Các cơ quanhành chính nhà nước trong tổng thể chung phân biệt với các cơ quan nhà nướckhác lập pháp, tư pháp bằng những yếu tố cơ bản như: Nghiên cứu các tổ chức hành chính cơ quan hành
Trang 1NỀN HÀNH CHÍNH VIỆT NAM THỜI KỲ 1945 -2000
PHẦN I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC VÀCẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1 1 Khái niệm chung.
Nhiều nghiên cứu đã đề cập đến "lịch sử hành chính Việt Nam" Đặc biệt Chínhphủ đã có những công trình nghiên cứu về lịch sử Chính phủ Tuy nhiên, cần nhìnnhận một cách chính xác hơn về cách tiếp cận để nghiên cứu lịch sử cũng nhưnhững hoạt động cải cách hành chính nhà nước Việt Nam qua các giai đoạn khácnhau
Trước hết cần nhận thức đúng về thuật ngữ hành chính trên phương diện khoa học
hành chính để từ đó tiến hành nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam cũng nhưcải cách hành chính qua từng giai đoạn bao gồm những nội dung cơ bản gì
Không ít tài liệu nghiên cứu lịch sử hành chính Việt Nam đã đề cập đến lịch sử củahành chính từ những khi nhà nước Việt nam ra đời, bao gồm cả thời kỳ phongkiến Điều đó đã không nhận thức đúng bản chất của thuật ngữ hành chính dướigiác độ khoa học hành chính
Thuật ngữ hành chính "Administration" trên phương diện khoa học xuất hiện khihoạt động quản lý nhà nước bắt đầu có sự phân chia thành các nhóm quyền lực: lậppháp, hành pháp và tư pháp Chính vì vậy, khoa học nghiên cứu việc sử dụngquyền lực nhà nước đã có từ ngay khi có nhà nước ra đời và sử dụng quyền lực nhànước bởi những chủ thể khác nhau, nhưng trong thời kỳ phong kiến khái niệmquyền lực và sử dụng quyền lực nhà nước mang tính tập quyền rất lớn Hệ thốngpháp luật chưa hình thành và có "mần mống của pháp luật cũng chỉ là pháp luật domột người đề ra để cai trị nhiều người” Xét xử hay vận hành hệ thống đó cũng chỉtuân thủ theo nguyên tắc "vua là thiên tử" Chính vì vậy, nghiên cứu hành chínhcủa những thời kỳ phong kiến là một trong những xu hướng "nghiên cứu nhà nướchơn là nghiên cứu hành chính” Không ít công trình không phân biệt giữa hai phạmtrù “nhà nước – quản lý nhà nước” và hành chính như là một yếu tố cấu thành củaquản lý nhà nước Không ít nhà sử học đã đồng nhất hai khái niệm nhà nước và
hành chính hay có một sự nhầm lẫn rất lớn giữa “quản lý nhà nước” và “khoa học
hành chính”
Một số người đồng nhất nghiên cứu lịch sử quốc gia, hình thành và phát triển nhà
Trang 2nước của quốc gia đó gắn với nó là lịch sử hành chính lại là một cách tiếp cận "sailệch và không hiểu gì về khoa học hành chính" Khoa học hành chính không phải
là nghiên cứu đồ đồng, đồ sắt hay nông nghiệp lúa nước hay lúa nương Khôngphải vua có bao nhiêu vợ hay vua hiền hay vua ác Một sự đồng nhất giữa lich sửquốc gia, lịch sử nhà nước với lịch sử hành chính (với nghĩa là khoa học hànhchính) là một sự nhầm lẫn và thực sự chưa hiểu bản chất của thuật ngữ “hànhchính” này
Hành chính gắn với nghĩa với quản lý không có nghĩa là quản lý là hành chính.Hành chính chỉ là một trong những dạng của quản lý Chính vì vậy, khoa học hànhchính và khoa học quản lý có những vùng giao thoa Điều đó cũng tương tự nhưhành chính với nhà nước Hành chính và quản lý nhà nước cũng có những phầngiao thoa, nhưng không có nghĩa “quản lý nhà nước” là “hành chính nhà nước ”
1 2 Những yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước.
Nghiên cứu khoa học hành chính cũng chính đồng nghĩa nghiên cứu cơ sở khoahọc, lý luận cũng như thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước của một bộ phận cấuthành nhà nước Đó cũng chính là nghiên cứu những nền tảng của hoạt động sửdụng một trong ba nhóm quyền lực nhà nước: quyền lập pháp, hành pháp và tưpháp Khi ba quyền này không có sự phân chia và không hình thành những kháiniệm cân bằng, phân công, phối hợp, nghiên cứu đó sẽ thiên về nghiên cứu nhànước và quyền lực nhà nước
Nghiên cứu khoa học, lý luận và thực tiễn của hành chính cũng chính là nghiên cứunhững nền tảng cơ bản để cho hệ thống này vận hành Có thể nghiên cứu tập trungvào các nhóm yếu tố:
- Những yếu tố về quản lý và sử dụng nguồn lực trong cá tổ chức được gọi là
cơ quan hành chính nhà nước (trung ương và địa phương)
- Những phương pháp, cách thức các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng
để đạt được mục tiêu
- Những yếu tố tác động, ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của hệ thốngcác tổ chức trên
- Khác
Trang 3Mục tiêu của đề tài này, không nghiên cứu cả các yếu tố trên trong giai đoạn lịch
sử của Việt nam từ 1945-2005 Vấn đề chủ yếu của nhóm nghiên cứu là tập trungvào các dữ liệu có được để hình thành ra một bức tranh về hành chính nhà nướcViệt Nam qua các giai đoạn và các hoạt động cải cách hành chính chủ yếu gắn vớitừng giai đoạn
Nghiên cứu cải cách hành chính gắn liền vào từng giai đoạn nhưng không có điềukiện để mô tả những nét lịch sử môi trường chính trị, kinh tế, văn hoá, trong đócác tổ chức hành chính trung ương - địa phương tồn tại, vận động và phát triển Đócũng có thể là một hạn chế
Nghiên cứu cải cách hành chính qua các giai đoạn phát triển của nhà nước Việtnam từ 19945 lại nay sẽ tập trung trên các nội dung chủ yếu các yếu tố cấu thành
hệ thống hành chính nhà nước theo tư duy của khoa học hành chính (cổ điển cũngnhư hiện đại) Có thể có khá nhiều thuật ngữ sử dụng từng giai đoạn không đồngnghĩa với nhau, nhưng bản chất có thể không khác biệt nhiều Đó cũng là điều màcác nhà khoa học xã hội và khoa học hành chính cần chú ý
1.2.1 Thể chế hành chính
Đây là những vấn đề gây khá nhiều tranh luận xung quanh thuật ngữ thể chế và do
đó cả thể chế hành chính Nhiều nhà nghiên cứu pháp luật xem xét khía cạnh thểchế từ giác độ pháp luật Và do đó coi thể chế là các loại văn bản pháp luật hoạtđộng của hành chính Cách tiếp cận đó có thể khó phân biệt thể chế hành chínhtheo nghĩa hoạt động cụ thể của từng loại cơ quan hành chính
Thể chế theo nghĩa thông thường (institution) được quan niệm gắn liền với một “tổchức chính thức” và có những cách tiếp cận mang tính pháp lý, quy định chung cho
sự hoạt động của “tổ chức” đó Không có khái niệm “bệnh viện” nếu như bệnhviện không hình thành “tổ chức” và không có những quy định chung cho sự tồn tại
và hoạt động của bệnh viện Bệnh viện do đó có cả bệnh viên tư và bệnh viện công.Mỗi loại bệnh viện đều được thừa nhận là một thể chế Chỉ khác nhau cơ bản về sựhoạt động của hai loại bệnh viện trên thông qua những quy định cho sự hoạt động
Cả hai loại có thể phải có những nét chung (có thể do pháp luật nhà nước quy định;cũng có thể do hiệp hội bệnh viện quy định) Nhưng mỗi một bệnh viện lại có thể
có những quy định khác chỉ có ở loại bệnh viện đó và nhân viên bệnh viện phảituân theo
Thể chế hành chính cũng phải được tiếp cận từ hai giác độ:
- Đó cũng là một loại thể chế nhà nước – các tổ chức của nhà nước
- Đó là một loại thể chế riêng, phân biệt với các thể chế nhà nước khác (lậppháp, tư pháp)
Trang 4Trong điều kiện cụ thể của thể chế hành chính, có thể có nhiều loại thể chế hànhchính khác nhau Đó chính là hệ thống của các cơ quan hành chính nhà nước từtrung ương đến tận cơ sở với những quy định mang tính pháp luật (Hiến pháp,lụât, pháp lệnh, sắc lệnh, nghị quyết, văn bản lập quy, ) về sự tồn tại, vận đồng vàphát triển của hệ thống các cơ quan đó Về tổng thể thể chế hành chính, tuy theotừng giai đoạn cụ thể cũng như điều kiện pháp luật của quốc gia, các loại thể chếhành chính nhà nước được xác định từ văn bản pháp luật nhà nước cao nhất (đạoluật gốc, cơ bản – hiến pháp) hay các văn bản khác Ví dụ, trong điều kịên cụ thểcủa Hiến pháp đầu tiên của VIệt nam, các thể chế hành chính nhà nước chưa đượcxác định một cách chi tiết Do đó, nhiều loại thể chế hành chính ra đời do các vănbản pháp luật thấp hơn quy định và tuỳ theo từng thời kỳ có sự khác nhau Cónhững thể chế mới được thay thế, bổ sung bằng văn bản dưới luật, sắc lệnh, Nhiều nước, hiến pháp không quy định cụ thể về thể chế hành chính nhà nước tạiđịa phương Thay vào đó, hiến pháp quy định các loại thể chế đó do các văn bảnluật quy định.
