So với các quy định trước đây về quản lý viên chức, Luật Viên chức vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 khóa XII ngày 15/11/2010 có một số nội dung mới như sau: Luật viên chức xá
Trang 1TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG, QUẢN LÝ VIÊN CHỨC
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
MSSV: B100202 Lớp: LK1063A1
Cần Thơ, tháng 11 năm 2013
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU………1
1 Lý do chọn đề tài……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Những đóng góp mới của luận văn 3
6 Kết cấu của luận văn 3
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIÊN CHỨC 4
1.1 Lịch sử hình thành quy định pháp luật về viên chức 4
1.2 Khái quát chung về viên chức 6
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm viên chức……… 6
1.2.1.1 Khái niệm viên chức……….……….6
1.2.1.2 Đặc điểm của viên chức ……….……… 7
1.2.2 Phân loại viên chức…….……… 9
1.2.3 Phân biệt giữa cán bộ, công chức và viên chức…….……….10
1.3 Đơn vị sự nghiệp công lập ……… 12
1.4 Quản lý viên chức……….15
1.4.1 Cơ quan quản lý…….………15
1.4.2 Nội dung quản lý……….……… 15
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP……… 18
2.1 Khái quát tuyển dụng………18
2.1.1 Tuyển dụng viên chức……….……… 18
2.1.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức……… ……….……20
2.2 Quy trình tuyển dụng……… 22
2.2.1 Thẩm quyền tuyển dụng……… ………….………22
2.2.2 Quy trình tuyển dụng……….……… 23
2.3 Hình thức tuyển dụng……… 25
2.3.1 Thi tuyển……… ……… 25
2.3.2 Xét tuyển……….……… 28
2.4 Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong tuyển dụng viên chức………29
Trang 32.4.1 Đơn vị tuyển dụng……….……….…29
2.4.2 Quyền của ứng viên……….……… ………… 30
2.4.2.1 Trong giai đoạn dự tuyển………30
2.4.2.2 Sau khi được tuyển dụng 32
2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tuyển dụng viên chức……….33
2.5.1 Yếu tố chủ quan 33
2.5.2 Yếu tố khách quan 35
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG, HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ 37
3.1 Tổng quan về lực lượng lao động, lực lượng viên chức thành phố Cần Thơ .… 37
3.2 Thực tiễn hoạt động tuyển dụng viên chức tại Sở Giáo dục- Đào tạo, Y tế, Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ……… 38
3.2.1 Căn cứ pháp lý và hình thức thực hiện…….……… 38
3.2.2 Những kết quả đạt được 43
3.2.3 Khó khăn, hạn chế 45
3.3 Một số giải pháp đề xuất 50
3.3.1 Giải pháp khắc phục khó khăn 50
3.3.2 Kiến nghị 51
KẾT LUẬN 53
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo qua hơn 25 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Với tinh thần đổi mới đất nước, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang từng bước đổi mới mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Nhiều thành tựu đã đạt được trong quá trình đổi mới đất nước, song song đó đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy Nhà nước cũng được tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu quản lý xã hội
Pháp luật Việt Nam đã gọi những người trực tiếp thực hiện các hoạt động sự nghiệp công theo các cách khác nhau, có thời kỳ được gọi là cán bộ, công chức, công chức sự nghiệp hay viên chức Xuất phát từ nhận thức về tầm quan trọng của yếu tố con người trong việc bảo đảm hiệu quả hoạt động của mọi tổ chức, Nhà nước ta đã quan tâm xây dựng các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh một cách toàn diện về đội ngũ viên chức Pháp luật về viên chức là cơ sở hoàn thiện bộ máy nhân sự, yếu tố cốt lõi trong tổ chức của đơn vị sự nghiệp công lập và cũng là yếu tố cốt lõi trong việc nâng cao hiệu quả việc cung cấp các dịch vụ công và thực hiện chức năng xã hội của Nhà nước
Việc tuyển dụng nhân lực mới tại các đơn vị sự nghiệp công lập cũng đang gặp phải một số vướng mắc như thiếu sự chủ động, khó thu hút nhân lực có chất lượng chuyên môn cao, tiêu cực phát sinh trong tuyển dụng, sự bất hợp lý từ các quy định pháp luật Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi mạnh mẽ trong công tác tuyển dụng nhân lực tại các đơn vị này Để điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, các cơ quan nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật Tuy nhiên, nhiều văn bản còn chưa phù hợp với thực tế, hệ thống văn bản vẫn còn thiếu sự thống nhất
Với đặc thù của hoạt động cung cấp dịch vụ công, các đơn vị sự nghiệp công lập cần thiết phải sử dụng một lực lượng lớn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được đào tạo nghiêm túc qua hệ thống trường lớp Thực tế, các đơn vị này đang nắm giữ một số lượng nhân lực có trình độ chuyên môn cao, giàu kinh nghiệm hơn so với bất kỳ hệ thống cơ quan, đơn vị nào khác
Mặt khác, quan điểm, cơ chế quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập và đội ngũ nhân lực làm việc tại đây cũng có nhiều sự thay đổi đã tạo ra một sự bị động từ phía các đơn vị này Luật Viên chức đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 15 tháng 11 năm 2010, là luật đầu
Trang 5tiên điều chỉnh riêng về nhóm đối tượng viên chức Việc ban hành Luật Viên chức chứa đựng hy vọng sẽ tạo ra sự thay đổi tích cực trong pháp luật về viên chức và các đơn vị sự nghiệp công lập
Tuyển chọn nhân lực chuyên môn có chất lượng là công việc quan trọng mà mọi tổ chức đều phải chú trọng thực hiện bởi con người là nguồn lực quý giá nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức Từ phạm vi quốc gia đến từng cơ quan, đơn vị của nhà nước hoặc các tổ chức sản xuất, kinh doanh đều phải xây dựng chiến lược, kế hoạch thu hút người tài về làm việc
Các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam cũng không thể đứng ngoài hoạt động này Các đơn vị sự nghiệp công lập đang đóng vai trò chủ đạo trong việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu cho xã hội trên hầu khắp các lĩnh vực như giáo dục,
y tế, nghiên cứu khoa học, thông tin, truyền thông
Luật Viên chức có hiệu lực và đi vào cuộc sống, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề còn chưa phân biệt rõ giữa công chức và viên chức, các chế độ chính sách tuy được ban hành riêng biệt nhưng chưa thể hiện rõ những khác biệt, điển hình như vấn đề tuyển dụng viên chức mỗi nơi áp dụng mỗi cách khác nhau Trong quá trình công tác tại bộ phận tổ chức nhân sự thuộc một đơn vị sự nghiệp công lập người viết đã có cơ hội tiếp cận với thực tiễn và thấu hiểu được những hạn chế trong việc tuyển dụng viên
chức Từ những lí do trên, người viết đã quyết định chọn đề tài "Tuyển dụng viên chức - Thực tiễn tại Thành phố Cần Thơ" để làm luận văn tốt nghiệp cử nhân ngành
luật cho mình
2 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu đề tài nhằm chỉ ra những tác động của cơ chế, chính sách, pháp luật tới thực tiễn hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập hiện nay Từ đó, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động này
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, sự tác động của một
số yếu tố tới thực tiễn tuyển dụng và những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyển dụng viên chức
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, chủ yếu là các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế từ
Trang 6khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức 1998 ra đời tới thời điểm hiện tại, khi Luật Viên chức đã có hiệu lực thi hành
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích - tổng hợp trong việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan tới tuyển dụng viên chức,
cơ chế quản lý, sử dụng viên chức, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập và tác động của cơ chế, pháp luật tới thực tiễn
Phương pháp so sánh được sử dụng khi tìm hiểu sự khác biệt giữa tuyển dụng viên chức với các đối tượng khác Phương pháp thống kê cũng được sử dụng để tìm hiểu số lượng viên chức được tuyển dụng tại một số đơn vị sự nghiệp công lập
5 Những đóng góp mới của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan tới tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, sự tác động của một
