LHS Lào, Campuchia đã có nhiều tiến bộ về khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh về khoa học công nghệ, về kiến thức cho sản xuất, kinh doanh nhưng một số LHS về nước vẫn chưa đáp ứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN THỊ MỸ LỘC
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, triển khai nghiên cứu đề tài, với sự cố gắng của bản thân và sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu, khai thác nhiều nguồn tư liệu khác nhau và những kinh nghiệm
về khoa học giáo dục của nhiều tác giả
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Ban giám hiệu, các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Đặc biệt xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc người đã tận tình hướng dẫn tôi phương pháp nghiên cứu khoa học, bổ sung kiến thức giúp tôi hoàn thành luận văn và có thể áp dụng có hiệu quả trong quá trình công tác
Tôi xin chân thành cảm ơn sự tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện của lãnh đạo, cán bộ chủ chốt các phòng ban và toàn thể các thầy cô giáo trường Hữu Nghị 80
Xin cảm ơn và chia sẻ niềm vui này với gia đình, bạn bè cùng các anh chị em lớp cao học QLGD K11-5 trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội
Mặc dù đã rất cố gắng, song không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp
để luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2013
Vũ Thị Ánh
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục các từ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng biểu, sơ đồ vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO LƯU HỌC SINH TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 6
1.2.1 Quản lý 6
1.2.2 Quản lý giáo dục 11
1.2.3 Lý luận về quản lý đào tạo 13
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý đào tạo lưu học sinh Lào, Campuchia tại Việt Nam 20
1.3 1 Lưu học sinh 20
1.3.2 Hợp tác về lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam - Lào và công tác đào tạo LHS Lào tại Việt Nam 21
1.3.3 Hợp tác về lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam - Campuchia và công tác đào tạo LHS Campuchia tại Việt Nam 26
1.3.4 Các qui định về quản lý đào tạo LHS hiện nay 29
1.4 Nội dung quản lý đào tạo LHS trong cơ sở giáo dục 30
1.4.1 Quản lý công tác tuyển chọn đầu vào 31
1.4.2 Quản lý chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo 31
1.4.3 Quản lý đội ngũ 33
1.4.4 Quản lý hoạt động giảng dạy của đội ngũ giáo viên 33
1.4.5 Quản lý hoạt động học tập của lưu học sinh 33
1.4.6 Quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của lưu học sinh 34
1.4.7 Quản lý CSVC, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo 35
1.5 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý đào tạo LHS 35
Trang 61.5.1 Các chính sách của Nhà nước đối với LHS 35
1.5.2 Đặc tính dân tộc của LHS mỗi nước 36
Tiểu kết chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO LƯU HỌC SINH TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ 80 38
2.1 Khái quát về Trường Hữu nghị 80 38
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 38
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy 39
2.1.3 Cơ sở vật chất, trang thiết bị 41
2.2 Thực trạng hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 41
2.2.1 Công tác tuyển chọn và tiếp nhận LHS 41
2.2.2 Công tác tổ chức đào tạo 42
2.2.3 Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của LHS 43
2.2.4 Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường học tập cho LHS 44
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 45
2.3.1 Thực trạng quản lý chương trình, nội dung và kế hoạch đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 45
2.3.2 Thực trạng về quản lý đội ngũ 50
2.3.3 Thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên 53
2.3.4 Thực trạng quản lý hoạt động học tập của LHS 59
2.3.5 Thực trạng quản lý hoạt động KTĐG kết quả học tập của LHS 63
2.3.6 Thực trạng quản lý LHS và tổ chức các hoạt động ngoại khóa 64
2.3.7 Thực trạng quản lý về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động đào tạo 65
2.3.8 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu nghị 80 67
Tiểu kết chương 2 73
Chương 3: ĐỂ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO LƯU HỌC SINH TẠI TRƯỜNG HỮU NGHỊ 80 TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 74
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 74
3.1.1 Đảm bảo tính pháp lý 74
Trang 73.1.2 Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống 75
3.1.3 Đảm bảo tính kế thừa 75
3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 76
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 76
3.2 Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay 76
3.2.1 Quản lý công tác tuyển chọn, đánh giá phân loại chất lượng đầu vào của lưu học sinh 77
3.2.2 Chỉ đạo đổi mới nội dung chương trình đào tạo LHS đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay 79
3.2.3 Chỉ đạo các hoạt động đổi mới phương pháp dạy học 84
3.2.4 Quản lý đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của lưu học sinh 90
3.2.5 Quản lý thông tin phản hồi của các cơ sở giáo dục đại học về năng lực học tập của lưu học sinh 93
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 95
3.4 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi của những biện pháp 96
Tiểu kết chương 3 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1 Kết luận 100
2 Khuyến nghị 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
PHỤ LỤC 105
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy trường Hữu Nghị 80 … ……… … 40
Bảng 2.1 Kết quả đào tạo LHS trong 3 năm gần đây ……… 43
Bảng 2.2 Kết quả khảo sát (CBQL và GV) về mức độ thực hiện các nội dung quản lý mục tiêu, nội dung chương trình và kế hoạch đào tạo ……… ……… … 49
Bảng 2.3 Kết quả khảo sát (CBQL và GV) về mức độ thực hiện các nội dung quản lý công tác quy hoạch, sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ …… ……….… 52
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của CBQL về tầm quan trọng các nội dung quản lý hoạt động dạy học … … 54
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về tầm quan trọng các nội dung quản lý hoạt động dạy học ….… 55
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát (CBQL và GV) về mức độ thực hiện các nội dung quản lý hoạt động dạy học …… ……….… 56
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát thực trạng các nội dung quản lý hoạt động học của LHS qua CBQL và GV ……… ……… … 60
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát thực trạng các nội dung quản lý hoạt động học của LHS qua ý kiến của LHS ………… ……… … 61
Bảng 2.9 Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện các nội dung QL công tác KTĐG KQ học tập của LHS … … 63
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát (CBQL và GV) về mức độ thực hiện các nội dung quản lý CSVC phục vụ hoạt động đào tạo LHS 66
Bảng 3.1 Các tính điểm cho các mức độ cấp thiết và khả thi … …… 96
Bảng 3.2 Tổng hợp kết quả kiểm chứng tính cấp thiết của các biện pháp 97
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp 98
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới toàn diện ở Việt Nam gần ba mươi năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn Đổi mới công tác đối ngoại, mà trước hết là đổi mới về chính sách đối ngoại và hợp tác quốc tế
là bộ phận rất quan trọng trong công cuộc đổi mới toàn diện của nước ta Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng, trong đó có Lào và Campuchia.Tình cảm gắn bó đặc biệt giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào được hai Đảng, hai Nhà nước coi là hình mẫu của sự thủy chung, son sắc hiếm có, là tài sản vô giá mà Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước Việt - Lào anh em đã và đang vun đắp, gìn giữ và không ngừng được củng cố, phát triển, ngày càng đi vào chiều sâu, đạt được những kết quả quan trọng trên mọi lĩnh vực Tình cảm gắn bó đặc biệt này cần phải truyền lại cho muôn đời con cháu mai sau, là bảo đảm quan trọng để nhân dân hai nước Việt Nam và Lào giành được những thành tựu to lớn trong giai đoạn cách mạng mới, vì sự phồn vinh của mỗi dân tộc
Việt Nam và Campuchia chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm
1967 (24/6/1967) Mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia ngày càng bền vững và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp trong thời kỳ mới Ngày nay quan hệ Việt Nam - Campuchia không ngừng được phát triển với phương châm "hợp tác láng giềng tốt đẹp, đoàn kết hữu nghị truyền thống, ổn định lâu dài"
