đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức xã hội phong kiến, đạo đức của xã hội tư bản và đạo đức của cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là đạo đức xã hội xã hội chủ nghĩa
Trả lời các câu hỏi: Có đạo đức cộng sản hay không? Có luân lý cộng sản hay không?, V I Lênin khẳng định rằng: “Tất nhiên là có Người ta thường bảo chúng ta không có đạo đức của chúng ta, và giai cấp tư sản buộc tội những người cộng sản chúng ta là bác bỏ mọi thứ đạo đức Đó là một cách lộn sòng các khái niệm làm công nhân và nông dân bị lầm lạc”[32, tr.366]
V.I Lênin nêu rõ rằng: đạo đức của chúng ta hoàn toàn phục vụ lợi ích đấu tranh giai cấp vô sản; đạo đức của chúng ta là từ những lợi ích của cuộc đấu tranh
Trang 18giai cấp của giai cấp vô sản mà ra “Đạo đức cộng sản là đạo đức phục vụ cuộc đấu tranh ấy, là đạo đức đoàn kết những người lao động chống mọi sự bóc lộc, chống mọi chế độ tư hữu nhỏ, vì chế độ tư hữu nhỏ trao cho một cá nhân thành quả lao động do toàn xã hội sáng tạo ra Ruộng đất đối với chúng ta là tài sản chung” [32, tr.369] Vì vậy, “đối với một người cộng sản, tất cả đạo đức là nằm trong cái kỉ luật đoàn kết keo sơn đó và trong cuộc đấu tranh tự giác của quần chúng chống bọn bóc lột… Đạo đức giúp xã hội loài người tiến lên cao hơn, thoát khỏi ách bóc lột lao động”[32, tr.371]
Đồng thời với việc khẳng định đạo đức mới, chủ nghĩa Mác – Lênin phủ định học thuyết đạo đức nhất thành bất biến, phủ định tính chất tiên thiên, bẩm sinh của đạo đức, phủ định khả năng tồn tại của một nền đạo đức chung, thống nhất trong xã hội có giai cấp đối kháng Bác bỏ cái gọi là “đạo đức do một bề trên nào đó xác lập ở ngoài xã hội loài người”, V I Lênin chỉ ra rằng: “Tất cả những thứ đạo đức, xuất phát từ những quan niệm ở ngoài nhân loại, ở ngoài các giai cấp, chúng ta điều bác
bỏ Chúng ta nói rằng đấy chỉ là lừa bịp, dối trá, nhồi sọ công nhân và nông dân để mưu lợi ích riêng cho bọn địa chủ và bọn tư sản”[32, tr.367]
Chủ nghĩa Mác – Lênin thừa nhận tính giai cấp của đạo đức, khẳng định những chuẩn mực của đạo đức phát sinh và phát triển từ những điều kiện sinh hoạt vật chất
và đời sống vật chất biến đổi thì những chuẩn mực của đạo đức cũng biến đổi theo Chủ nghĩa Mác – Lênin một mặt thừa nhận tính biến đổi lịch sử của đạo đức, mặc khác chứng minh rằng đạo đức của chủ nghĩa xã hội không xây dựng trên mảnh đất trống không mà nó phải kế thừa những thành tựu của đạo đức của các xã hội trước và khắc phục những hạn chế đạo đức của các xã hội đó Chính nền đạo đức xã hội chủ nghĩa đã kế thừa, lĩnh hội và phát triển được tất cả mọi nét đặc sắc của đạo đức, những gì ưu tú đã được sáng tạo trong lịch sử hàng ngàn năm của những người lao động Đạo đức mới bao hàm những chuẩn mực đạo đức cơ bản, là sự tổng kết lịch sử phát triển đạo đức của những người lao động Vì vậy, đạo đức mới là đỉnh cao của đạo đức xã hội
C Mác và Ph Ăngghen, trong lý thuyết về chủ nghĩa xã hội, đã giải thích một cách khoa học về mục tiêu đạo đức của chủ nghĩa xã hội là tạo tiền đề hiện thực để con người phát triển hoài hòa và phong phú Xã hội thực sự có đạo đức là kết quả hợp quy luật của lịch sử vừa kế thừa, vừa phát triển, vừa khắc phục những hạn hẹp, phiến diện đạo đức của các xã hội trước đó Vì thế, nhiệm vụ lịch sử đầu tiên trong
Trang 19mục tiêu đạo đức của chủ nghĩa xã hội là khắc phục những hạn chế về đạo đức của các xã hội trước đây
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là đưa đông đảo quần chúng nhân dân lao động tham gia vào đời sống chính trị - xã hội Để thực hiện được mục tiêu đó, cần phải thay đổi các quan hệ đạo đức, các thành kiến đạo đức, các lề thói lạc hậu Chủ tịch
Hồ Chí Minh viết: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta Chúng ta phải thay đổi triệt những nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến có gốc rễ sâu xa hàng ngàn năm… Chúng ta phải biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc”[22, tr.493-494]
Như vậy, mục tiêu xây dựng nền đạo đức mới của chủ nghĩa xã hội là phải mở rộng, tiếp tục hoàn thành ba cuộc giải phóng: giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội đã được tiến hành và phát động từ đầu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Việc cải tạo lại các quan hệ đạo đức cũ phải gắn chặt với ba cuộc giải phóng đó Việc kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống đã tồn tại hàng ngàn năm trong đời sống mỗi dân tộc cho phù hợp với thực tiễn và thời đại là yêu cầu cơ bản và cấp bách
Khái niệm đạo đức cộng sản là hoàn toàn mới trong lịch sử xã hội, nó đối lập với đạo đức của giai cấp tư sản và giai cấp bóc lộc khác Đạo đức cộng sản cũng khác với đạo đức của những người sản xuất nhỏ Theo V I Lênin, xét về bản chất, đạo đức mới “là những gì góp phần xóa bỏ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra
xã hội mới của những người cộng sản”[32, tr.369] Đạo đức mới là những chuẩn mực của những người cộng sản về chân, thiện, mỹ nhằm điều chỉnh hành vi ứng xử của những người cộng sản với nhau, với tổ chức và với nhân dân lao động
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và lý luận về đạo đức nói riêng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã trở thành nhà lý luận lỗi lạc, là tấm gương sáng ngời soi sáng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Ngay từ khi bước vào con đường cách mạng, Hồ Chí Minh đã ý thức rất rõ ràng
và sâu sắc vai trò của đạo đức cách mạng đối với sự nghiệp cách mạng Theo Người,
“đạo đức cách mạng không phải là đạo đức thủ cựu Nó là đạo đức mới, đạo đức vĩ
Trang 20đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”[24, tr.252] Đạo đức đó được hình thành và phát triển cùng với quá trình vận động, phát triển sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đồng thời, nó kế thừa
và phát triển những tinh hoa đạo đức truyền thống của dân tộc và nhân loại Người
đã xác định đạo đức cách mạng là “tuyệt đối trung thành với nhân dân”, “ra sức phấn đấu mục tiêu của Đảng”, “quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch”, “đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”, luôn hòa mình với quần chúng
Đạo đức mới được thể hiện ở tinh thần chiến đấu dũng cảm chống kẻ thù chung, trong lao động sáng tạo xây dựng đất nước, trong tình hữu ái của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, trong chủ nghĩa quốc tế vô sản và trong sự nghiệp xây dựng những con người kiểu mới phát triển toàn diện
Đạo đức mới, đạo đức cách mạng mà Hồ Chí Minh khởi xướng và cùng Đảng
ta xây dựng, bồi dưỡng cho các thế hệ cách mạng và cho nhân dân ta, xét về tính giai cấp và mục đích, nó thống nhất với đạo đức vô sản, đạo đức cộng sản mà C.Mác và