Thể chế hành chính nhà nước trung ương (chính phủ, bộ, ) thường được ghi nhậntrong Hiến pháp (ví dụ Hiến pháp quy định chính phủ, thủ tướng bao nhiêu phó thủtướng, bao nhiêu bộ, ) nhưng cũng có nhiều nước, những quy định đó thông qualuật hay văn bản nghị quyết kỳ họp (như cách làm của Việt Nam )
Trong luật cũng có thể không quy định cụ thể về các loại thể chế hành chính Sự rađời, bổ sung các thể chế hành chính mới là một đòi hỏi tất yếu của hoạt động quản
lý hành chính nhà nước Trong nhiều văn bản luật của các nước, không quy định cụthể thể chế hành chính trung ương (bao nhiêu bộ) mà do một cơ chế chính phủ(một đảng đa số hay liên minh- chính phủ liên hiệp) để đề nghị thể chế bộ (baonhiêu bộ) Đảng đa số (một đảng) thường có số thể chế bộ hạn chế hơn so vớichính phủ liên hợp nhiều đảng để có liên minh đa số
Đối với chính quyền địa phương cũng tương tự Hệ thống văn bản lập quy có thểxác định các loại thể chế hành chính địa phương Ví dụ, để có một thể chế mới về
đô thị, chỉ cần khu vực đó có đủ những tiêu chí về đô thị, sẽ được cơ quan quản lý
có thẩm quyền trao quy chế đô thị
Tuy theo từng giai đoạn phát triển, nhiều thể chế hành chính được ra đời Trong
đó, có một số nhóm:
- Thể chế chính phủ
- Thể chế bộ
- Thể chế các chủ thể độc lập
Trang 5- Thể chế hoạt động kinh tế, cung cấp dịch vụ;
- Thể chế đại diện (Hội đồng)
- Thể chế chấp hành (địa phương)
- Khác
Nghiên cứu cải cách thể chế hành chính cũng chính là nghiên cứu hệ thốngpl quyđịnh các loại thể chế nhà nước và thể chế hành chính nhà nước
1.2.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Mỗi một loại thể chế hành chính gắn liền với nó là một tổ chức chính thức và cácquy định về thành lập, cơ cấu tổ chức và hoạt động của thể chế đó Các cơ quanhành chính nhà nước trong tổng thể chung phân biệt với các cơ quan nhà nướckhác (lập pháp, tư pháp) bằng những yếu tố cơ bản như:
Nghiên cứu các tổ chức hành chính (cơ quan hành chính) dưới giác độ của khoahọc tổ chức nhằm chỉ ra những sự sai lệch giữa khoa học, lý luận và thực tiễn của
tổ chức hoạt động của cơ quan hành chính
Nhiều nước trên thế giới cũng như Việt Nam đã chỉ ra rằng cách thức tổ chức vàhoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước bị chi phối bởi nhiều yếu tố vàtrong nhiều trường hợp không theo cơ sở của khoa học tổ chức
Nghiên cứu cải cách về tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nướcnhằm tìm ra mô hình hợp lý cho các cơ quan hành chính nhà nước và cách thứctiến hành các hoạt động của chính các loại cơ quan này
Trang 61.2.3 Vấn đề nhân sự, nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Yếu tố quyết định hoạt động hiệu quả của hệ thống các cơ quan hành chính chính
là cách thức quản lý và sử dụng con người làm việc trong cơ quan hành chính nhànước
Tổ chức hành chính nhà nước là một loại cơ quan nhà nước, chính vì vậy các loại
cơ quan này chịu sự chi phối rất nhiều yếu tố liên quan đến quản lý và sử dụng lựclượng lao động làm việc trong cơ quan này
Tính chính trị của người làm việc trong các cơ quan nhà nước nói chung và hànhchính nói riêng tồn tại ở tất cả các nước và đó cũng chính là nguyên nhân phổ biếncủa hoạt động không hiệu quả của các tổ chức nhà nước so với các loại tổ chứckhác
Trong xu hướng chung của cải cách hành chính, nhiều nước trên thế giới đã vàđang áp dụng lý thuyết quản lý nhân sự từ các tổ chức khu vực tư nhân trong tổchức nhà nước nói chung và đặc biệt trong các cơ quan hành chính nhà nước – nơingày càng được coi là hệ thống hoạt động mang tính chuyên môn, nghề nghiệp,tương đồng với khu vực tư nhân
Bốn vấn đề lớn được quan tâm khi xem xét vấn đề nhân sự, nguồn nhân lực trong
cơ quan hành chính nhà nước là:
- Tuyển chọn người vào trong cơ quan hành chính nhà nước từ trung ươngđến địa phương
- Cách thức sử dụng mang tính chuyên môn, nghề nghiệp hay tính chính trị’
- Quyền lợi
- Nghĩa vụ
Khi bốn vấn đề trên càng được “thể chế hoá” và mức độ hiệu lực của những “thểchế” càng cao, sẽ tạo ra được một lực lượng lao động đáp ứng được đòi hỏi mangtính chuyên nghiệp của hoạt động quản lý hành chính nhà nước của các cơ quanhành chính nhà nước
Thực tế của nhiều nước và Việt Nam đã chỉ ra hạn chế rất lớn về “tính thể chế hoá”của các thể chế hành chính trên phương diện sử dụng nguồn nhân lực trong cơquan hành chính nhà nước Sử dụng lãng phí, chảy máu chất xem, làm việc khônghiệu quả, thiếu động lực, thiếu cơ chế để xử lý, đang làm cho hoạt động của khuvực nhà nước trên một số lĩnh vực không cạnh tranh được với các khu vực khác
Trang 7Nghiên cứu cải cách trên lĩnh vực nhân sự nhằm tìm ra cơ sở lý luận, khoa học vàthực tiễn của việc sử dụng người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nướcnhằm thực thi tốt nhất công vụ của nhà nước
1.2.4.Vấn đề nguồn tài chính cho hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước
Mỗi một cơ quan nhà nước nói chung đều hoạt động dựa trên nguồn lực (ngân sáchnhà nước) cung cấp Các cơ quan hành chính nhà nước cũng tương tự Mặt khác,các cơ quan hành chính nhà nước còn phải quản lý một nguồn ngân sách lớn củanhà nước dành cho hoạt động đầu tư phát triển Trên nguyên tắc đó, có hai khíacạnh được xem xét:
- Khía cạnh quản lý ngân sách và sử dụng ngân sách nói chung
- Quản lý ngân sách nhà nước dành cho hoạt động của từng cơ quan hànhchính nhà nước
Trong lĩnh vực thứ nhất, nhiều nội dung cần được nghiên cứu riêng, nhưng có thểthấy rõ của các nước là đòi hỏi các cơ quan hành chính nhà nước phải có nhữngkiến thức, trình độ, kỹ năng khi tham gia vào lĩnh vực này (quản lý thu, chi ngânsách nhà nước)
Trong khi đó, mảng thứ hai gắn liền với từng loại cơ quan Đây cũng là một trongnhững vấn đề đang được các nước và Việt Nam xem xét dưới giác độ hiệu quả củaviệc sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan hành chính
Thực tế của các nước cũng như ở Việt Nam, thiếu những cơ chế để kiểm soát hoạtđộng sử dụng ngân sách nhà nước dành cho từng loại cơ quan Nguyên nhân cơbản là ngân sách đó không thuộc của bất cứ một cá nhân nào, nhưng lại có nhiềungười có quyền được sử dụng nó Và khi không thuộc của một ai, nhiều loại hình
“sử dụng” sẽ xuất hiện
Khoán chi hành chính đã trở thành một yếu tố cơ bản của cải cách hành chính Tuynhiên, bên cạnh vấn đề “khoán”, có nhiều vấn đề khác đạt ra cần quan tâm (xemmục chi tiết ở cải cách hành chính giai đoạn 2001-2005 – mô hình khoán chi hànhchính)
2.1 Hành chính nhà nước Việt nam dân chủ cộng hoà thời kỳ 1945-1959.
Trang 8Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời trong điều kiện của cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc chưa hoàn thành Mặc dù nhà nước đã được Chủ tịch Hồ ChíMinh khai sinh vào 2/9/1945, nhưng ngay sau đó hoạt động của cả bộ máy nhànước vẫn còn trong thời kỳ “bắt đầu”.