Để duy trì và phát triển mối quan hệ truyền thống với hai nước láng giềng, trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng mở rộng và nâng cao mối quan hệ hợp tác trong lĩnh vực GD&ĐT với hai nước bạn Lào và Campuchia Hàng năm, Chính phủ Việt Nam dành nhiều suất học bổng cho LHS Lào và LHS Campuchia sang học tập nghiên cứu tại Việt Nam ở các lĩnh vực mà Việt Nam có thế mạnh Đã có hàng vạn LHS Lào, LHS Campuchia được học tập tại Việt nam, góp phần đào tạo bồi dưỡng cho hai nước Bạn đội
Trang 10ngũ cán bộ trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ và quản lý Nhiều LHS
về nước công tác, nay đã trưởng thành, giữ trọng trách trong bộ máy của Đảng và Nhà nước (đặc biệt là LHS Lào) Chính các LHS này đã là những nhân tố tích cực góp phần thiết thực gìn giữ và củng cố mối quan hệ tốt đẹp của Việt Nam với hai nước láng giềng
Nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Lào và Campuchia trong giai đoạn hiện nay là nhu cầu bức thiết, là nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lươc Chính phủ Việt Nam,
Bộ GD&ĐT đã có những quan tâm, đầu tư cho công tác đào tạo LHS và đã đạt được những kết quả to lớn, nhưng trong lĩnh vực này còn không ít những hạn chế Hội nghị tổng kết về công tác đào tạo LHS Lào, LHS Campuchia, Bộ GD&ĐT đã đánh giá: “Chất lượng và hiệu quả đào tạo LHS chưa thực sự đạt được mong muốn của các nước Kết quả học tập của LHS nhìn chung chưa đáp ứng trước đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng ở bậc Đại học đang hướng tới mục tiêu hòa nhập về trình độ và xu thế với nền đại học thế giới, mà trước hết là khu vực Đông Nam Á LHS Lào, Campuchia đã có nhiều tiến bộ về khả năng thích ứng với những thay đổi nhanh về khoa học công nghệ, về kiến thức cho sản xuất, kinh doanh nhưng một số LHS về nước vẫn chưa đáp ứng kịp với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình, cũng như trong tiến trình hội nhập với khu vực và thế giới.” [13]
Hầu hết các cơ sở giáo dục đại học đều đánh giá: Một số LHS vào đại học năm thứ nhất bậc Đại học, sức học còn yếu, phải thi lại nhiều do hạn chế tiếng Việt, thiếu từ ngữ chuyên ngành, gặp nhiều khó khăn trong kiến thức dẫn đến kết quả học tập chưa cao Từ năm học thứ hai trở đi, LHS đã nắm được phương pháp học tập, nâng cao các kỹ năng ngôn ngữ tiếng Việt nên kết quả học tập có tiến bộ hơn nhưng tỷ lệ khá, giỏi không nhiều.[13]
Từ thực tiễn trên, đòi hỏi các cơ sở đào tạo LHS đều phải có các biện pháp quản lý để khắc phục hạn chế, nâng cao chất lượng đào tạo LHS
Trang 11Trường Hữu nghị 80 được giao nhiệm vụ đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS Lào và LHS Campuchia, sau đó chuyển các LHS về các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam Chất lượng đào tạo khóa học tiếng Việt và DBĐH chính là nền tảng, là phương tiện giúp LHS học tập tốt ở bậc đại học
Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay” để
nghiên cứu trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động đào tạo LHS trong các cơ sở giáo dục, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 trong những năm qua, luận văn đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
3 Phạm vi nghiên cứu
Trường Hữu Nghị 80 có các đối tượng học tập là LHS Lào, LHS Campuchia và học sinh Dân tộc nội trú Trong phạm vi đề tài, tập trung nghiên cứu việc quản lý hoạt động đào tạo LHS Lào và LHS Campuchia (gọi chung là LHS)
Các số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được lấy từ năm 2010 đến nay
Đối tượng khảo sát, điều tra là 10 cán bộ quản lý, 20 giáo viên và 50
LHS đang học tập tại trường trường
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định cơ sở lý luận về quản lí hoạt động đào tạo LHS
4.2 Khảo sát thực trạng quản lí hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80
4.3 Đề xuất biện pháp quản lí hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị
80 trong giai đoạn hiện nay
Trang 125 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
5.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80
5.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80
6 Giả thuyết khoa học
Quản lý đào tạo LHS Lào, LHS Campuchia có những đặc thù, nghiên cứu xác định những đặc thù đó để có biện pháp quản lý phù hợp với đối tượng
là điều kiện tiên quyết cho thành công đào tạo LHS tại trường Hữu Nghị 80
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá, khái quát hoá trong quá trình nghiên cứu các tài liệu để xác định những vấn đề lí luận cho vấn đề nghiên cứu
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Phương pháp quan sát các hoạt động của nhà trường liên quan đến vấn
đề nghiên cứu
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: xin ý kiến chuyên gia theo chuyên đề
7.3 Các phương pháp xử lý thông tin, dữ liệu
Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Phương pháp sử dụng toán thống kê, sơ đồ hoá…
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương
Trang 13Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh trong
cơ sở giáo dục
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh
tại trường Hữu Nghị 80
Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại
trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
ĐÀO TẠO LƯU HỌC SINH TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Quản lý HĐĐT là mảng đề tài nghiên cứu được nhiều học viên cao học
và nghiên cứu sinh quan tâm Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước những đòi hỏi bức thiết của xã hội về nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu
xã hội, các nhà QLGD càng phải quan tâm, nghiên cứu để đưa ra những biện pháp phù hợp để quản lý HĐĐT tại cơ sở giáo dục của mình Đào tạo Tiếng Việt và DBĐH cho LHS là một nhiệm vụ đặc thù, không phải phổ biến ở các nhà trường nên đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý HĐĐT Tiếng Việt và DBĐH cho LHS Hiện nay nhiều trường đại học và học viện
có đào tạo bậc đại học và sau đại học cho LHS nhưng tỷ lệ LHS so với SV Việt Nam là rất nhỏ vì vậy các tác giả tập trung nghiên cứu về quản lý HĐĐT nói chung, ít tác giả nghiên cứu về HĐĐT LHS
Đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS Lào, Campuchia là một nhiệm vụ đặc thù Đây là một vấn đề hoàn toàn mới, cần có những nghiên cứu để tìm ra
các biện pháp quản lý đào tạo có hiệu quả Đề tài mà tôi nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay” với mong muốn đóng góp một số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS tại trường Hữu Nghị 80 và một số cơ sở đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS; tạo nền tảng tốt về ngôn ngữ và kiến thức phổ thông cho LHS học tập và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục đại học
1.2 Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài
1.2.1 Quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù
tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội,
Trang 15mọi quốc gia và ở mọi thời đại Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và cải tạo thiên nhiên Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với chính bản thân mình Trong quá trình ấy, đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý Như vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2, tr.9]
Các nhà lý luận trên thế giới như: Frederich Winslow Taylor (1856
-1915, đã định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất ” [19]
Các quan điểm khác:
- Quản lý là quá trình tác động có định hướng có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối trượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định
- Quản lý là một nghệ thuật đạt được những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác
Từ các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, có thểhiểu:
Quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt được mục đích với ý chí của các nhà quản lý phù hợp với qui luật khách quan
Trang 161.2.1.2 Các chức năng quản lý
Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình Vậy người quản lý phải làm gì, hay ta đang nói đến các chức năng của quản lý
- Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa:
+ Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức
+ Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu đó
+ Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó
- Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần
chuyển hóa những ý tưởng ấy thành hiện thực Xét về mặt chức năng quản lý,
tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng Sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức
- Chức năng lãnh đạo - chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ
máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác
và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 17- Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó
một cá nhân, một nhóm hoặc tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn Diễn ra có tính chu
kỳ như sau:
+ Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động
+ Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực
đề ra
+ Người quản lý điều chỉnh những sai lệch
+ Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần
1.2.1.3 Biện pháp quản lý
Biện pháp quản lý được xem là yếu tố linh hoạt, thường được thay đổi theo đối tượng quản lý Các nhà quản lý chỉ thực hiện tốt các chức năng của mình khi nhận thức đúng và sử dụng tốt các biện pháp quản lý Đối tượng quản
lý là những con người, là một thực thể có cá tính, có thói quen, tình cảm, nhân cách gắn với các hoàn cảnh lịch sử cụ thể Ngoài ra, con người còn là một chủ thể quản lý phải biết lôi cuốn, thúc đẩy mọi người trong tổ chức tham gia công việc chung, đem hết sức lực, tài năng làm việc cho tổ chức Chỉ có như vậy mới thực hiện được mục tiêu chung, làm cho tổ chức ngày càng vững mạnh
Thực tế cho thấy, phần lớn kết quả của một quá trình quản lý lại tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và sử dụng các biện pháp quản lý, điều đó giúp cho chủ thể quản lý có thể tạo được động cơ, động lực thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện tốt các nhiệm vụ Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm biện pháp quản
lý là những định hướng quan điểm cho công tác quản lý ở một lĩnh vực nào
đó, nó cũng là cách thức, con đường, cách làm cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao nhất của quá trình quản lý nhằm tiết kiệm thời gian và vật lực của các thành phần tham gia quản lý
Trang 181.2.1.4 Phương pháp quản lý
Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có
và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý
để đạt được mục tiêu đề ra
Phương pháp quản lý có đặc trưng cơ bản là luôn luôn tác động lên con người Ở mỗi đối tượng quản lý, trong tình huống khác nhau đều có thể xác định rõ ràng các mối quan hệ giữa từng cá nhân và tập thể với một môi trường xác định Các mối quan hệ này vô cùng phong phú, phức tạp và luôn biến động, chịu ảnh hưởng thường xuyên trực tiếp của môi trường xung quanh
Do vậy, nguyên tắc quản lý càng ổn định tương đối, không được phép luôn luôn thay đổi và rất cần thiết phải cân nhắc lựa chọn Với một mục tiêu của hệ thống trong từng điều kiện hoàn cảnh, không gian và thời gian, bao giờ cũng xuất hiện một hệ thống đồng bộ các giải pháp hợp lý đem lại hiệu quả cao nhất Vì vậy, trong quản lý phải hình thành và lựa chọn được một cơ chế quản lý thích hợp để đạt hiệu quả cao Nghệ thuật quản lý chính là cái biết làm như thế nào để đạt kết quả tốt nhất với một hệ thống trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định Trong cơ chế thị trường, thiếu tính năng động, sáng tạo
và linh hoạt, khó có thể đạt hiệu quả cao trong quản lý hiện đại
Quản lý vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Thực chất nghệ thuật quản
lý được hợp thành từ ba yếu tố: Kiến thức khoa học, kinh nghiệm quản lý và tài năng hành động sáng tạo Trong đó kiến thức khoa học là cơ bản, kinh nghiệm vô cùng quý giá và tài năng hành động sáng tạo là yếu tố quyết định
đến thắng lợi cuối cùng
1.2.2 Quản lý giáo dục
1.2.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm
Trang 19lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ
sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển
Khái niệm QLGD đã được các nhà lý luận và quản lý thực tiễn đưa ra dưới các góc độ khác nhau
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ phát triển theo yêu cầu phát triển xã hội” [8]
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “QLGD là quá trình tác động có
kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan QLGD các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - Giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục Nhà nước đề ra” [20, tr.16]
Như vậy, quan niệm về QLGD có những cách diễn đạt khác nhau, song đều đề cập đến những yếu tố cơ bản: Chủ thể QLGD, khách thể QLGD, mục tiêu QLGD, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp quản lý giáo dục) và công cụ (hệ thống văn bản qui phạm pháp luật) QLGD
1.2.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội thực hiện các chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội nói trên đạt được các mục tiêu mà xã hội đó đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội
Chúng ta cũng có thể hiểu nhà trường theo một khái niệm cụ thể hơn: Nhà trường là thiết chế chuyên biệt của xã hội, nơi tổ chức thực hiện và quản
lý quá trình giáo dục Quá trình này được thực hiện bởi hai chủ thể: người được giáo dục (người học) và người giáo dục (người dạy) Trong quá trình giáo dục, hoạt động của người học (hoạt động học theo nghĩa rộng) và hoạt
Trang 20động của người dạy (hoạt động dạy theo nghĩa rộng) luôn luôn gắn bó, tương tác, hỗ trợ nhau, tựa vào nhau để thực hiện mục tiêu giáo dục theo yêu cầu của xã hội
Có nhiều khái niệm về quản lý nhà trường:
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [19]
Theo tác giả Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐT trong nhà trường” [26, tr.205]
Qua các khái niệm trên cho thấy mục tiêu của quản lý nhà trường là vận hành quá trình giáo dục trong nhà trường theo quan điểm đường lối giáo dục của Đảng để đáp ứng tốt nhất nhu cầu học tập của nhân dân, phát triển nhân cách toàn diện cho người học và thực hiện sứ mệnh của nhà trường đó
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế hoạch của bộ máy QLGD lên tất cả các mặt hoạt động của nhà trường nhằm đẩy mạnh hoạt động của nhà trường theo nguyên lý giáo dục và tiến tới mục tiêu giáo dục, mà trọng tâm là đưa hoạt động dạy và học đạt được mục đích giáo dục và mục tiêu dạy học của nhà trường
QLGD trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với quản lý nhà trường Việc quản lý trường học mà trọng tâm là quản lý quá trình giáo dục - đào tạo là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để thực hiện hướng tới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường về bản chất là quản lý con người Điều đó tạo cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ
Trang 21không những chỉ bởi cơ chế hoạt động của những tính quy luật khách quan của một tổ chức xã hội - nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động của chính bản thân GV và HS Trong nhà trường, GV và HS vừa là đối tượng, vừa
là chủ thể quản lý Với tư cách là chủ thể quản lý, họ là người tham gia chủ động, tích cực vào hoạt động quản lý chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lý Trong thực tế, GV và HS gắn với rất nhiều quan hệ xã hội trong cộng đồng Điều này đặt ra yêu cầu quản lý nhà trường phải gắn với quản lý xã hội
và nhiệm vụ quan trọng của nó là phải thiết lập một quan hệ tối ưu giữa những lợi ích, tình trạng và sự phát triển của cá nhân, của cộng đồng và của
xã hội Từ góc độ này, có thể hiểu quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm
vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội
Như vậy, quản lý trường học là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có tính hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối giáo dục - đào tạo của Đảng, biến đường lối đó trở thành hiện thực Quản lý trường học chính là QLGD nhưng trong một phạm vi xác định của một đơn vị giáo dục mà nền tảng là nhà trường Như vậy, quản lý trường học phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của QLGD để đẩy mạnh hoạt động của nhà trường thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo Quản lý trường học phải là quản lý toàn diện nhằm phát triển, hoàn thiện nhân cách
cũng như nhân cách nghề nghiệp của HS
1.2.3 Lý luận về quản lý đào tạo
1.2.3.1 Khái niệm đào tạo
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi
Trang 22với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển văn minh của loài người Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách” [23, tr.298]
Theo từ điển Giáo dục học thì: “Đào tạo là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết và chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập
và góp phần xây dựng, bảo vệ đất nướ ” [24]
Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: Đào tạo là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền
đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng xuất và hiệu quả
Khái niệm đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiêp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học chủ động lĩnh hội và nắm vững tri thức, kỹ năng một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định Khái niệm đào tạo thường có nghĩa hẹp hơn khái niệm giáo dục Thường đào tạo đề cập đến giai đoạn sau, khi một người đã đạt đến một độ tuổi nhất định, có một trình độ nhất định Có nhiều dạng đào tạo: đào tạo cơ bản và đào tạo chuyên sâu, đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề, đào tạo lại
Nói cách khác, đào tạo là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức cho đối tượng với những qui định cụ thể về mục tiêu, chương trình, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, CSVC&TBDH và đánh giá kết quả đào tạo một cách có hệ thống cho mỗi khóa học Đào tạo là đưa trình độ hiện có lên một trình độ có chất lượng mới theo những tiêu chuẩn nhất định thông qua quá trình giáo dục, huấn luyện có
hệ thống và được cấp bằng hoặc chứng chỉ Đào tạo cần một lượng thời gian,
Trang 23kinh phí nhất định, có kế hoạch, chương trình, nội dung đào tạo và được thực hiện bởi những cơ sở có chức năng đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân Khái niệm chung như đã trình bày ở trên, tuy nhiên mỗi loại hình đào tạo, đối tượng đào tạo đều có những đặc điểm riêng Đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS tại các trường Hữu Nghị mang tính chuẩn bị cho một quá trình đào tạo tiếp theo ở bậc đại học
1.2.3.2.Khái niệm Chương trình đào tạo
Theo từ điển Giáo dục học, khái niệm chương trình đào tạo được hiểu
là: “Văn bản chính thức qui định mục đích, mục tiêu, yêu cầu, nội dung kiến thức và kỹ năng, cấu trúc tổng thể các bộ môn, kế hoạch lên lớp và thực tập theo từng năm học, tỷ lệ giữa các bộ môn, giữa lý thuyết và thực hành, qui định phương thức, phương pháp, phương tiện, cơ sở vật chất, chứng chỉ và văn bản tốt nghiệp của cơ sở giáo dục và đào tạo” [24]
Tùy thuộc vào loại chương trình mà xác định chương trình đào tạo cho các môn học, phần học hoặc mô-đun với quĩ thời gian và qui trình xác định toàn khóa Cần lập kế hoạch dạy học trong đó xác định rõ các môn học, phần học hoặc các hoạt động trong khuôn khổ chương trình, trình tự các môn học
và phân phối thời gian chi tiết cho từng giai đoạn (học kỳ, năm học, lớp )
Trong chương trình đào tạo, xác định mục tiêu đào tạo là vấn đề quan trọng hàng đầu Đây là kỳ vọng sau khóa học, đó là một nhóm các phẩm chất, kiến thức, kỹ năng và thái độ (phẩm chất và năng lực) được mong đợi ở người tốt nghiệp Sự trùng khớp giữa mục tiêu đào tạo và kết quả đào tạo nói lên chất lượng Mục tiêu đào tạo phải đáp ứng nhu cầu xã hội
Mục tiêu đào tạo qui định nội dung và phương pháp đào tạo đồng thời
là căn cứ để kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học Phải xác định đúng mục tiêu thì mới đưa ra được nội dung đào tạo, kiểm tra đánh giá và phương pháp đào tạo
Trang 241.2.3.3 Quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo là nội dung quan trọng nhất trong các nội dung QLGD ở cấp nhà trường Quản lý đào tạo là một quá trình tổ chức điều khiển, KTĐG các HĐĐT theo kế hoạch, qui trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo
Quản lý đào tạo là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu tố tạo thành Các yếu tố này được gọi là các yếu tố của quá trình đào tạo, mỗi yếu tố
có tính chất, đặc điểm riêng, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng tác động đến nhau và tác động đến hiệu quả quá trình đào tạo Các yếu tố đó bao gồm:
- Chương trình đào tạo (Mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, hình thức tổ chức đào tạo)
- Lực lượng đào tạo (đại diện là người thầy)
- Đối tượng đào tạo (đại diện là trò)
- Qui chế đào tạo
- Bộ máy tổ chức đào tạo
- Môi trường đào tạo (CSVC, cảnh quan môi trường sư phạm)
Trong quá trình đào tạo, các yếu tố trên tương tác lẫn nhau làm nảy sinh những tình huống có vấn đề đòi hỏi được giải quyết kịp thời Vì vậy quản lý đào tạo chính là quá trình xử lý tình huống có vấn đề trong quá trình đào tạo
để phát triển nhà trường
HĐĐT là những hoạt động trong quá trình đào tạo nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người học từ mức độ thấp lên mức độ cao theo mục tiêu đề ra
Quản lý HĐĐT là nhiệm vụ trọng tâm, nằm trong công tác QLGD nói chung và quản lý đào tạo nói riêng Chủ thể quản lý có thể thực hiện quản lý trực tiếp hay gián tiếp các HĐĐT, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục Vì vậy, quản lý đào tạo trong nhà trường chính là nội dung, cách thức mà chủ thể quản lý cụ thể hóa và sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý đào tạo trong
Trang 25việc thực hiện các chức năng, mục tiêu và nguyên lý giáo dục Trong quá trình đào tạo, các yếu tố mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học, chúng luôn vận động và kết hợp chặt chẽ với nhau thông qua hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Hai hoạt động này được xem là trung tâm của quá trình đào tạo và có tính chất khác nhau nhưng thống nhất với nhau trong mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa hoạt động dạy và hoạt động học, chúng cùng lúc diễn ra trong điều kiện CSVC, kỹ thuật nhất định
1.2.3.4 Mục tiêu của quản lý đào tạo
Mục tiêu quản lý là trạng thái được xác định trong tương lai của đối tượng quả lý hay một số yếu tố cấu thành của nó Nói một cách khác, mục tiêu quản lý là những kết quả mà chủ thể quản lý dự kiến sẽ đạt được do quá trình vận động của đối tượng quản lý dưới sự điều khiển của chủ thể quản lý
Đối tượng của quản lý quá trình đào tạo là hoạt động của thầy, hoạt động học của trò quá trình đào tạo là một hệ thống bao gồm nhiều yếu tố vận động trong mối quan hệ mật thiết với nhau Mục tiêu của quản lý đào tạo
là làm thế nào để đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ các kế hoạch đào tạo và các nội dung giảng dạy đúng tiến độ qui định với chất lượng cao
1.2.3.5 Nguyên tắc quản lý đào tạo
Quản lý đào tạo phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc giáo dục nói chung
và áp dụng các nguyên tắc đó vào quản lý đào tạo ở phạm vi nhà trường
- Thống nhất quản lý về chính trị:
Nguyên tắc này này đòi hỏi mọi chủ trương, chính sách giáo dục cũng như những qui định đề ra phải phục vụ đường lối và nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn Nội dung, phương pháp và việc tổ chức quản lý đào tạo phải đảm bảo các nguyên lý giáo dục và đường lối chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước, nhà trường không dứng ngoài chính trị mà phục vụ chính trị
- Tập trung dân chủ:
Trang 26Trong phạm vi nhà trường, nguyên tắc này đòi hỏi một mặt phải tăng cường quản lý tập trung (giải quyết những vấn đề trọng yếu), thống nhất của người lãnh đạo quản lý, mặt khác phải phát huy, mở rộng tối đa quyền chủ động của các đơn vị, các nhân, đảm bảo sự phù hợp của các qui định chung với các điều kiện cụ thể ở trong nhà trường
- Kết hợp nhà nước và xã hội:
Thực hiện nguyên tắc này có vai trò quan trọng trong quản lý đào tạo,
nó đòi hỏi phải kết hợp với việc QLGD mang tính xã hội quần chúng nhân dân, các tổ chức đoàn thể, xã hội cần phải được lôi cuốn tham gia tíc cực vào
sự nghiệp QLGD nói chung và quản lý đào tạo nói riêng dựa trên cơ chế giáo dục phù hợp
- Đảm bảo tính khoa học:
QLGD và quản lý đào tạo càn phải được xây dựng trên những cơ sở lhoa học, đặc biệt là lý luận khoa học quản lý, vận dụng những thành tựu của nhiều khoa học khác nhau như tâm lý học, giáo dục học, điều khiển học, tổ chức lao động khoa học,
- Tính kế hoạch:
Bất cứ hoạt động nào cũng đều cần đến kế hoạch Hoạt động quản lý đào tạo luôn đì hỏi phải đảm bảo tính kế hoạch bởi vì kế hoạch là cơ sở của quản lý đào tạo Nguyên tắc này đòi hỏi quản lý đào tạo phải có các kế hoạch chính xác, phù hợp với trình độ yêu cầu quản lý thực tế, đồng thời cũng phải
dự kiến việc kiểm tra giám sát thực hiện các kế hoạch đó
Trang 27- Tính cụ thể, thiết thực và hiệu quả:
Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình quản lý đào tạo, người quản lý phải nắm thông tin chính xác, cụ thể, nhanh chóng để đề ra các piện pháp, xử
lý giải quyêt đắn phù hợp, cụ thể, thiết thực và kịp thời
- Trách nhiệm và phân công trách nhiệm quyền hạn cán bộ:
Trách nhiệm thể hiện ở sự thống nhất giữa hai mặt: Tự giác tích cực và thực hiện theo các qui định bắt buộc Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi người phải trả lời được các câu hỏi:
+ Công việc mình phải làm là gì?