số yếu tố tới thực tiễn tuyển dụng và những giải pháp để nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyển dụng viên chức
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào hoạt động tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập, chủ yếu là các đơn vị sự nghiệp giáo dục và y tế từ khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 ra đời tới thời điểm hiện tại, khi Luật Viên chức đã có hiệu lực thi hành
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1 Lý luận chung về viên chức
Chương 2 Quy định của pháp luật về tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự
nghiệp công
Chương 3 Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng hiệu quả của công tác
tuyển dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn Thành phố Cần Thơ
Trang 7CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIÊN CHỨC
Viên chức được mọi người gọi chung chung là “công nhân viên chức”, nhưng qua các thời kỳ phát triển của xã hội và Luật hóa thì ngày càng có sự phân biệt rõ ràng, thông qua chương này người viết xin giới thiệu sơ lược về Viên chức và những
quy định của pháp luật hiện hành về Viên chức và nơi làm việc của Viên chức
1.1 Lịch sử hình thành quy định pháp luật về viên chức
Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng và nguyên tắc về một nền công vụ kiểu mới thể hiện trong Hiến pháp năm 1946, Quy chế công chức được ban hành theo sắc lệnh của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Theo tinh thần của sắc lệnh chỉ đề
cập đến đối tượng là công chức mà theo đó “Công chức Việt Nam là những công dân
giữ một nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ.” 1
Các văn bản trong thời kỳ này gọi những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp như y tế, giáo dục, khoa học là công chức Ở giai đoạn này chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa công chức và viên chức mà đồng nhất hai khái niệm lại là một
Theo Hiến pháp năm 1959, Nghị định 24/CP ngày 8/11/1962 của Hội đồng Chính phủ ban hành Điều lệ tuyển dụng công nhân, viên chức nhà nước Công nhân, viên chức là những người làm việc ở xí nghiệp, công trường, trường học và cơ quan nhà nước Giai đoạn này cũng xuất hiện thuật ngữ “cán bộ” là những người được bầu trong các cơ quan, tổ chức nhà nước
Giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 1998
Tại Điều 8 Hiến pháp năm 1980, quy định: “Cán bộ, viên chức nhà nước có nghĩa vụ tận tụy phục vụ nhân dân” Như vậy theo quy định của Hiến pháp năm 1980 thì những người làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước được gọi là cán bộ, viên chức, không có đối tượng công nhân
Điều 8 Hiến pháp năm 1992 quy định những người phục vụ trong các cơ quan,
tổ chức nhà nước là cán bộ, viên chức Như vậy trong giai đoạn này thuật ngữ viên chức đã xuất hiện, thế nhưng việc phân biệt giữa cán bộ và viên chức cũng chưa thật
sự rõ ràng và chưa được quan tâm đến nhiều
1 Sắc lệnh số Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trang 8Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 đã có sự phân biệt các đối tượng công chức viên chức Việc phân biệt công chức, viên chức điều chỉnh được đối tượng phục
vụ trong cơ quan hành chính nhà nước (gọi là công chức) và các đối tượng làm việc tại các đơn vị sự nghiệp nhà nước (viên chức)
Giai đoạn từ khi có Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức (từ năm
2008 đến hiện nay)
Luật cán bộ, công chức ra đời không điều chỉnh đối tượng viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp Tuy nhiên Nghị định 06/2010/NĐ-CP quy định những người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập là viên chức, nhưng không có luật điều chỉnh, chỉ quy định là công chức, nhưng không hưởng phụ cấp công vụ 25% theo Nghị định số 34/2012/NĐ-CP của Chính phủ
Luật cán bộ, công chức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 Luật viên chức
có hiệu lực từ 01/01/2012 Luật viên chức được kết cấu gồm 6 chương và 62 điều Nội dung các chương bao gồm: Những quy định chung; Quyền và nghĩa vụ của viên chức; Tuyển dụng, sử dụng viên chức; Quản lý viên chức; Khen thưởng và xử lý vi phạm;
Điều khoản thi hành
So với các quy định trước đây về quản lý viên chức, Luật Viên chức vừa được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 khóa XII ngày 15/11/2010 có một số nội dung mới như sau:
Luật viên chức xác định rõ khái niệm “viên chức” mà trước đây, Pháp lệnh Cán
bộ, công chức năm 1998 chưa quy định rõ thế nào là “cán bộ”, “công chức”, “viên chức” hay Luật cán bộ, công chức năm 2008 mới chỉ phân định cán bộ và công chức làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị sự nghiệp công lập mà không điều chỉnh đối với đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập
Lao động của viên chức không mang tính quyền lực công, chỉ thuần túy là hoạt động nghề nghiệp mang tính chuyên môn nghiệp vụ, chế độ tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng lao động làm việc và tiền lương được hưởng từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập
Luật viên chức xác định rõ các vấn đề chung nhất trong hoạt động nghề nghiệp của viên chức Điều này sẽ góp phần từng bước giảm dần chế độ chủ quản đối với đơn
vị sự nghiệp công lập và hoàn thiện cơ chế kiểm soát đối với việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong quá trình thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập
Luật viên chức đã hoàn thiện và bổ sung các quyền, nghĩa vụ của viên chức, đó
là các quyền về hoạt động kinh doanh và làm việc ngoài thời gian quy định Bên cạnh
Trang 9đó, Luật viên chức cũng đã hoàn thiện hệ thống các nghĩa vụ của viên chức (bao gồm
cả những việc viên chức không được làm) phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động nghề nghiệp của viên chức
Luật viên chức tiếp tục đổi mới cơ chế và các nội dung quản lý viên chức: Một trong các nguyên tắc được nhấn mạnh để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức là: Việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý, đánh giá viên chức được thực hiện trên cơ sở tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, vị trí việc làm và căn cứ vào hợp đồng làm việc” Đây
là nguyên tắc đặt nền móng để tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý viên chức theo chế độ việc làm, nhấn mạnh năng lực, tài năng bên cạnh phẩm chất và trình độ Luật đề cao và gắn thẩm quyền với trách nhiệm người đứng đầu trong vấn đề xác định số lượng vị trí việc làm, số lượng viên chức và quản lý viên chức để phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập, góp phần đẩy mạnh cải cách khu vực sự nghiệp dịch vụ công
Luật viên chức quy định chuyển đổi giữa viên chức và cán bộ, công chức: Do
đặc thù của Việt Nam, giữa viên chức và cán bộ, công chức luôn có sự liên thông, chuyển đổi giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị
- xã hội Vì vậy, Luật viên chức có quy định các trường hợp cụ thể về việc chuyển đổi này Từ những cơ sở của Luật viên chức ta xác định cụ thể hơn về viên chức;
Tính đến cuối năm 2012, cả nước có hơn 535.000 cán bộ, công chức và gần 1.700.000 viên chức.2 Riêng tại Cần Thơ năm 2013 có 2.128 công chức trong cơ quan hành chính nhà nước và 21.395 công chức viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.3
1.2 Khái quát chung về viên chức
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm viên chức
1.2.1.1 Khái niệm viên chức
Trong cuộc sống, bên cạnh những nhu cầu vật chất đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển, con người còn có những nhu cầu về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, thông tin… Để đáp ứng những yêu cầu ấy, xã hội dần hình thành một bộ phận lao động chuyên đảm nhiệm những công việc đó Những chức danh này dần dần được nhà nước
bổ sung vào cơ cấu bộ máy hoạt động và xem như một phần thiết yếu không thể thiếu được