Ph Ăngghen là những người đặt nền móng và Lênin là người kế thừa, phát triển Đạo đức mới là đạo đức gắn liền với lợi ích của giai cấp công nhân nói riêng và của quần chúng nhân dân lao động nói chung Đó là đạo đức chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vì sự tiến bộ của nhân loại, vì tự do, hạnh phúc của mỗi người, mục đích cuối cùng là góp phần giải phóng triệt để con người, trước hết là giai cấp công nhân và nhân dân lao động thoát khỏi áp bức bất công của xã hội
Do vậy, đạo đức mới là đạo đức trong hành động cải tạo xã hội, khẳng định phẩm chất cao quý của người lao động trong sự nghiệp đấu tranh tự giải phóng mình Đạo đức mới ở Việt Nam là một hình thức đặc thù của đạo đức cộng sản chủ
nghĩa, tính đặc thù của nó được quy định bởi thực tiễn cách mạng Việt Nam, truyền thống đạo đức dân tộc và dấu ấn sắc thái Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh coi đạo đức mới, đạo đức cách mạng là “gốc”, là “nền tảng” của người cách mạng: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng thì phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[20, tr.252-153] Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng Đạo đức cách mạng là cái phải được chuyển hóa thành phẩm chất nhân cách của người cách mạng, và yếu tố cốt lõi của
Trang 21nhân cách, và chỉ như vậy, đạo đức cách mạng mới thể hiện vai trò cải tạo xã hội thông qua các hoạt động con người - chủ thể cách mạng
Sự khác biệt của đạo đức mới, so với đạo đức cũ không phải ở hình thức ngôn ngữ mà là ở nội dung của nó Nội dung của đạo đức mới thể hiện: chủ nghĩa tập thể, lao động cần cù, tự giác, sáng tạo, ý thức học tập, rèn luyện, chủ nghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa… Đạo đức mới khác với đạo đức cũ ở chỗ, hệ giá trị của nó là hệ giá trị tiên tiến, phù hợp với sự phát triển, sự tiến bộ của con người và xã hội Tiêu chí quan trọng để phân biệt đạo đức mới với các kiểu đạo đức trước đây là ở tính cách và tính khoa của nó
Tính cách mạng và khoa học của đạo đức mới được thể hiện ở con đường và giải pháp hiện thực hóa những yêu cầu của nó trong đời sống hiện thực, biến những yêu cầu đó thành phẩm chất, nhân cách của con người mới; đó chính là thông qua giáo dục, rèn luyện trong thực tiễn, đấu tranh tự phê bình và phê bình, “xây” đi đôi với “chống” và nêu gương về đạo đức thông qua “người tốt việc tốt” Chính vì vậy,
Hồ Chí Minh và Đảng ta trong sự nghiệp lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã tạo nên một thế hệ cách mạng với những tấm gương sáng ngời về đạo đức trong đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc
ta
Như vậy, đạo đức mới là đạo đức mang bản chất giai cấp công nhân, phản ánh những yêu cầu của sư nghiệp đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Từ gốc độ giá trị có thể thấy, đạo đức mới là hệ thống những phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách, cùng với năng lực là hai yếu tố cơ bản tạo lập nên phẩm giá của con người
Giá trị nhân cách của con người được thể hiện qua hành vi đối với bản thân mình, đối với gia đình, đối với đồng nghiệp, đồng chí, đối với Đảng, đối với nhân dân, đối với Tổ Quốc và đối với kẻ thù Những phẩm chất như: “…suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng… Đặt lợi ích của Đảng lên và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”[24, tr.285]
Sự thống nhất hữu cơ giữa phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức được quy
định bởi sự thống nhất giữa lợi ích dân tộc và lợi ích giai cấp Lợi ích dân tộc, lợi
ích giai cấp và sự thống nhất giữa chúng vừa là mục tiêu lý tưởng chính trị, vừa là
Trang 22mục tiêu lý tưởng đạo đức của giai cấp công nhân Việt Nam Sự thống nhất giữa lý tưởng chính trị và lý tưởng đạo đức được thể hiện rõ nhất và sinh động nhất ở nhân cách của Hồ Chí Minh Tất cả những lý tưởng và hành động của Người đều là vì quyền lợi, lợi ích của Tổ Quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và vì sự nghiệp giải phóng con người mà trước hết là những người cùng khổ bị áp bức bóc lột
Tiếp cận đạo đức mới, dưới gốc độ chức năng xã hội thì đặc trưng nổi bật của
nó là tính tiên phong, tinh thần cải tạo, xóa bỏ cái cũ, cái lạc hậu, xây dựng cái mới
Đạo đức mới, ra đời từ thực tiễn cách mạng nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Vì vậy, đạo đức mới là đạo đức thực tiễn Chức năng cơ bản của nó là chỉ đạo và điều chỉnh hành vi cải tạo xã hội
Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp thì đạo đức mới là cơ
sở để đảm bảo cho hoạt động “cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới” thành công Nét
cơ bản để phân biệt đạo đức mới với đạo đức duy tâm, tôn giáo, đạo đức của giai cấp
bóc lột là ở chức năng chỉ đạo hành vi trong hoạt động cải tạo xã hội của nó
Đạo đức duy tâm tôn giáo là đạo đức của người từ bi, nó thể hiện sự bất lực của con người trước quyền uy xã hội, nó không chống lại quyền lực và sự thống trị tàn bạo của giai cấp bóc lột mà định hướng cho con người chấp nhận hiện thực xã hội bất công phi nhân tính Hơn nữa, đạo đức duy tâm tôn giáo còn bao chứa, che đậy cho những hành vi vô đạo đức của giai cấp bóc lột
Đạo đức của giai cấp thống trị tuy có vai trò tiến bộ nhất định (khi mới ra đời ) nhưng lại là thứ đạo đức chói buộc con người trong vòng cương tỏa của những khuôn phép bảo vệ lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị chiếm thiểu số trong xã hội Ngay cả đạo đức của giai cấp tư sản, đạo đức tiến bộ nhất trong số đó, thì cũng kìm hãm con người trong những lợi ích ích kỉ, cục bộ, hẹp hòi cá nhân, phản tiến bộ
Như vậy, tiếp cận đạo đức mới từ các gốc độ: nhận thức luận, giá trị - nhân cách và chức năng cơ bản của nó, chúng ta thấy nổi lên những đặc trưng cơ bản khác
nhau và đồng thời, nhưng đặc trưng đó cũng chính là những thành phần cơ bản cấu thành nội hàm của khái niệm đạo đức mới
Trên cơ sở những đặc trưng cơ bản của đạo đức mới, chúng ta có thể hiểu: Đạo đức mới là đạo đức của giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến bộ, phản ánh thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội,
là tổng hòa các phẩm chất chính trị và phẩm chất đạo đức tạo nên nền tảng nhân cách
Trang 23của con người mới, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng cải tạo
xã hội cũ, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công chũ nghĩa xã hội
1.2 Ảnh hưởng của thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với việc giáo dục đạo đức cho thanh niên hiện nay
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất - kinh doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo năng suất lao động - xã hội cao Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định: "Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam; đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hoá độc hại, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc Khắc phục tâm lý sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý, coi thường các giá trị nhân văn” [8, tr.111] Do vậy để có một hệ chuẩn đạo đức mới, chúng ta không