+ Giới hạn hành động phải làm là gì?
+ Giải quyết mỗi công việc thuộc quyền của ai? cần phối hợp với ai? Phân công trách nhiệm là tổ chức ủy quyền, cho phép tự chủ trong hành động và quyết định Tuy nhiên phân công trách nhiệm không làm giảm bớt trách nhiệm thủ trưởng Việc duy trì quyền lực và tính thống nhất của lãnh đạo, quản lý quả trình đào tạo đòi hỏi phải tổ chức sự phối hợp chặt chẽ trong phân cấp
Tổ chức lực lượng thực hiện các hoạt động đào tạo là quá trình thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận Từ đó chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối lực lượng đào tạo Trong quá trình tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu về tính tối
ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế
1.2.3.6 Phương pháp quản lý đào tạo
- Phương pháp hành chính tổ chức:
Phương pháp tổ chức hành chính là phương pháp có tính pháp lệnh, bắt buộc và có tính kế hoạch rõ ràng, là sự tác động trực tiếp của hệ thống quản lý đến đối tượng quản lý bằng mệnh lệnh, chỉ thị, quyết định quản lý
Trang 28- Phương pháp tâm lý xã hội:
Phương pháp tâm lý xã hội là phương pháp, cách thức tạo ra những tác động vào đối tượng quản lý bằng các biện pháp logic và tâm lý xã hội nhằm biến những yêu cầu do người lãnh đạo quản lý đề ra thành nhu cầu tự giác bên trong, thành nhu cầu của người thực hiện
- Phương pháp kinh tế:
Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp lên đối tượng quản
lý bằng cơ chế kích thích tạo ra sự quan tâm nhất định tới lợi ích vật chất để con người tự mình điều chỉnh hành động nhằm hoàn thành nhiệm vụ hoặc tạo
ra những điều kiện để lợi ích cá nhân, tập thể phù hợp với lợi ích chung
1.3 Cơ sở pháp lý của quản lý đào tạo lưu học sinh Lào, Campuchia tại Việt Nam
LHS đang học tập tại Việt Nam gồm 2 nhóm:
LHS học bổng Hiệp định: Là LHS được tiếp nhận theo các Hiệp định, thỏa thuận giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nước, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, được Chính phủ Việt Nam cấp học bổng
LHS tự túc: Là LHS được tiếp nhận theo thỏa thuận, hợp đồng đào tạo giữa cơ sở giáo dục Việt Nam với các tổ chức, cá nhân người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và kinh phí học tập, đào tạo do các tổ chức và cá nhân đó tự chi trả
Trang 291.3.2 Hợp tác về lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam - Lào và công tác đào tạo LHS Lào tại Việt Nam
Lịch sử đã chứng kiến sự gắn bó chặt chẽ giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào trong cuộc đấu tranh chung vì độc lập, tự do, sự phồn vinh của mỗi nước Tình đoàn kết Việt - Lào từ lâu thực sự đã trở thành một trong những vốn quí nhất trong quan hệ ngoại giao của hai nước Từ trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, Việt Nam đã đưa các chuyên gia giáo dục sang giúp nước bạn Lào, đồng thời đón các LHS Lào sang Việt Nam để đào tạo Suốt 15 năm kháng chiến các chuyên gia giáo dục Việt Nam đã giúp Bạn ở các khâu cơ bản của sự nghiệp giáo dục Trong chiến tranh ác liệt, chỉ qua một thời gian ngắn, các chuyên gia Việt Nam đã giúp sự nghiệp giáo dục cách mạng Lào được xây dựng từ không đến có, duy trì và phát triển khá toàn diện, ghi vào lịch sử giáo dục Lào “những thành tựu vô giá” như lời phát biểu của cố Tổng
Bí thư Kayxỏn Phoomvi Hản Giai đoạn giúp Bạn này của ngành giáo dục Việt Nam đã được phía Lào đánh giá tại buổi tổng kết tiễn đưa chuyên gia giáo dục Việt Nam về nước: “Các đồng chí không chỉ góp phần vào cuộc đấu tranh cách mạng Lào chúng tôi, các đồng chí còn đóng góp công lao vào việc xây dựng nền giáo dục vùng giải phóng trong hoàn cảnh vô cùng gay go, khó khăn… công lao mà các đồng chí đã đóng góp là rất cao quí và khẳng định tình đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc Lào - Việt càng thêm chặt chẽ”[12]
Sự nghiệp đào tạo LHS Lào tại Việt Nam khởi đầu từ năm 1958 Giai đoạn từ năm 1958 đến 1964 theo yêu cầu của cách mạng Lào lúc đó các LHS Lào chủ yếu theo học hệ bổ túc văn hóa tại trường Bổ túc văn hóa miền núi Trung ương (trường T78 Thái Nguyên) Trong giai đoạn này Việt Nam đã đào tạo 3.140 LHS Lào Số LHS này một số về công tác ở các ngành trong vùng giải phóng cuả Lào, một số gửi đi học ở các trường trung cấp sư phạm để về làm GV cấp II Thời kỳ này vấn đề lập kế hoạch gửi LHS Lào sang Việt Nam chưa được đặt ra nhưng Việt Nam đã đáp ứng mọi yêu cầu của Lào về số
Trang 30lượng Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đã được xây dựng hoàn toàn căn cứ vào trình độ nhập học của mỗi nhóm LHS
Giai đoạn 1965 - 1975, trong lúc phải đương đầu với cuộc chiến tranh
ác liệt chống đế quốc Mỹ, Việt Nam vẫn quan tâm đến giúp cách mạng Lào,
mở thêm 4 trường phổ thông miền núi để đào tạo 4.000 học sinh phổ thông cấp I, II chuyển từ Lào sang Đó là các trường T1 (Vĩnh Phú), T2 (Hà Bắc), T3 và T4 (Thanh Hóa) Thời kỳ này số LHS Lào sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học ở Việt Nam đã được phía Lào gửi đi học ở Liên Xô (cũ), Trung Quốc và các nước Đông Âu, một số vào học ở các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam như Đại học Sư phạm I, Đại học Bách khoa Hà Nội, Cao đẳng nhạc họa Trung ương…
Giai đoạn 1975 - 1992, sau khi đất nước Lào được thành lập (02/12/1975), yêu cầu đào tạo cán bộ cho các ngành đặt ra hết sức cấp bách Lào chủ trương rút bớt học sinh cấp I, II về nước Vì vậy Bộ Giáo dục đã giải thể các trường T2, T3, T4, trường T1 tiếp tục đào tạo học sinh cấp III Việt Nam đã mở thêm hai trường (trường Hữu Nghị 80 và trường Bổ túc văn hóa Hữu Nghị) để tiếp nhận một số thanh niên Lào sang học cấp III Từ năm 1986 đến nay, hai trường này chuyển sang dạy tiếng Việt và Dự bị đại học cho LHS Lào Từ năm 1986 Việt Nam và Lào thống nhất không gửi LHS Lào sang Việt Nam học bậc phổ thông, hạn chế và tiến tới không gửi đào tạo bậc trung học chuyên nghiệp; tập trung đào tạo đại học và sau đại học cho LHS Lào Giai đoạn này Việt Nam đã đào tạo được 12.500 LHS Lào