2.1.1 Tổ chức hành chính nhà nước trung ương
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, chính phủ liên hiệp lâm thời đã được thành lập từchính phủ lâm thời Số bộ bao gồm nhiều thành phần, đảng phái 18 thành viên củachính phủ liên hiệp
Sau tổng tuyển cử, chính phủ mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập có 12 thànhviên
Giai đoạn 1945-1955 là giai đoạn cả nước có chiến tranh, chính vì vậy mô hình tổchức bộ máy chính phủ trung ương rất linh hoạt và điều hành các loại công việc có
sự phân công cụ thể giữa các thành viên
Chính phủ giai đoạn này đã quy tụ nhiều đại diện các đảng phái, các miền Tậptrung vào các công việc nhằm bảo đảm cho hoạt động của nhà nước non trẻ là mộtnhà nước của dân, do dân và vì dân
Tập trung quyền lực khá cao và do đó cũng là đòi hỏi để điều hành công việcchung của đất nước
Giai đoạn 1954-1959 là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử nhà nước Việt Nam Nhànước phải chấp nhận sự chia cắt đất nước thành hai miền với hai chế độ nhà nướchoàn toàn khác nhau
Trang 9Trên thực tế, mô hình chính phủ, thực chất là mô hình hành pháp mạnh - tổngthống theo kiểu của Pháp Thủ tướng chính phủ có quy định, nhưng vai trò quản lý,điều hành và ban hành văn bản pháp luật rất hạn chế.
Về cơ cấu, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của chính phủ, Hiến pháp 1946qui định: chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc; chính phủ gồm
có chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, phó chủ tịch và nội các Nội các có thủ tướng, các bộ trưởng, thứ trưởng và có thể có phó thủ tướng
Trên thực tế, trong thời gian này, việc tổ chức chính phủ chưa hoàn toàn như hiến pháp qui định Chưa có thủ tướng, chưa có phó thủ tướng, chưa tổ chức nội các, nhưng tổ chức hội đồng chính phủ Về chức năng, quyền hạn, khi chưa có quốc hội, chính phủ hoàn toàn nắm quyền quản lí và điều hành xã hội Từ khi quốchội được thành lập, do hoàn cảnh bó buộc nên hoạt động của quốc hội có nhiều hạnchế, chính phủ đã kết hợp với ban thường trực quốc hội giữ vai trò chủ yếu trong việc hướng dẫn quốc dân, phát triển sự nghiệp cách mạng của dân tộc
Vấn đề cải cách hành chính ở cấp trung ương trong giai đoạn này cũng có nhiều hạn chế do điều kiện chiến tranh Chính quyền trung ương cần phải được giữvững, ổn định để có thể thống nhất chỉ huy cuộc kháng chiến Các vấn đề thay đổi, kiện toàn bộ máy chính quyền thường chỉ tập trung vào các đơn vị hành chính địa phương
2.1.2 Chính quyền địa phương
Tổ chức hành chính địa phương theo hướng pháp 1946 và các văn bản pháp luật từgiai đoạn 1945- 19954 ( trước khi ký hiệp định Giơneve 1954)
Trang 10Trước khi có Hiến pháp 1946 do Quốc hội nước Việt nam dân chủ Cộng hoà banhành, sự phân chia địa giới hành chính và tổ chức hành chính địa phương của Việt
Nam theo mô hìnhcủa Pháp trong đó khuvực Miền trung đượcthực hiện theo nguyêntắc tự quản
Ngay sau khi Nhànước Việt Nam đượcthành lập, quản lý hành chính nhà nước ở địa phương đã được quy định theo môhình mang tính chất truyền thống của các nước Châu Âu – “mô hình Hội đồng và
Trang 11Cách thức tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình “Hội đồng – Uỷ ban”không thay đổi về bản chất trong suốt cả cả quá trình phát triển của nhà nước Vịêtnam từ 19945 - 2005 (60 năm) Trên thực tế tên goi, cấp và loại chính quyền địaphương có thể thay đổi, nhưng tư tưởng “Hội đồng – Uỷ ban” nhất quán.
Sắc lệnh 63/SL năm 1945 của Chính phủ lâm thời quy định khá cụ thể về cáchthức tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương trong điều kiện mới đượcthành lập Đây là một bản sắc lệnh quy định cụ thể và rất rõ ràng:
- Cách thức thành lập các tổ chức chính quyền địa phương
- Mối quan hệ giữa các cấp trong hệ thống chính quyền địa phương
- Phân cấp rất triệt để quyền của cấp trên đối với cấp dưới khi giải quyết cáchoạt động vi phạm pháp luật
Những quy định trên tạo cơ hội để hệ thống hành chính có thể hoạt động một cáchthống suốt và cấp trên đối với cấp dưới mang tính thứ bậc chặt chẽ
Sự giám sát của chính quyền địa phương cấp trên với chính quyền địa phương cấpdưới trong mô hình nhà nước đơn nhất đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảođảm tính thống nhất của việc thực thi pháp luật nhưng cũng trao cho mỗi một cấphành chính quy tự chủ, nhưng bị giám sát Đây là một cách tiếp cận phổ biến củanhiều nước cho đến nay
Mô hình mối quan hệ giữa các cấp chính quyền địa phương mô tả ở các hình vẽ từ
2 đến
Cấp huyện không có Hội đồng Nhân dân, nhưng có Uỷ Ban hành chính Cách thức
tổ chức Uỷ ban Hành chính cấp huyện theo quy định của Sắc lệnh 63/SL thể hiện
Trang 12đó là một cơ quan mang tính chất phối hợp các xã hơn là một cơ quan trực tiếpquản lý, điều hành.
Tỉnh là một đơn vị chính quyền địa phương, có cả Hội đồng Nhân dân và Uỷ banHành chính
Cách thức thành lập Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Hành chính cũng được quyđịnh cụ thể sự phân cấp trong hệ thống chính quyền địa phương (hành chính),ít bị
lệ thuộc vào lập pháp hay tư pháp
Mối quan hệ giữa Hội đồng Nhân dân tỉnh và Uỷ ban Hành chính tỉnh cũng nhưmối quan hệ với hành chính cấp trên là kỳ cũng được quy định và xác định cụ thểnhiệm vụ và quyền hạn của từng chủ thể đối với hoạt động quản lý nhà nước tại địaphương cấp tỉnh Những công việc nào được giải quyết bằng mối quan hệ cụ thể đãđược quy định, các cấp, các chủ thể căn cứ vào đó để thực hiện
Những thể chế như: từ chức, bị giải tán, mất tư cách hội viên Hội đồng Nhân dântỉnh đều được quy định khá cụ thể mà mang tính chất phân cấp rất rõ ràng
Kỳ là một đơn vị hành chính và chỉ có Uỷ ban Hành chính, không có Hội đồngNhân dân Đây cũng là một thể chế đặc biệt cần chú ý khi bàn về khía cạnh hoạtđộng của chính quyền địa phương Giống như huyện, kỳ chỉ mang tính chất phốihợp các hoạt động trên địa bàn của kỳ với sự tham gia của nhiều huyện Mặc dùsắc lệnh quy định cụ thể mối quan hệ giữa Uỷ ban Hành chính kỳ với tỉnh, nhưng
sự quan hệ đó thể hiện tính phối hợp
Trang 13Các điều khoản quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc chínhquyền địa phương theo Sắc lệnh 63/SL năm 1945 thể hiện mức độ phân công vàphân cấp rất cụ thể và trách nhiệm của các cấp cũng rất cao.
Tuy nhiên, những quy định đó mang tính lâm thời do chính phủ chỉ thành lập lâmthời
Trong giai đoạn trước khi có Hiến pháp 1945, vấn đề tổ chức các khu đô thi cũng
đã được xác định bằng sắc lệnh 77/SL Về nguyên tắc, các khu đô thi được gọi làthị xã- nhưng lại được xác định là cấp xã và trực tiếp chịu sự quản lý của tỉnh
"Các thị trấn Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh - Bến Thuỷ, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt và Sài Gòn Chợ Lớn đều đặt làm thành phố.
Uỷ Ban hành chính kỳ
Uỷ ban hành chính kỳ do hội viên các Hội đồng nhân dân tỉnh trong kỳ bầu ra Hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh nào bỏ phiếu
ở tỉnh lỵ tỉnh ấy.
Bầu uỷ viên chính thức và 2 uỷ viên dự khuyết.