chỉ xác định xem cần phải kế thừa, duy trì, phát triển những yếu tố nào, phê phán, gạt
bỏ những yếu tố nào trong đạo đức truyền thống mà còn xác định xem cần phải tiếp thu những yếu tố nào, gạt bỏ, ngăn chặn những yếu tố nào trong hệ thống giá trị và quy tắc ứng xử đi liền với quá trình hình thành và phát triển của nền kinh tế thị trường để trên cơ sở đó, xây dựng một nền đạo đức Việt Nam trong sáng, lành mạnh, giàu tính dân tộc và hiện đại, mang đậm tính nhân văn
Với tư cách là yếu tố cấu thành hệ thống các giá trị tinh thần của đời sống xã hội, giá trị đạo đức được xác định là những chuẩn mực, những khuôn mẫu lý tưởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hoá hành vi con người Trong tiến trình phát triển lịch sử của xã hội loài người, hệ thống giá trị tinh thần của đời sống
xã hội nói chung, các giá trị đạo đức nói riêng luôn được coi là yếu tố cấu thành diện mạo của một thời đại, một xã hội, một dân tộc, một nền văn hoá và của nhân cách con người Và do vậy, mọi phương thức thành định, định hướng giá trị nói chung, giá trị đạo đức nói riêng, đều phải dựa trên cơ sở tính ổn định tương đối của các giá trị
đó
Trang 24Theo quan điểm phát triển của triết học Mác, những khác biệt đó, đối lập đó trong hệ các giá trị đạo đức là sự phản ánh quá trình vận động và phát triển thường xuyên của các giá trị đạo đức, và suy cho cùng thì đó là biểu hiện hợp quy luật của quá trình vận động phát triển của đời sống tinh thần xã hội dưới tác động của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội Khi nền tảng kinh tế - xã hội thay đổi
sẽ dẫn đến những thay đổi trong đời sống tinh thần của xã hội, đến những thay đổi trong hệ thống giá trị tinh thần xã hội Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, và do
đó, cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, nó phản ánh tồn tại xã hội và thay đổi tuỳ theo sự thay đổi của tồn tại xã hội Nói về ảnh hưởng của những biến đổi diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội đối với quá trình hình thành quan niệm của con người
về đạo đức và các giá trị đạo đức
Bởi vậy, khi phán xét, thẩm định một hiện tượng đạo đức, một giá trị đạo đức nào đó, chúng ta không thể dừng lại ở chỗ lý giải nội dung khái niệm của nó mà phải
đi sâu tìm hiểu nguồn gốc xã hội, đặc điểm kinh tế, nền tảng kinh tế - xã hội, nghĩa là phải tìm hiểu tồn tại xã hội đã sản sinh ra nó Trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang mô hình kinh tế thị trường, sự chuyển đổi các giá trị đạo đức là điều không tránh khỏi Song, điều đó không có nghĩa là khi chuyển sang mô hình kinh tế thị trường, mọi quan niệm đạo đức đều bị lật nhào, mọi giá trị đạo đức đều lập tức thay đổi Những quan niệm đạo đức hợp lý, đúng đắn, những giá trị đạo đức truyền thống không vì thế mà lập tức thay đổi Những quan niệm đạo đức, các giá trị đạo đức tiêu biểu cho các giai đoạn khác nhau của cùng một quá trình phát triển lịch sử và có một cơ sở lịch sử chung, thì giữa chúng không thể không có nhiều yếu tố chung
Và theo Ph.Ăngghen, “đối với những giai đoạn phát triển kinh tế giống nhau hay gần giống nhau thì những học thuyết về đạo đức tất phải ít nhiều trùng hợp với
nhau” [3, tr 136] Với tư cách là sản phẩm của tiến trình phát triển lịch sử, đạo đức,
cũng như mọi hình thái ý thức xã hội khác, trong quá trình phát triển của nó có tính độc lập tương đối Những lực lượng xã hội mới thường mượn những quan niệm đạo đức của thời đại trước, giai đoạn trước, cải tạo lại, gạt bỏ những cái gì không còn phù hợp, giữ lại những cái tốt đẹp, phù hợp với các quan hệ kinh tế - xã hội mới, với lợi ích của họ Vả lại, trong quá trình chuyển đổi các giá trị đạo đức, những tập quán và truyền thống dân tộc luôn đóng một vai trò to lớn Thông qua tập quán và truyền thống dân tộc mà rất nhiều quan niệm, quy tắc, giá trị đạo đức cũ được giữ lại, được
Trang 25kế thừa và phát huy trong bối cảnh của đời sống xã hội mới ngay cả khi những điều kiện xã hội đã sản sinh ra chúng không còn nữa Đó là chúng ta còn chưa kể tới sự tác động lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hình thái ý thức xã hội mà đạo đức
là một trong những hình thái ý thức xã hội ấy Với cơ chế thị trường thì khía cạnh thực dụng trong các mối quan hệ là điều khó tránh khỏi Sự sòng phẳng, minh bạch
trong hạch toán kinh tế, “quan hệ làm ăn” theo kiểu “đôi bên cùng có lợi” là một
yêu cầu tối cần thiết của kinh tế thị trường Nhưng điều đó cũng dẫn đến những biểu hiện tiêu cực về mặt đạo đức ở một bộ phận xã hội Lối sống coi trọng đồng tiền,
“trước đồng tiền mọi người đều bình đẳng” lấy đồng tiền làm thước đo mọi cái, kể
cả phẩm giá con người, đặt quan hệ trao đổi theo kiểu “tiền trao, cháo múc” lên trên
cả tình nghĩa một cách lạnh lùng, thực dụng đã xuất hiện, thậm chí có xu hướng gia tăng khi chúng ta chuyển sang cơ chế thị trường Lối sống đó đã dẫn đến sự xói mòn một số chuẩn mực giá trị truyền thống vốn là nét đẹp trong đời sống đạo đức của người Việt Nam
Song, không phải chỉ có những mặt tiêu cực, cơ chế thị trường đang trở thành nền tảng vật chất, cơ sở xã hội làm nảy sinh cùng với nó những giá trị đạo đức tích cực Trong cơ chế này, mỗi chúng ta đều có điều kiện để phát huy sức lực, trí tuệ và khả năng sáng tạo của mình nhằm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với xã hội và do
đó, bản thân mình cũng có điều kiện để đạt tới hạnh phúc theo ý nghĩa đầy đủ và chân chính của phạm trù này Điều cần nói ở đây là dù đã có sự xuất hiện, thậm chí
đã có sự định hình của những quan niệm về giá trị đạo đức mới, nhưng chúng ta không thế chấp nhận quan niệm cho rằng khi chuyển sang kinh tế thị trường và phát triển nó thì cần phải gạt bỏ những truyền thống đạo đức trước đây hoặc là đẩy các giá trị đạo đức truyền thống đó xuống thứ bậc dưới trong hệ giá trị Đây là một thái độ phi khoa học, phản nhân văn
Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo hướng phát triển kinh tế thị trường, một hệ thống đạo đức xã hội sẽ không thể phát triển nếu phủ nhận sạch trơn đạo đức truyền thống và không hướng vào mục tiêu ngày càng nhân đạo hoá con người, ngày càng phát triển và hoàn thiện con người Phát triển tách khỏi cội nguồn dân tộc thì nhất định sẽ lâm vào nguy cơ tha hoá Đi vào kinh tế thị trường, hiện đại
hoá đất nước mà xa rời những giá trị truyền thống, đánh mất những cái làm nên “cốt cách” của dân tộc mình, đất nước mình sẽ làm mất bản sắc dân tộc, đánh mất bản
thân mình, trở thành cái bóng mờ của người khác, của dân tộc khác