Từ năm 1992, hai Nhà nước Việt Nam và Lào đã ký Hiệp định về đào tạo cán bộ Lào tại Việt Nam Hiệp định này đã được sửa đổi bổ sung hàng năm cho phù hợp với tình hình mới Văn bản Hiệp định là cơ sở quan trọng để quyết định chỉ tiêu đào tạo LHS tại Việt Nam cũng như các hoạt động hợp tác khác trong lĩnh vực GD&ĐT Hiệp định ký gần đây nhất là “Hiệp định về Hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Giáo dục và Khoa học kỹ thuật giữa Chính phủ
Trang 31nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào giai đoạn 2011 - 2015” ký tại Hà Nội ngày 09 tháng 4 năm 2011 Trong Hiệp định đã nêu: “Bộ Giáo dục và Đào tạo hai nước tiếp tục thực hiện nghiêm túc các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo khâu thi tuyển đầu vào, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, quản lý sinh viên Lào thực hiện nghiêm qui chế học tập”
Nghị định thư về hợp tác đào tạo cán bộ giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ký tại Viêng Chăn ngày 09 tháng 02 năm 2012 nêu: “Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam và Bộ Giáo dục và Thể thao Lào tiếp tục nghiên cứu và có các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, chú ý đảm bảo khâu thi tuyển đầu vào, tăng cường đôn đốc, kiểm tra, quản lý LHS Lào tại Việt Nam, tăng cường giám sát và hàng năm đánh giá công tác quản lý, sử dụng nguồn nhân lực sau đào tạo”[10]
Trước yêu cầu phát triển của sự hợp tác giữa hai nước, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực cho Lào là nhiệm vụ chính trị quan trọng có ý nghĩa chiến lược của Đảng và Nhà nước ta Đề án “Nâng cao chất lượng và hiệu quả hợp tác Việt - Lào trong giáo dục và phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011- 2020” được coi là một giải pháp quan trọng nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của sự hợp tác trong lĩnh vực GD&ĐT, góp phần thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước trong việc tiếp tục vun đắp truyền thống quan hệ hữu nghị đoàn kết đặc biệt và thủy chung trong sáng giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào trong giai đoạn mới Nội dung đề án đã nêu: "Tập trung chủ yếu cho đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, với số lượng hàng năm tăng bình quân khoảng 10% được ghi trong Hiệp định hợp tác hàng năm giữa hai Chính phủ Học bổng bao gồm đào tạo đại học, sau đại học, đào tạo lại bằng hình thức các lớp bồi dưỡng ngắn hạn cho các cán bộ đã từng học đại học tại Việt Nam và bồi
Trang 32dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ lãnh đạo từ cấp cơ sở trở lên Trong đó tập trung ưu tiên đào tạo sau đại học và bồi dưỡng ngắn hạn cho cán
bộ chính trị, cán bộ quân đội, cán bộ công an và cán bộ lãnh đạo của Lào, ưu tiên đào tạo đại học cho lực lượng vũ trang và một số ngành nghề Bạn đang cần như: Mỏ địa chất, nông lâm nghiệp, sư phạm, ngoại giao, ngoại thương và một số lĩnh vực kinh tế khác
Bồi dưỡng nâng cao chât lượng đội ngũ GV, kể cả đội ngũ GV dạy tiếng Việt cho người Lào tại Việt Nam và Lào
Nâng cao chất lượng học tập và sinh hoạt của các LHS Lào tại các cơ
sở giáo dục Việt Nam (cấp kinh phí xây dựng cơ sở vật chất nơi ăn, ở và học tập, mua sắm trang thiết bị giảng dạy, học tập) Trong đó tập trung nâng cao chất lượng đầu vào, trình độ Tiếng Việt và bồi dưỡng kiến thức một số môn học cần thiết trong chương trình dự bị đại học đối với các LHS Lào sẽ theo học ở các ngành kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật” [7]
Trên cơ sở kết quả các hoạt động hợp tác toàn diện trong mọi lĩnh vực giữa hai nước và tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, Chính phủ Lào đã nhận định Việt Nam vẫn là địa chỉ đào tạo tin cậy và tiếp tục đề nghị Chính phủ Việt Nam giúp đỡ Hai Chính phủ đã có chủ trương hợp tác giáo dục bằng nhiều kênh, nhiều hình thức, coi trọng hợp tác đào tạo giữa các địa phương, các cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp nhằm xây dựng nền tảng mới cho sự phát triển nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu hợp tác và phát triển kinh tế mỗi nước Vì vậy số lượng LHS Lào được gửi sang đào tạo tại Việt Nam ngày càng nhiều và đa dạng và phong phú về hình thức cũng như qui mô đào tạo; bao gồm các đối tượng diện học bổng Hiệp định, diện kết nghĩa giữa các địa phương, diện kết nghĩa giữa các cơ sở đào tạo, theo các dự án hợp tác, các tổ chức quốc tế tài trợ và diện tự túc kinh phí
Hiện nay, số LHS Lào đang học tập tại Việt nam là 7.800 người Năm học 2013-2014 theo Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ, Việt Nam tiếp
Trang 33nhận mới 750 LHS Lào, trong đó Bộ GD&ĐT tiếp nhận 350 LHS Năm đầu tiên các LHS Lào sẽ được phân về trường Hữu Nghị 80 và trường Hữu Nghị T78 để học tiếng Việt dự bị
Trong 20 năm qua (1992-2013), Việt Nam đã đào tạo được 12.000 LHS Lào (diện Hiệp định giữa hai Chính phủ, chưa kể đến diện hơp tác giữa các địa phương) Đánh giá của Bộ GD&ĐT về công tác đào tạo LHS Lào trong giai đoạn hiện nay như sau:
+ Những thành công:
Nhìn tổng quát, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ và nguồn nhân lực cho Lào ngày càng được tăng cường về số lượng, cải thiện về vật chất lượng, các phương thức và loại hình đào tạo đa dạng, phong phú đáp ứng yêu cầu đổi mới của sự nghiệp cách mạng Lào
Sự hợp tác giúp đỡ trong lĩnh vực GD&ĐT đã đem lại tác dụng lâu dài, các LHS Lào sau khi trở về nước hầu hết đã phát huy được năng lực của mình, góp phần tích cực cho sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế và hội nhập của Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào Nhiều LHS đã trở thành cán bộ lãnh đạo giữ các cương vị quan trọng trong các cơ quan, các bộ ngành ở Trung ương và địa phương hoặc trở thành các cán bộ, chuyên viên và nhà kinh doanh có uy tín của Lào hiện nay
Trang 34người học như: Xây dựng, Kiến trúc, Nông nghiệp, Công nghiệp, Năng lượng, Công nghệ thông tin
Ngoài ra, một số cơ sở đào tạo chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong tổ chức thực hiện các Qui chế và Nghị định thư hợp tác đào tạo đã ký kết, còn có
sự nể nang, châm chước trong học tập đối với LHS, làm ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