Ban đầu những người làm công việc này chỉ chiếm một số lượng nhỏ so với lao động tại các ngành nghề sản xuất Sự phát triển của xã hội và chuyên môn hóa lao động ngày càng cao khiến cho lực lượng lao động có chuyên môn ngày càng đông và
Trang 10mang tính chuyên nghiệp hơn Tùy từng giai đoạn, từng chế độ xã hội mà lực lượng lao động theo chuyên môn có tên gọi khác nhau hoặc có những khác biệt đôi chút trong quản lý, sử dụng và hoạt động cung cấp dịch vụ Nhưng có một điểm chung là những người làm công việc này có được một sự tôn trọng từ phía nhà nước và xã hội
Theo đó viên chức là một khái niệm rất rộng, “có khi dùng để chỉ một phạm vi rộng lớn những người làm việc trong cả bộ máy, tổ chức nhà nước” Viên chức theo cách hiểu ở trên không được sử dụng nguyên nghĩa trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thấp hơn Tại Pháp lệnh cán bộ, công chức ban hành năm 1998, cụm
từ được sử dụng là “cán bộ, công chức” Khi Pháp lệnh được sửa đổi, bổ sung năm
2003, lần đầu tiên viên chức được tách riêng thành một nhóm, phân biệt với công
chức Điểm d, Điều 1 Pháp lệnh quy định viên chức là công dân Việt Nam, trong biên
chế, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật
Trang 11Từ khi Luật viên chức năm 2010 có hiệu lực thì tại Điều 2 Luật Viên chức
đã định nghĩa: Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo chế độ hợp
đồng làm việc, được tuyển dụng, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật Riêng người lãnh đạo đơn vị sự nghiệp
trước đây được xếp vào đối tượng viên chức thì nay chuyển sang nhóm đối tượng công chức.4
1.2.1.2 Đặc điểm của viên chức
Qua định nghĩa trên, có thể nắm bắt được những đặc điểm cơ bản của viên chức như:
Viên chức là công dân Việt Nam Viên chức được tuyển dụng theo chế độ hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp tại các đơn vị
sự nghiệp công lập, không trực tiếp tham gia vào công tác quản lý nhà nước
Hoạt động nghề nghiệp của viên chức nhằm thực hiện việc cung cấp những dịch vụ công thiết yếu, cung cấp cho người dân các sản phẩm “phi hiện vật”, dựa trên “kỹ năng nghiệp vụ, mang tính nghề nghiệp cao”
Viên chức được hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Đây là lực lượng lao động đông đảo, góp phần vào việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội mà nhà nước đề ra Việc phân biệt rõ ràng đối tượng nào là viên chức tạo cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho các quy định liên quan tới tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
Tính chất, đặc điểm lao động của viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập là hoạt động chức năng nghề nghiệp của viên chức là thực hiện chức năng phục vụ xã hội trên các lĩnh vực Ngoài nhiệm vụ chung của đơn vị thì nhiệm
vụ riêng của viên chức là góp phần vào thực hiện chính sách an sinh xã hội, tiến
bộ, công bằng xã hội, góp phần xây dựng tăng trường kinh tế phát triển xã hội bền vững, đặc biệt là giảm bớt chênh lệch vùng miền thu hẹp khoảng cách thành thị nông thôn
Việc xác định rõ viên chức là tạo cơ sở pháp lý có giá trị nhằm xây dựng và quản lý đội ngũ viên chức có đủ phầm chất, trình độ và năng lực đáp ứng được yêu
4 Điều 11 Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ
Trang 12cầu ngày càng cao trong quá trình phục vụ nhân dân và cộng đồng, phát huy tính sáng tạo, tính năng động và năng lực của viên chức Nhà nước có chính sách xây dựng phát triển đội ngũ viên chức, thu hút bồi dưỡng, trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng với lực lượng viên chức có tài năng có cống hiến cho xã hội để ngày càng nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân
Viên chức là tầng lớp lao động trí thức được nhà nước tuyển dụng thông qua hợp đồng làm việc
Viên chức có viên chức viên chức giữ chức vụ và viên chức không giữ chức vụ Viên chức được trả lương tương xứng với vị trí việc làm, chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý và kết quả thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ được giao; được hưởng tiền thưởng, được xét nâng lương theo quy định của pháp luật và quy chế của đơn vị sự nghiệp Ngoài ra, viên chức còn được hoạt động nghề nghiệp ngoài thời gian làm việc quy định trong hợp đồng làm việc; được ký hợp đồng vụ, việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị khác mà pháp luật không cấm (nhưng phải hoàn thành nhiệm vụ được giao và có sự đồng ý của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập)
Điểm đáng chú ý của Luật viên chức là quy định chuyển đổi từ viên chức
trở thành công chức như sau: Viên chức có thời gian làm việc 5 năm trở lên tại
đơn vị sự nghiệp công lập được xét chuyển thành công chức không qua thi tuyển; viên chức được tiếp nhận, bổ sung vào vị trí làm việc được pháp luật quy định là công chức thì quyết định tiếp nhận, bổ nhiệm đồng thời là quyết định tuyển dụng; viên chức chuyển sang cán bộ, công chức hoặc ngược lại đều được bảo đảm có quyền lợi về chế độ, chính sách
Đối với viên chức được tuyển dụng trước ngày 01/7/2003 có quyền, nghĩa
vụ và được quản lý như viên chức làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn Viên chức tuyển dụng sau ngày 01/7/2003 đến ngày Luật viên chức có hiệu lực tiếp tục thực hiện hợp đồng làm việc đã ký kết theo quy định
Với xu hướng xã hội hóa cung ứng các dịch vụ công trong những năm gần đây, nhiều đơn vị sự nghiệp thuộc các thành phần kinh tế cũng từng bước tham gia vào hoạt động này Người lao động trong các đơn vị trên có những tiêu chuẩn và thực hiện hoạt động chuyên môn giống như viên chức
1.2.2 Phân loại viên chức
Trang 13Mặc dù đã xây dựng được hai đạo Luật quan trọng điều chỉnh về hai nhóm đối tượng nhưng khái niệm công chức và đối tượng viên chức vẫn còn nhiều điểm giống nhau Chức danh nghề nghiệp thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của viên chức trong từng lĩnh vực nghề nghiệp Ví dụ viên chức ngạch giảng viên có giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp… Chức danh nghề nghiệp được bổ nhiệm cho viên chức theo các nguyên tắc: làm việc ở vị trí việc làm nào thì bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp tương ứng với vị trí việc làm đó, người được bổ nhiệm phải đủ tiêu chuẩn của chức danh nghề nghiệp Việc thay đổi chức danh nghề nghiệp đối với viên chức được thực hiện thông qua thi hoặc xét
Việc đưa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập từ đối tượng viên chức sang công chức là điều băn khoăn nhập nhằng Luật công chức và viên chức còn gập khuôn nhau Điều này khiến cho việc tuyển dụng, quản lý, sử dụng viên chức gặp một số điểm phức tạp
- Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp như sau:
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III;
+ Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV 5
- Viên chức quản lý là người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý
- Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập.6
Tuy nhiên, phạm vi công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý các đơn vị
sự nghiệp công lập rộng hay hẹp còn tuỳ thuộc vào quy mô, phạm vi hoạt động của từng đơn vị sự nghiệp; vào cấp hành chính có thẩm quyền thành lập và quản
lý Công chức trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, bộ
5 Điều 3 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 4 năm 2012
6 Điều 3 Luật Viên chức năm 2010
Trang 14máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập, lực lượng vũ trang sẽ được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, quy định những người là công chức
1.2.3 Phân biệt giữa cán bộ, công chức và viên chức
Cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công
vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội Theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các giải thích khác nhau về các thuật ngữ “cán bộ”, “công chức” và “viên chức” Thuật ngữ “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội
Vì không xác định và phân biệt được rõ thuật ngữ “cán bộ”; “công chức”;
“viên chức‟ nên đã dẫn đến những hạn chế và khó khăn trong quá trình xác định những điểm khác nhau (bên cạnh những điểm chung) liên quan đến quyền và nghĩa vụ, đến cơ chế và các quy định quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, chế độ tiền lương và chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất, đặc điểm hoạt động của cán bộ, cũng như của công chức, viên chức
Lần đầu tiên Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã làm rõ được tiêu chí xác định ai là cán bộ, ai là công chức… Từ đó, đã tạo cơ sở và căn cứ để đưa ra những nội dung đổi mới và cải cách thể hiện trong Luật cán bộ, công chức, nhằm giải quyết vấn đề mà thực tiễn quản lý đặt ra Qua đó xác định rõ phạm vi, đối tượng điều chỉnh làm cơ sở cho việc hình thành Luật Viên chức năm 2010
Phân biệt cán bộ và công chức
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức thì cán bộ và công chức có những tiêu chí chung là: công dân Việt Nam; trong biên chế; hưởng lương từ ngân sách nhà nước; giữ một công vụ thường xuyên; làm việc trong công sở; được phân định theo cấp hành chính (cán bộ ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; cán bộ cấp xã; công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; công chức cấp xã)
Thực tế cho thấy, cán bộ luôn gắn liền với chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; hoạt động của họ gắn với quyền lực chính trị được nhân dân hoặc các thành viên trao cho và chịu trách nhiệm chính trị trước Đảng, Nhà nước và nhân dân
Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc
Trang 15thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước
và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị Đây là điểm đặc thù của hệ thống chính trị Việt Nam
Bên cạnh đó, việc quy định công chức có trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của các đơn vị sự nghiệp công lập vừa phù hợp với Hiến pháp của Việt Nam, thể hiện được trách nhiệm của Nhà nước trong việc tổ chức cung cấp các dịch vụ công thiết yếu và cơ bản cho người dân, bảo đảm sự phát triển cân đối giữa các vùng, lãnh thổ có mức sống chênh lệch, thực hiện mục tiêu dân chủ và công bằng xã hội
Phân biệt viên chức và công chức
Hình thức
tuyển dụng
Thi tuyển, bổ nhiệm, có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuộc biên chế
Thi tuyển, xét tuyển nhưng thường là xét tuyển, ký hợp đồng làm việc, được bổ nhiệm vào một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý
Lương Hưởng lương từ ngân sách
Nhiệm vụ Thực hiện nhiệm vụ gắn với
quyền lực nhà nước Vận
Thực hiện chức năng xã hội, trực tiếp thực hiện nghiệp vụ Thực
Trang 16hành quyền lực nhà nước, làm nhiệm vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập
Lao động của công chức mang tính chất quyền lực công
hiện những công việc có yêu cầu
về trình độ, năng lực, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trong đơn
vị sự nghiệp công lập
Vị trí việc làm Sau khi được tuyển dụng và
hoàn thành chế độ tập sự đạt thì được tổ chức đánh giá đề nghị xét bổ nhiệm chính thức vào một ngạch bậc của công chức theo quy định
Sau khi được tuyển dụng phải thực hiện ký hợp đồng lần đầu Sau khi tập sự đạt thì xem xét bổ nhiệm chính thức vào chức danh nghề nghiệp và phải ký hợp đồng làm việc lần 2
Nơi làm việc Cơ quan nhà nước, tổ chức
Chính trị - xã hội (Liên đoàn Lao động tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy…) và cả ở đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập
Hình thức
xử lý kỷ luật
6 hình thức kỷ luật sau:
Khiển trách; cảnh cáo; hạ bậc lương; giáng chức; cách chức và buộc thôi việc
Hình thức kỷ luật dành cho viên chức gồm: Khiển trách; cảnh cáo; cách chức và buộc thôi việc
Trang 171.3 Đơn vị sự nghiệp công lập
Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước 7
Nhà nước tập trung xây dựng hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập để cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước phải chịu trách nhiệm chủ yếu bảo đảm nhằm phục vụ nhân dân trong lĩnh vực y tế, giáo dục, khoa học và các lĩnh vực khác mà khu vực ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng; bảo đảm cung cấp các dịch vụ cơ bản về y tế, giáo dục tại miền núi, biên giới, hải đảo vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
Chính phủ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo việc lập quy hoạch, tổ chức, sắp xếp lại hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định lĩnh vực hạn chế và lĩnh vực cần tập trung ưu tiên phát triển, bảo đảm sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, tập trung nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng các hoạt động sự nghiệp Không tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chỉ thực hiện dịch
vụ kinh doanh, thu lợi nhuận Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán độc lập; tách chức năng quản lý nhà nước của bộ, cơ quan ngang bộ với chức năng điều hành các đơn vị sự nghiệp công lập.8
Nhà nước có chính sách xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức có đạo đức nghề nghiệp, có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của khu vực cung ứng dịch vụ công; phát hiện, thu hút, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng đối với người có tài năng để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân
Ví dụ: Bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế thành phố Cần Thơ, là đơn vị sự nghiệp tự chủ hoàn toàn về kinh phí về tổ chức hoạt động
Ban Quản trang Nghĩa trang Liệt sĩ thành phố Cần Thơ là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thành phố Cần Thơ là đơn vị sự
7 Điều 9 Luật viên chức năm 2010
8 Điều 10 Luật viên chức năm 2010
Trang 18nghiệp chưa tự chủ, hoạt động tuyển dụng của đơn vị là do Sở Lao động-Thương binh và Xã hội thực hiện
Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các căn cứ sau:
Ngành, lĩnh vực hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập;
Chức năng, nhiệm vụ phục vụ quản lý nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ được giao và cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công lập;
Tính chất, đặc điểm về chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị sự nghiệp công lập;
Cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập.9
Hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành nhằm cung cấp những dịch vụ công mà Nhà nước chịu trách nhiệm chủ yếu đảm bảo để phục vụ nhân dân như lĩnh vực y tế, giáo dục, an sinh xã hội, thể dục thể thao, khoa học, môi trường và các lĩnh vực khác mà không thu hút được ngoài công lập tham gia vì không có lợi nhuận, không sinh lời như vệ sinh, môi trường hoặc là ngành mà đơn
vị ngoài công lập chưa có khả năng đáp ứng như ngành điện lực, cầu đường
Như vậy, từ yêu cầu xác định vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp, Chính phủ đã cụ thể hóa quy định về việc thành lập đơn vị sự nghiệp công lập gắn với vị trí việc làm của người lao động
Nhưng hiện nay hoạt động cung cấp dịch vụ công thiết yếu được chính phủ khuyến khích xã hội hóa, các đơn vị ngoài nhà nước có quyền tham gia (trừ một số ngành nghề do Luật định vì mục đích quốc phòng-an ninh quốc gia); đơn vị cung cấp dịch vụ công trong và ngoài công lập đều được nhà nước đối xử bình đẳng thông qua hệ thống pháp luật quy định
Ví dụ như hệ thống y tế, giáo dục, cơ sở bảo trợ xã hội (ngành Lao Thương binh và Xã hội)… đây là điểm khác biệt lớn nhất trong hoạt động giữa đơn vị sự nghiệp công lập và các đơn vị sự nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác
động-Chính vì hoạt động phục vụ nhà nước của đơn vị sự nghiệp công lập nên nhà nước phải chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí hoạt động, nên có ba loại hình
10 Nghị định 43/2006/NĐ-CP , ngày 25/4 /2006 của Chính phủ, Quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm
về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.
Trang 19 Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên
Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước cấp toàn bộ chi phí hoạt động
Luật viên chức năm 2010 chia thành hai loại:
Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn kinh phí hoạt động và đơn vị
sự nghiệp chưa được giao quyền tự chủ hoàn toàn
Theo số liệu từ báo cáo của Bộ tài chính, đến nay, trên phạm vi cả nước đang có 25.632 đơn vị sự nghiệp công lập đã được giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính, trong đó 845 đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động, 10.355 đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo một phần chi phí và 14.355 đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động.11
Riêng tại Cần Thơ có 180 đơn vị sự nghiệp công lập, trong đó có 80 đơn vị
sự nghiệp tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động, 100 đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động (Lĩnh vực Y tế, Giáo dục, Lao động-Thương binh xã hội là 135 đơn vị).12
Nhằm tạo căn cứ cho việc xác định cơ chế thích hợp trong quản lý, sử dụng viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập có quy mô, tổ chức, tính chất hoạt động khác nhau, thuộc các lĩnh vực, địa bàn khác nhau Nhằm giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng miền về cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục, an sinh xã hội cũng là để phát triển bền vững và vấn đề quốc phòng-an ninh, các đơn vị sự nghiệp công lập của những nơi là miền núi xa xôi, hẻo lánh, vùng hải đảo ngày càng được quan tâm đầu tư và thực hiện thu hút lực lượng viên chức đến phục vụ
1.4 Quản lý viên chức
Việt Nam đang từng bước hội nhập kinh tế quốc tế, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, các phát minh, sáng chế của thế giới vào quản lý và phát triển sản xuất trong nước ở tất cả ngành nghề lĩnh vực làm đa dạng hàng hóa tiêu dùng, xuất khẩu được mặt hàng nông nghiệp cải thiện cuộc sống nhân dân đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói kém, thiếu lượng thực Xác định được mục tiêu con người
11
Ths Hoàng Thị Thu Hồng, tạp chí Quản lý nhà nước số 210, tháng 7 năm 2013
12 Nghị quyết số 12/NQ-HĐND ngày 07/12/2012 của Hội đồng nhân dân thành phố Cần Thơ về giao tổng
biên chế công chức trong cơ quan hành chính và tổng biên chế công chức viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập năm 2013 của thành phố Cần Thơ
Trang 20là trung tâm của sự phát triển đảng và nhà nước ta quan tâm và coi trọng nhân tố hàng đầu của sự phát triển, các năm qua và hiện nay Việt Nam đang phát huy nội lực khẳng định được vị thế trên trường quốc tế, đồng thời xác định phát triển kinh tế phải gắn với an sinh xã hội, phát triển bền vững, đảm bảo phúc lợi xã hội cho nhân dân, thu hẹp khoảng cách vùng miền, thực hiện công bằng xã hội, từ đó có chính sách phát triển các đơn vị sự nghiệp công lập cùng đội ngũ trí thức viên chức để thực hiện mục tiêu này
Tùy theo từng ngành nghề, lĩnh vực mà tuyển dụng lực lượng lao động đủ trình độ chuyên môn, năng lực, đạo đức để thực hiện hoạt động nghề nghiệp, theo quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ, chịu sự giám sát của cơ quan thẩm quyền trong khi thực hiện nhiệm vụ
1.4.1 Cơ quan quản lý
Chính phủ quy định quản lý nhà nước về viên chức với mục tiêu đảm bảo thống nhất quản lý nhà nước về viên chức;
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về viên chức và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về viên chức
Chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng, phát triển đội ngũ viên chức trình cấp có thẩm quyền quyết định;
Chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc ban hành hệ thống danh mục, tiêu chuẩn và mã số chức danh nghề nghiệp;
Quản lý công tác thống kê về viên chức; hướng dẫn việc lập, quản lý hồ sơ viên chức, phát triển và vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia về viên chức;
Bộ Nội vụ thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan Thanh tra, kiểm tra việc quản lý nhà nước về viên chức; Hàng năm, Bộ Nội vụ báo cáo Chính phủ về đội ngũ viên chức
Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về viên chức;
Cơ quan có thẩm quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thanh tra, kiểm tra việc tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức tại các đơn vị sự nghiệp công lập được giao quản lý
Trang 21Các bộ, cơ quan ngang bộ thanh tra việc thực hiện hoạt động nghề nghiệp của viên chức thuộc ngành, lĩnh vực được giao quản lý
- Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về viên chức.13
Ngoài nhiệm vụ quản lý Viên chức thì cơ quan quản lý còn tổ chức thực hiện công việc kiểm tra, thanh tra Viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập như quy định tại Điều 50 Luật Viên chức năm 2010
Nhìn chung, những quy định pháp luật về Viên chức đã cụ thể hóa về quyền
và nghĩa vụ hay những hình thức tuyển dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật viên chức thể hiện được hướng nhìn nhận khách quan của đảng và nhà nước về cơ chế đổi mới quản lý đơn vị sự nghiệp công lập theo cơ chế tự chủ,
tự chịu trách nhiệm về quyền và nghĩa vụ được giao Đổi mới cơ chế quản lý viên chức nhằm phát huy tối đa các tiềm năng tri thức, tài năng, chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ viên chức, đáp ứng yêu cầu của quá trình cải cách khu vực dịch vụ công, phát triển và hội nhập quốc tế
1.4.2 Nội dung quản lý
Sau khi dự tuyển viên chức có kết quả đạt, được tuyển dụng viên chức phải
ký hợp đồng làm việc lần đầu, hưởng lương theo chế độ tập sự, trừ những trường hợp được hưởng chế độ thu hút, đãi ngộ thì không phải tập sự và xếp lương khác với viên chức mới trúng tuyển, nhưng cũng phải thực hiện hợp đồng làm việc với người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập
Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập quản lý quá trình hoạt động đơn
vị kể cả quản lý viên chức, xây dựng những quy định cho viên chức theo tình hình đặc thù công việc của đơn vị
Xây dựng kế hoạch, quy hoạch viên chức
Quy định tiêu chuẩn, chức danh nghề nghiệp viên chức; xác định vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng viên chức làm việc tương ứng
Tổ chức thực hiện việc tuyển dụng, ký hợp đồng làm việc, bố trí, phân công nhiệm vụ, biệt phái, kiểm tra và đánh giá viên chức
Tổ chức thực hiện thay đổi chức danh nghề nghiệp
Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức
13 Điều 47 Luật viên chức năm 2010
Trang 22Tổ chức thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với viên chức
Tổ chức thực hiện việc khen thưởng, kỷ luật đối với viên chức
Giải quyết thôi việc và nghỉ hưu đối với viên chức
Thực hiện chế độ báo cáo, thống kê và quản lý hồ sơ viên chức
Thanh tra, kiểm tra việc thi hành quy định của pháp luật về viên chức
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với viên chức.”
Viên chức phải tuân thủ quy trình, quy định chuyên môn, nghiệp vụ và quy cách ứng xử, chịu sự thanh tra, giám sát của cơ quan tổ chức có thẩm quyền và nhân dân theo vị trí việc làm được sắp xếp phân công của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập.14
Nhìn chung, những quy định pháp luật về viên chức đã cụ thể hóa về quyền
và nghĩa vụ của viên chức cũng như các hình thức tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức ngày càng riêng biệt, đặc trưng và có đổi mới cơ bản cơ chế quản lý viên chức nhằm phát huy tiềm năng tri thức của lực lượng viên chức, đáp ứng yêu cầu quá trình cải cách khu vực dịch vụ công của đất nước trong giai đoạn hiện nay
14 Điều 48 Luật viên chức năm 2010
Trang 23CHƯƠNG 2 QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TUYỂN DỤNG VIÊN CHỨC
TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP
Luật viên chức năm 2010 quy định cụ thể về địa vị pháp lý của viên chức, trong đó cụ thể quy trình tuyển dụng, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, chế độ lương, khen thưởng và hình thức kỷ luật riêng của viên chức Trong Chương 2 người viết tập trung quy trình tuyển dụng viên chức tại đơn vị sự nghiệp công lập để làm rõ tầm quan trọng trong “đầu vào” để hình thành đội ngũ viên chức phục vụ xã hội ở lĩnh vực dịch vụ công
2.1 Khái quát tuyển dụng
2.1.1 Tuyển dụng viên chức
Hiểu một cách đơn giản thì tuyển dụng là lựa chọn người để làm việc Với
ý nghĩa như vậy, bất kỳ một cơ quan, đơn vị nào có nhu cầu sử dụng nhân lực thì đều phải tiến hành hoạt động tuyển dụng
Tuyển dụng phải theo nguyên tắc cạnh tranh giữa các ứng viên, như vậy mới đúng nghĩa là "tuyển" Khi có nhiều ứng viên tham gia tuyển dụng cho một vị trí việc làm có hạn sẽ khiến người tuyển dụng có nhiều cơ hội để lựa chọn hơn, nếu thực hiện một cách công bằng sẽ lựa chọn người có trình độ chuyên môn cao nhất, xứng đáng nhất
Luật viên chức đã đưa ra giải thích rõ ràng về tuyển dụng đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập Tuyển dụng là "việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập" Như vậy, ba yêu cầu đối với cá nhân được tuyển dụng làm viên chức là có tư cách đạo đức, trình độ chuyên môn và khả năng làm việc
Tuyển dụng viên chức theo vị trí việc làm, tuyển dụng viên chức thay thế đội ngũ viên chức hết tuổi lao động hoặc viên chức nghỉ việc Đơn vị sự nghiệp khi tiến hành tuyển dụng phải căn cứ vào nhu cầu công việc, kế hoạch biên chế và nguồn tài chính của đơn vị
Ví dụ: Trong 3 năm từ 2010 đến năm 2012 cả nước có lực lượng công chức viên chức nghỉ hưu nghỉ việc là 28.132 người và số tuyển mới là 69.851 người,
Trang 24tăng 41.719 người, bằng 148% so với số người nghỉ và 10,5% so với số cán bộ, công chức Số lượng cán bộ, công chức, viên chức tăng hơn 20% sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 132 về tinh giản biên chế cũng như những kế hoạch và giải pháp
cụ thể để tiếp tục thực hiện tinh giản đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Theo số liệu từ Ban Nội chính Trung ương: biên chế công chức của năm
2007 là 238.668 người, năm 2012 là 274.694 người, tăng 15,09% Số viên chức năm 2007 là 1.490.544 người, năm 2012 là 1.872.044 người, tăng 25,59% Số tăng chủ yếu cho các đơn vị mới được thành lập hoặc các đơn vị cũ nhưng được
bổ sung về chức năng, nhiệm vụ, thuộc các lĩnh vực về môi trường, đất đai, biển
và hải đảo, du lịch, ngoại vụ, dân số, kế hoạch hóa gia đình và tăng ở một số địa phương được chia tách theo quyết định của các cơ quan có thẩm quyền.15
Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên cụ thể hoá những quy định về cán bộ, viên chức tại Hiến pháp năm 1992 Pháp lệnh đã xây dựng những nội dung cơ bản về tuyển dụng, sử dụng, quản lý viên chức Tuy nhiên, do chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa công chức và viên chức nên hoạt động tuyển dụng, quản lý, sử dụng đối với hai nhóm đối tượng này không có sự khác biệt Về vấn đề tuyển dụng, Pháp lệnh mới dừng lại ở những quy định cơ bản để các đơn vị căn cứ thực hiện chứ chưa có những hướng dẫn chi tiết.16
Như vậy, Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi đã tính đến đặc thù công việc của các đơn vị sự nghiệp và hoạt động nghề nghiệp của viên chức để thực hiện hoạt động tuyển dụng Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 có sự phân biệt nhóm đối tượng viên chức và công chức tại các cơ quan nhà nước có những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Ngày 12/4/2012, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2012/NĐ-CP quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức Theo Nghị định này, người đăng ký dự tuyển phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực theo yêu cầu công tác của vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, có đủ điều kiện đăng ký dự tuyển
15 Báo cáo 5 năm (2007-2012) về tình hình biên chế công chức, viên chức năm 2012 của Ban Nội chính
Trung ương
16 Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998
Trang 25Luật viên chức đã đưa ra giải thích rõ ràng về đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập Tuyển dụng là “việc lựa chọn người có phẩm chất, trình độ và năng lực vào làm viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” 17
Như vậy, ba yêu cầu đối với cá nhân được tuyển dụng làm viên chức là có tư cách đạo đức, có trình độ chuyên môn và khả năng làm việc
Tuyển dụng viên chức khác biệt tuyển dụng công chức Công chức lúc thực hiện chuyên môn là thừa hành công vụ (công quyền), vì vậy khi tuyển dụng công chức phải tuân thủ những quy định chặt chẽ về điều kiện, phương thức tuyển dụng Căn cứ vào những quy định theo Luật định để tuyển dụng công chức (chủ yếu là hình thức thi tuyển cạnh tranh, công khai, minh bạch)
Với tính chất là cung cấp dịch vụ công nên đơn vị sự nghiệp cần người có chuyên môn kỹ thuật hoặc kỹ năng đặc biệt, được đào tạo về chuyên môn để đảm nhiệm công việc Vì vậy tuyển dụng viên chức theo một thủ tục đơn giản hơn, chủ yếu bằng hình thức xét tuyển, nội dung xét tuyển tập trung đánh giá năng lực chuyên môn của ứng viên Đơn vị sự nghiệp công lập và viên chức được tuyển dụng ràng buộc nhau bởi hợp đồng làm việc
Việc tuyển dụng viên chức nhiều năm qua mỗi địa phương thực hiện mỗi cách khác nhau
2.1.2 Nguyên tắc tuyển dụng viên chức
Nguyên tắc tuyển dụng phải bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng pháp luật Bảo đảm tính cạnh tranh Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu của vị trí việc làm Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu đơn
vị sự nghiệp công lập Ưu tiên người có tài năng, người có công với cách mạng, người dân tộc thiểu số. 18
Đội ngũ viên chức hiện nay chiếm số lượng khá lớn đã và đang đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của xã hội Để nâng cao hiệu quả hoạt động của viên chức công tác tuyển dụng cần phải được xem xét chú trọng một cách cẩn thận Tránh tình trạng lợi dụng các mối quan hệ trong tuyển dụng, từ đó không đảm bảo các yêu cầu về chất lượng làm việc của viên chức Xuất phát từ yêu cầu bức thiết của
xã hội việc tuyển dụng viên chức phải đảm bảo những nguyên tắc sau:
Trang 26Thứ nhất, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng, khách quan và đúng
Thứ hai, bảo đảm tính cạnh tranh
Để thực hiện được nguyên tắc cạnh tranh, thực tài, việc đầu tiên là phải xóa ngay tư tưởng “con ông cháu cha, hay hàng gửi”, tiếp đó là linh hoạt trong tiêu chí
“có kinh nghiệm” “Mới ra trường người ta làm gì có kinh nghiệm Nếu họ giỏi thực sự, có chiều hướng phát triển, đảm nhiệm tốt lĩnh vực công tác mà chúng ta đang cần tuyển thì có thể bỏ qua yêu cầu này” Nhưng để cạnh tranh, thực tài thì việc đầu tiên phải là công bằng, bình đẳng Đó là không phân biệt đối xử giữa nam
và nữ, giữa người địa phương và ngoại tỉnh, giữa các loại hình đào tạo “Câu chuyện không tuyển dụng những người có bằng tại chức, người ta ủng hộ nhiều nhưng phản đối cũng không ít “Hội chứng thất nghiệp” sau đại học cũng làm nhiều người quan tâm, mà nổi lên là câu chuyện thạc sĩ không xin được việc khiến ngành chức năng đau đầu Cạnh tranh thì phải bình đẳng, còn thực tài thì phải có
sự lựa chọn nữa Ví dụ người giỏi thì có người giỏi hơn rồi đến người giỏi nhất Đến khi tuyển vị trí thì có người phù hợp, phù hợp hơn rồi phù hợp nhất”, 19
Thứ ba, tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu vị trí của việc làm
Trong quá trình tuyển dụng việc đánh giá thế mạnh bản thân ứng viên là công việc không thể thiếu Phải khoanh vùng lại ứng viên này phù hợp với vị trí nào, đâu là vị trí để ứng viên phát huy hết tối đa hiệu quả công việc cũng như năng lực bản thân Đặt sai vị trí sẽ gây khó khăn cho cả ứng viên và cơ quan tuyển dụng Công việc cơ quan sẽ không được đảm bảo, bản thân viên chức cũng không
có điều kiện phát triển vì làm việc không phù hợp với năng lực nội tại
Ví dụ: Sự việc của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái khi tuyển giáo viên dạy học, lại không giao việc dạy học mà phân công làm việc nấu ăn, rửa chén bát cho học sinh bán trú Rửa chén, bát không phải là việc xấu nhưng nó dành cho những
19 Báo điện tử Báo mới, Tiến tới tuyển dụng công chức, viên chức theo nguyên tắc cạnh tranh thực tài,
http://www.baomoi.com/Tien-toi-tuyen-dung-cong-chuc-vien-chuc-theo-nguyen-tac-canh-tranh-thuc-tai/146/12248483.epi [ ngày truy cập 20-08-2013]
Trang 27đối tượng khác Sử dụng đúng người đúng việc đúng trình độ bao giờ cũng đạt những hiệu quả tốt nhất trong công việc và đảm bảo sự công khai, minh bạch, khách quan.20
Thứ tư, cách thức tổ chức, cá nhân lãnh đạo
Mỗi một công việc nào khi tiến hành thực hiện cũng cần phải có một nhóm trưởng, một người lãnh đạo thật sự sáng suốt để có cái nhìn toàn diện cho cả một quá trình Tuyển dụng viên chức cũng vậy, vai trò và vị trí của người đứng đầu là rất quan trọng mong tính quyết định Chỉ có những lãnh đạo sáng suốt mới có khả năng lái “con thuyền” đi đúng hướng
Người chỉ huy trong quá trình quản lý viên chức, họ có tầm nhìn bao quát mọi vị trí, họ hiểu được mọi công việc cần gì và ai sẽ là người phù hợp nhất để đảm nhận công việc đó Nhất là khi đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm, thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp đó đã xem đơn vị như mạng sống cũng như là “công ty” của họ Họ phải nghiên cứu, áp dụng nhiều biện pháp để hoạt động của đơn vị có hiệu quả cao nhất, nên sẽ biết vị trí công việc cần người có chuyên môn, năng lực đạo đức ra sao Xử lý công việc hài hòa với tiêu chí tập thể thực hiện, trách nhiệm cá nhân, tránh được sự độc đoán, thể hiện được dân chủ trong đơn vị và trách nhiệm cụ thể, không cào bằng, chung chung
Ví dụ: Cần tổ chức tuyển dụng vị trí lãnh đạo có đủ trình độ năng lực để gánh vác công việc của người đứng đầu Nhiều tỉnh, thành phố đã có đề án thi tuyển vị trí lãnh đạo các đơn vị sự nghiệp công lập để có người tài, đảm nhận công việc trong đó có Cần Thơ
Thứ năm, ưu tiên cho người có tài năng, người có công cách mạng và dân
tộc thiểu số
Trường hợp nào cũng vậy đều có những ngoại lệ kể cả trong việc tuyển dụng viên chức cũng có những chính sách ưu tiên cho những đối tượng đặc biệt Điều này hoàn toàn hợp lý, xuất phát từ yêu cầu của cơ quan nhà nước trong việc thu hút nhân tài nên ưu đãi cho người có tài năng Đối với những người có công với cách mạng cũng phải được hưởng những ưu đãi trong tuyển dụng dựa trên nền tảng “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta Đối tượng đặc biệt cuối cùng là đồng
20 Nhà báo Tùng Duy đăng trên Báo Tiền Phong số ra ngày 28/12/2012
Trang 28bào dân tộc thiểu số, nguyên nhân ưu đãi do sự phát triển kinh tế không đồng đều, những đồng bào dân tộc ít người không có điều kiện để học tập trau dồi kiến thức
Ví dụ: Trong thực hiện chính sách các tỉnh có nhiều đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống như tỉnh Gia Lai là một tỉnh miền núi có đông đồng bào dân tộc thiểu
số, nhiều năm nay việc tuyển dụng, sử dụng đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ cơ
sở là người dân tộc thiểu số luôn được Tỉnh ủy và các cấp ủy quan tâm chỉ đạo sát sao, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị ở cơ
2.2 Quy trình tuyển dụng
Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập
2.2.1 Thẩm quyền tuyển dụng
Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, gồm đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ và chưa tự chủ;
Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ: cơ quan có thẩm
quyền quản lý đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên chức hoặc phân cấp cho người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng.22
Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 hoặc 07 thành viên, bao gồm:
Chủ tịch Hội đồng do người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định;
Phó Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;
Ủy viên kiêm thư ký Hội đồng là người đại diện bộ phận làm công tác tổ chức cán bộ của cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức;
Các ủy viên khác là người có chuyên môn, nghiệp vụ liên quan đến vị trí tuyển dụng
Ví dụ: Sở Giáo dục-Đào tạo thành phố Cần Thơ tổ chức xét tuyển viên chức bằng hình thức vấn đáp để tuyển viên chức cho các đơn vị sự nghiệp (Trường
21 Nguyễn Hữu-Tạp chí Xây dựng Đảng, ngày 12/10/2013
22 Điều 6 Nghị định 29/2012/NĐ-CP quy định tại Điều 6 về Hội đồng tuyển dụng viên chức
Trang 29hoặc Trung tâm Giáo dục thường xuyên) thuộc Sở quản lý Sở thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức có 07 thành viên theo quy định tại Khoản 2, Điều 6 Nghị định số 29/2012/NĐ-CP
Đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ được giao thẩm quyền tuyển dụng viên chức: Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện việc tuyển dụng viên
chức và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.23
Hội đồng tuyển dụng viên chức có 05 đến 07 thành viên, bao gồm:
Chủ tịch Hội đồng là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập;
Phó Chủ tịch Hội đồng là người phụ trách công tác tổ chức cán bộ của đơn
59 hợp đồng lao động hoạt động ở lĩnh vực: tư vấn, giới thiệu việc làm trong và ngoài nước, thống kê, rà soát biến động lao động trên địa bàn thành phố Cần Thơ
và bảo hiểm thất nghiệp theo phân cấp quản lý
Hội đồng tuyển dụng làm việc theo nguyên tắc tập thể, kết luận theo đa số
và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Thành lập các ban giúp việc gồm: Ban đề thi, ban coi thi, ban phách, ban chấm thi, ban phúc khảo, ban kiểm tra, sát hạch;
Tổ chức thu phí dự tuyển và sử dụng theo quy định của pháp luật;
Tổ chức thi và chấm thi hoặc kiểm tra, sát hạch;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật
Trang 30Bước 1: Giám đốc sở, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện có văn bản chỉ đạo các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc đăng ký nhu cầu tuyển dụng viên chức của đơn vị theo mẫu và báo cáo Giám đốc sở, ngành, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân quận, huyện
Bước 2: Giám đốc sở, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện tổng
hợp nhu cầu tuyển dụng của các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc theo mẫu
Bước 3: Giám đốc sở, ngành; Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện xây dựng Kế hoạch tuyển dụng viên chức của sở, ngành, quận, huyện theo mẫu gửi về
Sở Nội vụ để xem xét, thẩm định (đề nghị gửi kèm theo đăng ký nhu cầu tuyển
dụng và báo cáo cơ cấu viên chức có mặt của các đơn vị sự nghiệp trực thuộc)
Bước 4: Sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Sở Nội vụ về việc tuyển dụng viên chức, Giám đốc sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện tổ chức tuyển dụng viên chức theo Kế hoạch đã được thẩm định và có sự
giám sát của Sở Nội vụ
Bước 5: Giám đốc sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện có văn bản báo cáo kết quả tuyển dụng gửi Sở Nội vụ thẩm định về việc tuyển dụng
và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp, hồ sơ kèm theo như đã nêu tại bước 4,
mục 1, Công văn này
Bước 6: Sau khi có văn bản của Sở Nội vụ thẩm định kết quả tuyển dụng và xếp lương đối với người trúng tuyển, Giám đốc sở, ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện thông báo cho Người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc thực hiện ký hợp đồng làm việc với viên chức trúng tuyển theo quy định
hiện hành
Việc tuyển dụng viên chức thực hiện 01 lần trong năm Trong quá trình triển khai thực hiện, nếu có vướng mắc, đề nghị cơ quan, đơn vị phản ánh về Sở Nội vụ để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố xem xét, giải quyết
Đơn vị sự nghiệp công lập có văn bản báo cáo kết quả tuyển dụng gửi Sở Nội vụ thẩm định việc tuyển dụng và xếp lương theo chức danh nghề nghiệp, hồ
sơ kèm theo gồm:
- Danh sách số người dự tuyển;
- Danh sách số người trúng tuyển và dự kiến xếp lương ;
Trang 31- Các văn bản liên quan đến việc tuyển dụng hoặc kiểm tra, sát hạch (Biên
bản, Kết quả điểm …);
- Hồ sơ của những người trúng tuyển.24
Tóm lại việc tuyển dụng viên chức phải tuân theo những bước đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo cho việc tuyển dụng diễn ra một cách công bằng minh bạch, đúng pháp luật và tạo sự thống nhất trong tuyển dụng giữa các đơn vị sự nghiệp
2.3 Hình thức tuyển dụng
Thực hiện theo hai phương thức là thi tuyển hoặc xét tuyển viên chức Hoạt động tuyển dụng tại các đơn vị sự nghiệp công lập thường phải tuân theo các bước: xây dựng chỉ tiêu cho từng vị trí việc làm theo Nghị định 41/2012/NĐ-CP, ngày 08 tháng 5 năm 2012 quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập, tuân theo chỉ tiêu biên chế theo Thông báo hàng năm từ Sở Nội vụ, thông báo tuyển dụng rộng rãi trên phương tiện truyền thông (báo chí, đài phát thanh truyền hình, Trung tâm dịch vụ Giới thiệu việc làm), sau đó là tiếp nhận hồ sơ dự tuyển,
tổ chức tuyển dụng có Quyết định thành lập Hội đồng tuyển dụng viên chức.25
; khi tuyển được viên chức phù hợp công việc tuyển dụng thì có Quyết định tuyển dụng
để công nhận kết quả và ký hợp đồng làm việc với viên chức theo Thông tư 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012
Thủ tục tuyển dụng viên chức đơn giản hơn so với tuyển dụng công chức bởi được lựa chọn giữa hai phương thức là thi tuyển hoặc xét tuyển
Phương thức xét tuyển tạo sự thông thoáng với cả đơn vị tuyển dụng và người dự tuyển Khi tiến hành xét tuyển, đơn vị sự nghiệp có thể dựa vào bằng cấp, bằng điểm học tập, kết quả phỏng vấn ứng viên để đưa ra quyết định tuyển dụng Thủ tục chặt chẽ sẽ khiến cho việc tuyển dụng đạt được chất lượng, công bằng, minh bạch hơn Các bước tuyển dụng vừa phải theo quy định của pháp luật, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người dự tuyển, nhất là có sự cạnh tranh thu hút nhân lực
viên chức và xếp lương khi bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp
25 Thông tư số 16/2012/TT-BNV ngày 28 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ
Trang 32Nội dung và hình thức thi
Người dự thi tuyển viên chức phải thực hiện các bài thi sau: Thi kiến thức chung và thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành Việc thi tin học văn phòng và ngoại ngữ đối với người dự thi tuyển viên chức thực hiện theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm
Thi kiến thức chung: Thi viết về pháp luật viên chức; chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và những hiểu biết cơ bản về ngành hoặc lĩnh vực tuyển dụng
Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành thông qua hình thức thi viết hoặc trắc nghiệm và thi thực hành Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức và nội dung thi phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm
Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành là ngoại ngữ hoặc công nghệ thông tin, bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành
là ngoại ngữ hoặc công nghệ thông tin thì người dự tuyển không phải thi ngoại ngữ hoặc thi tin học văn phòng theo quy định
Thi ngoại ngữ: Thi một trong năm thứ tiếng Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung Quốc hoặc ngoại ngữ khác theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm
Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu sử dụng tiếng dân tộc ít người, việc thi ngoại ngữ được thay thế bằng tiếng dân tộc ít người Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức và nội dung thi tiếng dân tộc ít người
Thi tin học văn phòng: Thi thực hành trên máy hoặc thi trắc nghiệm theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm
Căn cứ vào khả năng, điều kiện cụ thể, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định hình thức thi trên giấy hoặc trên máy vi tính.26
- Điều kiện miễn thi một số môn: Người đăng ký dự tuyển được miễn thi môn ngoại ngữ hoặc tin học trong các trường hợp sau:
Miễn thi môn ngoại ngữ trong trường hợp môn nghiệp vụ chuyên ngành không phải là ngoại ngữ nếu có một trong các điều kiện sau:
26 Điều 7 Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ, quy định nội dung và hình thức thi
Trang 33 Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học về ngoại ngữ;
Có bằng tốt nghiệp đại học, sau đại học ở nước ngoài hoặc tốt nghiệp đại học, sau đại học tại cơ sở đào tạo bằng tiếng nước ngoài ở Việt Nam
Miễn thi môn tin học văn phòng trong trường hợp có bằng tốt nghiệp
từ trung cấp chuyên ngành công nghệ thông tin trở lên.27
- Cách tính điểm
Bài thi được chấm theo thang điểm 100 Điểm các bài thi được tính như sau:
Thi kiến thức chung: Tính hệ số 1;
Thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành: Phần thi viết hoặc thi trắc nghiệm tính hệ số 1; phần thi thực hành tính hệ số 2
Kết quả thi là tổng số điểm của bài thi kiến thức chung và các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành Trường hợp người dự tuyển thi ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc ít người, thi tin học văn phòng, kết quả các bài thi này là điểm điều kiện và không tính vào tổng số điểm thi, trừ trường hợp ngoại ngữ và công nghệ thông tin là phần thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành.28
- Xác định người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức
Người trúng tuyển trong kỳ thi tuyển viên chức phải tham dự đủ các bài thi quy định, mỗi bài thi đạt từ 50 điểm trở lên và được xác định theo nguyên tắc: Người trúng tuyển có kết quả thi cao hơn, lấy theo thứ tự từ cao xuống thấp cho đến hết chỉ tiêu tuyển dụng của từng vị trí việc làm
Trường hợp có từ 02 người trở lên có kết quả thi bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng cần tuyển dụng thì người có tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành cao hơn là người trúng tuyển; nếu tổng số điểm các bài thi chuyên môn, nghiệp vụ chuyên ngành bằng nhau thì người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng viên chức quyết định người trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên như sau:
Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động;
Thương binh;
Người hưởng chính sách như thương binh;
27 Điều 8 Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ, điều kiện miễn thi một số môn
28 Điều 9 Nghị định 29/2012/NĐ-CP của Chính phủ, cách tính điểm