Trang 26Hơn lúc nào hết, hiện nay việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên, thanh niên lý tưởng sống, giáo dục lòng yêu nước cho thế hệ trẻ là rất quan trọng và cấp thiết Nó góp phần xây dựng thành công con người mới xã hội chủ nghĩa để phát triển đất nước trong thời kỳ mới Phải thừa nhận rằng, do ảnh hưởng từ những mặt trái của nền kinh tế thị trường cũng như của xu thế toàn cầu hóa, và đặc biệt, do không nghiêm túc trong rèn luyện, phấn đấu, một bộ phận học sinh ở nước ta đang có những biểu hiện tiêu cực đáng lo ngại, như phai nhạt lý tưởng
Học thì chẳng muốn tiếp thu,
Đủ trò gian dối, mịt mù lương tri, Học tập chủ yếu cốt vì,
Mẹ cha gò ép, khá thì do thân,
Chạy theo lối sống buông thả, lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinh hoạt thiếu lành mạnh hoặc phản văn hóa, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật
Thiếu lễ phép lại trời ơi, Thầy cô, cha mẹ nhẹ lời chẳng nghe, Nhiều khi vô lễ, máu me,
Ta đây đã lớn thân nè đã to
Thích gây gỗ, quá tự do, Trị an quấy rối là do lỗi này, Cướp giật, chiếm giết gớm tay, Bởi vì một lẻ mê say bạc đề…
Những biểu hiện đó làm ảnh hưởng đến những quan điểm về tình bạn, tình yêu trong lứa tuổi thanh thiếu niên, nhất là khi chưa được trang bị và thiếu kiến thức về vấn đề này
Ngày thì tạo rãnh la cà, Đêm thì tụ tập hét la om sòm, Cha đau, mẹ ốm, lom thom, Chẳng dòm, chẳng hối lại còn oái ăm
Động cơ học tập dập bầm,
Trang 27Bạn khuyên chẳng thấm, lại hầm mày tao, Chẳng phấn đấu để vươn cao, Khó khăn chùn bước, gian lao nao lòng
Tất cả những suy nghĩa lệch lạc đó dần dần ảnh hưởng xấu đến động cơ, ước mơ hoài bảo vướn lên
Lý tưởng sống, lại rỗng không,
Mờ nhạt mục đích cầu trông, mông nhờ, Thực dụng tệ hại trơ trơ
Ngày thêm què quặt phai mờ nhân tâm
Những hiện tượng đó, trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân
họ, gia đình học, đồng thời cản trở sự phát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ và văn minh của xã hội ta hiện nay Mặt khác, cũng cần nói rằng, các thế lực thù địch đang “chờ đợi” và sẽ ra sức khai thác, lợi dụng những hiện tượng đó để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” hòng chống phá và ngăn chặn sự phát triển của cách mạng Việt Nam Vì vậy việc đẩy mạnh giáo dục đạo đức trong thanh niên - học sinh phổ thông là vô cùng quan trọng và là điều rất cấp thiết để thúc đẩy sự hoàn thiện con người nói riêng và đẩy nhanh sự phát triển của đất nước nói chung Vậy toàn Đảng và toàn dân ta càng phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng, đạo đức dân tộc
và những giá trị đạo đức mới cho thế thế hệ trẻ nói chung và thanh niên - học sinh nói riêng, coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu, bởi nó liên quan trực tiếp đến tương lai của đất nước
1.3 Vai trò của thanh niên và tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay
* Vai trò của thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở bất cứ thời đại nào cũng vậy, thanh niên luôn được xem là rường cột của đất nước, tương lai của dân tộc và hạnh phúc của mỗi gia đình Thanh niên là một tầng lớp xã hội đặc thù, chiếm số đông trong dân số cả nước Thanh niên Việt Nam không phải là một giai cấp nhưng có mặt ở cả giai cấp công nhân, giai cấp công nhân và đội ngũ trí thức; thanh niên không phải là một tầng lớp xã hội độc lập mà có mối quan hệ gắn bó với các tầng lớp khác trong xã hội; thanh niên có mặt ở tất cả các địa phương, các ngành kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng của đất nước Đó là lớp
Trang 28người có thể lực cường tráng, năng lực sáng tạo, ý trí kiên cường dũng cảm trong hoạt động lao động sản xuất và đấu tranh cách mạng Thanh niên là lớp người có hoài bão, ước mơ, giàu nghị lực và khát khao với lý tưởng cao đẹp, có đức xả thân vì nghĩa lớn và lòng vị tha sâu sắc Một thế hệ có khả năng tiềm ẩn trong việc thực hiện
lý tưởng niềm tin và mục tiêu cao quý của xã hội Một thế hệ có tính nhạy cảm nhanh với cái mới, cái đẹp và cái tiến bộ, mà ít chịu ảnh hưởng của những tiêu cực và thành kiến quá khứ
Quan điểm của C.Mác, Ăngghen, V.I.Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân, của tuổi trẻ trong tiến trình phát triển của lịch sử loài người là cơ sở lý luận đem đến cho Hồ Chí Minh sự chuyển biến về chất trong nhận thức Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong việc hình thành những quan điểm về vai trò thanh niên trong cách mạng Việt Nam
Từ những trang sử hào hùng của dân tộc, Hồ Chí Minh nhận thấy rõ những đóng góp xuất sắc của tuổi trẻ Việt Nam trong lịch sử dựng nước và giữ nước Đất nước Việt Nam ở thời kì nào cũng xuất hiện nhiều nhân tài và anh hùng trẻ tuổi Ngay từ buổi đầu dựng nước, những truyền thuyết gắn liền với các sự kiện ở thời đại các Vua Hùng, điều biểu dương sức trẻ trong công cuộc chinh phục thiên nhiên (Sơn Tinh, Thủy Tinh, Mai An Tiêm…), xây dựng đời sống văn hóa tập quán (Lang Liêu với sự tích Bánh chưng, Chử Đồng Tử…) Đặc biệt trong sự nghiệp giữ nước, truyền thuyết về thánh giống - cậu bé làng Phù Đổng tuổi nhỏ chí lớn đã gánh việc nước, cưỡi ngựa sắt đánh giặc Ân, bảo vệ Tổ Quốc - thể hiện biểu tượng của ý chí độc lập
tự do cho dân tộc ta
Hồ Chí Minh tự hào và rất trân trọng truyền thống dân tộc Chính sức mạnh của truyền thống yêu nước là một trong những động lực chủ yếu đã thúc đẩy Người đã quyết ra đi tìm đường cứu nước Thời kì tuổi trẻ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là một quãng đời hoạt động soi nổi và đấu tranh không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Ra đi tìm đường cứu nước chỉ với hai bàn tay trắng, nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, nghị lực tuổi trẻ, lý tưởng cao đẹp và quyết tâm lớn, Hồ Chí Minh đã vượt bao nguy hiểm, khó khăn thử thách và kết quả đã tìm được chân lý cách mạng Những cống hiến của Người thời tuổi trẻ không những có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam, với cách mạng thế giới mà còn là một minh chứng hùng hồn rằng, con người thời tuổi trẻ có thể làm nên những điều vĩ đại nếu họ có lý tưởng, có hoài bảo có nghị lực và có tinh thần quyết tâm cao độ Những
Trang 29cống hiến của Hồ Chí Minh thời tuổi trẻ là một trong những cơ sở quan trọng để Người hiểu rõ và sớm đặt niềm tin tưởng sâu sắc vào thanh thiếu niên Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và góp phần vào thắng lợi của cách mạng thế giới Niềm tin đó giúp người xác định đúng đắn lực lượng và động lực của cách mạng Việt Nam, nhìn thấy khả năng tiềm tàng ở sức lực, trí tuệ, sự dũng cảm, trí thông minh và sáng tạo của thế hệ trẻ nước ta trong sự nghiệp đánh đổ đế quốc và tay sai, cải biến xã hội cũ, xây dựng xã hội mới tốt đẹp
Thanh niên Việt Nam trong các giai đoạn lịch sử luôn giữ vai trò quan trọng, luôn thể hiện tinh thần xả thân trong các cuộc chiến tranh giữ nước và luôn là lực lượng quan trọng trong thời kỳ của đất nước Thanh niên Việt Nam trong các cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ; trong cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước; trong thời kỳ đất nước sau chiến tranh; trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước luôn phát huy truyền thống của dân tộc, luôn nêu cao tinh thần xung phong, tình nguyện, xung kích, đi đầu
để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò và vị trí của thanh niên trong
sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc Người biểu lộ niềm tin vững chắc vào thế
hệ trẻ, là lớp người “xung phong trong công cuộc phát triển kinh tế và văn hóa trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội” và trong mọi công việc thanh niên thi đua thực hiện khẩu lệnh “Đâu cần thanh niên có; Việc gì khó thanh niên làm” Người động viên khích lệ: “Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít hiệu quả, thanh niên xung phong đều làm cho tốt”
Đảng xác định thanh niên giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố
và nguồn lực con người: “Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, xây dựng và bảo
vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh” Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước
* Tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị đạo đức truyền thống và giá trị đạo đức mới cho thanh niên hiện nay
Trang 30Thanh niên đã và đang cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu cho lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Thanh niên Việt Nam ngày nay mang trên vai trọng trách lịch sử, đó là phải trở thành lực lượng lao động có trí tuệ và có tay nghề cao, có đạo đức và lối sống trong sáng, có sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng để đưa Việt Nam “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong muốn của chủ tịch
Hồ Chí Minh Thanh niên đang tự khẳng định mình là thế hệ vượt lên hơn so với các thế hệ thanh niên đi trước và đang dần xóa bỏ ranh giới tụt hậu để sánh vai ngang bằng với thanh niên các nước trên thế giới
Trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần, hoạt động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cùng với những nỗ lực đầu
tư huy động vốn, tri thức, một yếu tố không kém phần quan trọng thúc đẩy kinh tế phát triển là vấn đề đạo đức Đặc biệt là vấn đề xây dựng đạo đức của thanh niên, bởi
vì, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, nguồn lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, là người chủ của đất nước quyết định sự thành bại của công cuộc phát triển kinh tế đất nước hiện tại và tương lai Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước Với tầm quan trọng đó, thanh niên cần được quan tâm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên” theo
tư tưởng Hồ Chí Minh
Hơn nữa, so với thế hệ trung niên và thiếu niên nhi đồng, thanh niên Việt Nam hiện nay là lớp người chịu tác động mạnh mẽ nhất từ điều kiện kinh tế thị trường Bởi vì, họ là những người sinh ra và lớn lên trong thời kỳ ở Việt Nam bắt đầu xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, hoạt động học tập, làm việc, sinh hoạt của thanh niên tiếp xúc trực tiếp với điều kiện kinh tế thị trường hơn thiếu niên nhi đồng Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi và những biểu hiện có tính chất đặc thù trong đạo đức của thanh niên cũng làm cho việc hình thành đạo đức của
họ chịu sự tác động của kinh tế thị trường nhiều hơn so với các thế hệ khác
Thực tế ở Việt Nam hiện nay, tình trạng suy thoái đạo đức diễn ra ngày càng gây gắt hơn, nhất là đối với thanh niên Nghị quyết 25-NQ/TW, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đã đánh giá: một bộ phận thanh niên sống thiếu
Trang 31lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa của dân tộc… tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Các hành vi lệch chuẩn, đặc biệt là những hành vi vi phạm pháp luật của thanh niên có xu hướng ngày càng gia tăng Một số hành vi vi phạm pháp luật của thanh niên được đề cập tới như: vi phạm luật giao thông, đua xe trái phép, bạo lực trong nhà trường, thiếu tôn sư trọng đạo, cùng với một số hành vi lệch chuẩn về đạo đức khác là: sống hưởng thụ, coi nặng giá trị vật chất, đồng tiền, trụy lạc sa đọa, nghiện ngập, xa hoa, lãng phí, lười lao động, thờ ơ vô cảm, vị kỷ… Với vai trò đặc biệt quan trọng của thanh niên, nếu để tình trạng suy thoái đạo đức của thanh niên kéo dài và trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường
Cách mạng nước ta đang chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, với mục tiêu sớm đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Mục tiêu đó đã đang đặt ra những yêu cầu, trọng trách lớn lao đối với thế hệ trẻ hôm nay Để kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng, truyền thống đạo đức vẻ vang của Đảng và dân tộc ta, mỗi thanh niên Việt Nam hãy ra sức học tập, trau dồi lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; ra sức thi đua lao động và rèn luyện đạo đức để hình thành một thế hệ thanh niên tân tiến, xứng tầm đòi hỏi của đất nước và thời đại
Trang 32CHƯƠNG 2
KẾ THỪA VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC MỚI CHO THANH NIÊN TRONG THỜI KÌ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA HIỆN NAY Ở TỈNH SÓC TRĂNG 2.1 Giáo dục đạo đức truyền thống của dân tộc cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
2.1.1 Tính tất yếu và sự cần thiết phải giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Sự ra đời và phát triển của kinh tế thị trường dựa trên sự phân công lao động xã hội có sự phân chia về lợi ích giữa các chủ thể kinh tế với nhau Yêu cầu khách quan của sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là quá trình toàn cầu hóa đời sống kinh tế hiện nay, việc xây dựng nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan Từ khi đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, thực tiễn cho thấy sức sản xuất được giải phóng, năng suất lao động ngày một tăng, tạo tiền đề vật chất nâng cao đời sống của nhân dân Trong thực tiễn, phương hướng phát triển kinh tế đó đã mang lại nhiều hành tựu Tổng kết thực tiễn quá trình thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: “Cơ chế thị trường đã phát huy tác dụng tích cực to lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội
Nó chẳng những không đối lập mà còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc
xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa” [8, tr 26]
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được trong những năm qua, chúng ta cũng đang phải đối mặt với một thực tế đáng buồn, đó là sự xuống cấp về mặt đạo đức hiện nay trong đời sống xã hội Những hiện tượng băng hoại về đạo đức đang là nỗi nhức nhối của xã hội chúng ta Vấn đề đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân đang diễn ra hết sức phức tạp, đang có sự đấu tranh giữa cái mới, cái tiến bộ, cái thiện, với cái cũ, cái lạc hậu, cái ác; giữa chủ nghĩa vị tha với chủ nghĩa vị kỷ, giữa lối sống trung thực với thói dối trá chạy theo đồng tiền Dẫn đến tình trạng trong gia đình con cái bất hiếu với cha mẹ, anh chị em quay lưng lại với nhau Đây là một tình trạng đảo lộn
về các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, làm hoen ố những giá trị đạo đức truyền thống mà ông cha ta đã đổ biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, thậm chí cả máu xương để tạo dựng nên
Vấn đề tác động của cơ chế thị trường đối với đạo đức đã có nhiều cách lý giải khác nhau Có quan điểm cho rằng, kinh tế thị trường và đạo đức là bài xích lẫn
Trang 33nhau, kinh tế thị trường càng phát triển thì đạo đức càng suy thoái Có quan điểm lại cho rằng, kinh tế thị trường tạo khả năng đẩy nhanh sự tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống, nó sẽ nâng cao trình độ luân lý và đạo đức xã hội Cuộc sống chứng tỏ rằng kinh tế thị trường đã tác động đến đạo đức theo cả hai hướng: cả tích cực, lẫn tiêu cực Trong văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, với thái độ khách quan và khoa học, Đảng ta khẳng định: “Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, nhất thiết phải thấy mặt trái của cơ chế thị trường Chúng ta không quy mọi xấu
xa đều do cơ chế thị trường, nhưng không thể không thấy rằng về khách quan mà nói kinh tế thị trường với sức mạnh tự phát ghê gớm của nó đã khuyến khích chủ nghĩa
cá nhân, lối sống thực dụng, làm cho người ta chỉ chú ý tới lợi ích vật chất mà coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ chú ý lợi ích cá nhân mà coi nhẹ lợi ích cộng đồng, chỉ chú ý tới lợi ích trước mắt mà coi nhẹ lợi ích lâu dài, cơ bản ” [10, tr 30]
Trong tình hình thế giới hiện nay, kẻ thù vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính và phá hoại chúng ta Với “diễn biến hòa bình”, kẻ thù tấn công chúng ta chủ yếu trên các lĩnh vực văn hóa để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp của Đảng, làm băng hoại đạo đức, lối sống của nhân dân Đối tượng trực tiếp của chúng là lớp trẻ, trong thanh niên - những người chủ nhân tương lai của đất nước Dựa trên đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thanh niên, lợi dụng những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật hiện đại - nhất là dịch vụ mạng, sách báo, phim ảnh Kẻ thù dùng đủ mọi thủ đoạn hòng lôi kéo thanh niên xa rời cội nguồn, sống quay lưng lại với chế độ, với nhân dân, với dân tộc, khuyến khích sinh viên tìm đến sự hưởng thụ mà không thiết nghĩ đến tương lai Về phần mình, có không ít thanh niên chưa tự ý thức được vai trò, vị trí của họ trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Sống ỷ lại bố mẹ, không chịu phấn đấu rèn luyện Trong học tập còn có hiện tượng thiếu trung thực như: chạy điểm, chạy bằng, thờ ơ với các sinh hoạt đoàn thể Vì ngại khó, ngại khổ, nên có tính toán thực dụng trong việc chọn ngành nghề Một số thích lối sống hưởng thụ đua đòi, ăn chơi, sống buông thả, dẫn đến vi phạm pháp luật và các chuẩn mực xã hội Đây đó còn xảy ra hiện tượng thanh niên, giết người, cướp của, tự tử , con số nghiện hút trong thanh niên cũng không phải là ít
Từ thực trạng đó, việc giáo dục đạo đức truyền thống dân tộc và xây dựng đạo đức mới cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay, là một việc làm cần thiết và hết sức cấp bách Có như vậy, mới góp phần giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn được bản sắc văn hóa và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta
Trang 34Mặt khác, tính tất yếu và sự cần thiết phải giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc cho thanh niên Việt Nam hiện nay, cũng là một đảm bảo cho thành công của
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Kế thừa là quá trình phát triển của ý thức xã hội nói chung của đạo đức nói riêng, kế thừa là nhân tố, là vòng khâu của sự phát triển, là cái cầu nối giữa cái cũ và cái mới Tính kế thừa của đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, vào tính giai cấp, tính dân tộc Kế thừa trong sự phát triển của đạo đức không thể tồn tại một cách biệt lập tách rời các hình thái ý thức xã hội khác như: pháp luật, triết học, tôn giáo, nghệ thuật Bên cạnh đó, sự phát triển của đạo đức còn phụ thuộc vào sự giao lưu với văn hóa bên ngoài, qua đó mà làm cho bản thân nó trở nên phong phú, đa dạng hơn trong sự phát triển Chẳng hạn, trong xã hội tư bản chủ nghĩa người ta đã nêu ra những chuẩn mực về “tự do, bình đẳng, bác ái” nhưng mới chỉ là hình thức, vì lợi ích giai cấp của giai cấp tư sản, vì điều kiện kinh tế - xã hội chưa đủ để thực hiện những tư tưởng, chuẩn mực đạo đức đó Dưới chủ nghĩa xã hội những giá trị đạo đức này cần kế thừa, phát triển và biến nó thành hiện thực trong đời sống xã hội
Từ thực tế tình hình thanh niên ở Sóc Trăng, bên cạnh những thành tích đạt được trên các lĩnh vực mà thanh niên Sóc Trăng đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy góp phần đưa đất nước ngày một phát triển, thì vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên nói chung và thanh niên Sóc trăng nói riêng hiện nay đang đặt ra vấn đề mang tính cấp thiết Do vậy, việc giáo dục đạo đức truyền thống cho thanh niên, đội quân hùng hậu của hiện tại và chủ nhân tương lai của đất nước với những nội dung thiết thực, phù hợp có tầm quan trọng và tầm chiến lược của Đảng và nhà nước ta
2.1.2 Những giá trị đạo đức truyền thống cần giáo dục cho thanh niên trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay
Các giá trị đạo đức truyền thống là bộ phận cốt lỗi trong giá trị truyền thống Việt Nam Các giá trị đạo đức truyền thống có vai trò hết sức to lớn, nó vừa là kết quả, vừa là cơ sở, là động lực của quá trình đấu tranh dựng nước, giữ nước và giao lưu văn hóa lâu dài của dân tộc, góp phần tạo dựng bản lĩnh dân tộc, nhân cách con người Việt Nam Nói đến giá trị đạo đức truyền thống là nói đến những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đó được hình thành và phát triển qua suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Đó là giá trị nhân văn mang tính cộng động, tính ổn định tương đối, được lưu
Trang 35truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực phổ biến, cơ bản
nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi của cá nhân
Thứ nhất, Giáo dục truyền thống yêu nước
Yêu nước là là một truyền thống đạo đức ăn sâu vào con người Việt Nam qua nhiều thế hệ ngay từ thời kì các vua Hùng dựng nước Vì vậy truyền thống yêu nước Việt Nam gần như đồng nghĩa với “chủ nghĩa yêu nước”, “tinh thần yêu nước”, “tư tưởng yêu nước”, lòng yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh
Truyền thống yêu nước ra đời và được củng cố phát huy cùng với sự ra đời của đất nước, sự phát triển, trường tồn của dân tộc suốt mấy ngàn năm Ngay từ thời xưa chưa có văn tự viết, trong truyền thuyết, một phần không nhỏ nói về truyền thống đánh giặc giữ nước như “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Thánh Gióng”, “Mỵ Châu Trọng Thủy”, “Hồ Hoàn Kiếm”… những truyền thuyết lịch sử ấy sống mãi với dân tộc, được truyền từ đời này qua đời khác, nó vừa là sản phẩm của chủ nghĩa yêu nước, đồng thời góp phần hung đúc lòng yêu nước, ý trí đoàn kết triệu người như một “thà
hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Chẳng những trong truyền thuyết lịch sử, mà kết quả nghiên cứu của khảo cổ học cho thấy những di chỉ khai quật đã chứng minh rằng đoàn kết chống giặc ngoại xâm giữ gìn non sông gấm vóc, nền độc lập dân tộc là một phần máu thịt của con người Việt Nam Cùng với việc phát hiện ra những công cụ lao động, di sản văn hóa vật chất, chúng ta đã tìm thấy không ít những phương tiện bằng đá, bằng kim loại làm vũ khí trong cuộc kháng chiến bảo vệ bờ cõi non sông như cung tên bằng đồng… Những thành trì cổ xưa còn tồng tại cùng với lịch sử dân tộc như Thành Cổ Loa, Thành nhà Hồ, Ải Chi Lăng, thành lũy trên sôn Bạch Đằng… như là những minh chứng cho truyền thống yêu nước các thế hệ ngày xưa Cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN, những đại danh lịch sử làm chấn động địa cầu khó kể hết, là làm phong phú thêm những trang vàng truyền thống yêu nước của dân tộc
Ngược lại biên niên sử dân tộc còn ghi từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng những năm đầu công nguyên đến chiến dịch Hồ Chí Minh giải hoàn toàn miền Nam, giang sơn thu về một mối, nước nhà hoàn toàn độc lập thống nhất năm 1975 là kết tinh của truyền thống yêu nước
Trang 36Ngày nay chủ nghĩa yêu nước, truyền thống yêu nước lại được biểu hiện sâu sắc trong sự nghiệp xây dựng đất nước, thể hiện ở sự nhất trí, tin tưởng vào đướng lối mới của Đảng, toàn dân tự cường sáng tạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội công bằng văn minh Truyền thống yêu nước ngày nay đang trở thành động lực của mọi người Việt Nam chiến đấu, chiến thắng đói nghèo, lạc hậu, quyết tâm xây dựng CNXH thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh Truyền thống
“thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đã giúp cho dân tộc ta chiến thắng bất kì kẻ thù nào có dã tâm xâm lược nước ta Ngày nay truyền thống yêu lại là động lực đưa dân tộc ta giành được thắng lợi trong
sự nghiệp đổi mới những năm qua, đang tạo ra quyết tâm mới chiến thắng lạc hậu xây dựng đất nước, đưa đất nước ta hội nhập vào thế giới, đã và đang có những đóng góp thiết thực vào cộng đồng các dân tộc trong khu vực và trên thế giới
Lịch sử nhân loại, ít có dân tộc nào liên tiếp phải đấu tranh giành độc lập giữ gìn nền độc lập của Tổ Quốc như dân tộc Việt Nam Chưa đầy một ngàn năm gần đây, dân tộc ta đã tiến hành hàng trăm cuộc khởi nghĩa, hàng chục cuộc kháng chiến gian khổ để bảo vệ nền độc lập Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét “Dân tộc
ta có một lòng nồng nàn yêu nước, đó là truyền thống quý báo của ta Từ xưa đến nay mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại xôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng to lớn và mạnh mẽm, nó lướt qua mọi sự hiểm nguy và khó khăn, nó nhấn chìm tất cả bè lũ cướp nước và bán nước”
Dưới thời đại của Hồ Chí Minh, truyền thống yêu nước đã được các thế hệ người Việt Nam phát huy lên tầm cao mới, đó là lý tưởng sống, chiến đấu, lao động
và học tập vì sự thống nhất của non sông, độc lập cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho dân tộc Yêu nước ngày nay là đồng nghĩa với yêu chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu nước mạnh Có thể nói THỐNG NHẤT, ĐỘC LẬP, TỰ DO, CHỦ NGHĨA XÃ HỘI, ĐOÀN KẾT, ĐẠI ĐOÀN KẾT là những nội dung cơ bản của truyền thống yêu nước Cũng cần nhận thức rằng dưới thời đại Hồ Chí Minh truyền thống yêu nước được nâng lên tầm cao mới bởi nó vượt ra khỏi chủ nghĩa yêu nước hẹp hòi Yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế vô sản, xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng áp bức, chống chiến tranh xâm lược, giữ gìn hòa bình thế giới “Hội nhập” với các dân tộc khác cũng góp phần thiện trí, trung thực cùng tiến bộ Truyền thống yêu nước của dân tộc ta ngày nay đang chuyển sang một nội dung mới, trong hoàn cảnh mới đó là đức tín hy sinh, chịu đựng gian khổ, kiên trì
Trang 37khắc phục mọi khó khăn của cuộc sống đời thường, ra sức học tập sáng tạo chiến thắng nghèo nàng lạc hậu khiêm tốn học tập, cầu thị, không kiêu căn, tự phụ, đoàn kết, tin tưởng tuyệt đối vào Đảng, đường lối đổi mới của Đảng, đấu tranh chống ảnh hưởng tiêu cực, tệ nạn xã hội, mỗi người góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh
Thứ hai, ý thức cộng đồng, cố kết gia đình - dòng họ - làng xóm - Tổ quốc
Ý thức cộng đồng của người Việt Nam thể hiện trước hết, trên hết ở tinh thần đoàn kết toàn dân vì mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Đại đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, một giá trị tinh thần bền vững, một điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của dân tộc ta Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và đế quốc Mỹ, kế thừa truyền thống dân tộc, tinh thần cộng đồng theo tư tưởng Hồ Chí Minh “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” đã được định hình, phát huy, tạo thành sức mạnh to lớn đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng đất nước Hiện nay, đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở thống nhất mục
tiêu, lợi ích cơ bản giữ vững dộc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là điểm tương đồng nhằm phát huy sức mạnh của cả cộng
đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý trí tự lực, tự cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Yêu nước, đoàn kết để xây dựng và bảo vệ đất nước đã trở thành một triết lý sống của dân tộc ta, là đạo lý của mỗi con người Việt Nam hôm nay
để trợ giúp đồng bào bị lũ lụt qua khỏi cơn bĩ cực
Hướng về cội nguồn, tổ tiên
Trang 38“Dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba” Câu ca đó nhắc nhủ mọi người nhớ về cội nguồn, nhớ về các Vua Hùng đã có công dựng nước
và cũng để nhắc nhở mọi người phải cùng nhau giữ nước Đã thành thông lệ, hàng năm, đến ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhân dân khắp nơi đỗ về Đền Hùng thăm viếng tổ tiên Nhân dân miền Nam, do có sự cách trở về địa lí không ra được Đền Hùng, đã dâng hương tại đền thờ Vua Hùng được xây dựng tại địa phương Ngày 10 tháng 3
âm lịch hàng năm đã thực sự là Quốc giỗ không chỉ trong tâm thức mà cả trong hành
vi tín ngưỡng của mỗi người dân nước Việt Nam đang sống trong nước hay ngoài nước
Hướng về cội nguồn còn thể hiện ở việc khôi phục, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc trên đất nước ta Việt Nam là quốc gia đa dân tộc Các dân tộc trên đất nước Việt Nam có chung cội nguồn, là con Lạc, cháu Hồng Từng dân tộc có quá trình lịch sử
và văn hóa riêng trong dòng chảy lịch sử và cái nôi văn hóa Việt Nam Những năm gần đây, việc khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa từng dân tộc đã được chú trọng thu nhiều kết quả Việc làm đó bồi đắp lòng tự hào dân tộc, tinh thần yêu quê hương, đất nước của mỗi người dân
Thứ ba, năng động, thông minh, sáng tạo, vượt khó trong lao động
Quá trình dựng nước và giữ nước mấy ngàn năm đã tạo nên đức tính cần cù, chịu khó, năng động, sáng tạo và trở thành chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam Trong thời kì mới, tinh thần đó lại được phát huy, phát triển trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng khẳng định: “Chúng ta tự hào về dân tộc ta – một dân tộc anh hùng, thông minh sáng tạo” Năng động, thông minh, sáng tạo, vượt khó trong lao động của người Việt Nam
ngày nay thể hiện trước hết ở tinh thần đổi mới, bắt nguồn từ công cuộc đổi mới đất
nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo từ Đại hội VI, năm 1986 Trước sự khủng hoảng, trì trệ về kinh tế - xã hội, các nước xã hội chủ nghĩa đã tiến hành cải tổ, cải cách Công cuộc cải tổ, cải cách ở nhiều nước đã gặp không ít khó khăn, kèm theo thành công đã có thất bại Không bắt chước, sao chép bất cứ mô hình có sẵn nào, với tinh thần độc lập, tự chủ, thông minh, sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam, Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới đất nước, đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy, trong đó coi trọng đổi mới tư duy về kinh tế, trên cơ sở lấy “dân làm gốc” Với những bước đi và cách làm phù hợp, chúng ta đã tiến hành đổi mới thành công Công cuộc đổi mới đã thu được nhiều thắng lợi và thành tựu,
Trang 39đưa nước ta thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo thế và lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đến năm
2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Thắng lợi và thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước đã củng cố niềm tin của nhân dân ta vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường phát triển đất nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa Đồng thời, nó tạo dựng một chuẩn mực trong lao động, làm
gì, trong bất cứ lĩnh vực nào cũng phải đổi mới Tinh thần đổi mới là một chuẩn mực
đánh giá nhân thức, thái độ, hành vi của mỗi người Việt Nam trong xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay
Tinh thần sáng tạo, thông minh, vượt khó trong lao động
Có thể thấy rõ, trên tất cả các lĩnh vực hoạt động điều có thể nhận biết tinh thần sáng tạo, vượt khó, trí thông minh của người Việt Nam hiện nay
Từ sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến năm 1990, dù có nhiều
nổ lực nhưng chúng ta vẫn thiếu ăn Bình quân lương thực dưới 300kg một đầu người một năm “Cái đói” về lương thực tưởng chừng đeo đẳng chúng ta mãi Nhưng với sự hợp tác của các nhà quản lý, nhà khoa học, nhà nông, nhà chế biến chúng ta
đã dần phá vỡ thế “thiếu đói về lương thực” vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới Năm 2004 nước ta xuất khẩu trên 3.9 triệu tấn gạo Từ một nước thiếu đói về lương thực vươn lên trở thành một cường quốc về xuất khẩu gạo trên thế giới là một kì tích của nhân dân ta, nó chứng tỏ tinh thần sáng tạo, tinh thần vượt khó và trí thông minh của con người Việt Nam trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp
Không chỉ trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, lĩnh vực sản xuất công nghiệp cũng thể hiện tinh thần sáng tạo, trí thông minh và tinh thần vượt khó trong lao động của người Việt Nam hiện nay Công nghiệp đóng tàu biển nước ta cũng đã có vượt bật, đóng được những con tàu vượt đại dương trên 50 vạn tấn Năm 2004, Vương quốc Anh đã đặt hàng với các nhà máy đóng tàu biển Việt Nam Trong chuyến thăm nước ta của Vương quốc Na Uy Ha-ran Đệ ngũ và Hoàng hậu Na-si-a ngày 1 tháng
11 năm 2004, Na Uy đã kí thỏa thuận với nước ta đóng mới tàu biển để xuất khẩu sang nước thứ ba
Từ những kiến thức và kinh nghiệm được tích lũy trong xây dựng công trình thủy điện Hòa Bình, những người thợ Sông Đà đã tự thiết kế, thi công hàng chục công trình thủy điện lớn, nhỏ khắp các miền của Tổ quốc như Ialy…
Trang 40Kỹ thuật cầu, đường, hầm vượt đèo của cán bộ, công nhân Việt Nam đã có sự tiến bộ vượt bậc, đã tự thiết kế, thi công nhiều cầu, hầm lớn với trang thiết bị kĩ thuật thi công tiên tiến Hầm Đèo Ngang đã thông xe Tháng 6 năm 2005 hầm đường bộ Đèo Hải Vân đã được đưa vào sử dụng Đây là hầm đường bộ dài nhất, hiện đại nhất Đông Nam Á hiện nay
Trên lĩnh vực y học chúng ta cũng đã có nhiều thành công lớn Đã có hàng trăm cháu nhỏ chào đời bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm Không chỉ ghép thận, chúng ta đã ghép gan thành công, đưa kĩ thuật ghép tạng của Việt Nam tiến thêm một bước quan trọng Năm 2003, chúng ta đã thành công trong việc phát hiện, ngăn chặn, điều trị bệnh viêm phổi cấp tính do vi rút (SARS)…
Có thể khẳng định, trên bất cứ lĩnh vực nào, người Việt Nam chúng ta cũng tỏ
rõ tinh thần năng động, sáng tạo, vượt khó và trí tuệ thông minh Năng động, sáng tạo, vượt khó đã trở thành chuẩn mực phấn đấu và đánh giá mức độ lao động của từng người cũng như một nhóm người
Thứ tư, truyền thống nhân nghĩa, ứng xử có văn hóa
Nhân nghĩa, trung thực là truyền thống đạo lý rất cao thượng của dân tộc ta, nó thể hiện đạo đức của các thế hệ từ ngàn xưa cho đến nay và ngày càng được duy trì, phát triển
Nhân nghĩa trước hết là thể hiện lòng nhân ái, sự thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, lúc khó khăn… không cần đắn đo tính toán theo phương châm
“Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước phải thương nhau cùng” Tình yêu thương con người đã đi vào ca dao, tục ngữ và trở thành quan niệm sống của mỗi người như: “thương người như thể thương thân”, “máu chảy ruột mềm”, “môi hở răng lạnh”, “lá lành đùm lá rách”, “nhường cơm sẽ áo”… cái đạo lý nhường nhịn, đùm bọc nhau lúc xa cơ nhỡ bước đã là tình cảm của con người Việt Nam trong tình làng nghĩa xóm, nó trở thành hành vi ứng xử hằng ngày của người Việt Nam qua các thế hệ
Truyền thống nhân nghĩa không chỉ thể hiện ở sự cưu mang lúc khó khăn trong
cuộc sống vật chất, nó còn thể hiện ở sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động, trong cuộc sống hằng ngày với mong muốn mọi người hạnh phúc, ấm no truyền
thống nhân nghĩa thể hiện rỏ nét nhất trong những lời cầu chúc nhân dịp tết cổ truyền dân tộc, khi mọi người trong cộng đồng đạt được những thành công dù nhỏ hay lớn trong cuộc sống: chúc mừng người có tuổi thương thọ, lúc sinh con, khi người thân