Nguyên nhân chính dẫn đến kết quả học tập của LHS Lào còn yếu là do: trình độ tiếng Việt yếu, trình độ văn hóa cơ bản thấp hơn nhiều so với SV Việt Nam Đối với LHS là cán bộ đi học, một số tuổi cao tiếp thu chậm, gia đình gặp khó khăn
Chất lượng học tập tiếng Việt của LHS Lào bị hạn chế còn do một lý
do quan trọng là chương trình giảng dạy tiếng Việt chậm cải tiến, LHS Lào chưa có đủ tài liệu, từ điển Việt - Lào, Lào - Việt để phục vụ cho học tập và nghiên cứu
Những tổng kết trên đây là cơ sở để các trường đào tạo LHS điều chỉnh chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo LHS trong giai đoạn hiện nay
1.3.3 Hợp tác về lĩnh vực giáo dục giữa Việt Nam - Campuchia và công tác đào tạo LHS Campuchia tại Việt Nam
Ngày 7/1/1979 đất nước Campuchia được giải phóng Hội đồng Nhân dân cách mạng Campuchia phát lời kêu gọi bạn bè quốc tế đến giúp nhân dân Campuchia khôi phục lại đất nước mình Mặc dù lúc đó đất nước ta đang gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn dành cho Campuchia sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa với tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, “giúp bạn như giúp mình” Sau giải phóng, giáo dục cũng như hầu hết các ngành của Campuchia phải xây dựng lại từ đầu với hai bàn tay trắng Không còn bộ máy quản lý giáo dục, không còn GV (hiện diện) Trường sở rất ít còn nguyên vẹn; sách vở, học phẩm không có Tất cả phải tìm ra “nhân mối” chắt lọc, thu thập lại và tìm khâu tháo gỡ khó khăn Thực hiện chỉ thị của Trung ương
Trang 35Đảng, ngành giáo dục đã san sẻ lực lượng trí thức, tinh thần và vật chất giúp ngành giáo dục Campuchia Chúng ta đã huy động một đội ngũ đông đảo cán
bộ, chuyên gia về nhiều mặt sang giúp Bạn Các cơ quan nghiên cứu, nghiệp
vụ, quản lý các ngành học, các cấp học, nhiều trường đại học, cao đẳng của
Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục Dạy nghề (lúc bấy giờ) đều vào cuộc tích cực tham gia giúp Bạn trên lĩnh vực mình phụ trách Tất cả đã tạo nên sức mạnh tổng hợp của toàn ngành trong việc hợp tác giúp Bạn Trong thời gian chưa đầy 10 năm trên 2.200 lượt chuyên gia giáo dục của Việt Nam đã sát cánh giúp Bạn nhanh chóng khôi phục, xây dựng và phát triển một nền giáo dục mới trên đất nước Campuchia; góp phần quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả của Đảng và Nhà nước ta cũng như việc vun đắp mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Campuchia
Song song với việc đưa các “chiến sỹ tình nguyện” trên mặt trận giáo dục sang giúp Campuchia, ở trong nước các cơ sở giáo dục cũng được đầu tư
cơ sở vật chất để tiếp nhận LHS Campuchia sang học tập và nghiên cứu Hàng nghìn LHS Campuchia được đào tạo tại Việt Nam đã trở về nước để góp phần vào công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước Việc Chính phủ Việt Nam cấp học bổng cho LHS Campuchia sang học tập đã được khởi đầu từ năm 1980 và được duy trì liên tục Trong những năm gần đây, hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Campuchia được triển khai trên cơ sở biên bản thỏa thuận tại các kỳ họp hàng năm của Ủy ban hỗn hợp Việt Nam - Campuchia về hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và Nghị định thư
về hợp tác giáo dục và đào tạo (ký 5 năm một lần) Ngày 25 tháng 4 năm
2011, tại thủ đô PhnomPênh, Vương quốc Campuchia, Bộ trưởng bộ GD&ĐT Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao Campuchia đã ký Nghị định thư về hợp tác giáo dục giai đoạn 2011 - 2015
Để tăng cường mối quan hệ láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống hợp tác
Trang 36toàn diện, bền vững lâu dài giữa hai nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia, Nghị định thư đã nêu rõ:
“Hai bên khuyến khích và ủng hộ công tác trao đổi, giao lưu, hợp tác giữa các cơ sở giáo dục, nghiên cứu khoa học của nước mình với với các cơ
sở tương ứng bên kia”
“Bên Việt Nam tiếp tục hỗ trợ đào tạo LHS Campuchia bằng kinh phí viện trợ của Chính phủ Việt Nam cho Chính phủ Vương quốc Campuchia như sau:
Hàng năm, bên Việt Nam tiếp nhận 120 LHS Campuchia sang học đại học, sau đại học, thực tập, nghiên cứu và bồi dưỡng ngắn hạn ở các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật, dự bị tiếng Việt vào đại học và một số các lĩnh vực khác
mà Việt Nam có thế mạnh”
“Hai bên sẵn sàng tiếp nhận LHS sang học tập các trình độ bằng kinh phí tự túc hay nguồn hỗ trợ từ các tổ chức trong và ngoài nước Hình thức này được thực hiện dưới dạng hợp đồng đào tạo Việc nhận và gửi LHS dưới hình thức này trên cơ sở thỏa thuận cụ thể giữa các cơ sở giáo dục và bên gửi LHS
Các cơ sở giáo dục của Việt Nam trước khi tiếp nhận LHS Campuchia vào học tập phải báo cáo Bộ GD&ĐT
Số lượng LHS nói trên có thể thay đổi tăng hoặc giảm, phụ thuộc vào
đề nghị của mỗi bên và khả năng tiếp nhận của bên kia”
“Hai bên cam kết tiến hành thông tin rộng rãi trên lãnh thổ của mình đến các đối tượng thụ hưởng khác nhau, về các nguồn học bổng nhằm lựa chọn được những thí sinh tốt nhất”
“Hai bên thống nhất thực hiện nghiêm túc việc kiểm tra đánh giá toàn diện về hợp tác giáo dục giữa hai nước, đề xuất các biện pháp giải quyết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo”
Năm 2012 và những năm gần đây số LHS Campuchia thường xuyên học tại Việt Nam khoảng 600 người (không bao gồm số LHS thuộc lĩnh vực
an ninh, quốc phòng) Số LHS học Tiến sỹ và Thạc sỹ chiếm 20%, hầu hết
Trang 37đối tượng này đã học đại học tại Việt Nam nên không phải qua đào tạo tiếng Việt Năm đầu tiên khi sang Việt Nam, LHS học tiếng Việt dự bị tại trường Hữu Nghị 80 Từ năm thứ hai, LHS học chuyên ngành tại các học viện và các trường đại học Các chuyên ngành thu hút nhiều LHS Campuchia là: Y, Dược chiếm 47%; Nông nghiệp 11%; Kinh tế 10,8%; Công nghệ thông tin, viễn thông 8,8%; Kiến trúc, Xây dựng 6,7%, còn lại là các chuyên ngành khác
Bộ GD&ĐT đã có đánh giá chung về công tác đào tạo LHS Campuchia trong 5 năm gần đây: “Công tác đào tạo LHS Campuchia tại Việt Nam đã được sự quan tâm của Chính phủ và các Bộ, Ngành, các cơ sở giáo dục của Việt Nam Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo, các cơ sở giáo dục đều có ý thức trách nhiệm cao trong việc từng bước nâng cao chất lượng đào LHS Campuchia”[13]