Uỷ ban trúng cử sẽ tự bầu lấy Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thư ký.
Hội viên Hội đồng Nhân dân các tỉnh
Uỷ ban hành chính kỳ bầu xong phải được Hội đồng Chính phủ chuẩn y rồi mới được nhậm chức Uỷ viên nào
không được chuẩn y thì phải bầu lại Nếu lần bầu lại, uỷ viên ấy vẫn được trúng cử thì Hội đồng Chính phủ
phải công nhận.
Khi một phần ba tổng số hội viên tất cả các Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu phúc quyết Uỷ ban hành chính kỳ
thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ phái người về tổ chức cuộc bỏ phiếu tín nhiệm Hội viên Hội đồng nhân dân tỉnh nào
bỏ phiếu ở tỉnh ấy Nếu quá nửa tổng số hội viên các hội đồng nhân dân tỉnh không tín nhiệm Uỷ ban hành
chính kỳ thì Uỷ ban hành chính kỳ phải xin từ chức Những uỷ viên từ chức nếu là hội viên Hội đồng nhân dân
một tỉnh trong kỳ sẽ vẫn được giữ tư cách ấy.
Khi Uỷ ban hành chính kỳ không tuân lệnh trên thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ đề nghị lên Hội đồng Chính phủ giải
tán Uỷ ban hành chính kỳ Những uỷ viên Uỷ ban bị giải tán nếu có chân trong một Hội đồng nhân dân thì mất
cả tư cách hội viên hội đồng ấy.
Nếu một uỷ viên Uỷ ban hành chính kỳ phạm lỗi trong khi thừa hành chức vụ, thì Bộ trưởng Bộ Nội vụ theo lời
đề nghị của Uỷ ban hành chính kỳ hoặc khiển trách hoặc cách chức uỷ viên phạm lỗi Nếu lỗi của uỷ viên
phạm đến luật hình thì uỷ viên sẽ bị đưa ra toà án truy tố.
Khi Uỷ ban hành chính kỳ bắt buộc phải từ chức hay bị giải tán, theo những điều thứ 59 và 60, thì Bộ Nội vụ
phải tổ chức ngay cuộc bầu cử Uỷ ban hành chính mới Khi một vài uỷ viên bị cách chức hay xin từ chức thì
những uỷ viên dự khuyết sẽ theo thứ tự được cử thay.
Figure 2: Hội đồng Nhân dân tỉnh
Trang 14Thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền Chính phủ trung ương, còn các thành phố khác đều thuộc quyền các kỳ.
ở mỗi thành phố sẽ đặt ba thứ cơ quan: Hội đồng nhân dân thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố và Uỷ ban hành chính khu phố.
Riêng ở Đà Lạt không có Hội đồng nhân dân thành phố và Uỷ ban hành chính thành phố mà chỉ có các Uỷ ban hành chính khu phố thôi Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban hành chính tỉnh Lâm Viên sẽ kiêm cả nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và
Uỷ ban hành chính thành phố Đà Lạt luôn" [2]
Cách quy định trên đã có sự phân biệt giữa đô thị và nông thôn Các thành phố, chỉ
có mô hình chính quyền địa phương 1 cấp và có cơ quan hành chính để thực hiệncông việc hàng ngày trên địa bàn khu phố
Khu phố là đơn vị hành chính cơ sở của khu vực đô thị Các khu phố ở các thànhphố chỉ có Uỷ ban Hành chính, không có Hội đồng Nhân dân; các thị xã lớn, cũngđược chia thành khu phố Việc quyết định chia thành khu phố do Uỷ ban Hànhchính kỳ quyết định
Sự thay đổi địa giới hành chính của các đơn vị hành chính thuộc thẩm quyền của
hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước
Trong giai đoạn 1945-1954, chính phủ có quyền được thành lập các đơn vị hành
chính mới nhằm thực hiện cuộc kháng chiến Ví dụ: Uỷ ban hành chính Miền
thượng du Thanh Hoá có nhiệm vụ:
a) Giúp Uỷ ban hành chính tỉnh Thanh Hoá giải quyết các công việc ở sau châu miền thượng du tỉnh Thanh Hoá;
2
Sắc lệnh số 77/SL ngày 21/12/1945 về thành phố và thị xã.
Trang 15b) Động viên dân chúng để chuẩn bị kháng chiến;
c) dốc xuất việc tăng gia sản xuất;
1) Thực hiện ở liên khu chính sách của Chính phủ,
2) Lãnh đạo công cuộc kháng chiến toàn diện trong liên khu,
3) thi hành hoặc đôn đốc sự thi hành các sắc lệnh, nghị định, mệnh lệnh của Chính phủ,
4) Điều hoà và phối hợp các ngành hoạt động thuộc phạm vi liên khu,
5) Kiểm soát tất cả các ngành hoạt động thuộc phạm vi liên khu đứng về phương diện:
a- Chủ trương, chính sách của Chính phủ,
b- Chỉ thị, kế hoạch của Chính phủ,
c- Tinh thần làm việc và sự mẵn cán của nhân viên thừa hành.
6) Phụ trách sự trị an trong liên khu,
Do tính chất đặc biệt của việc điều hành hoạt động kháng chiến, những điều quy
định về giải tán, đình chỉ hoạt động của Uỷ ban kháng chiến Hành chính khôngđược áp dụng
3 sắc lệnh số 254/SL ngày 19/11/1948
Trang 16UBKCHC có thể đặt những quy tắc tạm thời được thi hành ngay, nhưng phải tuânthủ những điều kiện sau:
1) Không trái với chủ trương chính sách của Chính phủ,
2) Không trái những sắc lệnh, nghị định, thể lệ, hiện hành,
3) Không được đặt các thứ thuế mới,
4) Không được đặt những hình phạt, trừ hình phạt vi cảnh,
5) Về những việc có liên quan đến chuyên môn, phải hỏi ý kiến ngành chuyên môn
sở quan,
6) Phải báo cáo ngay lên Chính phủ,
7) Phải đưa ra toàn uỷ ban thảo luận, phải lấy biểu quyết theo đa số của toàn ban.
Trong điều kiện chiến tranh, Hội đồng quốc phòng có vai trò rất quan trọng trong
việc chỉ định các uỷ viên Uỷ ban kháng chiến Hành chính
Do sự đan xen giữa vùng tự do, vùng bị địch uy hiệp và vùng tạm thời bị địch kiểmsoát, pháp luật nhà nước quy định cách thức riêng cho hoạt động của Hội đồngNhân dân và Uỷ ban kháng chiến hành chính
Uỷ ban kháng chiên hành chính được thành lập trong điều kiện chiến tranh nênkhông thể thực hiện thông qua Hội đồng Nhân dân Cách thức thành lập cũng nhưchỉ định uỷ viên Uỷ ban kháng chiến hành chính được quy định đặc biệt:
- Việc công nhận hay chỉ định các uỷ viên mỗi cấp do cấp trên đề nghị và cấp trên cách 1 bực quyết định và cấp bằng.
- Uỷ viên kháng chiến hành chính xã do uỷ ban kháng chiến hành chính huyện đề nghị, Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh quyết định và cấp bằng,
- Uỷ viên kháng chiến hành chính huyện do Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh
đề nghị, Uỷ ban kháng chiến hành chính Liên khu quyết định và cấp bằng,
Trang 17- Uỷ viên kháng chiến hành chính tỉnh do Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu
đề nghị, Bộ Nội vụ được uỷ nhiệm của Hội đồng Chính phủ quyết định và cấp bằng,
- Uỷ viên quân sự trong Uỷ ban kháng chiến hành chính liên khu do Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng chỉ huy đề nghị, các uỷ viên khác do Bộ Nội vụ đề nghị, đều do Chủ tịch Chính phủ ra sắc lệnh chỉ định và cấp bằng [ 4 ].
Trong giai đoạn 1945 đến 1952, các văn bản điều hành đều dưới hình thức văn bảncủa Chính phủ, do chủ tịch nước ban hành Mặc dú Hiến pháp 1946 được thôngqua, nhưng ít có trường hợp nào các văn bản pháp luật do chính phủ ban hành dựavào những quy định của Hiến pháp Cách thức tổ chức hệ thống chính quyền địaphương đều căn cứ vào sắc lệnh 63/1945
Hội đồng Nhân dân
Uỷ ban kháng chiến và
Hành chính
Hình 7: Uỷ ban kháng chiên hành chính
Trang 18Tóm lược:
Giai đoạn 1946-1959 là một giai đoạn đặc biệt của nhà nước Việt nam Sau khithắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc (giai đoạn 1- cướp chính quyền,giành chính quyền và bảo vệ chính quyền), mô hình tổ chức bộ máy nhà nước nóichung và bộ máy hành chính nhà nước để điều hành công việc hàng ngày, đưapháp luật vào đời sống có những nét đặc trưng của thời kỳ lịch sử
- Trên nguyên tắc của nhà nước Việt Nam độc lập, nhưng sự xâm lược trở lạicủa Pháp, Nhật đã làm cho hoạt động nhà nước trong giai đoạn này mangtính chất của chính phủ cách mạng Nhưng nơi thuộc quyền kiểm soát củachính phủ có thể có những mô hình mới; những khu vực tề, nguỵ theo môhình khác
- Trên thực tế, nhà nước bao gồm cả lập pháp (Quốc hội), hành pháp và tưpháp Nhưng mô hình điều hành mang tính chất của mô hình “tổng thống”,
“hành pháp trội” Quốc hội chỉ tồn tại, nhưng do điều kiện chiến tranh nênhoạt động hạn chế Điều đó thể hiện hoạt động quản lý đất nước thông quasắc lệnh của Chủ tịch (tổng thống)5/
- Tổ chức chính quyền địa phương mang tính truyền thống của mô hình “Hộiđồng – Uỷ ban” phổ biến ở các nước có chế độ cộng hoà
- Mặc dù hệ thống pháp luật chỉ mang tính lập quy, nhưng hoạt động của hệthống các cơ quan nhà nước nói chung và hành chính nói riêng được xácđịnh cụ thể chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn Có sự phân biệt cụ thể giữachính quyền đô thị, nông thôn Đó cũng chính là những điều mà bộ máyhành chính nhà nước sau này thiếu sự quan tâm
- Giai đoạn 1946-1960, trong đó có giai đoạn 1954- 1960, nhà nước Việt Namchia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau Trong đó Miền bắc đã
5 Số văn bản do Quốc hội ban hành hạn chế Chủ yếu các văn bản do Chủ tịch nước ban hành (sắc lệnh).
Trang 19hoàn thành cách mạng giải phóng dân tộc, kiến thiết, khôi phục kinh tế đềxây nhà nước mới Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước và hành chính dựatrên các văn bản quy định chung Trong khi đó Miền Nam đi theo mô hìnhmới của cách thức tổ chức bộ máy nhà nước Trong đề tài này, không nghiêncứu vấn đề mô hình tổ chức của chính quyền Miền nam (1954-1975), mặc
dù nghiên cứu nó là một điều cần thiết và bổ ích
2.2 Nền hành chính nhà nước Việt nam giai đoạn 1960-1980.
Trong giai đoạn này, Việt Nam chia làm hai miền với hai chế độ chính trị và nhànước khác nhau
Từ 1954-1975: Miền Bắn xây dựng xã hội chủ nghĩa làm hậu thuẫn cho cuộc đấutranh giải phóng dân tộc
Miền Nam dưới ách chiếm đóng của Thực dân pháp và sau đó là Đề quốc Mỹ
Mô hình hành chính nhà nước tại hai miền có những nét đặc trưng hoàn toàn khácnhau
Từ 1975 - 1980: Việt nam thống nhất, cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa, hoạt độngcủa hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước thống nhất
2.2.1 Hành chính địa phương
Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1959 mô tả ở hình
vẽ sau:
Trang 20Nét đặc trưng của phân chia địa giới hành chính và cách tổ chức chính quyền địaphương là:
- Các đơn vị lãnh thổ đều có cả hai loại cơ quan: cơ quan quyền lực nhà nước
ở địa phương chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương (Hội đồng Nhândân) và cơ quan chấp hành của cơ quan đại diện cho nhân dân (Uỷ ban Hànhchính )
- Nhiệm kỳ của các cơ quan nhà nước ở địa phương không thống nhất mà cấpcao có nhiệm kỳ dài hơn cấp thấp
- Sự ra đời của các khu tự trị như là một đòi hỏi tất yếu của sự kế thừa cáchthức tổ chức bộ máy chính quyền địa phương có từ 1945 đến 1960
- Cách thức tổ chức khu tự trị do luật quy định
So với Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 đã thể chế cụ thể hơn và chi tiết hơn phâncấp cho các chính quyền địa phương trong các vấn đề của địa phương và cụ thể
Trang 21hơn mối quan hệ mang tính thẩm quyền giữa các cơ quan chính quyền địa phương(thực thi quyền hành pháp)
Cần chú ý trước khi có Hiến pháp 1959 (12/1959), Quốc hội đã ban hành Luật Tổchức chính quyền địa phương (29/04/1958) Đây là một thể chế quan trọng vềchính quyền địa phương ở Việt Nam từ 1945 đến 1958 Trước đó, do điều kiệnchiến tranh, kháng chiến giải phóng dân tộc nên hoạt động của chính quyền địaphương thực hiện theo Sắc lệnh 63/SL của Chính phủ lâm thời Nhiều sắc lệnh sau
đó đều dựa trên nền tảng của Sắc lệnh 63/SL
Tuy nhiên, giữa Hiến pháp 1946 và Luật tổ chức chính quyền địa phương có khánhiều điều không giống nhau
Cách thức quan trọng nhất là việc quy định phân chia địa giới hành chính Nếu nhưđiều 57 của Hiến pháp 1946 chưa thay đổi, việc phân chia lại địa giới hành chínhtheo Luật tổ chức chính quyền địa phương (1958) cũng như việc đề ra thêm nhữngloại hình phân chia địa giới hành chính cũng như có hay không Hội đồng Nhân dân
và Uỷ ban Hành chính ở các đơn vị hành chính là những quy định nếu không đặttrong hoàn cảnh kháng chiến, có thể nói rằng đó là những văn bản vi hiến
Luật tổ chức chính quyền địa phương (1958) quy định:
Các khu tự trị, các thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, châu, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, xã, thị trấn có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban hành chính (UBHC).
Các huyện có Uỷ ban hành chính.
Trang 22Các khu phố ở các thành phố và thị xã lớn có Ban hành chính khu phố Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, lề lối làm việc của Ban hành chính khu phố do Thủ tướng Chính phủ quy định.
Các thành phố có thể chia thành khu phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính Điều kiện thành lập khu phố có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính
và tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền khu phố do Hội đồng Chính phủ quy định [ 6 ].
Luật quy định cụ thể cách thức tiến hành các kỳ họp Cách quy định này khá hợp
lý Những cấp hành chính có quy mô rộng, bàn các công việc mang tính chất địnhhướng họp 2 lần trong một năm Những cấp chỉ đạo trực tiếp tần suất họp cao hơn.Đây là điều quy định hợp lý Các luật ban hành sau này đã nhất thể hoá thời gianhọp của Hội đồng Nhân dân giống như của Quốc hội là hoàn toàn không hợp lý,không phản ảnh đúng thực chất hoạt động của Hội đồng Nhân dân các cấp Luậtquy định:
" Hội đồng nhân dân khu tự trị và tỉnh họp 6 tháng một lần.
Hội đồng nhân dân thành phố và châu họp 3 tháng một lần.
Hội đồng nhân dân thị xã, xã, thị trấn họp ít nhất 3 tháng một lần.
Ngoài các khoá họp thường kỳ nói ở điều 11, Uỷ ban hành chính các cấp có thể triệu tập hội nghị bất thường của Hội đồng nhân dân cấp mình nếu xét thấy cần thiết, hoặc theo chỉ thị của cấp trên, hoặc khi có từ 1/3 tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên yêu cầu"
Cùng với việc ban hành Hiến pháp 1959, thay thế Hiến pháp 1946, Luật Tổ chứcchính quyền địa phương (1958) đã được thay thế bằng Luật Tổ chức Hội đồng
6 Luật tổ chức chính quyền địa phương 1958 được Quốc hội khoá I, kỳ họp thứ IV thông qua 29/04/1958)
Trang 23Nhân dân và Uỷ ban hành chính các cấp (1962) Sơ đồ tổ chức bộ máy chínhquyền địa phương có nhiều thay đổi do sự thay đổi của hệ thống pháp luật
Trong giai đoạn 1960-1980, có thể chia thành hai tiểu giai đoạn
- Giai đoạn từ 1960-1975: Việt Nam chia thành hai miền, có hai chế độ chínhtrị, nhà nước khác nhau, với hai cách thức tổ chức bộ máy hành chính nhànước
- Từ 1976 - 1980, trước khi có Hiến pháp mới (1980) ban hành Đó là một nhànước thống nhất, việc hoạt động của bộ máy hành chính tuân theo Hiến pháp
1959, mặc dù một số nét đặc trưng của bộ máy hành chính riêng chưa kịpthay đổi
Trong giai đoạn 1960-1980, không có khái niệm sửa đổi hiến pháp, tuy nhiên, nghịquyết của Quốc hội kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá V đã thực hiện sửa đổi một số nộidung của Hiến pháp 1959, trong phần tổ chức bộ máy hành chính địa phương
Trang 24- Bỏ cấp khu trong hệ thống các đơn vị hành chính của nước Việt Nam dân
chủ cộng hoà.
- Những quy định trong Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về cấp
khu tự trị đều bãi bỏ [ 7 ].
Sau khi có nghi quyết của Quốc hội, tổ chức bộ máy hành chính địa phương theo
sơ đồ hình
Sau khi nhà nước Việt nam thống nhất và đổi tên thành nhà nước Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam, Hiến pháp 1959 chưa kịp thay đổi vì vậy, Quốc hội đã banhành nghị quyết quy định phân chia đơn vị hành chính và tổ chức nhà nước vẫntheo Hiến pháp 1959 (xem hình vẽ dưới)
Trang 25Trong điều kiện chưa có Hiến pháp mới và Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và UỷBan Nhân dân mới, Quốc hội đã ra nghị quyết bổ sung nhiệm vụ và quyền hạn củaHội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân cấp huyện Cụ thể trao cho cấp huyệnquyền về phê duyệt dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách hàng năm [8] Tuynhiên xem xét tính hợp pháp của vấn đề, cần lưu ý về quyền của Uỷ Ban Thường
vụ Quốc hội trong việc sửa đổi Luật (?)
Các cấp chính quyền nói trên đều có Hội đồng nhân dân và
cơ quan chấp hành là Uỷ ban nhân dân.
Cấp tương đương.
Figure 12: Phân chia đơn vị hành chính theo Nghị quyết của Quốc hội (2/07/1976)
Trang 26Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước trung ương thay đổi so với Hiến pháp 1946.Điều đặc biệt quan trọng là chuyển từ chế độ “tổng thống” sang chế độ Hội đồngChính phủ.
Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực Nhà nước caonhất, và là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủcộng hoà
Hội đồng Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội, trongthời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷban thường vụ Quốc hội
Hội đồng Chính phủ gồm có:
- Thủ tướng,
- Các Phó Thủ tướng,
- Các Bộ trưởng,
- Các Chủ nhiệm các Uỷ ban Nhà nước,
- Tổng giám đốc ngân hàng Nhà nước
Tổ chức của Hội đồng Chính phủ do luật định
Vai trò của Thủ tướng Chính phủ được đề cao Đồng thời cơ cấu tổ chức bộ máychính phủ tương đối ổn định
Tóm lược:
Giai đoạn 1960- 1980 là giai đoạn nhà nước Việt Nam bị chia cắt và chỉ mới thốngnhất lại từ năm 1975
Trang 2715 năm của giai đoạn này, hai chế độ tồn tại, với hai mô hình tổ chức bộ máy nhànước khác nhau.
- Mô hình tổ chức bộ máy nhà nước nói chung mang tính chất “quyền lực nhà nướcthống nhất, tập trung, phân công thực thi quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhànước “ Nếu như giai đoạn 1946-1960, do đặc điểm của chiến tranh, quyền củaChủ tịch nước (mô hình tổng thống- hành pháp mạnh) rõ nét, thi giai đoạn này,tính chất hoạt động tập thể được đề cao
- Thể chế chính phủ và Hội đồng chính phủ thực thi quyền hành pháp; vai trò củachủ tịch nước mang tính nguyên thủ quốc gia như một số mô hình tổng thống củacác nước
- Chính quyền địa phương về nguyên tắc, cách thức tổ chức không thay đổi Môhình “Hội đồng – Uỷ ban” vẫn được áp dụng Hoạt động của các cấp chính quyềnđịa phương được quy định không chỉ trong Hiến pháp (1959) mà còn được quyđịnh trong Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban hành chính (1962) thay choLuật trước đó (dựa trên hiến pháp 1946)
- cải cách hành chính trong giai đoạn này tập trung vào kiện toàn các hoạt độngquản lý nhà nước trên lĩnh vực kinh tế
- Giai đoạn 1975-1980 là giai đoạn nhà nước Việt Nam thống nhất Mô hình tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương được ápdụng thống nhất cả nước và cũng chính là giai đoạn kiện toàn hệ thống chínhquyền địa phương cả ở Miền Nam lẫn Miền Bắc Nhiều địa phương cấp tỉnh,huyện đã được thành lập mới trên cơ sở sát nhập nhiều đơn vị hành chính tạo nêncác đơn vị hành chính lớn hơn
- Chính phủ trung ương chuyển từ mô hình tổng thống- hành pháp mạnh sang môhình tổng thống – chính phủ – hành pháp tập trung vào chính phủ thay cho tậptrung vào chủ tịch nước
Trang 28- Hệ thống chính quyền địa phương (các đơn vị hành chính) được hình thành trên
cơ sở sát nhập nhiều đơn vị hành chính nhỏ lại thành đơn vị to hơn
- Chính phủ trung ương đã chuyển từ mô hình chủ tịch – hành pháp mạnh, sang
mô hình chính phủ – hành pháp Vai trò của chủ tịch đối với hành pháp đã thay đổi
Điều đặc biệt quan tâm, về sự thay đổi tên nước từ Việt Nam dân chủ cộng hoàsang tên gọi mới " Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam" Sự thay đổi này đượcthực hiện bằng nghị quyết của Quốc hội Tuy nhiên, Hiến pháp 1959 đã xác địnhtên gọi của Nhà nước Việt nam Tuy chưa có sự thay đổi của Hiến pháp 1959,Quốc hội đã sửa đổi một điều quan trọng của Hiến pháp bằng nghị quyết Quốc hộiđóng vai trò lập hiến thể hiện xuyên suốt nhiều bản Hiến pháp Nếu xét nguyên tắcthứ bậc của văn bản, nghị quyết của Quốc hội cao hơn cả Hiến pháp
Về mặt thể chế nhà nước, thay đổi quan trọng nhất là bỏ thể chế "chủ tịch nước" 10
và thể chế "Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội" thay vào đó là một thể chế mới với têngọi là "Hội đồng nhà nước" với hai tư cách:
- Thường trực của Quốc hội
10 Một số tài liệu sử dụng thiết chế "chủ tịch nước" Chúng tôi sử dụng thuật ngữ thể chế - institution với ý nghĩa đó
là một chủ thể được pháp luật nhà nước quy định cho chủ thể đó những cách thức hoạt động
Trang 29Thể chế hành pháp cũng có những sự thay đổi Thể chế hành pháp và hành chínhtrung ương chuyển từ mô hình Hội đồng chính phủ, sang mô hình Hội đồng Bộtrưởng Thể chế Hội đồng Bộ trưởng làm việc theo nguyên tắc tập thể Hiến phápkhông xác định rõ tư cách của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Hiến pháp xác định quyền tham dự hội nghị Hội đồng bộ trưởng của Chủ tịchTổng công đoàn Việt Nam Như vậy, một thể chế hành pháp với quyền tham dự(không phải khách mời) thể hiện tính đặc trưng của thể chế hành pháp trung ươngtheo Hiến pháp 1980
Giai đoạn 1980-1990 là giai đoạn cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính trung ương cónhiều thay đổi Chưa có giai đoạn nào Việt Nam có số lượng bộ, cũng như tên gọicác bộ, các Uỷ ban nhà nước nhiều và đa dạng như giai đoạn này Tính chuyên
11 Nếu mô hình thể chế nhà nước ntheo Hiến pháp 1959 là mô hình tổng thống đại diện thi mô hình thể chế nhà nước theo hiến pháp 1980 là một hình thể chế tập thể.
Trang 30ngành hẹp được quan tâm nhiều hơn khi tổ chức bộ máy hành chính nhà nướctrung ương Có một lĩnh vực dù hẹp cần quản lý cũng phải có một bộ hay một Uỷban nhà nước Trong khi đó, sự đổi mới thể chế nhà nước và Việt nam thống nhất
đã tạo ra nhiều nội dung cần quản lý
2.3.1 Tổ chức hành chính địa phương
Thể chế hành pháp địa phương được Hiến pháp xác định với các tên goi tương tựnhư các bản Hiến pháp trước Tuy nhiên, sau khi thống nhất, một số địa bàn hànhchính đòi hỏi có sự quản lý đặc biệt nên nhà nước phải thành lập thêm những đơn
vị hành chính lãnh thổ mang tính đặc thù
Nguyên tắc phân chia các đơn vị hành chính và cũng như cơ cấu tổ chức các chínhquyền địa phương không thay đổi Mô hình phân chia đơn vị hành chính mô tả ở
sơ đồ hình
Tuy nhiên, sự đặc biệt của thể chế hành pháp theo Hiến pháp 1980 ở hai loại:
- Thể chế thị xã gắn liền với Thành phố trực thuộc trung ương
- Đơn vị hành chính tương đương (hiểu theo nghĩa cấp tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương)
Việc quy định thành phố trực thuộc trung ương có thị xã mang tính truyền thống
do việc sát nhập các đơn vị lãnh thổ thuộc các tỉnh vào thành phố trực thuộc như
Hà nội, Hồ Chí Minh, Hải phòng Trong khi quận mang tính chất nội thành của cácthành phố đó, thị xã lại là một khu đô thi nằm cách xa khu vực nội thành
Trang 31Đơn vị hành chính tương đương không được định nghĩa trong Hiến pháp là loạinào Khác với một số nước, những đơn vị đó được định nghĩa cụ thể.
Cũng theo Hiến pháp 1980, nhiệm kỳ cho thể chế hành pháp địa phương được xácđịnh với hai loại thể chế:
- Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương và cấp tương đương là bốn năm
- Nhiệm kỳ của mỗi khoá Hội đồng nhân dân các cấp khác là hai năm
So với hiến pháp 1959, thể chế này đã có sự thay đổi Tính đồng nhất giữa nhiệm
kỳ của các cấp dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng có thể tạo nên một
sự hẫng hụt về quyền lực trong giai đoạn chờ đợi bầu cử của cả cấp huyện, xã Nếu
có một sự lệch pha nhất định, khoảng trống đó không xẩy ra Ví dụ, bầu Hội đồngNhân dân xã, phải chờ có quyết định thành lập Uỷ Ban Nhân dân huyện mới, Hộiđồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân xã mới được chuẩn y, hoặc lại giao cho UỷBan Nhân dân huyện mà ngay sau đó vài ngày, Uỷ Ban Nhân dân huyện này sẽgiải tán để có một Uỷ Ban Nhân dân huyện mới được thành lập
Hình 13: Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ theo Hiến pháp 1980
Trang 32Cùng với sự thay đổi thể chế hành pháp địa phương theo Hiến pháp quy định, mặc
dù chưa có Luật tổ chức chính quyền địa phương mới, Hội đồng Bộ trưởng đã raquyết định xác định thể chế mới về chính quyền cấp xã Nếu so với Luật tổ chứcHội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân năm 1962, thì cách quy định của Hội
đồng Bộ trưởng về thực chất đã thay đổi thể chế "hành pháp địa phương xã" so với
luật Hiệu lực của Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân năm 1962vẫn còn Do đó, những quy định nếu trái lụât cũng là vấn đề phải xem xét Đâykhông phải là lần đầu trong cách điều hành của hoạt động quản lý nhà nước ở nước
ta quy định việc văn bản của các cơ quan hành chính có thể thay đổi nội dung củavăn bản pháp luật Trong giai đoạn 1945 đến 1954, cả nước có chiến tranh, Nhànước Việt nam mới hình thành, chưa ổn định nên cách thức điều hành chủ yếu dựavào văn bản của hành pháp Và chính cách này đã ảnh hưởng rất lớn đến cách điềuhành sau đó
Trong giai đoạn từ sau khi có Hiến pháp 1980, nhiều thể chế hành chính tại địaphương được thành lập trên cơ sở điều chỉnh các thể chế đang có Việc thành lậpmới, sát nhập, giải thể các đơn vị hành chính địa phương luôn là chủ đề của cảicách thể chế và cải cách cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính Một xu hướng chung
là thành lập thêm các đơn vị nhỏ ở bên dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươnghoặc chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác
Tuy nhiên, chưa có một cơ sở khoa học cũng như thực tiễn của việc hình thành cácthể chế hành chính và hành pháp mới ( bao gồm Hội đồng Nhân dân và Uỷ BanNhân dân các cấp)
Thể chế hành pháp cấp huyện là một trong những vấn đề được quan tâm trong giaiđoạn sau 1980 Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã ra nghị quyết nhằm tăng cường thể
Trang 33chế câp huyện Đây cũng là một xu hướng khá phổ biến ở cádc nước xã hội chủnghĩa Đông Âu, đặc biệt một số nước như Tiệp khắc, Bungari với mô hình " khukinh tế cấp huyện".
Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân có hiệu lực, hệ thống các cơquan chuyên môn cấp huyện cũng được xác định Các cơ quan chuyên môn, biênchế đều do HĐBT xác định [12] Việc phân cấp cho huyện, trên nguyên tắc chỉ dựavào các quy định trên để bố trí hợp lý Khả năng tự điều chỉnh hạn chế
Tuy nhiên, trong giai đoạn này, luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhândân (1962 và các nghị quyết của Quốc hội, Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội(UBTVQH) vẫn còn hiệu lực), do đó việc thay đổi một số thể chế cấp huyện bịràng buộc bởi các văn bản pháp luật trên
Phân cấp cho cấp huyện một số hoạt động kinh tế được đề cập đến, nhưng trênthực tế chưa làm được
Phân cấp cho huyện về vấn đề cán bộ, tuy nhiên công tác này cũng như phân cấpkinh tế chưa đạt được Điều này tồn tại cho đến nay
Luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân (30/6/1983) thay thế Luật tổchức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân năm 1962 Sự thay đổi mang tínhthể chế không lớn
Cơ cấu tổ chức của Hội đồng Nhân dân cấp huyện và xã là một trong những thểchế tổ chức quan trọng nhằm bảo bảo hoạt động của Hội đồng Nhân dân cấp huyện
và xã nếu trước đây, việc quy định cơ cấu tổ chức (nếu luật không ghi cụ thể) sẽ
12
Nghị định của Hội đồng Bộ trưởng số 86 - HĐBT ngày 4-8-1983 về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân huyện.
Trang 34do cơ quan hành pháp trung ương quyết định (chính phủ) Trong trường hợp này,
do HĐNN quyết định Đây cũng là một trong những vấn đề mang tính lý luận vàthực tiễn của Việt Nam
HĐNN - trước đó là UBTVQH, là cơ quan lập pháp Trong khi Hội đồng Nhân dâncác cấp xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương nhưng trên thực tế là
cơ quan hành pháp Chính vì vậy, ai quyết định những yếu tố thuộc về tổ chức bộmáy sau khi có luật tổ chức Hội đồng Nhân dân và Uỷ Ban Nhân dân là một vấn
đề mang tính lý luận HĐNN quyết định cơ cấu tổ chức bộ máy của Hội đồngNhân dân cấp huyện và xã cũng thể hiện nhận thức lý luận có sự thay đổi
2.3.2 Hành chính trung ương
Thể chế hành pháp- "Hội đồng Bộ trưởng" được xác định trong Hiến pháp 1980 vàđược cụ thể trong Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ( 4/7/1981) Cùng với hiệu lựccủa Luật này, Luật tổ chức chính phủ trước đó hết hiệu lực
Ngoài những quy định mang tính chất chung, thể chế này có những điều quantrọng cần chú ý:
- Vai trò của Hội đồng Nhà nước đối với thành lập, giải thể, sát nhập các cơquan của Hội đồng Bộ trưởng
- Vai trò của Hội đồng Nhà nước đối với việc thành lập các cơ quan thuộc Hộiđồng Bộ trưởng
- Thể chế "Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng" Pháp luật quy định cơ quanthường trực của Hội đồng bộ trưởng là Thường vụ Hội đồng bộ trưởng.Thường vụ Hội đồng bộ trưởng gồm có Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, các
Trang 35Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, trong đó có một Phó Chủ tịch được phâncông làm Phó Chủ tịch thường trực, và Bộ trưởng Tổng thư ký Hội đồng bộtrưởng Thường vụ Hội đồng bộ trưởng có những nhiệm vụ và quyền hạnsau đây:
1- Bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết, nghị định, quyết định của Hội
đồng bộ trưởng;
2- Căn cứ vào nghị quyết của Hội đồng bộ trưởng, giữa hai kỳ họp của Hội đồng bộ trưởng, quyết định những vấn đề thuộc quyền hạn của Hội đồng bộ trưởng; những quyết định đó phải được báo cáo với Hội đồng bộ trưởng; 3- Chuẩn bị các phiên họp của Hội đồng bộ trưởng [ 13 ].
Thay đổi có tính cơ bản trong giai đoạn 1980-1990 là tổ chức lại bộ máy hànhchính nhà nước trung ương Sự thành lập, sát nhập, mới các cơ quan của chính phủthể hiện một sự tìm kiếm Tuy nhiên, có thể nói một cơ sở khoa học để hình thànhcác bộ Sự tách, nhập các Bộ theo quyết định của HĐNN cũng chỉ mang tính tươngđối
Hoạt động quản lý nhà nước của các cơ quan hành chính trung ương đã được địnhhình lại trên cơ sở phân biệt quản lý nhà nước và quản lý sản xuất, kinh doanh Thểchế hoá vấn đề này cũng đã được quy định
Bộ, Uỷ Ban Nhà nước là những cơ quan quản lý nhà nước của HĐBT Thể chế vềchủ thể này đã được quy định trong Hiến pháp 1980 Nghị định 196 quy định cụthể về thể chế bộ, Uỷ Ban Nhà nước Theo Nghị định, Bộ trưởng là thành viên Hộiđồng Bộ trưởng, là người đứng đầu Bộ, được sử dụng mọi quyền hạn được giaocho Bộ, lãnh đạo và chịu trách nhiệm cá nhân trước Quốc hội, Hội đồng Bộ trưởng
13 Điều 23, 24 Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng (1981).
Trang 36về toàn bộ hoạt động của Bộ Bộ trưởng lãnh đạo Bộ theo chế độ thủ trưởng Tuynhiên, khi quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý nhà nước lạikhông xác định cụ thể rao cho bộ trưởng mà lại của Bộ Cách quy định này của thểchế bộ (thể chế do HĐBT quy định đã làm cho tính chất cơ quan thẩm quyền riêng
và hoạt động theo cơ chế thủ trưởng của thể chế bộ chuyển thanh tính tập thể hơn
là cá nhân Cùng với nghị định chung, mỗi một bộ, Uỷ Ban Nhà nước có thể chế
cụ thể của mình (nghị định)
2.3.3 Một số cải cách các loại thể chế hành chính
Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức [14] làm việc trong các cơ quan nhà nước
đã được quan tâm nhằm thể chế hoá vấn đề này HĐBT ra chỉ thị về việc làm có ýnghĩa rất quan trọng cho việc quản lý người làm việc trong các cơ quan nhà nước[15] Về nguyên tắc, phải thể chế hoá các chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ củaviên chức làm việc trong các cơ quan nhà nước đã được quy định và phân công cụthể Trên thực tế, với cách thức sử dụng, bố trí lao động trong các cơ quan nhànước từ trước đến nay, việc xây dựng tiêu chuẩn nghiệp vụ cho viên chức khôngthể tiến hành Bố trí viên chức theo mô hình chức nghiệp là lý do cơ bản để khóxác định tiêu chuẩn nghiệp vụ và nâng ngạch, bổ nhiệm vào ngạch
Thể chế trọng tài kinh tế đã ra đời từ trước khi có Hiến pháp 1980 Nghị định số75-CP ngày 14 tháng 4 năm 1975 ban hành điều lệ về tổ chức và hoạt động của
Trang 37Trọng tài kinh tế Nhà nước và Nghị định số 24-HĐBT ngày 10 tháng 8 năm 1981sửa đổi, bổ sung một số điểm về tổ chức trọng tài kinh tế Thể chế này tiếp tụcđược kiện toàn như là một bộ phận quan trọng để giải quyết các vấn đề tranh chấptrong hoạt động kinh tế Thể chế này vừa là cơ quan quản lý (giúp cơ quan bộ, UỷBan Nhân dân) thực hiện các vấn đề về hợp đồng kinh tế và trọng tài Nhưng đồngthời là cơ quan xét xử đây cũng chính là điểm bất hợp lý của hệ thống hành pháptrong giai đoạn hoạt động của trọng tài kinh tế.
Trong giai đoạn 1980-1985, thể chế Ban xây dựng huyện của Đảng và chính phủđược thành lập, sau đó thể chế này đã thay đổi Giải tán cơ quan Ban xây dựnghuyện, chuyển các chức năng và nhiệm vụ về văn phòng HĐBT
Trong giai đoạn này, sau khi làm trọn nhiệm vụ, Uỷ Ban Phân vùng Kinh tế trungương (với đầy đủ cơ cấu tổ chức từ trung ương đến tận huyện) giải thể và chuyênchức năng phân vùng cho Uỷ Ban kế hoạch nhà nước Đây cũng là một loại hìnhcải cách cơ cấu tổ chức cần thiết
Về mặt thể chế kinh tế, việc kiên toàn hệ thống kinh doanh thương nghiệp đặt ramột tư duy về còn hay không cơ chế bao cấp, nhà nước độc quyền
Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) đã thông qua Nghịquyết về "Chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang kinh doanh xãhội chủ nghĩa, đổi mới quản lý Nhà nước về kinh tế" Đây là một cơ sở quan trọng
để đổi mới thể chế quản lý nhà nước về kinh tế HĐBT đã ra chỉ thị nhằm xâydựng những thể chế để đổi mới cơ chế quản lý kinh tế Các bộ, ngành có liên quanđược giao xây dựng các thể chế liên quan đến các lĩnh vực:
Trang 38- Quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực kế hoạch hoá.
- Quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở
- Quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực lao động, tiềnlương
- Quyền tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở
- Quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở
- Quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực giá cả
- Quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong lĩnh vực tiêu thụ sản phẩm
Trang 39Trong thời gian dài kinh tế hợp tác xã đóng vai trò quan trọng và góp phần vào sựnghiệp cách mạng Tuy nhiên, cơ chế kinh tế mới đang đặt ra nhiều vấn đề về hợptác xã HĐBT đã thể chế hoá một số nội dung liên quan đến quản lý và phát triểnhợp tác xã trên cơ sở phân biệt giữa quyền tự chủ sản xuất, cung cấp dịch vụ và sảnphẩm của hợp tác xã với hoạt động quản lý nhà nước đối với hợp tác xã Thể chếnày đã tạo điều kiện cho chính xã viên có vai trò trong phát triển hợp tác xã hoặc
lựa chọn mô hình sản xuất hợp lý theo tinh thần Nghị quyết 10/BCT Hợp tác xã
chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh trên cơ sở quy hoạch vùng, các chính sách khuyến khích sản xuất của Nhà nước, các hợp đồng kinh tế ký kết với các đơn vị kinh tế quốc doanh và các tổ chức kinh tế khác, nhu cầu của thị trường
và khả năng sản xuất của mình Kế hoạch sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất do xã viên hoặc đại hội xã viên dân chủ bản bạc quyết định Kế hoạch của hợp tác xã cần thể hiện rõ sự gắn bó, hỗ trợ giữa kinh tế tập thể với kinh tế gia đình, xã viên trên các mặt vật tư, dịch vụ, kỹ thuật, liên kết sản xuất, kinh doanh chế biến và tiêu thụ sản phẩm Hợp tác xã cần chủ động tạo các nguồn cân đối vật chất để thực hiện kế hoạch trên cơ sở hợp đồng mua bán, trao đổi vật
tư, sản phẩm hoặc thông qua liên kết, liên doanh với các đơn vị hoặc cá nhân Nhà nước không giao chỉ tiêu pháp lệnh trực tiếp cho hợp tác xã mà thông qua hệ thống các chính sách đòn bẩy kinh tế và pháp luật để quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ hợp tác xã sản xuất, kinh doanh [ 16 ]
Thương nghiệp quốc doanh là miền tự hào chung của ngành dịch vụ Việt Nam.Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của ngành thương nghiệp quốc doanh trong sựchuyển đổi cơ chế kinh tế đang tạo ra những hạn chế và trong nhiều trường hợpđang gây những cản trở
16
Nghị định số 171-HĐBT ngày 14-11-1988 của Hội đồng Bộ trưởng về chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông, lâm nghiệp
Trang 40Đối với các đơn vị cơ sở của thương nghiệp quốc doanh, kể cả trong kinh doanh ănuống công cộng và dịch vụ, Nhà nước giao một chỉ tiêu pháp lệnh: các khoản nộpngân sách Nhà nước; đối với các đơn vị sản xuất, chế biến trong hệ thống thươngnghiệp quốc doanh thì áp dụng như các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Bộ Tàichính và Bộ Nội thương xác định mức và các khoản mà thương nghiệp quốc doanhphải nộp ngân sách Nhà nước trên nguyên tắc càng kinh doanh giỏi và càng thựchiện tốt kế hoạch Nhà nước thì đơn vị càng có lợi; chuyển chênh lệch giá thànhnguồn bảo toàn vốn cho đơn vị kinh doanh [17].
Kinh doanh thương mại và dịch vụ được nhà nước khuyến khích các thành phầnkinh tế tham gia và phát triển Đây là một trong những thể chế quan trọng đã tạo ra
bộ mặt mới cho hoạt động cung cấp dịch vụ
Các tổ chức kinh tế và công dân Việt Nam được phép kinh doanh thương mại vàdịch vụ ở thị trường trong nước đều có quyền lợi và trách nhiệm dưới đây:
1- Được Nhà nước bảo hộ các hoạt động kinh doanh hợp pháp và tuỳ điều kiện cụ thể, được Nhà nước khuyến khích dưới nhiều hình thức những hoạt động kinh doanh có lợi cho quốc kế dân sinh; đồng thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động kinh doanh của mình.
2- Được vay vốn và mở tài khoản tại Ngân hàng để kinh doanh; đồng thời phải chấp hành nghiêm chỉnh Pháp lệnh kế toán và thống kê, các quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về ghi chép hoá đơn, lập sổ kế toán và nộp thuế đầy đủ, kịp thời cho Nhà nước.
17
Quyết định của HĐBT số 183-HĐBT ngày 20-12-1988về việc giải quyết một số vấn đề nhằm đổi mới hoạt động của thương nghiệp quốc doanh.