Theo đánh giá của nhiều cơ sở giáo dục đại học, đa số LHS Campuchia sang học tại Việt Nam có khả năng tiếp thu kiến thức nhanh hơn LHS nhiều nước khác diện Hiệp định và đều hoàn thành khóa học Nhưng LHS Campuchia vẫn gặp những khó khăn trong những năm đầu, chủ yếu do rào cản về ngôn ngữ
Một số trường đại học đã có những đề xuất với cơ sở đào tạo tiếng Việt dự bị cho LHS: “Tại các cơ sở đào tạo tiếng Việt dự bị, ngoài việc dạy tiếng Việt, cần bổ sung kiến thức phổ thông về các môn Toán, Lý, Hóa Nên phân ban Tự nhiên, ban Xã hội ngay từ khi nhập học dự bị, đối với ban Tự nhiên cần phải chú trọng các kiến thức tối thiểu trước khi vào các trường đại học kỹ thuật, đặc biệt các kiến thức mà ở Campuchia LHS chưa được học Trường đề nghị LHS phải có trình độ tiếng Việt đạt đến một chuẩn nào đó mới tiếp tục học chuyên ngành ở các trường đại học ở Việt Nam để đảm bảo, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho nước bạn Campuchia” [13]
1.3.4 Các qui định về quản lý đào tạo LHS hiện nay
Hiện nay, đào tạo LHS được diễn ra song song với công tác đào tạo
SV Việt Nam trong các cơ sở giáo dục Vì vậy, ngoài việc tuân thủ tất cả các
Trang 38qui định chung, các cơ sở giáo dục có đào tạo LHS cần phải căn cứ vào các văn bản sau đây để thực hiện nhiệm vụ:
- Các Hiệp định, các Nghị định thư về hợp tác GD&ĐT được ký kết trong từng giai đoạn giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ Lào, Campuchia
- Qui chế Công tác người người nước ngoài học tập tại Việt Nam ban hành theo quyết định số 33/ 1999/QĐ - BGD&ĐT ngày 25/8/1999 của Bộ trưởng
- Đào tạo LHS là nhiệm vụ chính trị có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước
ta Hàng năm, Đảng, Nhà nước và Chính phủ, Bộ GD&ĐT đều có các hội nghị để tổng kết, chỉ đạo về công tác đào tạo LHS Các văn bản chỉ đạo tại các hội nghị này là cơ sở để các nhà trường quản lý hoạt động đào tạo LHS
- Tại Bộ GD&ĐT hai đơn vị trực tiếp chỉ đạo các công tác đào tạo LHS là:
Vụ Hợp tác quốc tế và Cục Đào tạo với nước ngoài
- Ngoài ra về công tác quản lý LHS còn phải thực hiện theo các qui định về quản lý người nước ngoài do Bộ Ngoại giao, Bộ Công an qui định
1.4 Nội dung quản lý đào tạo LHS trong cơ sở giáo dục
Đào tạo là sự vận động của một hệ thống do nhiều yếu tố cấu thành, mỗi yếu tố có vai trò, tính chất, đặc điểm riêng và có những tác động khác nhau đến kết quả đào tạo, giữa các yếu tố có tác động lẫn nhau Nội dung quản lý đào tạo với tư cách là một hệ thống phức tạp và hoàn chỉnh Trong nội dung đề tài, tác giả chỉ đề cập đến các nội dung chủ yếu sau:
Trang 391.4.1 Quản lý công tác tuyển chọn đầu vào
Lưu học sinh được tuyển chọn cần đảm bảo các tiêu chuẩn về trình độ, sức khoẻ và độ tuổi Đúng đối tượng theo các
Quản lý về công tác thẩm định hồ sơ của LHS, đảm bảo tính chính xác, hợp pháp của các bản dịch
Quản lý công tác đánh giá phân loại chất lượng đầu vào của lưu học sinh Lưu học sinh năm đầu học Tiếng Việt và DBĐH cần được phân loại trình độ đầu vào để sắp xếp vào các lớp có cấp độ phù hợp
Chỉ đạo GV tìm hiểu đặc điểm tâm lý, tập quán, môi trường sống và học tập của LHS trước khi nhập học
1.4.2 Quản lý chương trình, nội dung, kế hoạch đào tạo
Mục tiêu đào tạo là kết quả, là sản phẩm mong đợi của quá trình đào tạo Mục tiêu đào tạo hay sản phẩm đào tạo chính là người là ngưới HS, SV tốt nghiệp với nhân cách đã được thay đổi, cải biến thông qua quá trình đào tạo Nhân cách đã được thay đổi, được khái quát hóa trong mô hình nhân cách người HS, SV tốt nghiệp Có nhiều kiểu cấu trúc khác nhau về mô hình nhân cách của con người, mô hình nhân cách có thể thể hiện một cấu trúc đơn giản của nhân cách gồm phẩm chất và năng lực
Dưới góc độ đào tạo, phẩm chất bao gồm thái độ, hành vi ứng xử của họ trong mối quan hệ với gia đình, bạn bè, Tổ quốc, dân tộc cũng như thái độ với những vấn đề có tính chất toàn cầu của nhân loại Ngoài những phẩm chất chung còn có nhiều phẩm chất như động cơ của họ trong lao động nghề nghiệp
Năng lực trong mô hình nhân cách của người tốt nghiệp bao gồm: Hệ thống các kiến thức khoa học, công nghệ trình độ hiểu biết về tự nhiên, con người và xã hội
Hệ thống các kỹ năng, kỹ xảo thực hành (chân tay và trí óc) chung và riêng trong các hoạt động lao động nghề nghiệp cũng như trong các hoạt động chính trị xã hội
Trang 40Thể chất bao gồm các yếu tố thể lực chung theo lứa tuổi và riêng theo ngành nghề cũng như sức khỏe phù hợp với yêu cầu của nghề nghiệp
Mục tiêu đào tạo là xuất phát điểm để chỉ đạo soạn thảo và triển khai chương trình đào tạo, đồng thời là cơ sở để thiết lập kế hoạch thực hiện và đánh giá Mục tiêu đào tạo là chuẩn mực để dánh giá kết quả hoạt động đào tạo
Mục tiêu đào tạo qui định tính chất và phương pháp đào tạo, qui định nội dung, phương thức tổ chức đào tạo Mục tiêu đào tạo tác động đến tất cả các đối tượng, các nhân tố của quá trình đào tạo
Nội dung chương trình đào tạo là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, hoạt động xã hội được chọn lọc trong nền văn hóa, khoa học kỹ thuật của dân tộc và của loài người mà người giảng viên cần tổ chức cho người học lĩnh hội để đảm bảo hình thành theo mục tiêu đào tạo đã định ra
Để thực hiện được mục tiêu đã được trình bày ở trên, người học cần lĩnh hội một hệ thống mục tiêu đào tạo
Nội dung chương trình đào tạo cần được cụ thể hóa trong kế hoạch đào tạo, chương trình giảng dạy và các tài liệu dạy học
Quản lý chương trình, nội dung đào tạo là quản lý việc xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng nội dung đào tạo, kế hoạch đào tạo Quản lý quá trình dạy học thực tế của GV, HS sao cho kế hoạch, nội dung chương trình giảng dạy được thực hiện đầy đủ, đúng thời gian
Nói cách khác, quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo bao gồm hai bộ phận:
- Quản lý xác định mục tiêu, xây dựng nội dung đào tạo thực chất là xây dựng ra bản kế hoạch đào tạo với các công việc: Chuẩn bị, lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá thu thập các thông tin phản hồi để xử lý điều chỉnh khi cần thiết
- Quản lý việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo